Phật
tử Mỹ Duyên tác bạch cúng dường:
Ân
sâu sắc của mẹ hiền còn tại thế, người đã cao niên
lớn tuổi; nên chúng con có dùng chút tịnh tài tịnh vật,
thiết lễ trai duyên cúng dường chư Phật mười phương, chư
Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng và hiện tiền chư Tăng Ni.
Ngưỡng
mong chư tôn đức từ bi hoan hỷ nạp thọ lễ cúng dường
này, nhờ công đức Sư Phụ và chư Tăng Ni chú nguyện cho
mẹ hiền của chúng con là bà Trần thị Ngốt, pháp danh Đức
Ngọc 80 tuổi được tăng phước tăng thọ và chúng con được
ân triêm công đức.
Nam
mô Công Lâm Bồ Tát.
Lời
đáp từ của Hòa thượng Duy Lực:
Lễ
trai Tăng hôm nay là do gia đình Mỹ Duyên tổ chức tại Thiền
Đường Tam Bảo.
Nói
cầu không phải cầu là muốn tỉnh giác sửa lại nghiệp,
tăng cường lòng tin để tin tự tâm. Nhờ lễ trai Tăng hồi
hướng là hồi khổ hướng vui, hồi vô minh hướng Bồ Đề
để sửa lại lòng tin, tin Phật tin tâm; rồi từ đây bắt
đầu tự tu tự giác, luôn cả gia quyến cùng nhau tu đến
giác ngộ thành Phật.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hỏi:
Hồi
hướng là gì? Hồi hướng có ích lợi gì? Hồi hướng có
trái nhân quả không?
Đáp:
Giáo
môn có 52 cấp là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng (phá hết ngã chấp), Thập Địa, Đẳng Giác,
Diệu Giác. Bất cứ tông phái nào tu cuối cùng gặp nhau ở
Đẳng Giác. Đại thừa thiền trải qua 50 cấp đến cấp 51
là Đẳng Giác. Tổ Sư thiền là từ địa vị phàm phu không
có cấp bậc nào, thẳng chứng Đẳng Giác.
Thập
Hồi Hướng là quả chứng của Tam Hiền, tức là chưa đến
bậc Bồ Tát nên gọi là Hiền (Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng là Tam Hiền). Hồi hướng là phá ngã chấp, bây
giờ người ta đem hồi hướng tăng cường ngã chấp. Tại
sao? Vì có công đức để cho người này, hồi hướng cho người
kia. Đó là cái ngã.
Phật
chế ra Thập Hồi Hướng là để phá ngã chấp, phá xong rồi
lên Sơ Địa, tức là tập khí phiền não của phàm phu đã
hết sạch, đến Sơ Địa là dứt tập khí xuất thế gian.
Hồi hướng là không có của ai mà cho ai cả! Phật Thích Ca
cũng không dám nói là“Tôi cho ai”, Phật nói “tôi thuyết
pháp 49 năm, nhưng không nói một lời nào”.
Phật
chỉ cho mọi người biết, rồi tự tu tự chứng cái của
mình có sẵn, chứ không phải như ngoại đạo nói là ban cho,
có ban cho là ngã chấp. Kinh Lăng Nghiêm giải thích Thập Hồi
Hướng và có 57 cấp, trước
Thập
Tín có Càn Huệ (3 cấp), qua Thập Hồi Hướng có Tứ Gia Hạnh.
Hỏi:
Chưa
khởi niệm là vô niệm, vậy không khởi niệm có đến thoại
đầu không?
Đáp:
Bây
giờ, mình chưa đến thoại đầu thì cứ khởi niệm hoài,
nhưng cái niệm này là không hiểu không biết. Tôi dùng cây
viết để thí dụ ý thức của mình, hàng ngày mình đều
dùng ý thức để đối phó cuộc sống. Ý thức có 2 mặt,
dùng mặt biết là để tu Như Lai thiền, như vừa rồi tôi
nói pháp thiền Đại thừa tu từ cấp tiến lên, cuối cùng
tới thoại đầu; dùng mặt không biết để tu Tổ Sư thiền
cũng tới thoại đầu.
Dùng
mặt biết gọi là nhất niệm vô minh, dùng mặt không biết
cũng gọi là nhất niệm vô minh, vì còn cái niệm. Dùng niệm
biết thì dễ bị ngoại cảnh lôi kéo, biết cái đó tốt
thì ham, biết cái đó xấu thì chê, nó cứ dễ đuổi theo
cảnh. Dùng mặt không biết để tu, thì tốt cũng không biết
nên không ham, xấu không biết nên không chê; gọi là Thiền
Trực Tiếp đi thẳng đến thoại đầu.
Chỗ
thoại đầu cũng gọi là vô thỉ vô minh là hang ổ của nhất
niệm vô minh, tại chỗ vô thỉ vô minh sanh khởi một niệm,
gọi là nhất niệm vô minh. Một niệm không sanh khởi gọi
là vô thỉ vô minh, cũng gọi là thoại đầu, cũng gọi là
đầu sào trăm thước. Đầu sào là nguồn gốc của ý thức,
cây sào là thí dụ cho ý thức.
Đến
chỗ này tuy đã hết đường đi, nhưng còn đứng chỗ nguồn
gốc của ý thức, còn dính líu ý thức, chưa lìa ý thức;
rồi từ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước mới
lìa ý thức, sát na lìa ý thức gọi là kiến tánh thành Phật.
Ngài Lai Quả thí dụ: “Lìa ý thức là lọt vào hư không
té xuống phải tan nát, rồi sống lại”. Thiền tông có câu:
“Tuyệt hậu tái tô” (sau khi chết thì sống lại).
Chết
rồi sống lại có 2 thứ: - Tiểu tử tiểu hoạt. - Đại tử
đại hoạt.
Tại
sao gọi là tiểu tử tiểu hoạt? Là để dụ cho tiểu ngộ,
như Niết Bàn của Tiểu thừa. Vì Tiểu thừa ôm Niết Bàn
cho ta chứng, còn kiến lập cái sở hữu của pháp; họ bỏ
được ngũ uẩn ngã lại ôm Niết Bàn ngã. Cho nên Tiểu thừa
còn chấp, chưa được tan rã cái sở hữu. Chính cái sở hữu
làm chướng ngại cái dụng.
Đại
tử đại hoạt là luôn cái xác cũng tan rã, đến chỗ đó
gọi là vô tu vô chứng. Tại sao? Vì thành Phật không phải
do tu mới thành, do Phật tánh của mọi người đã thành sẵn;
không phải chứng mới đắc, bởi đã đắc sẵn. Tham thiền
là phát hiện cái của mình đã sẵn có, chứ không phải ở
ngoài đem vô.
Nếu
có thành phải hoại thì sanh diệt luân hồi. Cho nên, nói không
có thành, không có sự bắt đầu; cũng là nghĩa vô sanh, tức
không có sự sanh khởi. Nếu có sanh khởi thì phải có bắt
đầu, người chứng quả là ngộ pháp vô sanh, gọi là chứng
vô sanh pháp nhẫn. Không có sanh khởi là không có cái gì,
nên ngài Long Thọ nói là tâm của mình.
Thật
tế, vô sở hữu mới dung nạp tất cả mặt trời, mặt trăng,
đất đai, nhà cửa, cây cối,… cho đến cuộc sống, ăn uống,
nói năng, tiếp khách,… đều ở trong vô sở hữu này. Tất
cả mình đang dùng tâm của mình là vô sở hữu, mình đang
ứng dụng mà chẳng tự biết. Rồi tìm hiểu cái này cái
kia, cho là chơn không, diệu hữu, Bồ Đề, Niết Bàn,… đó
là kiến lập cái sở hữu.
Nếu
chấp thật những thứ này, cũng là dây trói buộc bằng vàng;
tuy phiền não là trói buộc bằng dây thường. Nhưng trói buộc
bằng vàng chắc hơn dây thường. Cho nên, người chứng quả
còn chấp thật pháp và sở chứng sở ngộ của mình, gọi
là mê trí tứ tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả). Phàm
phu có tứ tướng mê thức.
Nếu
biết được nguồn gốc là không có gì để chấp, vì vô
sở hữu thì trống rỗng nên dung nạp và ứng dụng, thật
tế là vậy. Nếu không có vô sở hữu thì làm gì cũng không
được. Như không có chỗ trống thì các vị không thể ngồi
đây, không có vô sở hữu làm sao nghe tôi nói chuyện? Nhưng
bây giờ cái dụng của mình còn rất kém, vì kiến lập sở
hữu làm chướng ngại.
Tham
thiền có nghi tình là quét sạch tất cả, trống chừng nào
thì cái dụng lớn chừng nấy; tức là nghĩa không, không tích
cực thì dụng tích cực là Phật (không có chướng ngại).
Bây giờ tự mình kiến lập sở hữu thành chướng ngại.
Hỏi:
Giữ
đúng tông chỉ Tịnh Độ là “tín, nguyện, hạnh” thì đến
Bảo Sở không?
Đáp:
Chưa
đến Bảo Sở, chỉ được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc;
rồi nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền phát nghi, từ nghi đến
ngộ là kiến tánh thành Phật. Bây giờ mình bắt đầu từ
đây phát nghi, khỏi cần đợi đến vãng sanh; những người
không tin, khi vãng sanh Cực Lạc; Phật A Di Đà dạy tham thiền,
lúc đó mới chịu tin. Không nghi thì không ngộ, vì nghi là
nhân, ngộ là quả.
Hỏi:
Hư
không vô sở hữu có đồng nghĩa với Phật tánh không?
Đáp:
Hư
không vô sở hữu tức là Phật tánh, cũng là tâm của mình;
còn gọi là vô trụ, hay là tánh không. Nhưng nói đồng thì
không được, vì bất nhị. Đồng phải hai cái là cái này
đồng với cái kia. Khác cũng là nhị (hai), như cái này khác
với cái kia, có nhị nên mới có khác và đồng.
Vô
sở hữu không thể đồng, tại không có hai cái thì lấy cái
gì để đồng với cái gì? Còn khác cũng không được, thì
lấy cái gì để khác với cái gì? Cho nên, không thể kiến
lập mới gọi là vô thỉ, vô sanh, vô trụ, tánh không.
Hỏi:
Hòa
thượng dạy người ăn chay, ăn mặn tu Tổ Sư thiền vẫn
được kiến tánh. Chúng con xuất gia gặp nhiều cảnh khó
khăn, nên hoàn tục để tham thiền. Xin Hòa thượng khai thị?
Đáp:
Ăn
một cục thịt phải trả một cục thịt, giết một mạng
phải trả một mạng thì mới đúng nhân quả. Nếu kiến tánh
thành Phật thì khỏi trả làm sao được? Thì xóa bỏ nhân
quả sao! Thiếu nợ thì phải trả.
Tu
sĩ có tu mới gọi là tu sĩ, tôi thường nói:
Hạt
gạo của Thí chủ,
Lớn
bằng núi Tu Di.
Nếu
không tu giải thoát,
Mang
lông đội sừng trả.
Bây
giờ, người ta cúng dường ăn, mặc, ở,… hưởng những
thứ cúng dường đó, nhưng phải có chơn tu. Nếu không chơn
tu phải thiếu nợ Thí chủ thì sau này đầu thai trâu ngựa
trả nợ. Dẫu cho làm ác đọa xuống địa ngục, khi mãn hết
địa ngục cũng phải đầu thai trâu ngựa để trả nợ.
Cư
sĩ tự làm tự ăn không thiếu nợ Thí chủ. Những người
còn ăn thịt hay giết hại, là không sợ ăn mình thì mình
cứ ăn người ta, để kiếp sau cho người ta ăn. Nếu sợ
người ta ăn mình thì đừng ăn người ta.
Hỏi:
Hành
giả có sơ tham và lão tham, con đường đến kiến tánh còn
xa quá. Chỗ câu thoại đến thoại đầu có nhiều người
mắc kẹt chỗ này. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Tham
là hỏi câu thoại để kích thích niệm không hiểu không biết,
khán là nhìn chỗ không biết, muốn xem chỗ không biết là
gì, chỗ không biết thì không có chỗ, nếu có chỗ đã là
biết rồi. Không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn,
nhìn mãi vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình.
Muôn
ngàn câu thoại khác biệt, mục đích chỉ khởi lên niệm
không hiểu không biết. Khán và nhìn song song, không phải nhìn
trước hỏi sau, hỏi trước nhìn sau. Hỏi không gián đoạn,
nhìn không gián đoạn; hai cái cùng một lượt, không có trước
sau; đang hỏi cũng đang nhìn thì giữ được nghi tình, sẽ
đưa hành giả đến thoại đầu.
Tuy
kiếp này sơ tham, như từ thoại vỉ đến thoại đầu 100
bước; nếu kiếp trước đã đi 99 bước, kiếp này sơ tham
chỉ cần 1 bước là đến nơi. Lão tham kiếp này, nhưng kiếp
trước chỉ đi 1 bước thì kiếp này phải đi thêm 99 bước.
Cho nên, lão tham cũng chậm hơn sơ tham, chứ không phải nhất
định lão tham đến trước.
Đến
trước đến sau là tùy công phu của mỗi người, công phu
không gián đoạn là ngày đêm 24/24. Tham thiền có nghi tình,
mỗi ngày tăng 1 phút thì 1 tháng được tiến 30 phút, một
năm là 12 tháng được 6 giờ, bốn năm đến thoại đầu.
Nếu nghi tình mỗi ngày tăng ½ phút thì 8 năm đến thoại
đầu. Nghi tình mỗi ngày tăng ¼ phút thì 16 năm đến thoại
đầu.
Tùy
theo công phu của mình tiến tới mau chậm. Tổ sư nói tham
thiền ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy. Cho nên, khỏi
cần tập trung tinh thần, khỏi cần cố gắng, chỉ cần kéo
dài nghi tình không bị cắt đứt. Vì phí sức nên tu lâu không
được.
Hỏi:
Hành
giả thường rơi vào niệm thoại đầu, xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Ngài
Lai Quả nói niệm thoại đầu là tham thoại đầu của người
khác. Cho nên, phải có không hiễu không biết (ùnghi tình),
vừa hỏi vừa nhìn để kéo dài nghi tình. Nếu chỉ có hỏi
mà không có nhìn thì thường xen lộn cái biết, thành ra không
được kéo dài, nên phải nhìn.
Thiền
Đường Trung Quốc có đề “chiếu cố thoại đầu”, chiếu
là chiếu soi, cố là nhìn; tức là nhìn chỗ không biết, muốn
xem chỗ không biết là gì. Nhưng chỗ không biết thì không
có chỗ, không có mục tiêu để nhìn, nên nhìn không thấy
gì vẫn còn không biết. Nhiều người tưởng là nhìn thấy
cái gì, nếu nhìn thấy cái gì là biết, không phải tham thiền.
Nhìn không thấy gì mới là đúng, còn nhìn thấy gì thì không
đúng.
Hỏi:
Con
ăn chay mà nuôi các loài vật để bán, vậy có nhân quả không?
Đáp:
Bán
loài vật để cho người ta giết, lấy việc ấy để kiếm
tiền thì phải có nhân quả, cũng như mình gián tiếp giết
hại.
Hỏi:
Sau
giờ tọa hương có vị xoa tay, việc ấy như thế nào?
Đáp:
Xoa
tay hay không xoa tay đều được, vì đi hương có vận động
rồi; nếu không đi hương thì phải xoa cùng mình để cho máu
được lưu thông.
Hỏi:
Tu
được ngày đêm 24/24 là quên ăn bỏ ngủ phải không?
Đáp:
Tham
thiền có nghi tình ngày đêm 24/24 là đến thoại đầu thì
câu thoại tự mất, chỉ còn nghi tình; lúc ấy sắp kiến
tánh, có thể vài phút sau kiến tánh hay một hai tháng sau kiến
tánh. Sát na kiến tánh là lìa ý thức, bây giờ còn một niệm
nghi là còn dính líu ý thức. Đến sát na lìa ý thức thì
nghi tình cũng tan rã, lúc đó biết và không biết sạch hết;
thì biết của chánh biến tri hiện lên khắp không gian thời
gian, nên sự hiểu biết không còn thiếu sót.
Vì
vậy gốc nghi mới chấm dứt, gọi là đốn đoạn nghi căn;
cũng là mạng căn chấm dứt, không còn chịu sanh tử luân
hồi. Phàm phu có phần đoạn sanh tử, đến bậc thánh lìa
khỏi phần đoạn sanh tử, còn biến dịch sanh tử. Khi ngộ
cuối cùng thì 2 thứ sanh tử đều sạch, không còn sanh tử
nào cả, gọi là mạng căn chấm dứt.
Hỏi:
Ban
đêm tu không ngủ được, mình có thể ngưng tu để ngủ.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Khỏi
cần ngưng tu, nếu không ngủ thì càng tốt; thời giờ không
ngủ cứ hỏi và nhìn.
-Nếu
ngủ không được có bệnh không?
-Không
có, nếu mình giữ được nghi tình thì sáng thức dậy vẫn
đủ tinh thần làm việc bình thường.
-Đang
tu có bệnh nên bỏ công phu không?
-Không
được bỏ công phu, tu là sửa lại cái nghiệp; tức sửa
lại cái sức của tâm, khoa học gọi là sức đề kháng. Như
không tu thì sức tâm có 1 độ, nếu tham thiền thì sức tâm
tăng 2 độ, 3 độ,… cứ tăng đến không còn độ nào là
kiến tánh thành Phật siêu việt số lượng.
Hỏi:
Vừa
qua con có học khóa giảng sư ở Sài Gòn, có một vị hỏi
con: Sư tu pháp môn nào?
Con
trả lời: Tu Tổ Sư thiền.
Vị
ấy nói: Sư về đi, lo tu đến ngày kiến tánh, chứ đừng
học nữa.
Vị
ấy nói như vậy có đúng không?
Đáp:
Đúng
chứ! Tổ Sư thiền khỏi cần học, vì phát hiện cái của
mình sẵn có. Như Thanh Văn thừa biết đến bậc hữu học
còn kém, đến bậc vô học mới cao. Tham thiền là siêu việc
hữu học và vô học, không có hữu vô tương đối. Kinh Viên
Giác nói: “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”, Phật
Thích Ca còn sợ người ta không tin, nên nói có 4 thí dụ;
bây giờ tôi nói một thí dụ trong kinh Viên Giác:
Vàng
trong quặng đã thành sẵn, không thấy vàng, chỉ thấy đất
cát tạp chất. Nên cần luyện bỏ đất cát tạp chất thì
vàng hiện ra. Nếu trong quặng không có vàng thành sẵn, thì
luyện cách mấy làm sao ra vàng được? Tại vàng có sẵn,
không phải do luyện mới thành! Phật tánh mình cũng vậy,
đã thành sẵn có thần thông trí huệ đầy đủ bằng như
Phật Thích Ca.
Tôi
thường hỏi các vị: Tin có Phật tánh không?
-Tin.
-Phật
tánh có giảm bớt không?
-Không.
-Phật
tánh có thể gián đoạn không?
-Không.
Vậy
là đủ rồi, Phật tánh không thể giảm bớt thì bây giờ
thần thông trí huệ năng lực bằng Phật Thích Ca. Nếu có
kém hơn một chút thì giảm bớt, nên bị sanh diệt. Sanh diệt
là luân hồi, nếu Phật tánh còn luân hồi thì thành Phật
cũng vô ích. Phật tánh mình không gián đoạn thì mình đang
làm Phật. Bây giờ mình không phải Phật thì bị gián đoạn.
Tin
tự tâm là vậy, còn học cái gì! Học là học cái ở ngoài.
Giáo môn học cái ở ngoài vô, vì họ không tin tự tâm. Cho
nên, tôi đến các trường Phật học khuyên các Tăng Ni phải
vừa học vừa tu, học với tu đi song song. Tham Tổ Sư thiền
chỉ có tu, khỏi cần học. Nếu có học thành chướng ngại,
đến vô học còn chưa được, huống là hữu học!
Hỏi:
Hỏi
là chỉ phương tiện, Sư Phụ chỉ sở hành đi đến kiến
tánh thành Phật; các hành giả còn hỏi là chưa thỏa đáng
bổn tham của mình phải không?
Đáp:
Phải
rồi! Còn hỏi là tin tự tâm chưa đầy đủ. Tôi giải đáp
thắc mắc, không phải có giáo lý cao siêu, chỉ là để tăng
cường lòng tin của người hỏi thôi, chứ không có cái gì
khác. Phải tin tự tâm 100 % thì mới đầy đủ, nếu tin tự
tâm đầy đủ thì không có chuyện gì để hỏi. Chưa tin tự
tâm nên phải hỏi, vì nhiều cái còn nghi.
Vậy,
tin pháp môn tham thiền 100% cũng chưa được, chỉ có phân
nửa. Tại sao? Vì mới tin pháp môn nhưng chưa tin tự tâm,
phải tin tự tâm 100% nữa thì mới đầy đủ.
Hỏi:
Bạn
đạo thường nói chuyện Phật pháp với nhau, nếu nói sai
Phật pháp thì nhân quả ra sao?
Đáp:
Nếu
nói về Phật pháp mà nói sai cho người ta tin phải có tội,
còn không có người nào tin thì không có tội.
Hỏi:
Có
pháp tu nào gọi vô tướng tu, nghĩa là tu không có tướng
tu không?
Đáp:
Tổ
Sư thiền là vô tướng, Lục Tổ nói trong Pháp Bảo Đàn:
“Quy y vô tướng, sám hối vô tướng”.
Hỏi:
Cõi
Cực Lạc có thật hay do Phật hóa thành?
Đáp:
Không
có cõi nào có thật, bây giờ mình ở cõi Ta Bà cũng không
phải thật.
Ngài
Long Thọ dùng hư không vô sở hữu để dụ cho tâm của mọi
người. Hư không vô sở hữu thì trống rỗng dung nạp và
ứng dụng. Tâm mình cũng là vô sở hữu. Hư không vô sở
hữu thì không có hư không, tức trống rỗng là tánh không.
Cho nên, khắp không gian thời gian; khắp không gian không có
khứ lai nên gọi là Như Lai, khắp thời gian không gián đoạn
là không sanh diệt nên gọi là Niết Bàn.
Bản
thể vốn không có, không có của bộ óc; muốn tìm thì không
thấy, không tìm thì khắp nơi là tâm của mình. Nếu không
có vô sở hữu thì các vị không thể ngồi đây được, trống
rỗng (vô sở hữu) thì có chỗ ngồi; vô sở hữu nên tôi
nói các vị nghe và nhìn với nhau; mình đang dùng vô sở hữu
nhưng chẳng tự biết.
Tánh
con người là muốn có sở hữu, cho nên kiến lập sở hữu
thành chướng ngại. Ngài Long Thọ đề ra câu hỏi “sao nói
hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật, mà không nói
hư không quảng đại vô biên dung nạp tất cả vật?” Theo
lý lẽ thường phải có hư không rộng lớn mới dung nạp
tất cả vật. Hư không vô sở hữu là không có hư không lấy
cái gì dung nạp tất cả vật? Thật tế là vậy “vô sở
hữu mới dung nạp”.
Vô
sở hữu là trống rỗng, Phật pháp gọi là tánh không, cái
không mới dung nạp. Thật tế, núi sông, đất đai,… đều
phải nhờ cái vô sở hữu này dung nạp. Vì cái thông minh
của con người hạn chế cái vô sở hữu thành cái sở hữu.
Như tách bít hết không có trống rỗng là tách chết chẳng
dùng được, dùng được là nhờ cái vô sở hữu của tách.
Nhưng
con người có sở hữu tạo thành có cái không của tách, cái
không của bình, cái không của bàn; rồi hạn chế cái không
của tách, hạn chế cái không của bình, hạn chế cái không
của bàn,… muôn ngàn cái không khác biệt giảng ra rất hay
rất có lý. Cái không vô sở hữu sẵn sàng chẳng có nghĩa
lý. Vì cái không ở ngoài tách và cái không ở trong tách chẳng
khác, cái không ở trong nhà và cái không ở ngoài nhà chẳng
khác.
Chưa
dựng nhà lên mà cái không đã sẵn sàng rồi, nếu không có
cái không sẵn sàng thì không thể dựng cái nhà; không có
cái không sẵn sàng làm sao có cái không của tách, bình? Tất
cả cái không đều nhờ cái không bản trụ. Cái không bản
trụ là vô thỉ vô sanh, không có sự kiến lập. Nếu có thỉ
phải có chung là sanh diệt. Vì vậy người chứng quả ngộ
pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn; tức là không có kiến
lập gì hết.
Tại
sao? Vì trống rỗng. Từ chỗ không có mà kiến lập có là
vô lý. Bây giờ trí óc con người muốn kiến lập có, rồi
cái có tiêu diệt mới nói không có. Thật tế không thể kiến
lập, luôn cả cái tri cũng không thể kiến lập. Như 4 bài
kệ của ngài Vĩnh Gia nói về chữ tri:
Nếu
dùng tri tri tịch,
Chẳng
phải vô duyên tri.
Như
tay cầm như ý,
Phi
tay chẳng như ý.
Nếu
tay không cầm như ý thì hoạt bát vạn năng, lấy cái gì cũng
được; tay cầm như ý thì hoạt bát vạn năng bị đánh mất,
muốn lấy cái gì không được. Tham thiền dùng chổi automatic
là nghi tình quét ra, khôi phục bản tánh hoạt bát vạn năng.
Cái này là sở tri, có sở tri thì có năng tri; tuy sở tri là
tịch lặng. Người ta tu đến tịch lặng cho là cao lấy làm
mừng, nhưng chướng ngại vì mất hết cái dụng.
Mặc
dầu, lấy tịch lặng làm sở tri, cũng như tay cầm như ý,
không phải tay không cầm cái gì thì tay hoạt bát vạn năng
làm cái gì cũng được. Nếu có sở tri thì bản tri bị đánh
mất, cho nên không bằng tay không cầm như ý.
Tiến
lên một bước không kiến lập sở tri:
Nếu
dùng tri tri tri,
(Biết
mình có cái biết),
Chẳng
phải vô duyên tri.
(Không
có nhân duyên đối đãi).
Bài
kệ thứ nhất có năng sở đối đãi, bài kệ thứ nhì thì
tri và bất tri đối đãi. Nếu kiến lập tri thì có bất tri
đối đãi, cho nên chẳng phải là vô duyên tri. Vô duyên tri
là tri của Phật tánh, còn gọi là trí Bát Nhã luôn luôn ứng
dụng khắp không gian thời gian. Đã kiến lập cái tri thì
có bất tri đối đãi nên mới bị cản trở.
Như
tay tự tác quyền (nắm tay),
Chẳng
phải tay không quyền.
Tại
sao? Tuy tay không nắm vật, nhưng tự làm nắm tay (tự cho mình
có cái biết) thì lấy vật gì cũng không được. Cho nên nắm
tay cần phải buông (cái biết phải quét), mới hoạt bát vạn
năng.
Vậy
người ta dễ hiểu lầm “không biết ở ngoài và không tự
biết thành ra vô tri sao!”, tức là không biết gì giống như
gỗ đá. Tiếp đến bài kệ thứ 3:
Chẳng
dùng tri tri tịch,
Cũng
chẳng tự tri tri,
Chẳng
phải là vô tri.
Vì
tự tánh rõ ràng,
Không
đồng như gỗ đá.
Gỗ
đá là vô tri, còn tự tánh như tôi dùng tay để thí dụ là
hoạt bát vạn năng, làm sao vô tri được!
Bài
kệ thứ 4, như:
Tay
không cầm như ý,
Không
tự làm nắm tay,
Đâu
phải không có tay!
Vì
tay vẫn an nhiên,
Không
giống như sừng thỏ.
Sừng
thỏ là chỉ có tên gọi, chẳng có vật thật; như tay đâu
mất, chỉ không cầm vật ngoài và không tự làm nắm tay.
Vì vậy người ta kiến lập tri nên bài xích: “Không biết
ở ngoài và không tự biết là gỗ đá vô tri”, sự thật
không phải vậy!
Hỏi:
Từ
địa vị phàm đến tứ thánh tam hiền, như theo người tu
từ sơ thiền đến tứ thiền thì phải vào từng cấp nào?
Đáp:
Tứ
thiền là thiền của Sắc Giới và Vô Sắc Giới là thiền
tứ không đều phàm phu thiền, cũng gọi là ngoại đạo thiền.
Vì họ không phá ngã chấp, nên phải còn trong luân hồi. Như
Uất Đầu Lam Phất tu đến cảnh Vô Sắc Giới là cảnh giới
cao nhất, gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ; chỗ đó thọ
mạng 8 muôn đại kiếp, rồi đọa làm chồn bay không giải
thoát.
Tham
Tổ Sư thiền ngộ triệt để, không có cái gì dính mắc,
tự do tự tại, giải thoát tất cả khổ vĩnh viễn. Nên Tâm
Kinh nói “chân thật bất hư”.
Tam
giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Dục
Giới có nam nữ dâm dục, có 6 lớp cõi trời; Sắc Giới có
16 lớp, có sắc thân nhưng không có dâm dục; Vô Sắc Giới
không có sắc thân, chỉ có chấp A lại da thức là ta; nhưng
còn chấp ngã nên không thể giải thoát.
Hiện
tại mình sống trong Dục Giới, chưa tới Sắc Giới, Vô Sắc
Giới; nhưng không cần qua các cõi đó. Nếu tham thiền từ
địa vị phàm phu thẳng chứng Đẳng Giác, khỏi cần qua những
cấp bậc như: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Thập Địa, tổng cộng là 50 cấp, rồi đến
Đẳng Giác. Tất cả pháp môn tu cuối cùng gặp nhau nơi Đẳng
Giác. Từ Đẳng Giác tiến lên Diệu Giác là quả Phật.
Hỏi:
Chị
giúp tiền cho em có phương tiện tham thiền, nhưng không dám
nhận, vì sợ mắc nợ. Vậy việc ấy như thế nào?
Đáp:
Nếu
mình chân tu, một ngày tiêu 10 lượng vàng cũng không thiếu
nợ; còn không tu, uống 1 giọt nước cũng khó tiêu. Chuyên
tu đúng nghĩa chữ “Phật” là tự giác, giác tha.
Vì
người ta cúng dường là để cho mình chuyên tu, nhận sự
cúng dường mà không chuyên tu thì phải trả nợ. Hư tiêu
tín thí cũng là tội địa ngục, phải từ địa ngục ra;
rồi phải đầu thai làm trâu ngựa đền nợ, muốn trả nợ
liền cũng không được.
Hỏi:
Cắt
đứt mạng căn, điều này con không hiểu; như các vị đã
chứng đạo còn đi hoằng hóa trong sanh tử, có ngài nói: “Sanh
như đắp chăn bông, tử như cởi áo hạt”. Vậy các ngài
cắt đứt mạng căn làm sao hành đạo?
Đáp:
Cắt
đứt mạng căn là thật tế. Các vị phát hạnh Bồ Tát vào
trong sanh tử luân hồi để độ chúng sanh là do nguyện của
mình, không phải do bị nghiệp lực trói buộc; tức là sanh
tử tự do, muốn vô sanh tử hay ra ngoài sanh tử đều được.
Như phạm nhân ở tù thì không thể ra vô tù, nhưng người
không tội muốn ra vô tù dễ dàng.
Cắt
đứt mạng căn là không còn bị sanh tử luân hồi, hai thứ
sanh tử đều không dính dáng. Cắt đứt mạng căn không phải
không còn cái gì! Phật tánh không thể diệt, trí Bát Nhã
luôn luôn dùng. Chư Phật chư Bồ Tát không phải bị đầu
thai, nhưng có thiên bá ức hóa thân. Người nào có duyên,
chỉ cần nổi niệm thì hiện trước mắt. Như Quan Thế Âm
là tùy thân nào thì hiện thân đó độ, nhưng không phải
đi đến.
Phật
Thích Ca đến rờ đầu chúng sanh thọ ký, nhưng sự thật
không đến. Vì khắp không gian thì không có khứ lai, có muốn
tìm cũng không được, không tìm thì chỗ nào cũng có; khắp
thời gian là Niết Bàn.
Tư
tưởng của cô còn chấp có, cho nên sanh mạng là sở hữu.
Sanh mạng là tâm, tâm là vô sở hữu. Như ngài Long Thọ thí
dụ vô sở hữu là tâm, nên gọi là tánh không (trống rỗng).
Người nào nổi tâm thì có cảm ứng, vì không phải như có
với không của bộ óc. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tùy duyên phó
cảm chẳng thiếu sót, nhưng thường ở nơi tòa Bồ Đề”.
Không biến đổi lay động, nhưng chân trời gốc biển có
chúng sanh nổi lên một niệm thì cảm ứng.
Như
đài phát thanh có làn sóng điện khắp hư không, nếu có radio
nhỏ ở xa rà đúng tầng số thì nghe được. Đừng dùng tư
tưởng chấp thật, như người ta nói có cho là thật có, nói
không cho là thật không. Nếu chấp có Phật hay không có đều
không đúng. Vì có và không là tương đối. Vô duyên tri là
không có năng tri và sở tri, không có tri với bất tri để
tương đối.
Hỏi:
Thiền
sư Vạn Hạnh nói:
Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn
vật xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô.
Tinh
thần bài thơ này thì Thiền sư Vạn Hạnh kiến tánh chưa?
Đáp:
Bài
này là tùy chấp của chúng sanh mà nói, tất cả kinh Phật
cũng theo bệnh chấp chúng sanh mà nói. Cho nên, Phật nói: “49
năm thuyết pháp, tôi chưa nói một chữ” và “Ai nói Phật
có thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”. Vì bản thể
của tâm không thể dùng lời nói văn tự để diễn tả được.
Nói
được là bề trái, chứ không phải bề mặt; bề mặt là
bản thể không thể nói được, dùng lục căn không thể tiếp
xúc. Bề trái là pháp tương đối, có và không là tương đối;
như Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Bất tăng, bất giảm, bất cấu,
bất tịnh” đều là tương đối.
Hỏi:
Dùng
câu thoại đầu để hỏi, nhưng có ý mong muốn để đáp
ứng câu hỏi ấy. Vậy có được không?
Đáp:
Không
được! “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, phải
thực hành 9 chữ này để phá ngã chấp. Có muốn ngộ, muốn
thành Phật đều không được.
Hỏi
là kích thích niệm không biết, nhìn chỗ không biết, muốn
xem chỗ không biết là gì, chỗ không biết thì không có chỗ,
nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không thấy gì vẫn
còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Hỏi và nhìn
song song để giữ nghi tình, đưa hành giả đến thoại đầu,
rồi kiến tánh.
Hỏi:
Xin
Hòa thượng dùng trí huệ xem bệnh của con và cho thuốc?
Đáp:
Bây
giờ khai bệnh?
-Nếu
con khai bệnh thì thuộc về ngôn từ! Hòa thượng nhìn con,
có biết không?
-Không
biết, phải đi bác sĩ mới biết.
-Bệnh
của con từ muôn thuở là bệnh vô minh, mà con nghe Hòa thượng
dạy rằng từ một niệm vô minh phải lìa nó.
-Tôi
không có nói như vậy, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô minh”
là không có vô minh phải không? Tại sao bây giờ nói một
niệm vô minh? Đó là Phật nói mà!
-Bây
giờ con thắc mắc chỗ này?
-Tôi
không nói một niệm vô minh, vì tôi nói đúng theo kinh. Chứ
đừng có bày đặt!
-Phải
lìa niệm vô minh.
-Đã
không có vô minh, sao còn nói lìa!
-Lìa
niệm vô minh để trở về vô thỉ vô minh.
-Đó
là nhất niệm vô minh là tại mình suy nghĩ, chứ vốn là không
có.
-Tại
sao nhất niệm vô minh phải bỏ đi để trở về vô thỉ vô
minh?
-Không
có trở đi trở lại. Tại cái thân mình xoay thì mới thấy
căn nhà xoay, do tâm mình có bày đặt bậy bạ mới có sanh
tử có vô minh.
-Tại
tâm mình!
-Phải
rồi! Do tâm bà tự mình bày đặt; không có bệnh tự nói
là tôi có bệnh.
-Bạch
Hòa thượng con hiểu.
-Vậy
là hiểu được rồi.
Hỏi:
Sao
5 câu thoại đầu mà con đọc qua, không khởi được nghi tình?
Đáp:
Bà
hãy trả lời tôi hỏi: Khi chưa có trời đất bà là cái gì?
Biết không?
-Biết.
-Là
cái gì hãy nói đi!
-Là
con, là không có gì hết.
-Không
có gì hết sao bà có đây?
-Vì
cái vô minh.
-Phật
đã nói không có vô minh, mà sao bày đặt vô minh? Đó là do
bà tự bày đặt, vậy không thể tham thiền được. Lời của
Phật mà bà cũng không chịu nghe, tôi nhắc đi nhắc lại trong
Bát Nhã Tâm Kinh nói “không có vô minh” và còn thí dụ cái
nhà xoay. Tự mình không biết mà cho là biết. Không có gì
hết thì bà lấy gì để biết không có gì hết? Phải có
thân tâm mới biết được chứ!
Hỏi:
Con
tham câu “niệm Phật là ai?” có khi có nghi tình và không
có nghi tình, con hỏi câu thoại thì con trả lời tâm là Phật,
cũng có lúc trả lời tâm không phải Phật, xin Sư Phụ khai
thị?
Đáp:
Vậy
tham niệm Phật là ai không có nghi tình rồi. Cô không biết
niệm Phật là ai phải không?
-Phải.
-Nam
mô A Di Phật, cô có nghe không?
-Nghe.
-Ai
niệm?
-Tâm
niệm.
-Vậy
biết tâm niệm, sao nói không biết ai? Biết rồi thì không
có nghi tình! Không biết mới có nghi tình. Lúc cô ăn cơm có
biết mình ăn cơm không?
-Biết.
-Mặc
áo biết mình mặc áo không?
-Biết.
-Nói
năng tiếp khách, biết mình nói năng tiếp khách không?
-Biết.
-Chỉ
niệm Phật không biết, vậy tự dối mình! Nếu không biết
thì tất cả đều không biết như ngài Lai Quả, mới tham “niệm
Phật là ai?” được. Mấy cái kia biết và tôi niệm mà cô
cũng biết, tự mình dối mình không biết. Vậy sao có nghi
tình được?
-Con
không biết tâm là ai?
-Niệm
Phật không biết là ai, tại sao ăn cơm lại biết là tôi?
Mặc áo sao biết là tôi? Mấy cái kia biết thì niệm Phật
cũng biết vậy. Bây giờ cô quỳ đây cô biết không?
-Biết.
-Ai
quỳ đó?
-Con
quỳ.
-Vậy
là biết rồi! Làm sao nói là không biết? Tất cả các thứ
kia đều biết, mà chỉ niệm Phật không biết là tự dối
mình. Nếu không biết thì tất cả đều không biết, còn biết
thì không có nghi tình. Không hiểu không biết mới là nghi
tình.
Hỏi:
Ngồi
thiền hay bị nhức đầu, nếu chú tâm trên đỉnh đầu thì
ít bị nhức. Vậy như thế nào?
Đáp:
Nhức
đầu là do tập trung tinh thần cố gắng nên có nhức đầu.
Khỏi cần tập trung tinh thần, cố gắng; ít phí sức chừng
nào tốt chừng nấy, chỉ cần liên tiếp một chút nghi tình.
Chọn câu nào tự mình không hiểu, nếu hiểu là tâm cũng
không được. Cô nên chọn câu “chẳng phải tâm, chẳng phải
Phật, chẳng phải vật là cái gì?”
-Theo
câu thoại, cô có biết không?
-Không.
-Không
biết là được, vì trước kia cô chấp là tâm, bây giờ chẳng
phải tâm thì không thể chấp tâm nữa.
Hỏi:
Mọi
vật đều do tâm tạo, tâm tạo có rồi trở về không phải
bị luân hồi sanh tử chăng? Tâm là bản thể phát ra mọi
vấn đề, tâm là cái gì và ở đâu?
Đáp:
Tâm
phải ngộ rồi mới biết, bây giờ không biết được; vì
tâm không bản thể, số lượng, nhưng cái dụng khắp không
gian thời gian. Nói có hay không cũng không phải, chứ đâu
phải trở về không hay từ không sanh ra có! Ông nói vậy không
đúng.
Nói
tâm tạo là mình cảm giác sai lầm cho là có tạo, vì tâm
mình hoạt động, ban đêm biến ra nhắm mắt chiêm bao, ban
ngày biến hiện mở mắt chiêm bao. Biến hiện là tạo chiêm
bao, chứ không phải tạo cái thật! Ông cho thật là sai lầm.
Ban
đêm mình nằm trên giường nhắm mắt ngủ thì nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân; 5 thức này ngưng hoạt động, chỉ một
mình thức thứ 6 không bao giờ ngưng hoạt động, chết vẫn
còn hoạt động.
Theo
Duy Thức gọi là độc đầu ý thức (thức thứ 6) hoạt động
biến hiện nhắm mắt chiêm bao, có thân chiêm bao tiếp xúc
thế giới chiêm bao; tiếp xúc tách có thật chất tách, tiếp
xúc bình có thật chất bình, tiếp xúc bàn có thật chất
bàn, tiếp xúc nóng biết nóng, tiếp xúc lạnh biết lạnh.
Thân chiêm bao biết buồn biết vui, bị người ta đánh cũng
biết đau.
Giả
sử trong chiêm bao có một vị Thiện Tri Thức thuyết pháp
rất hay, giải thích cho người chiêm bao: “Bình này không
thật, luôn cả thân ông cũng không thật”, người chiêm bao
không tin. Tại sao? Tiếp xúc cái nào cũng thật, thân tôi không
thật sao người ta đánh tôi biết đau, biết buồn biết vui!
Khi
thức dậy khỏi cần Thiện Tri Thức giải thích, tự mình
chứng tỏ các việc trong chiêm bao không thật, luôn cả thân
chiêm bao không còn, biết Thiện Tri Thức nói đúng. Thức dậy
thì Duy thức gọi là tự chứng phần (tự mình chứng tỏ).
Nhắm
mắt chiêm bao ngủ đã tự thức, bây giờ là mở mắt chiêm
bao, Duy Thức gọi là đồng thời ý thức biến hiện.
Tại sao? Vì cùng 2 thức biến hiện, là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân không ngưng hoạt động. Như nhãn thức thấy cái này
cái kia, phải có ý thức đồng thời nổi lên phân biệt.
Nhĩ
thức nghe được âm thanh, nhưng không biết tiếng gì, tiếng
chim, tiếng chó,… phải có ý thức đồng thời nổi lên phân
biệt được tiếng chim hay tiếng chó,… Nếu chỉ có ý thức
mà không có nhĩ thức thì không nghe được tiếng lấy cái
gì để phân biệt? Cho nên, phải có hai thức đồng thời
mới phân biệt rõ ràng.
Mở
mắt chiêm bao không bao giờ tự thức tỉnh, phải tham thiền
đến kiến tánh được thức tỉnh. Hiện nay mình đang chiêm
bao, dù Phật nói có lý nhưng mình không tin.
Như
Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận, vô
lão tử diệc vô lão tử tận”, sau này ai cũng già chết,
sao Phật nói không có già chết? Ai tin được! Cho nên, phải
tự chứng thì rõ. Người ta cho nhắm mắt chiêm bao thật chiêm
bao, mở mắt chiêm bao không phải chiêm bao.
Một
thức hay 2 thức đều là tâm tạo, vì vậy Phật nói: “Tất
cả do tâm tạo”, tâm tạo không phải thật. Nếu tâm không
tạo thì vốn không có. Đó là cảnh giới chiêm bao, chứ không
có thật! Nhưng tại mình đang chiêm bao cho là thật.
Hỏi:
Ăn
chay ăn trứng gà không trống được không?
Đáp:
Người
ta ăn chay uống mật ong, sữa bò cho là được, còn ăn trứng
gà không trống là không được! Nhưng mật ong là lương thực
của ong, nếu mình dùng tiền để giựt lương thực của ong
cũng có nhân quả; sữa bò là để cho bò con bú, nếu lấy
lương thực của bò con phải có nhân quả.
Trứng
gà không trống không có sanh mạng, gà đẻ trứng không ai
ăn để lâu sẽ hư thúi. Ăn trứng gà không trống không giựt
đồ ăn của ai thì không có nhân quả. Gà có trứng phải
đẻ ra, có cứt phải ỉa ra, vậy ăn trứng gà không trống
cũng như ăn cứt gà.
Hỏi:
Thế
nào là Tăng Bảo?
Đáp:
Tăng
là tu sĩ, Ni cũng là tu sĩ; chữ “Tăng” tiếng Ấn Độ gọi
là Tăng Già, tức là hòa hợp chúng. Theo nghĩa hòa hợp chúng,
trong giới luật quy định phải từ 4 người trở lên hợp
lại mới thành Tăng, 3 vị chưa phải là Tăng. Cho nên nói
Tăng già là Tăng Đoàn. Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni từ 4 vị trở
lên gọi là Tăng Đoàn, cư sĩ có thọ ngũ giới từ 4 vị
trở lên cũng gọi là Tăng Đoàn, vì có hòa hợp chúng. Cư
sĩ do tu sĩ lãnh đạo.
Quy
y là quy y Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo), nếu người
ta đảnh lễ Phật Bảo và Pháp Bảo, mà không đảnh lễ Tăng
Bảo. Vậy chỉ đảnh lễ Nhị Bảo, chứ không phải đảnh
lễ Tam Bảo! Vì người ấy không hiểu rồi phỉ báng Phật
pháp, phá hoại giới luật không hay. Quy y Tam Bảo mà trong
đó có Tăng Bảo.
Quy
y Tam Bảo đâu phải quy y riêng một thầy nào! Tăng là một
đoàn thể hòa hợp, không phải cá nhân; tu sĩ thay mặt cho
Tăng. Ni có Hòa thượng Ni, Thượng tọa Ni, Đại Đức Ni.
Như thọ giới bên Ni Bộ phải có Hòa thượng Ni, có tam sư
thất chứng Ni. Thọ giới xong rồi qua tam sư thất chứng Tăng
để chứng minh. Truyền giới là Ni truyền cho Ni.
Người
nữ xuất gia thì bổn sư xuống tóc là Ni, nếu Tăng xuống
tóc cho người nữ thì Tăng ấy có tội; nhưng bây giờ người
nữ thích bên Tăng xuống tóc. Giới luật nhà Phật quy định
rất tỉ mỉ, có mấy trăm thứ yết ma; theo thứ tự,
cái nào cần 5 người hay 10 người,… mỗi thứ đều có quy
định. Nghĩa yết ma là làm việc, hội nghị; bây giờ chỉ
có yết ma truyền giới với yết ma bố tát, có rất nhiều
yết ma.
Bất
cứ làm việc gì trong Tăng Đoàn đều có yết ma, gọi là
bạch tứ yết ma. Tại sao? Nói lý do một lần, rồi hỏi 3
lần; tất cả đồng ý thì thông qua. Chuyện nhỏ bạch một
lần hỏi một lần, gọi là bạch nhị yết ma. Không
cần người ta đồng ý, gọi là đơn bạch yết ma. Không biết
cứ lấy ý mình nói bậy phỉ báng Phật pháp, tự mình tạo
địa ngục cũng không biết.
Hỏi:
“Minh
tâm kiến tánh”, tánh phải Phật tánh hay bản lai diện mục?
Tâm và tánh khác nhau không? Nếu không khác, sao nói chẳng
phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?
Trò nghĩ: Không phải tâm, không phải Phật, không phải vật;
tức chẳng phải vật gì, không tướng, màu, mùi,… vậy là
bản lai diện mục.
Đáp:
Cô
đã hiểu lầm, không biết nghĩa tham thoại đầu và khán thoại
đầu. Ngài Long Thọ dùng hư không vô sở hữu ví dụ tâm,
tâm ai cũng nói được; nhưng tâm là gì không ai biết, phải
ngộ rồi biết. Vô sở hữu dung nạp tất cả vật.
Tại
sao vô sở hữu dung nạp tất cả vật? Vì vô sở hữu là
không có hư không thì dung nạp tất cả vật. Ngài Long Thọ
nói Vô sở hữu là trống rỗng nên dung nạp tất cả vật.
Như mặt trăng, mặt trời, cây cối,… đều ở trong cái vô
sở hữu này dung nạp và ứng dụng. Hư không vô sở hữu
thì lấy gì nói là quảng đại? Tại chấp có hư không mới
nói hư không quảng đại. Tuy, hư không chẳng nói quảng đại,
nhưng lại dung nạp và ứng dụng.
Cô
nhìn thấy tôi, nói chuyện, cuộc sống hàng ngày đều nhờ
vô sở hữu. Mình đang dùng tâm mình, muốn tìm thì không ra;
vì không hình thể số lượng, nhưng dụng rõ ràng. Vô sở
hữu không bị hạn chế, do thông minh con người hạn chế
cái không của tách; nếu tách bít hết là tách chết, dùng
không được, vì có trống rỗng nên dùng được, bình và
bàn đều vậy.
Có
nhiều nghĩa không khác biệt giảng ra có lý. Cái không vô
sở hữu chẳng có nghĩa lý, nhưng ứng dụng tất cả. Chưa
dựng nhà lên thì cái không đã có sẵn. Không có cái không
của tách mà cái không cũng sẵn sàng. Nếu chẳng có cái không
sẵn sàng làm sao có cái không của tách, bình, nhà? Chẳng
có cái không của nhà làm sao mình ngồi đây? Cô quỳ đây
được?
Mình
đang ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết! Cứ truy cứu
những danh từ đoán mò bậy bạ cái này cái kia, đó
là sản phẩm của bộ óc, không phải thật tế. Phật nói
là thật tế gọi là Thật Tướng, Phật dùng tướng để
thí dụ tâm trạng chúng sanh có tứ tướng (ngã, nhân, chúng
sanh, thọ giả). Tánh với tướng không phải hai thứ, vì chưa
kiến tánh nên nói như thế để cho người ta hiểu.
Đang
ở trong chiêm bao, chấp chiêm bao là thật, nên phân biệt tâm,
tánh, tướng; đến khi ngộ thì bất nhị chẳng có tương
đối, nên 4 bài kệ nói về vô duyên tri. Vô duyên tri (Thật
Tướng) là dụng và thể của tâm. Kinh Kim Cang nói: “Thật
Tướng vô tướng”, Tại sao? Vì trống rỗng, nếu có tướng
thật thì không phải thật tướng, vì sẽ hư. Như thân này
sẽ hư mất, Thật tướng không mất, vĩnh viễn tồn tại.
Hỏi:
Cái
gì để cho người chết được biết?
Đáp:
Không
những con người có sức biết của tâm, mà cây cối cũng
có sức biết. Phật nói: “Thiện nguyện hay ác nguyện đều
được thỏa mãn”, tâm lực mạnh thì tâm nguyện đến nhanh.
Uất Đầu Lam Phất ngồi trong rừng tu nghe chim kêu nổi giận,
gần bờ sông nghe cá lội phát sân, ông nổi niệm “làm chồn
bay vào rừng ăn chim, vô nước ăn cá”, niệm này chỉ thoáng
qua.
Sau
này ông tu đến cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng (cõi trời
cao nhất của Vô Sắc Giới) thọ mạng 8 muôn đại kiếp.
1 đại kiếp = 4 trung kiếp, 1 trung kiếp = 20 tiểu kiếp, 1
tiểu kiếp = 16 triệu năm (16.000.000 x 4 x 20), thời gian rất
lâu, người ta tu mà không có sắc thân, chỉ có A lại da thức.
Nhưng còn chấp A lại da thức là ta nên không giải thoát,
thọ mạng hết phải đọa làm chồn bay để thỏa ác nguyện.
Tôi
làm nông nghiệp không dùng phân hóa học, chỉ dùng lá cây
làm phân là muốn sửa lại đất. Nếu dùng chất hóa học
làm cho côn trùng chết hết nên đất bị khô cằn và làm
cho nước ô nhiễm, không khí không trong sạch. Có nhà nông
nghiệp Mỹ không dùng chất hóa học, không nhổ cỏ; cỏ không
giành chất bổ của cây trồng, lại làm cho thêm xốp. Thực
vật mạnh thì côn trùng không thể ăn, như con người khỏe
thì bệnh không xâm nhập.
Nhà
nông nghiệp có kinh nghiệm nhìn màu lá cây biết có bệnh
hay không, nếu có bệnh thiếu chất gì thì bổ sung cho nó
chất đó, nên côn trùng không thể ăn. Vì vậy không cần
sát trùng. Thấy người ta trồng nhản cho phân hóa học thì
vài năm sau đất bị hư. Dùng thuốc hóa học để trái cây
mau lớn, thành ra bị nhiễm độc rất nhiều, không khí độc,
nước độc, rau cải độc,…
Khoa
học tiến bộ lãnh đạo thế giới, nhưng bệnh ung thư nước
Mỹ nhiều hơn nước Pháp, nước Anh. Tại sao? Vì họ có thói
quen hay ăn thịt, rồi cho là sữa bổ. Thật tế, con người
bú sữa mẹ, sữa bò thích hợp cho bò con. Ngày xưa bò ăn
cỏ thiên nhiên, bây giờ nuôi bò dùng lương thực có thuốc
kích thích để mau lớn sữa nhiều, như vậy đã thành độc.
Có
người lập ra nông trường nuôi bò, ông ấy bị bệnh không
đi được. Ông có nguyện “nếu tôi hết bệnh thì không
nuôi bò nữa”, khi ông hết bệnh thực hiện ý nguyện của
mình. Đài truyền hình mời ông giảng, chủ đài truyền hình
nghe rồi không dám ăn thịt bò. Tại sao? Vì con bò bệnh chết,
rồi xay nát trộn lương thực cho bò ăn. Vậy không có độc
làm sao được?
Mỗi
vật nào đều có sức, nhà khoa học không tin tâm, nhưng nói
là từ trường. Mắt nhìn cái bàn không lay động, theo khoa
học thì bàn có lay động 2 thứ:
- Do
quả đất xoay xung quanh mặt trời 1 giờ là 180.000 km.
- Nhiều
nguyên tử tổ chức thành, mỗi hạt nguyên tử ở giữa có
1 trung tử, chu vi có nhiều điện tử, ngày đêm xoay không
ngừng, tốc độ nhanh không thể biết. Chớp mắt là 1 giây,
1 giây = 1/3 hay ½ tốc độ ánh sáng. Tốc độ ánh sáng,
1 giây đi 300.000 km. Đem cái bàn chặt tan nát, nhưng các hạt
điện tử, nguyên tử vẫn còn xoay; không bắt đầu và không
cuối cùng, liên tiếp ngày đêm xoay mãi. Vật chất khác đều
cũng vậy.
Nếu
theo mắt nhìn là sai lầm, vì thấy không đúng với thật tế;
mắt thấy yên tịnh, nhưng đang lay động. Nghe cũng vậy, không
khí chấn động làm ra âm thanh, tầng số dưới 50 thì lỗ
tai nghe không được; tầng số cao trên 20.000 thì tai không
nghe được. Nghe không được, rồi nói không có tiếng, vậy
đâu phải! Lục căn có hạn chế, còn tâm không hạn chế;
không hạn chế gọi là trí Bát Nhã (chánh biến tri, vô duyên
tri) luôn luôn khắp không gian thời gian.
Như
lớp da có xúc giác khắp không gian thời gian của cơ thể,
tức là nó làm việc không bao giờ ngưng. Do tâm chấp, nói
đụng chỗ đó thì nói chỗ đó biết, tiếp xúc nó biết,
không tiếp xúc không biết. Sự thật không tiếp xúc
nó cũng biết, không bao giờ ngưng làm việc; tiếp xúc mạnh
thì nó biết đau, ngứa cũng biết ngứa; không đau không ngứa
đều biết, không tiếp xúc vẫn biết. Nếu không biết sao
nó biết không tiếp xúc!
Tiếp
xúc đầu cùng cơ thể đều biết, tiếp xúc tay cùng cơ thể
đều biết, chứ không phải chỉ chỗ đó biết! Vì khắp
không gian cơ thể thì không có chỗ, khắp thời gian cơ thể
thì không có lúc. Cho nên, không phải lúc tiếp xúc mới biết,
lúc không tiếp xúc thì không biết.
Hỏi:
Con
có bệnh hôn trầm. Xin Sư Phụ chỉ dạy?
Đáp:
Tham
thiền nếu hôn trầm nên mở mắt lớn, còn hôn trầm hãy
dùng nước lạnh rửa mặt, còn hôn trầm nữa thì đứng dậy
đi kinh hành.
Tổ
Hiếp Tôn Giả 80 tuổi xuất gia, các thanh niên cười nói:
Ông già quá xuất gia có lợi ích gì, không tu được bao lâu,
làm sao kiến tánh?
Ngài
nói: Hẹn 3 năm tôi sẽ kiến tánh.
Ngày
đêm ngài tham thiền, đúng 3 năm sau kiến tánh làm Tổ thứ
10 của Thiền tông. Sau này Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền qua
Trung Quốc, rồi các Tổ Vô Ngôn Thông,… ở Trung Quốc truyền
sang Việt Nam.
Các
vị tham thiền đều con cháu ngài Hiếp Tôn giả.
80
tuổi xuất gia chưa trể, chỉ cần quyết tâm tu sẽ được
thành tựu có ngày kiến tánh.
Hỏi:
Con
tham câu: “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?”, cảm
thấy thắc mắc không hiểu, rồi con hỏi tiếp. Vậy có đúng
công phu không?
Đáp:
Hỏi
câu thoại để kích thích niệm không hiểu không biết, khán
thoại đầu là nhìn chỗ không biết; muốn xem chỗ không biết
đó là gì, chỗ không biết thì không có chỗ; nên không có
mục tiêu để nhìn, nhìn mãi vẫn không thấy gì cũng còn
không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Vừa hỏi vừa nhìn
song song để giữ nghi tình, sẽ đưa hành giả đến thoại
đầu, rồi kiến tánh thành Phật.
-Có
muốn biết mà biết không được, vậy có đúng công phu không?
-Đúng,
tại khán thoại đầu là muốn biết, mà biết không nổi,
nên vẫn còn không biết, gọi là nghi tình. Hỏi để kích
thích niệm không biết, gọi là tham thoại đầu; khán thoại
đầu là nhìn chỗ không biết, muốn biết chỗ không biết;
nhưng biết không nổi vẫn còn không biết, vì nhìn không thấy
gì. Người ta tưởng nhìn thấy cái gì, nếu thấy cái gì
là sai.
Hỏi:
Phẩm
Phật Đạo của kinh Duy Ma Cật nói: “Bồ Tát muốn có Phật
đạo phải hành phi đạo tạo tội ngũ nghịch thập ác”.
Con không hiểu ý này, xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Đó
là phá chấp theo văn tự ngôn ngữ, tất cả lời nói đều
không thật. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Phàm có lời nói đều
chẳng có nghĩa thật”, kinh Kim Cang nói: “Ai nói Phật có
thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”, Phật nói: “49
năm thuyết pháp, chưa từng nói một chữ”. Chỗ thật tế
nói không được, nói ra đều không phải thật.
Độ
chúng sanh có 2 thứ:
-Thuận
độ là nói có nghĩa lý.
-Nghịch
độ lời nói không có nghĩa lý, nghịch với nghĩa lý; nhưng
để phá chấp thật lời nói.
Cho
nên, đừng hiểu theo lời nói, Phật rất sợ chúng sanh hiểu
theo lời nói của Phật; vì vậy Phật thuyết pháp cuối cùng
phủ nhận tất cả.
Hỏi:
Tại
sao giới luật của Ni nhiều hơn Tăng?
Đáp:
Vì
tâm lý của người nữ khác hơn người nam, nên Phật muốn
giúp cho người nữ bằng với người nam mau được kiến tánh.
Vì vậy, Phật chế thêm giới luật đối với Ni. Như người
nam không mặc áo đi ra ngoài đường không ai để ý. Người
nữ không mặc áo đi ra ngoài đường có được không? Nếu
không được, nên Phật phải chế giới luật của Ni nhiều
hơn giới luật của Tăng.
Hỏi:
Sao
khi xưa người nữ không được xuất gia?
Đáp:
Vì
tâm lý của người nữ khác hơn người nam. Ngày xưa ở Aán
Độ trọng nam khinh nữ. Tâm lý người nữ mà chính người
nữ cũng không hiểu được, vì nó biến đổi vô thường.
Theo sinh lý có ảnh hưởng, như người nữ sắp hết đường
kinh, tâm lý có luyến ái hay khi có kinh có người sanh ra luyến
ái. Mặt trăng tròn hoặc khuyết có thể ảnh hưởng
tâm lý và sinh lý.
Công
việc mà người nam làm được, nhưng người nữ không làm
được. Công việc của người nữ mà người nam vẫn làm
được. Như ở Tòng Lâm Trung Quốc hoàn toàn không có người
nữ, tất cả công việc của người nữ đều do người nam
làm hết.
Năm
1974, tôi viếng thăm các nước, nhiều chùa của Tăng nhưng
Ni nắm quyền. Vì vậy, ngày xưa Phật cho người nữ xuất
gia phải có điều kiện pháp Bát Kỉnh. Bát Kỉnh là 8 điều
kính trọng Tỳ Kheo. Chúng sanh bình đẳng, nhưng tâm sinh lý
khác biệt; cho nên Phật chế ra giới luật bề ngoài thấy
như không bình đẳng. Nhưng ý của Phật muốn giúp người
nữ được bằng như người nam mau được kiến tánh.
Người
kiến tánh không phân biệt nam nữ. Theo pháp Bát Kỉnh chỉ
có Tỳ Kheo Ni đảnh lễ Tỳ Kheo, chứ Tỳ Kheo không bao giờ
đảnh lễ Tỳ Kheo Ni. Nhưng Tỳ Kheo Ni kiến tánh, Tỳ Kheo
đi hỏi pháp cũng phải đảnh lễ. Trong Lịch Sử Thiền Tông
Trung Hoa ghi rõ. Tỳ Kheo Ni kiến tánh cũng được chính quyền
mời ra trụ trì.
Lời
tác bạch của Thượng tọa trụ trì Thiền Đường Tam Bảo:
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính
thưa Sư Phụ!
Hôm
nay là ngày Thiền thất thứ 7, con lên tỏ hết tấm lòng chân
thật, không dám nói dối. Thật sự con, ai cũng kêu bằng bà!
Mà con cũng thương người nữ thật, con quyết tu để trả
ơn Phật; khi gặp được Sư Phụ, tin liền Tổ Sư thiền chân
thật, cho nên nguyện đem hết thân này để công quả.
Hôm
nay, con nhìn chùa Tam Bảo, Sư Phụ về đây, bên nữ nhiều
quá, cái nguyện của con được thành tựu; Sư Phụ về
đây, chắc chắn nghĩa địa cũng siêu thoát, lòng tin của
con tin chắc như vậy. Con nguyện sau này đời đời kiếp kiếp
theo Sư Phụ để đền ơn chư Phật.
Tri
ân Sư Phụ.
Lời
đáp từ của Hòa thượng Duy Lực:
Thầy
trụ trì chùa Tam Bảo ít có người làm được vậy, tận
sức phục vụ cho chúng tu; không có kiến lập oai quyền của
người trụ trì, mà lại tự nói là công quả. Cho nên, tự
nhiên người ta tụ lại ham tu.
Các
nơi khác thường đặt oai quyền ra thì chúng tự nhiên không
phục, nếu người nào không phục thì họ lại lấy oai quyền
uy hiếp. Còn ở đây khác hơn, đối với người nào cũng
tốt hết, thành ra người ta ham tu là vậy. Cho nên, tôi cũng
thấy cảm động, tới tháng sau là 14 đến 20, hôm trước
tôi chưa định đến, nhưng bây giờ tôi quyết định sẽ
đến. Sẵn đây báo cho đại chúng biết.
Hỏi:
Nếu
tâm tán loạn, đề câu thoại đầu không lên. Vậy phải dụng
công như thế nào?
Đáp:
Tán
loạn đề không lên cũng đề, đề lên cũng đề; như kinh
nghiệm của ngài Lai Quả chưa kiến tánh có khi một hai ngày
đề không lên, ngài nói: “Đề không lên cũng đề, đề
lên cũng đề”, cứ hỏi và nhìn song song. Lúc không có nghi
tình thì niệm cũng được, nhưng phải nhìn thì tự nhiên
sẽ có nghi tình lại. Đừng có biết tới đề lên hay đề
không lên, cứ tiếp tục hoài là được.
Hỏi:
Thế
nào là hữu tình và vô tình?
Đáp:
Có
tình cảm gọi là hữu tình, thực vật có sinh mạng nhưng
không có tình cảm gọi là vô tình. Phật pháp độ chúng sanh
hữu tình, cấm sát sanh là cấm giết hại hữu tình. Bồ Tát
tiếng Phạn gọi là Bồ Đề Tát Đỏa, Bồ Đề là giác ngộ,
Tát Đỏa là hữu tình; tức là giác ngọâ cho hữu tình, hữu
tình giác ngộ mới được giải thoát (độ chúng sanh).
Có
người nói “thực vật cũng biết”, như cây mắc cở, mình
đụng nó thì lá tự xếp lại; cây rừng của Aâu Châu biết
bắt động vật để ăn, nó có nhiều lá trên mặt đất,
nếu động vật đạp nhầm thì nó ôm lại, trong đó có gai
từ từ tiêu hóa. Sức của cây này rất mạnh, người, cọp,
beo,… đều bị bắt được. Nhưng nó là vô tình theo công
thức làm việc, không có tình cảm.