Ngày
6 – 4 đến 12 – 4 – Đinh Sửu (97)
Hỏi:
Hòa
thượng ban phước báo cho con được ngồi thiền?
Đáp:
Tôi
ban không được, dù Phật Thích Ca cũng không ban được! Các
tôn giáo khác cho là ban được, nhưng theo đạo Phật là “người
nào ăn nấy no”, tức là người nào tu thì người ấy chứng,
gieo nhân gì thì được quả nấy. Cho nên, giết một mạng
phải trả một mạng, ăn một cục thịt phải trả một cục
thịt. Thật ra, không có ai ban được cả!
Hỏi:
Tụng
kinh Pháp Hoa có thể được không?
Đáp:
Kinh
nào tụng cũng được, tại sao không được? Kinh nào đều
dặn là “tín, thọ, phụng, hành”. Muốn tin thì tụng phải
hiểu, rồi lãnh thọ phụng hành (thực hành). Tụng suông mà
không thực hành thì giống không tụng. Như con chim két nói
tiếng người, nhưng không biết nói cái gì! Tụng kinh không
phải trì kinh, trì kinh làm đúng theo ý kinh, tụng chỉ là
đọc tụng. Cho nên, bốn chữ liên tiếp là “đọc tụng
thọ trì”.
Kinh
Pháp Hoa nói: “Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt
tướng” (các pháp từ xưa nay, thường là tướng tịch diệt),
tịch diệt là không có sự sanh khởi, không có sự bắt đầu;
như hư không trống rỗng tịch diệt, cũng là tâm mình. Tham
thiền và thực hành kinh Pháp Hoa là hiện ra tâm mình.
Hỏi:
Có
thành tâm cầu thì có được quả không?
Đáp:
Không
được! Không gieo nhân thì không được quả; đừng nói là
cúng một nải chuối, mà đem một triệu đồng cúng cũng không
cầu được. Mình có làm nhân mới được quả, như trồng
bí thì được bí, trồng đậu thì được đậu. Không làm
nhân, mà xin Phật cho mình quả thì chẳng thể được. Nếu
trồng đậu mà muốn được bí không được, hay trồng bí
mà muốn được đậu cũng không được. Gieo nhân gì được
quả nấy, gieo nhân lành được phước báo, gieo nhân xấu
chịu khổ báo.
Đó
là nhân quả, nếu không gieo nhân mà muốn quả thì trái ngược
nhân quả. Trái ngược nhân quả là phỉ báng Phật, vì Phật
dạy mọi người phải tin nhân quả; nếu cầu được thì
không có nhân quả, không cần tu cần cúng. Có làm ác cũng
sao, vì cầu là được rồi! Cho nên, chánh tín thì không cầu,
phải làm nhân mới được quả.
Tham
thiền có nghi tình là nhân, giác ngộ là quả; không nhân thì
không quả, nên Thiền tông nói: “Bất nghi bất ngộ, tiểu
nghi tiểu ngộ, đại nghi đại ngộ”. Những người mê tưởng
cầu được, ấy là sai lầm; không những cầu không được,
mà còn có tội phỉ báng Phật pháp. Vì Phật không cho cầu,
lại bàn thờ Phật xin cầu là nghịch với Phật pháp.
Hỏi:
“Thị
pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ” nghĩa là
sao?
Đáp:
Câu
này ở trong kinh Pháp Hoa là các pháp tự trụ nơi pháp vị
đó, tức ngôi pháp đó trụ nơi ngôi pháp đó, tướng thế
gian thường trụ theo như vầy. Như tách trụ nơi pháp tách,
tách bể thì ngôi vị tách mất; nhưng thành miểng thì trụ
nơi ngôi pháp miểng. Pháp sanh trụ nơi sanh, pháp diệt trụ
nơi diệt; vì pháp không yên tịnh mà luôn biến đổi, không
có cái nào tịnh.
Cho
nên, Lục Tổ nói: “Chẳng có pháp nào tịnh”, cái nào cũng
đang động là đang biến đổi, chỉ có chơn như Phật tánh
không biến đổi (tịnh), tại không có hình tướng, số lượng.
Vì vốn trống rỗng, không có cái gì để động, tức tâm
của mình; rồi dùng ra trí Bát Nhã cũng vậy.
Trí
Bát Nhã hiện nơi lục thức dùng, không lay động biến đổi,
nên được tồn tại vĩnh viễn. Nhưng thể tìm không ra, còn
dụng thì mình đang dùng là cái trống rỗng. Như tôi nói,
các vị nghe và nhìn với nhau đều nhờ cái trống rỗng. Cái
dụng rõ ràng, cái thể trống rỗng (vô sở hữu).
Hỏi:
Sao
các Tổ Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín không tham thoại đầu
vẫn kiến tánh?
Đáp:
Chư
Tổ đời nhà Tống, như ngài Đại Huệ dùng tâm để ấn
tâm (dùng tâm ấn), hành giả được Tổ sư khiến nổi lên
nghi tình, tự mình tham thiền mà không biết mình tham thiền.
Ngài Lai Quả nói: “Tham thiền không biết mình tham thiền
gọi là chân tham”.
Như
công án: Đạo Lâm có một thị giả là Hội Thông, mấy năm
thầy không dạy bảo, tự mình trong bụng phát nghi “xuất
gia để tham thiền học đạo, nếu không dạy bảo làm sao
giải thoát?”, tức đã tham rồi, nhưng tự mình không biết;
đến chừng nghi tình quá nặng muốn bùng vỡ, chịu không
nổi mới từ giả thầy.
Hội
Thông nói: Xin đi chỗ khác.
Đạo
Lâm hỏi: Đi chỗ khác để làm gì?
Hội
Thông nói: Để học thiền.
Đạo
Lâm nói: Thiền ở đây tôi cũng có chút đỉnh vậy!
Hội
Thông hỏi: Sao không nói cho con biết để tu mau kiến tánh?
Đạo
Lâm nhổ sợi lông trên chiếc áo, thổi ngay trước mặt, Hội
Thông liền ngộ.
Hội
thông đã tham mấy năm, nhưng tự mình không biết, nên gọi
là chân tham.
Sùng
Tín làm thị giả cho Đạo Ngô nhiều năm, nhưng thầy không
dạy bảo, tự mình nghi trong bụng; đến chừng chịu không
nổi, từ giả thầy đi chỗ khác.
Đạo
Ngô hỏi: Sao muốn đi chỗ khác?
Sùng
Tín đáp: Vì thầy không dạy cái gì.
Đạo
Ngô nói: Tại sao nói tôi không khai thị? Ngày nào tôi cũng
khai thị!
Sùng
Tín nói: Thầy đã khai thị cái gì?
Đạo
Ngô nói: Ngươi rót nước thì ta uống, ngươi bới cơm thì
ta ăn, ngươi đảnh lễ thì ta gật đầu, chỗ nào không khai
thị!
Sùng
Tín nghe liền ngộ.
Lâm
Tế ở trong Thiền Hội của Hoàng Bá đã 3 năm, theo chúng
làm việc trong Thiền Đường. Một hôm gặp Thủ tọa Mục
Châu là người đã kiến tánh, biết Lâm Tế là một pháp
khí sau này sẽ thành tựu lớn.
Mục
Châu hỏi Lâm Tế: Có đi hỏi Phật pháp với Hòa thượng
không?
Lâm
Tế đáp: Không.
Mục
Châu nói: Sao không đi hỏi?
Lâm
Tế đáp: Không biết hỏi gì.
Mục
Châu nói: Hỏi là thế nào đại ý của Phật pháp?
Hàng
ngày Mục Châu đối xử Lâm Tế rất tử tế, nên Lâm Tế
rất cảm kích và thường nghe lời đi hỏi.
Lâm
Tế hỏi Hoàng Bá: Thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt thì Hoàng Bá liền đánh đuổi ra, Lâm Tế phát
nghi “tại sao hỏi Phật pháp lại bị đánh đuổi ra?” mà
tự mình không biết. Hôm sau gặp Thủ Tọa hỏi: Có đi hỏi
không?
Lâm
Tế đáp: Có.
Thủ
Tọa hỏi: Thế nào?
Lâm
Tế nói: Không biết như thế nào, mới vừa hỏi thì bị đánh
rồi đuổi ra.
Thủ
Tọa nói: Đi hỏi nữa đi.
Lâm
Tế nói: Thôi không đi hỏi.
Thủ
Tọa nói: Hỏi kỳ này thì khác hơn kỳ trước, nên đi hỏi
nữa đi!
Lâm
Tế hỏi Hoàng Bá: Thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt thì Hoàng Bá đánh mạnh hơn kỳ trước, rồi
đuổi ra.
Thủ
Tọa nói: Vậy phải hỏi lần nữa.
Lâm
Tế nói: Đã hỏi 2 lần lại còn hỏi gì nữa!
Thủ
Tọa nói: Làm gì cũng phải 3 lần, nên đi hỏi nữa đi.
Lâm
Tế hỏi Hoàng Bá: Thế nào là đại ý của Phật pháp?
Kỳ
này Hoàng Bá đánh rất mạnh, rồi đuổi ra. Lâm Tế liền
đến Thủ Tọa nói: Tôi muốn đi chỗ khác, không muốn ở
đây nữa.
Thủ
Tọa cũng biết, nhưng không nói ra, nói với Lâm Tế: Nếu
đi chỗ khác cũng được, nên đi từ giả Hòa thượng; rồi
Lâm Tế đến Hoàng Bá từ giả.
Hoàng
Bá hỏi: Đi đâu?
Lâm
Tế đáp: Chưa biết.
Hoàng
Bá nói: Nên đến Cao An Thăng chỗ Thiền sư Đại Ngu sẽ có
ích cho ông.
Đại
Ngu hỏi Lâm Tế: Từ đầu đến?
Lâm
Tế đáp: Từ Hoàng Bá.
Đại
Ngu hỏi: Hoàng Bá có dạy bảo gì không?
Lâm
Tế nói: Có hỏi 3 lần “thế nào là đại ý Phật pháp?”,
nhưng bị đánh đuổi ra, không biết lỗi ở chỗ nào?
Đại
Ngu nói: Hoàng Bá từ bi như vậy, mà còn nói lỗi ở chỗ
nào!
Lâm
Tế nghe liền ngộ triệt để.
Hỏi:
Sao
Sư Phụ không dùng thủ đoạn để cho chúng con mau ngộ?
Đáp:
Bây
giờ, tôi có đánh các vị đến chết cũng không thể ngộ,
vì các vị không có công phu nên không phát nghi. Ngày xưa chư
Tổ dùng thủ đoạn để cho hành giả phát khởi nghi tình,
mà tự mình không biết, cho nên mau ngộ.
Sau
này cuốn Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời, hành giả
xem biết những thủ đoạn của chư Tổ; nếu có đánh chết
cũng không thể nghi được, nên chư Tổ bất đắc dĩ dạy
tham công án tham thoại đầu.
Hỏi:
Tụng
kinh Pháp Hoa cầu xin việc gì có được không?
Đáp:
Tôi
đã nói: “Cầu là phỉ báng Phật pháp”, còn có cầu là
có ngã thì không thể giải thoát. Nếu có cầu được thì
không có Phật pháp.
Có
người quan niệm tụng kinh Pháp Hoa mới có ăn! Đó là sai
lầm. Tham thiền là theo kinh thực hành.
Hỏi:
Thế
nào là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa và Tối Thượng
thừa?
Đáp:
Theo
biểu đồ của ngài Nguyệt Khê gồm có 4 thừa:
1.
Tiểu thừa:
Trong
giai đoạn ngã chấp, tức là chấp thân ngũ uẩn là ta; theo
triết lý là Chủ Quan Duy Vật Luận, vì Tiểu thừa muốn diệt
lục căn, không cho lục căn đối với cảnh. Thừa này còn
ở trong phạm vi tương đối, như có và không, thường với
vô thường, sắc với không,… Phàm nói ra được đều là
tương đối, vì sống trong phạm vi tương đối.
Tu
là dùng pháp Tứ Đế, tức còn gọi là Tứ Diệu Đế (khổ,
tập, diệt, đạo); mỗi ngày dùng nhất niệm vô minh, ở trong
nhất niệm vô minh, tức từ niệm này qua niệm khác cứ
suy nghĩ lăng xăng. Thừa này gọi là thừa Thanh Văn, mục đích
cuối cùng muốn diệt lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý).
2.
Trung thừa:
Phá
được ngã chấp thì lọt vào pháp chấp, ở trong giai đoạn
pháp chấp, chấp pháp là thật; theo triết lý gọi là Chủ
Quan Duy Tâm Luận, vì không đối cảnh, chỉ có pháp. Cũng
ở trong phạm vi tương đối, cách tu là dùng Thập Nhị Nhân
Duyên còn ở trong nhất niệm vô minh. Thừa này gọi là thừa
Duyên Giác, mục đích dứt nhất niệm vô minh.
3.
Đại thừa:
Phá
được ngã chấp và pháp chấp, nhưng lọt vào không chấp,
tức là ở trong giai đoạn chấp không. Đến chỗ này là tâm
và vật hợp một, nhưng vẫn còn ở trong phạm vi tương đối.
Tu dùng pháp 6 Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí huệ).
Thừa
này đến vô thỉ vô minh là hang ổ của nhất niệm vô minh,
gọi là Bồ Tát thừa, mục đích cuối cùng là phá vô thỉ
vô minh. Phá được vô thỉ vô minh là kiến tánh.
4.
Tối Thượng thừa:
Tham
Tổ Sư thiền là Tối Thượng thừa thì phá ngã chấp, pháp
chấp, không chấp, đến giai đoạn Thật tướng (không có
tướng nào cả) là hư không trống rỗng. Đến chỗ này là
phi tâm phi vật (chẳng phải tâm cũng chẳng phải vật).
Thừa
này đến phạm vi tuyệt đối, cách tu là tham thoại đầu.
Mục đích là đến chân như Phật tánh (kiến tánh thành Phật),
tức là nhất Phật thừa. Khi ngộ rồi gọi là vạn đức
viên mãn, vô tu vô chứng (không tu không chứng).
Tại
sao? Nói kiến tánh thành Phật, thật ra không có Phật để
thành. Thành Phật không phải tu mới thành, bây giờ chưa tu
mà đã thành rồi. Kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh
đều đã thành Phật”. Cho nên nói “vô tu vô chứng”.
Tin
mình có Phật tánh không giảm bớt, không gián đoạn thì hiện
nay mình là Phật; có thần thông, năng lực bằng Phật Thích
Ca. Bất quá mình dùng không hết, đến chừng ngộ cuối cùng
dùng ra được hết.
Hỏi:
Thế
nào là thoại đầu và nghi tình?
Đáp:
Con
quỳ ở đây có biết không?
-Không.
-Khi
chưa có trời đất, con có biết không?
-Không
biết.
-Không
biết tức là phát nghi rồi, chỉ cần hỏi để kích thích
một niệm không biết. Không biết đó là đúng, rồi khán
là nhìn chỗ không biết; chỗ không biết thì không có chỗ,
vì có chỗ là biết. Chưa có trời đất thì không biết, vì
không có chỗ; nên không có chỗ để nhìn, nhìn thấy trống
rỗng vẫn còn không biết. Thiền tông gọi là nghi tình, vừa
hỏi vừa nhìn để giữ cái không biết.
Quán
Khoa Học của thành phố Toronto ở Canada, có máy vi tính chia
làm ba mươi mấy cấp. Những người tham thiền nhờ máy đo
bộ não thì đèn báo từ trên xuống dưới rồi tắt. Chứng
tỏ người tham thiền có nghi tình (không hiểu không biết),
tức là không có suy nghĩ thì bộ óc không hoạt động nên
đèn xuống và tắt.
Đứa
bé 3 tuổi được mẹ dạy tham thiền: “Khi chưa có trời
đất ta là cái gì?”. Thường thường tôi nói: “Con nít
6, 7 tuổi đến người lớn 60, 70 tuổi đều tham thiền được”,
nhưng 3 tuổi tham thiền được thì tôi chưa tin, cũng chưa
gặp! Sẵn có cái máy, rồi ẵm nó để thử coi; tôi bảo
nó tham thiền thì đèn cũng từ trên xuống dưới tắt, mà
đèn lại xuống mau hơn người lớn.
Những
người da trắng đứng bên cạnh thấy và nói “các vị sao
hay
quá, luôn đứa bé cũng làm được; sao chúng tôi không làm
được một chút nào hết?”. Tôi nói với họ: Hãy bớt suy
nghĩ thì đèn mới xuống.
Họ
nói: Tôi không suy nghĩ mà đèn cũng không xuống.
Họ
nói không suy nghĩ, nhưng bộ óc của họ không nghe lời, vì
không khống chế được bộ óc. Còn những vị làm được
là do tập tham thiền đã lâu, luôn cả đứa bé đã có sẵn
không biết, nên đèn xuống mau và tắt. Người lớn đèn xuống
chậm là do có sự hiểu biết, khi tham thiền là dẹp hiểu
biết thì đèn xuống và tắt.
Đứa
bé biết tham thiền, còn dạy tham thiền cho các bạn lớn hơn
nó. Hỏi nó tại sao mày không dạy những đứa bằng mày?
Bé
nói: Dạy không được.
Hỏi:
Tại
sao tụng kinh, niệm Phật không phải tu?
Đáp:
Tụng
kinh thì phải hiểu nghĩa kinh, rồi theo nghĩa kinh thực hành,
gọi là tín, thọ, phụng, hành mới là tu. Nếu tụng suông
không biết ý của kinh, giống như con két nói tiếng người
chẳng biết gì, thì tụng cũng như không tụng. Đọc tụng
là để thọ trì, mục đích kinh để thực hành, chứ chẳng
phải tụng.
Niệm
Phật phải đúng theo tông chỉ Tịnh Độ, thực hành đúng
“tín, nguyện, hạnh”; không phải chỉ niệm, nếu chỉ có
niệm thì không phải Tịnh Độ. Như chỉ niệm chú thì không
phải Mật tông, nếu niệm câu thoại cũng không phải tham
thiền; phải đúng theo tông chỉ của pháp môn đó mới gọi
là tu.
Hỏi:
Cầu
siêu vong linh và cầu an người sống, có được không?
Đáp:
Theo
nhân quả thì phải gieo nhân mới được quả, như trồng bí
được bí, trồng đậu được đậu. Nếu nhân quả không
đúng cũng không được, như trồng bí muốn được đậu,
hay trồng đậu muốn được bí đều không được.
Vậy
làm ác không thể được phước báo, làm thiện không thể
chịu khổ báo, phải đúng theo nhân quả. Có cầu được là
phế bỏ nhân quả, khỏi cần gieo nhân. Như làm ác mà cầu
an cầu siêu được thì khỏi cần tu. Cho nên, tham thiền là
“vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”.
Phàm
chánh pháp đều phá ngã chấp, tức là không chấp thân ngũ
uẩn là ta thì được ra khỏi sanh tử luân hồi. Như Tiểu
thừa phá được ngũ uẩn ngã ra khỏi sanh tử luân hồi, nhưng
còn chấp pháp; đến Trung thừa phá pháp chấp. Phá được
ngã chấp thì ra khỏi phần đoạn sanh tử.
Hỏi:
Cha
mẹ con chết đã lâu, con xuất gia thì cha mẹ con có hưởng
được gì không?
Đáp:
Ai
tu thì người đó được, như cha mẹ thương con bao nhiêu không
thể ăn giùm cho con được; con có hiếu thảo cách mấy cũng
không ăn giùm cho cha mẹ, người nào ăn nấy no. Đó là nhân
quả, chứ không phải người này tu mà người kia được quả;
tức là người nào làm thì người đó chịu, không thể người
khác thay thế. Như Phật Thích Ca cũng không thay thế cho chúng
sanh được.
Bây
giờ, làm cha mẹ con cháu là gieo nhân ở kiếp trước. Cùng
cha mẹ có 2 người con, một người có hiếu, có thể kiếp
trước mắc nợ nên phải trả; một người bất hiếu, có
thể cha mẹ kiếp trước mắc nợ nên đến đòi. Tùy theo
nghiệp của mỗi người có khác, không nhất định; tức là
tùy theo nghiệp nhân nghiệp quả.
Mục
Kiền Liên đã chứng quả A la Hán có thần thông đệ nhất,
mẹ của ngài làm ác đọa ngạ quỷ. Ngài đến ngạ quỷ
thấy mẹ đói, liền biến một bát cơm đem cho mẹ ăn; vì
nghiệp bà quá nặng nên cơm vừa tới miệng thì biến thành
than lửa, không thể ăn được.
Về
bạch Phật, Phật nói: “Nhất thiết duy tâm tạo, nếu tâm
của bà ấy không sửa đổi thì không thể cứu nổi. Tâm
của Tăng chúng hợp lại ảnh hưởng sửa đổi được tâm
của bà ấy một chút, thì mới thoát khỏi đạo ngạ quỷ”.
Đạo
ngạ quỷ rất khổ, nên lấy Vu Lan Bồn hình dung cảnh khổ
tội nhân bị treo ngược. Nếu tâm của bà ấy không sửa
thì Phật cũng không cứu được, tự mình sửa mới được.
Hỏi:
Ba
con tham thiền đã lâu, nếu chết thì chúng con phải tổ chức
như thế nào?
Đáp:
Nếu
con cháu tham thiền thì trước linh cửu tham thiền, không biết
tham thiền thì niệm Phật cũng được; rồi tất cả ăn chay,
không được sát sanh, nên cúng chay, đừng cúng mặn mà gây
tội cho người chết.
-Lúc
nhập liệm có mời các sư để tụng kinh không?
-Có
mời cũng được, đó không phải có quy định. Ngài Hư Vân
trước khi tịch có dặn các môn đồ rằng: “Sau khi tôi chết,
các vị đem thân tôi thiêu, rồi xay nát trộn với cám cho
ngon, đổ xuống sông hay biển để kết duyên cho cá tôm”.
Vậy đâu có làm gì!
-Theo
Thiền Tông có cúng gì không?
-Làm
tuần là do có thân trung ấm, cứ 7 ngày thì sanh tử một lần.
Người
chết không phải biến thành quỷ, quỷ là một đạo trong
6 đạo; cõi trời, người, A tu la là 3 đường thiện; súc
sanh, ngạ quỷ, địa ngục là 3 đường ác. Nếu làm nghiệp
quỷ thì phải đầu thai quỷ, làm nghiệp súc sanh thì phải
đầu thai súc sanh, làm nghiệp địa ngục thì xuống địa
ngục, làm nghiệp người thì sanh người,… theo nghiệp mà
đi thọ thai.
Nếu
làm thiện thêm một chút thì sanh lên 3 đường thiện, nếu
làm ác thêm một chút thì sanh chỗ 3 đường ác. Người chết
có nghiệp thiện hay nghiệp ác hơn kém thì chết đi đầu
thai liền, những người có nghiệp ác và nghiệp thiện bằng
nhau, khi chết không biết thát sanh vào đường nào, nên mới
có thân trung ấm.
Cho
nên, trong 7 ngày đó mà con cháu làm thịt heo gà để cúng
thì tăng thêm việc ác cho người chết, người chết phải
đầu thai xuống ác đạo; hay làm nhà lầu, xe hơi để đốt
là cũng muốn cho người chết ở dưới âm phủ luôn. Vì đầu
thai thành người thì không cần những thứ ấy. Các việc
đó là tại không hiểu.
Nếu
thân trung ấm 7 ngày không phân biệt thiện ác thì phải thêm
7 ngày nữa, vì thân trung ấm mỗi 7 ngày thì sanh tử một
lần; đến cuối cùng là 49 ngày thì tự nhiên phân biệt được
thiện ác, sẽ đi đầu thai.
Chuyện
thật ở Đài Loan có thân trung ấm, ông ấy là Ung Bá Huy từ
Trung Quốc qua, lúc đó 40 tuổi quy y Pháp sư Nam Đình. Rồi
y kể biết được 3 kiếp trước của y. Pháp sư thuyết pháp
muốn chứng tỏ luân hồi để cho mọi người tin, nên nói:
Tôi có một đệ tử biết được 3 kiếp có thân trung ấm,
có một kiếp đầu thai người nhưng một bàn tay là giò heo.
Tôi không thể nói ra tên người đó được, nếu các vị
ra vô chùa thế nào cũng gặp.
Người
ta nghe thuyết pháp rồi không biết là ai! Một hôm, ngồi chung
một bàn ăn cơm trong chùa, có một cánh tay của y bao lại,
còn lại một cánh tay bới cơm khó khăn; một vị khác muốn
bới giùm, nhưng y không cho, 2 người giằng co làm cái túi
sút ra thấy tay giống giò heo; mau mau bao tay lại và dặn ông
kia không được nói ai biết. Lúc chỉ còn 2 người, ông kia
hỏi: Có phải ông đầu thai heo phải không?
Ban
đầu Ung Bá Huy không nói, ông kia nói: Không nói nhưng tôi
đã thấy rồi, ông nói ra thì tôi không nói cho người khác
biết. Rồi y mới kể:
Kiếp
đầu tiên làm Giáo viên dạy học ở thôn quê, khi chết mà
không biết mình chết; thân nhẹ nhàng đi lang thang không biết
đói bụng, một hôm gió bấc thổi rất lạnh; lúc ấy đi
ngang một nhà lớn cửa đang mở, vào trong nhà để tránh gió
nhưng còn thấy lạnh; thấy trên vách tường treo mấy cái
áo lớn, lấy một cái áo mặc vô cảm thấy ấm ngủ quên
hồi nào không hay.
Thức
dậy thấy mình nằm chung các con heo nhỏ và con heo lớn, mới
biết mình là một con heo nhỏ. Trong tâm biết rõ ràng, nếu
heo lớn lên thì người ta làm thịt. Nên tìm cách tự tử,
quyết định không ăn uống; người chủ tưởng heo bệnh cho
uống thuốc, nhưng heo không chịu uống. Qua 7 ngày thì heo chết
khôi phục thân trung ấm.
Thân
trung ấm cũng đi lang thang ngoài đường, một ngày kia gặp
gió bấc lạnh đi ngang nhà lớn; rồi vô nhà thấy cái áo
lớn, một tay vừa đụng chiếc áo nhưng rút lại. Tự nghĩ
rằng, kỳ trước ăn cắp đã thành heo rồi, nên bây giờ
dù có lạnh đến chết cũng không ăn cắp. Lạnh quá nên ngất
xỉu, đến chừng tỉnh lại thì nghe người ta nói sanh con
trai. Rồi mới biết mình đã đầu thai thành con người một
tay giống giò heo, có mẹ nằm một bên.
Ung
Bá Huy ở Trung Quốc 40 năm, rồi ở Đài Loan 22 năm, ông bệnh
chết tại bệnh viện. Lúc tôi đi Đài Loan có đi ngang bệnh
viện ấy. Sau đó, ông bới cơm giùm xuất gia, rồi đăng câu
chuyện này trên nguyệt san Phật giáo.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị 2 bài kệ của ngài Thần Tú và ngài Huệ
Năng?
Đáp:
Bài
kệ của ngài Thần Tú là hiểu theo bộ óc, chưa kiến tánh,
vì còn tư tưởng chấp thật, mới có bài kệ:
Thân như cây bồ đề,
Tâm như đài gương sáng.
Ngày ngày phải lau chùi,
Chớ để dính bụi trần.
Lục
Tổ đã ngộ rồi, phá chấp của Thần Tú, có bài kệ:
Bồ Đề vốn chẳng cây,
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi trần?
Tâm
của mình như hư không trống rỗng thì lấy gì để dính bụi
trần!
Hỏi:
Ngày
giỗ cha mẹ của con cúng mặn, nhưng con ăn chay nên không đến
dự. Vậy con có bất hiếu không?
Đáp:
Không
dự làm hại cha mẹ có bất hiếu không? Những người làm
hại cha mẹ mới là bất hiếu, còn không muốn làm hại cha
mẹ sao gọi là bất hiếu!
Hỏi:
Chúng
con xuất gia còn nhỏ phải đi học hết chương trình Phật
học, rồi sau chuyên tu. Vậy có được không?
Đáp:
Học
với tu phải đi song song, tức là vừa học vừa tu. Đó là
cách tu của Giáo môn. Tôi dạy các trường Phật học đều
khuyên các Tăng Ni: “Học phải có tu”. Nếu đợi lúc rảnh
rỗi mới tu thì không được, khi phát tâm tu thì phải tu liền.
Hỏi:
Người
xuất gia đem của cúng dường giúp cho cha mẹ, vậy ai có nhân
quả?
Đáp:
Hai
người đều có nhân quả phải trả nợ cho thí chủ, người
xuất gia chịu nhân quả nặng hơn. Người ta cúng dường Tam
Bảo có ít, nhưng được phước báo nhiều; như một hạt
lúa gieo xuống đất thì có nhiều hạt lúa. Cho nên, người
xuất gia phải trả nợ nhiều lần hơn người bình thường.
Hỏi:
Con
tham thiền thì bán vé số được nhiều, có lần con bị xe
đụng nhưng không ảnh hưởng gì trên thân. Vậy những việc
ấy có nhân quả gì không?
Đáp:
Nhân
quả đó là do tham thiền sửa cái nghiệp mình lại, chứ không
phải tham thiền là buôn bán khá kiếm tiền nhiều. Tham thiền
thì sức của tâm được tăng thêm, như cái nghiệp đụng
xe đáng lẽ phải chết, nhưng do mình có sửa lại nghiệp
thì sẽ khỏi bị thương và chết.
Trương
quốc Anh làm việc gì cũng hơn mọi người, y tham thiền khi
bị lật xe; cả xe đều bị thương, chỉ y không bị thương
và không biết mình bị xe lật. Khi nhân viên Hồng Thập Tự
kéo y ra, y hỏi nhân viên:
Làm
gì vậy?
-Câu
cá có nhân quả gì không?
-Có
nhân quả chứ! Không sát hại là thiện, sát hại là ác. Kẻ
ăn cắp là ác, không ăn cắp là thiện.
-Nếu
câu cá thì có bị người ta câu lại không?
-Có
câu người ta thì bị người ta câu lại, ăn một cục thịt
phải trả một cục thịt, giết một mạng thì trả một mạng.
Nếu không gieo nhân thì không có quả.
-Kiến
tánh thì nhân quả có hết không?
-Cứ
hỏi và nhìn được kiến tánh thì tự biết.
Hỏi:
Con
ăn chay, nhưng vì con cháu nhờ đi chợ mua các con vật chết
về làm nấu. Vậy việc ấy có nhân quả không?
Đáp:
Có
làm phải chịu nhân quả, nếu mình có quyền thì không làm.
Người có quyền sai mình làm, người đó phải chịu nhân
quả. Mình có quyền vì thương con mà làm nên phải chịu nhân
quả, còn không nghe lời con thì không bị nhân quả.
-Không
ăn thịt, mà dùng nước thịt, vậy có nhân quả không?
-Nếu
mình không có ý muốn ăn thì không có nhân nên không có quả,
dùng nước thịt thấy ngon thì cũng có nhân quả.
Hỏi:
Công
phu có khi tạp niệm xen vào, có lúc trống rỗng. Vậy là thế
nào?
Đáp:
Tập
tham thiền cứ hỏi và nhìn, khỏi để ý công phu, vì để
ý là biết. Tạp niệm hay không tạp niệm thì mặc kệ, đừng
biết tới; hỏi và nhìn liên tiếp là được.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ khai thị: Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến?
Đáp:
Đây
là trong kinh Lăng Nghiêm, những người giảng hay dịch thường
hiểu lầm 2 chữ “kiến kiến”. Có người cho kiến trước
là năng kiến, kiến sau là sở kiến; có người thì cho ngược
lại là kiến sau là năng kiến, kiến trước là sở kiến.
Có năng sở thì không phải kiến kiến, kiến kiến là kiến
tánh (bản tánh tự hiện). Lúc bản kiến tự hiện gọi là
kiến tánh (kiến kiến chi thời).
Kiến
tánh không có năng kiến và sở kiến, cho nên kiến chẳng
phải là kiến (kiến phi thị kiến). Tuy nói kiến nhưng còn
lìa kiến (kiến do ly kiến). Tại sao? Vì kiến không thể đến
(kiến bất năng cập). Có năng sở là tri kiến của bộ óc
thì không thể đến, tri kiến của Bát Nhã thì không có năng
sở. Thường thường người dịch hay giảng sai lầm chỗ này.
Kiến
tánh còn gọi là Phật tánh, dùng ra phải nhờ lục căn, lục
căn có bản kiến, bản văn,… kinh Lăng Nghiêm có phản văn
văn tự tánh là nghe bản văn. Bản ngửi, bản biết,… là
cái dụng của Phật tánh; dụng của Phật tánh khắp không
gian thời gian, không có năng sở. Cho nên, thể và dụng không
phải là hai.
Hỏi:
Khởi
niệm có quả hay thực hành có quả?
Đáp:
Khởi
niệm là có nhân thì có quả, niệm đó là nhất niệm vô
minh. Cuộc sống hàng ngày từ niệm này sang niệm khác liên
tiếp. Ban đêm do nhất niệm vô minh tạo ra nhắm mắt chiêm
bao, ban ngày biến hiện mở mắt chiêm bao ngày đêm không ngừng.
Hỏi:
Chúng
con vẫn biết nhẫn nhục ba la mật, nhưng khi đụng chuyện
tại sao không nhẫn được chút nào?
Đáp:
Nếu
biết nhẫn nhục ba la mật thì không phải nhẫn nhục ba la
mật. Kinh Pháp Hoa có Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp ai cũng
đảnh lễ và nói “tôi không dám khinh các vị, vì các vị
sẽ thành Phật”; người ta giận dùng ngói đá ném, nhưng
ngài từ xa vẫn lớn tiếng xưng “tôi không dám khinh các
vị, vì các vị sẽ thành Phật” và đảnh lễ. Ngài tu pháp
nhẫn nhục.
Mình
phải đối cảnh, nếu bị người sỉ nhục nhưng mình không
thấy nhục; như người ta chửi mắng đồng như khen ngợi,
không giận mà lại mừng. Nhẫn nhục mà không biết mình nhẫn
nhục, nếu còn tức giận trong bụng cũng không được. Kinh
Kim Cang nói: “Tiền thân của Phật Thích Ca làm vị Tiên nhẫn
nhục bị Ca Lợi Vương xẻ thịt, nhưng vị Tiên không giận
mà lại thọ ký cho ông ấy “sau này tôi thành Phật sẽ độ
ông trước”.
Vị
Tiên mới thật nhẫn nhục, nếu tu thành pháp nhẫn nhục ba
la mật (đến bờ bên kia) thì phá được hết ngã chấp không
còn phiền não đau khổ. Tham thiền giữ được nghi tình thì
không biết nhẫn nhục mới được chân thật nhẫn nhục,
người ta chửi mắng đánh đập mà mình không biết chửi
mắng đánh đập.
Hỏi:
Tham
thiền không biết có lọt vào vô ký chăng?
Đáp:
Đừng
biết vô ký hay không vô ký, cứ hỏi và nhìn. Tại sao muốn
biết vô ký làm chi? Nghi tình là không hiểu không biết, nếu
biết vô ký là biết thì không phải tham thiền.
-Sao
lúc này tham thiền hay quên?
-Tham
thiền hay quên là tiến bộ, quên nhiều tiến bộ nhiều; vì
không hiểu không biết là để chấm dứt tìm hiểu biết,
ghi nhớ biết và suy nghĩ biết. Không có ghi nhớ là quên.
-Người
ta cho như vậy là điên sao?
-Mình
không điên, có nói điên cũng mặc kệ. Đến chừng tự hiện
ra năng khiếu sức của tâm thay thế bộ óc làm việc. Bây
giờ tôi đang thử nông nghiệp và công nghiệp. Lập ra xưởng
làm ra máy móc vừa tham thiền vừa làm. Nhập các máy tối
tân vô, máy nào cũng có khuyết điểm; mình có năng khiếu
biết được khuyết điểm sửa lại tạo ra máy mới, mà máy
nhập cảng đắc tiền hơn, mình làm ra thì dễ.
Bây
giờ, phổ biến cấp 3 dùng máy vi tính, tôi làm một phòng
vi tính giúp cho trường tiểu học có khoảng 1000 học sinh
từ 8 tuổi đến 13 tuổi để vừa tham thiền vừa tập vi
tính, thì sẽ phát triển mau, mà tôi không cho biết là tham
thiền. Nhà khoa học danh tiếng thế giới có 2 vấn đề không
giải quyết được là: - Vũ trụ có bắt đầu chăng? - Con
gà có trước hay trứng gà có trước?
Tôi
cho hỏi con gà có trước hay trứng gà có trước? Để giải
quyết của nhà khoa học thắc mắc. Vừa hỏi vừa nhìn, hoàn
toàn dùng cách tham thiền để giúp cho nông nghiệp, công nghiệp,
vi tính đều được phát triển; tức là Phật pháp ứng dụng
hàng ngày là thực dụng. Bây giờ mình cũng đang dùng mà mình
không biết.
Ngài
Long Thọ nói: “Hư không vô sở hữu”, dùng hư không vô
sở hữu là tâm mình, tâm mình trống rỗng (vô sở hữu) vậy.
Bây giờ, mình đang dùng, vì có chỗ trống rỗng nên mình
mới ngồi và nhìn với nhau.
Cuộc
sống hàng ngày, ăn cơm uống nước, nói năng tiếp khách,
tất cả vũ trụ vạn vật, đất đai nhà cửa cây cối, đều
nhờ vô sở hữu dung nạp và ứng dụng.
Nhưng
đang ứng dụng mà không biết, cứ tìm chơn không diệu hữu,
Bồ Đề, Niết Bàn. Nếu cái không đã có thì mới nói chơn
nói diệu. Có đã không thành lập, sao nói không nói diệu?
Chơn là đối với vọng, kinh
Lăng
Nghiêm nói “chơn với vọng là 2 thứ vọng”, vọng đã là
vọng, còn chơn đối vọng cũng là vọng.
Phàm
tất cả tương đối đều là vọng, Phật tánh bất nhị không
có tương đối. 4 bài kệ của ngài Vĩnh Gia nói là vô duyên
tri (tri không có nhân duyên đối đãi). Cho nên không kiến
lập tri, kiến lập tri thì có bất tri để đối đãi. Kiến
lập sở tri thì có năng tri để đối đãi. Có năng sở đối
đãi không phải là vô duyên tri.
Vô
duyên tri (Bát Nhã) cùng khắp không gian thời gian, mình đang
dùng; vì kiến lập sở hữu thì bị hạn chế, nên dùng ra
rất ít. Tham thiền là tẩy sạch sở hữu của mình kiến
lập, cái dụng sẽ lớn thêm hiện ra.
Kiếp
trước người nào đã học cái gì thì kiếp này sẽ phát
triển nhanh. Làm nông nghiệp phát triển nông nghiệp, làm công
nghiệp phát triển công nghiệp, làm nghề máy phát triển máy,
làm vi tính phát triển vi tính. Sức của tâm mình đã sẵn,
hiện ra cái dụng hơn người khác gọi là năng khiếu.
Hỏi:
Cha
chết con không đến, con có tội không?
Đáp:
Tùy
theo tình trạng đó, không phải có tội hay không có tội!
Nhân duyên đặc biệt người ấy không thể đến được,
không phải cố ý không đến. Ở gần kế bên mà người ấy
không đến là bất hiếu, theo truyền thống thì cha mẹ chết,
con phải đến. Vậy bất hiếu phải có tội.
Hỏi:
Tham
thiền thấy hào quang xẹt ra, việc ấy như thế nào?
Đáp:
Tất
cả mình thấy gì, thấy xẹt tia lửa hay thấy ma đều là
vọng; mặc kệ nó đừng để ý, cứ hỏi và nhìn đi song
song là được. Bây giờ thấy Phật Thích Ca đến rờ đầu
thọ ký cho mình thành Phật cũng là vọng, đừng có mừng,
đừng có biết tới. Tham thiền đến lúc kiến tánh thì tất
cả tự biết.
Hỏi:
Con
tham thiền lâu nay, nhưng tánh con vẫn còn sân hận hung dữ
to tiếng. Vợ con nói hồi trước ông chưa tu thì không có
gì, bây giờ có tu sao hung dữ quá! Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Vì
ông không giữ được nghi tình, nếu giữ được nghi tình
thì người ta có đánh đập chửi mắng cũng không giận; tức
là thấy tốt đẹp thì không biết nên không ham thích, thấy
xấu thì không biết nên không chê ghét. Ông chỉ niệm thoại
đầu, thói quen cũ không thể giảm bớt.
Nếu
giữ được nghi tình, như người ta trước kia ham đi xem hát,
sau một thời gian thì họ không còn thích; trước kia ưa mặc
đồ đẹp, khi tham thiền thời gian sau không thích; trước
kia thích đi nhà hàng, tham thiền thời gian không muốn đi.
Tham thiền mà quên là tiến bộ.
Hỏi:
Con
nằm chiêm bao thấy con và mọi người đi trên chiếc thuyền
bị chìm thuyền chết chỉ một mình con sống, khi con thức
giấc thấy mình tham thiền. Vậy hiện tượng này như thế
nào?
Đáp:
Tham
thiền trong giấc chiêm bao là công phu có tiến bộ.
-Nhìn
chỗ đen tối có đúng không?
-Nhìn
chỗ không biết, muốn hình dung chỗ không biết nên tạm lấy
đen tối để hình dung. Nhưng tối với sáng là 2 pháp sanh
diệt, chỗ không biết không phải sáng cũng không phải tối.
Nếu biết tối thì đã biết, cho nên tôi dùng cái tối để
thí dụ tạm thời để làm phương tiện. Đừng tạo ra cái
đen tối để nhìn.
Hỏi:
Tại
sao tịnh dễ tham, động khó tham?
Đáp:
Trong
động tham ít, không có sao. Thường thường trong tịnh tham
thiền vào cửa mau hơn, như 3 tháng vào cửa; còn tham thiền
trong động vào cửa khó hơn, như 3 năm vào cửa. Nhưng 3 tháng
vào cửa nhưng 300 năm không được kiến tánh, còn 3 năm vào
cửa thì 4 năm được kiến tánh.
Mặc
dầu, chậm vào cửa nhưng lại mau kiến tánh. Tại sao? Vì
trong động làm được thì tịnh cũng làm được, không bị
tịnh chướng ngại. Khi tịnh làm được, nhưng lúc động
không làm được; vì ngồi xuống là được, khi đứng dậy
thì không được. Cho nên bị chướng ngại, tại có phân biệt
động tịnh tương đối.
-Nhưng
trong động tham ít thì sao?
-Ít
cũng tham vậy, tham được nhiều thì đừng có ham, tôi đã
thí dụ phải hiểu. Ít nhưng lại mau hơn, ban đầu nhiều
nhưng chậm hơn mà lại không có hy vọng nữa.
-Hoàn
cảnh nhà làm cho con không tham được là sao?
-Tại
biết những cảnh đó, cho nên cần phải giữ nghi tình để
quên những thứ đó. Phải tập tham thiền, mỗi ngày nghi tình
tăng 1 phút thì 4 năm đến thoại đầu, 1 ngày tăng ½ phút
thì 8 năm đến thoại đầu, 1 ngày tăng ¼ phút thì 16 năm
đến thoại đầu. Tập dần dần, chứ đâu phải muốn mau
là được! Cho nên, mau trở lại chậm, chậm có thể thành
mau.
Hỏi:
Ngài
Đại Huệ khai thị cho Lý Hiến Thần:
Phật thuyết tất cả pháp,
Vì độ tất cả tâm.
Ta chẳng tất cả tâm,
Đâu cần tất cả pháp!
Kính
xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Phật
nói: “Không có pháp gì gọi là Phật pháp”, tại chúng sanh
có bệnh, nhưng bệnh của chúng sanh là bệnh giả, Phật làm
thuốc giả để trị bệnh giả. Nếu bệnh giả hết thì thuốc
giả cũng bỏ. Không có bệnh mà uống thuốc là điên cuồng,
có bệnh mà không uống thuốc làm sao hết bệnh?
Thuốc
giả là để trị bệnh giả, nếu không có bệnh giả thì
thuốc giả đâu cần nữa! Cho nên, Phật thuyết pháp là để
trị tất cả tâm, không có tất cả tâm thì đâu cần tất
cả pháp! Tức là pháp với tâm đều không thật. Bởi vậy,
ngài Long Thọ nói: “Vô sở hữu” (trống rỗng).
Hỏi:
Tìm trâu theo dấu tích,
Học đạo phải vô tâm.
Dấu còn thì trâu còn,
Vô tâm đạo dễ thành.
Kính
xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Thiền
sư Phổ Minh dùng mười bức chăn trâu để tu không thể được.
Tìm trâu phải tìm theo dấu trâu, đó là theo bệnh chấp thật.
Học đạo thì vô tâm, tâm đã vô sở hữu lấy cái gì để
tìm? Trống rỗng là khắp không gian thời gian, làm sao có nhà
để về? Nếu có chỗ về thì không cùng khắp không gian.
Tìm
trâu là tìm theo dấu tích của trâu, đó là chuyện thế gian.
Ngộ đạo là vô tâm mới ngộ được, nếu có tâm thì không
thể ngộ. Cho nên, ngộ đạo quý vô tâm. Tham thiền là không
hiểu không biết, như 4 bài kệ của ngài Vĩnh Gia không kiến
lập cái biết. Biết mình có cái biết còn không được.
Biết
tịch lặng, biết trâu mất, biết tìm trâu, biết cởi trâu
về nhà… những việc ấy là bậy, đều là có tâm chứ không
phải vô tâm. Đó là tư tưởng của người đời theo bệnh
chấp thật. Học đạo là khác chuyện ngoài đời là nghịch
lại, ngoài đời chấp thật; học đạo phá chấp thật.
Hỏi:
Lúc
chưa tham thiền, con ngồi chơi nhưng đầu óc trống rỗng.
Vậy có hại gì không?
Đáp:
Đó
là cảnh giới tốt, có thể trước kia đã tu thiền gì rồi
mới hiện ra cảnh giới đó. Tham thiền có hiện ra cảnh giới
gì cũng mặc kệ, đều là vọng, đừng để ý tới, cứ hỏi
và nhìn đi song song giữ không hiểu không biết.
Hỏi:
Con
vừa tham thiền vừa nói chuyện với người ta, nhưng một
lúc sau con không biết người ta nói gì. Vậy có sao không?
Đáp:
Công
phu như thế là đúng rồi.
-Như
vậy có hôn trầm phải không?
-Không
phải, giữ được nghi tình thì người ta nói gì cũng không
biết.
-Trong
lúc buồn, thấy nghi tình mạnh hơn và trong lúc vui, không thấy
vui nhiều. Vậy trạng thái ấy như thế nào?
-Nếu
còn biết buồn biết vui thì không có nghi tình, vui không biết
vui, buồn không biết buồn là giữ được nghi tình.
-Buồn
quá có nghi tình không?
-Buồn
quá làm sao có nghi tình! Biết buồn là không phải nghi tình.
Biết là không phải nghi, nghi là không hiểu không biết. Đó
là niệm thoại đầu, chứ không có nghi; niệm là biết, tức
không phải tham thiền; nếu buồn quá thì niệm mạnh.
Hỏi:
Thiền
sư Đại Huệ nói: “Sợ hải sanh tử mà gốc nghi nhổ chẳng
hết thì trăm kiếp ngàn đời trong sanh diệt thọ báo” và
“mạnh dạn nhổ sạch gốc nghi”. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Vì
bộ óc hiểu có hạn chế, không hiểu hết nên phải có nghi;
đến chừng ngộ triệt để thì trí Bát Nhã hiện lên khắp
không gian thời gian, sự hiểu biết không còn thiếu sót; tức
là không còn một cái gì không biết, không còn chỗ nào không
biết, không còn lúc nào không biết, nên gọi là đốn đoạn
nghi căn (gốc nghi đã nhỗ sạch), không còn cái gì để nghi.
Không
những gốc nghi chấm dứt, mà mạng căn cũng chấm dứt; nhưng
người ta nghe tôi nói mạng căn chấm dứt thì sợ. Vì mạng
căn chấm dứt là không bị khổ sanh tử luân hồi, lúc ấy
được tự do tự tại, không có cái gì làm chướng ngại.
Nhưng người ta muốn kiến lập sinh mạng sở hữu của mình,
cho nên nghe nói mạng căn chấm dứt thì sợ. Đó là do còn
cái ngã. Nghi căn và mạng căn chấm dứt, lúc đó được kiến
tánh triệt để.
Hỏi:
Tham
thiền muốn nhanh kiến tánh thì phải làm sao?
Đáp:
Tham
thiền có nghi tình, mỗi ngày tăng thêm 1 phút là nhanh thì
4 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh, ngài Lai Quả kiến
tánh nhanh như vậy, 24 tuổi xuất gia đến 28 tuổi kiến tánh.
Ngài Hư Vân đến 56 tuổi kiến tánh.
-Vậy
do công phu lẹ hay chậm phải không?
-Không
phải lẹ là cao! Hoài Nhượng và Phản Nhiên là bạn đồng
tham, nhưng Phản Nhiên kiến tánh trước. Lục Tổ hỏi Hoài
Nhượng: “Vật gì đến như thế?” Hoài Nhượng không trả
lời được, rồi phát nghi tình đến 8 năm sau mới ngộ.
Trong Pháp Bảo Đàn không nói Hoài Nhượng 8 năm sau ngộ, nhưng
trong lịch sử Thiền tông nói.
Khi
Hoài Nhượng ngộ trình cho Lục Tổ: Nói giống một vật thì
không đúng.
Lục
Tổ hỏi: Vậy có tu chứng không?
Hoài
Nhượng đáp: Tu chứng thì chẳng phải không, ô nhiểm thì
chẳng thể được.
Tại
sao? Vì đã phát hiện được vô sở hữu lấy cái gì để
ô nhiểm? Cho nên, bài kệ của Lục Tổ có câu: “Xưa nay
không một vật, chỗ nào dính bụi trần”. Đâu có vật gì
dính bụi trần để ô nhiểm! Chứng tỏ
Hoài
Nhượng đã ngộ rồi.
Tâm
như hư không trống rỗng nhưng mình đang dùng, như tôi đang
nói, các vị đang nghe, nhìn với nhau đều nhờ vô sở hữu.
Hỏi:
Thế
nào con đường duy nhất từ phàm phu đến quả Phật?
Đáp:
Không
có đường cũng không có đạo, nên người tham thiền muốn
hiểu đạo cũng không cho. Tại sao? Vì ngài Long thọ ví dụ
tâm mình như hư không vô sở hữu (không có hư không).
Người
kiến lập hư không hỏi: Tại sao không nói hư không quãng
đại vô biên dung nạp tất cả vật, mà lại nói hư không
vô sở hữu dung nạp tất cả vật? Nếu hư không vô sở hữu,
tức là không có hư không thì lấy cái gì để dung nạp! Ngài
Long Thọ nói: “Không có mới dung nạp”. Thật tế là vậy,
mặt trời, mặt trăng, cây cối, nhà cửa,… đều nhờ cái
vô sở hữu này.
Chỗ
không có gì thì mới dung nạp, nếu đã có chỗ thì không
dung nạp; như cái bàn trống rỗng thì dung nạp, chỗ để
đồ thì không dung nạp; người ngồi chật hết thiền đường
thì không thể dung nạp được nữa.
Hỏi:
Người
thế gian học hành rồi thành quả, đến đây học không hành
thì không thành quả phải không?
Đáp:
Đây
là pháp xuất pháp thế gian, chứ không phải pháp thế gian;
thế gian là dùng tư tưởng chấp thật, mỗi ngày đều sống
trong nhất niệm vô minh. Pháp xuất thế gian là hiển bày dụng
cái tâm, nếu ngộ được thì không có xuất thế gian và thế
gian. Vì vô sở hữu không thể kiến lập, cho nên Phật Thích
Ca nói là vô thỉ, tức là không có bắt đầu, cũng là nghĩa
vô sanh, không có sự sanh khởi.
Tại
sao? Vì có sự sanh khởi thì phải có sự bắt đầu, nếu
có bắt đầu thì không đúng với thật tế. Tại có bắt
đầu thì phải có cuối cùng là pháp sanh diệt, còn đây Phật
Thích Ca gọi là pháp bản trụ, vốn không có sanh diệt.
Cho
nên, không bị gián đoạn thì cùng khắp thời gian, vì không
có sanh diệt nên gọi là Niết Bàn (niết là không sanh, bàn
là không diệt). Do khắp không gian thì không khứ lai, nên gọi
là Như Lai (đúng như bản lai).
Bản
Lai là vô nhất vật, mà sao có đường để đi! Vì vậy, ngài
Lai Quả nói: “Nếu đi một ngàn dặm, lại trở về rất
mất công”. Tham thiền là chỉ quay đầu là tới rồi, khỏi
cần đi một bước hay nửa bước. Có đường để đi là
có tư tưởng chấp thật, tức kiến lập cái sở hữu; đây
vốn là vô sở hữu.
Hỏi:
Đọc
kinh là để sáng suốt thấu triệt đi đến đạo quả có
phải không?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Giác hải dụ cho tâm mình, hư không là
bọt biển, thế giới ở trong hư không (ở trong bọt nước);
còn chúng sanh ở trong thế giới, nếu bọt nước bể (hư
không chẳng có) thì thế giới ở đâu? Chúng sanh ở đâu?
Hỏi:
Thế
nào là tham Tổ Sư thiền?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền là tham thoại đầu hay khán thoại đầu. Thoại
là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói; tức là chưa nổi
lên ý niệm muốn nói câu thoại mới gọi là thoại đầu.
Nếu khởi niệm muốn nói, nhưng chưa nói ra miệng cũng là
thoại vỉ (thoại đuôi), chứ không phải thoại đầu. Thoại
đầu là chưa khởi niệm nào mới gọi là thoại đầu.
Bây
giờ, tham thiền tuy nói tham thoại đầu hay khán thoại đầu,
nhưng chưa đến thoại đầu, cách thoại đầu còn xa lắm.
Vì mục đích đến thoại đầu, nên mới nói là tham thoại
đầu hay khán thoại đầu. Tham là hỏi câu thoại, tất cả
muôn ngàn câu thoại là mục đích để kích thích niệm không
hiểu không biết.
Như
hỏi: “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì nổi lên
một niệm không biết, rồi khán là nhìn chỗ không biết,
muốn xem chỗ không biết là gì; chỗ không biết là không
có chỗ, vì có chỗ là biết rồi. Không có chỗ là không
có mục tiêu để nhìn thì không thấy gì vẫn còn không biết,
nên Thiền tông gọi là nghi tình. Hỏi và nhìn song song để
giữ nghi tình đưa hành giả đến thoại đầu, rồi kiến
tánh.
Không
phải hỏi trước nhìn sau, không phải hỏi sau nhìn trước.
Hỏi và nhìn một lượt, hỏi không phải dùng miệng hỏi
mà tâm hỏi, nhìn không phải dùng mắt nhìn mà dùng tâm nhìn.
Hỏi không gián đoạn, nhìn vẫn không gián đoạn. Chỉ cần
hỏi và nhìn, không biết tới việc khác; nếu biết không
phải là nghi tình.
(Kể
chuyện bé Bi đo bộ não……..trang 13).
Xem
Tiếp Phần 2 Của Trang Này