LỜI
NÓI ĐẦU
Thiền
Tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma
(Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền Tông truyền sang
Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền
Tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế
kỷ thứ XII, Thiền Tông mới truyền vào Nhật Bản. So Việt
Nam với Nhật Bản, Thiền Tông truyền bá ở Việt Nam
trước Nhật Bản đến năm thế kỷ.
Song
ở Trung Hoa, Nhật Bản về sử liệu Thiền Tông rất dồi
dào, còn ở Việt Nam thật là nghèo nàn đáo để. Sự nghèo
nàn ấy, không phải Thiền Tông Việt Nam truyền bá kém cỏi
hơn các nước Phật giáo bạn. Bởi vì nhìn theo dòng lịch
sử, từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XIV, chúng
ta thấy Thiền Tông đã nắm trọn vẹn tinh thần truyền bá
Phật Giáo và cả văn hóa dân tộc Việt Nam. Những sách vở
của người Việt Nam sáng tác hoặc ghi chép lại, không kém
gì các nước Phật giáo bạn. Nào là Đại Nam Thiền Uyển
Truyền Đăng Lục, Liệt Tổ Truyện, Nam Minh Thiền Lục, Thánh
Đăng Thực Lục, Liệt Tổ Yếu Ngữ, Kế Đăng Lục, Tam Tổ
Thực Lục, Tam Tổ Hành Trạng, Nam Tông Tự Pháp Đồ v.v...
cho đến Đại Tạng Kinh cũng được Trần Anh Tông sắc cho
Thiền sư Pháp Loa chủ trương khắc in. Thế là ở Việt Nam
đâu có thiếu kinh sách Phật giáo.
Nhưng,
trong số sách này, có quyển còn, có quyển mất. Bởi vì cuối
đời Trần sang nhà Hồ (1400-1407), nước ta bị giặc Minh sang
đánh, rồi lại lệ thuộc Minh (1414-1427). Sử chép: “Năm
1419 quan nhà Minh tịch thu hết sách vở trong nước, các kinh
điển nhà Phật đem về Kim Lăng và đốt phá chùa chiền rất
nhiều.” Đây là một lý do rõ rệt, khiến sách vở chúng
ta nghèo nàn. Đâu những thế, mà còn đến thời Pháp thuộc
ngót tám mươi năm, sách vở của ta cũng bị mang về Pháp
nhiều. Rồi đến năm 1945 lại bị Nhật sang, sách vở của
chúng ta lại mất một phần nữa. Thế là đã nghèo lại nghèo
thêm.
Hiện
giờ chúng ta tìm được chút ít tài liệu về sách sử Phật
giáo của người Việt viết, phần lớn từ ở thư viện bên
Pháp và thư viện bên Nhật, hoặc những bản chép tay còn
sót ở trong dân chúng. Do đó muốn soạn một bộ sử Thiền
sư Việt Nam thật là khó khăn vô kể.
Tuy
nhiên như thế, song kể từ năm 1931 các Sư cụ Nam, Trung, Bắc
đề xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đến
nay (1972), ngót bốn mươi năm mà chưa có một quyển sử nào
nói về Thiền sư Việt Nam. Chúng ta chỉ thấy có một cuốn
sử duy nhất Việt Nam Phật Giáo Sử Lược dầy không tới
250 trang, của Thượng tọa Mật Thể, in năm 1943. Trong ấy
nói lược qua các thời đại Phật giáo và mỗi thời dẫn
một vị Thiền sư thôi.
Lại
nữa, sách vở Việt Nam thuở xưa viết bằng Hán tự, ngày
nay chúng ta chuyên học quốc ngữ, nên đốùi với sách vở
của ông cha chúng ta còn lưu lại rất là xa lạ. Nếu những
vị còn một ít vốn liếng chữ Hán không nỗ lực phiên dịch
thì thật là thiệt thòi cho kẻ hậu học lắm vậy. Chúng
tôi tài mọn sức yếu, mà tự gán lấy một trọng trách sưu
tập biên soạn thành quyển sách này, là một việc làm vượt
hơn khả năng của mình. Nhưng vì bổn phận không cho phép
chúng tôi dừng.
Trong
khi biên soạn, chúng tôi thấy nhiều chỗ không hài lòng, vì
sử liệu quá hiếm hoi, như đời Lý, phái Thảo Đường thấy
ghi truyền đến mấy đời mà không có vị nào có lịch sử.
Đến đời Trần, đệ tử Điều Ngự Giác Hoàng rất đông,
trong ấy có sáu vị pháp sư nổi tiếng, mà chúng ta chỉ thấy
vỏn vẹn có một vị ghi trong sử. Đến như phái Trúc Lâm
Yên Tử truyền mãi đến Thiền sư Hương Hải, là từ thế
kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XVIII, mà chúng ta chỉ tìm
được tài liệu vài ba vị Thiền sư, thật là quá thiếu
sót. Nếu đã là thất truyền thì làm sao có Thiền sư Hương
Hải thừa kế phái Trúc Lâm ? Bằng sự truyền thừa liên
tục thì sử các Thiền sư ấy ở đâu? Chỉ có thể nói sách
sử thất lạc.
Trong
quyển sử này, chúng tôi chỉ biên soạn đến tiền bán thế
kỷ thứ XVIII, từ đó về sau vì không đủ tài liệu nên
không dám soạn. Dành phần này cho người sau, khi có đủ tài
liệu biên tiếp. Chúng tôi còn gặp khó khăn về niên lịch,
vì các quyển sách xưa ghi chép khác nhau. Chúng tôi cố gắng
tra khảo, thấy niên lịch nào hợp lý liền dùng. Nếu có
sơ sót hoặc sai chạy, xin quí vị cao minh phủ chính cho. Những
vị Thiền sư từ đời Trần trở về trước, chúng tôi sắp
theo thứ tự thời gian, chớ không theo hệ phái.
Về
phần sử có những vị vua được chánh thức thừa kế Thiền
Tông, nhưng vì nặng việc quốc chánh nên chúng tôi chẳng
ghi. Như vua Lý Thánh Tông là đệ tử Thiền sư Thảo Đường,
vua Trần Thái Tông là người thấu hiểu Thiền Tông, có tác
phẩm Khóa Hư Lục và Thiền Tông Chỉ Nam.
Còn
một số vị sư có tiếng mà không biết nằm trong hệ
phái nào, hoặc không có tư cách một Thiền sư, chúng tôi
đều không ghi vào đây.
Biên
xong quyển sử này, chúng tôi rất tri ân Thượng tọa Mật
Thể, ông Ngô Tất Tố v.v... nhờ các quyển sách của quí
vị ấy khiến chúng tôi được dễ dàng nhiều.
Chúng
tôi mong một chút công phu nhỏ bé của chúng tôi, giúp phần
nào cho người Phật tử Việt Nam thấy gương tu hành của
các bậc tiền bối mà noi theo, và tự thấy rõ mình đang tu
theo hệ phái nào của Phật giáo.
Kính
ghi:
THÍCH
THANH TỪ
TU
VIỆN CHÂN KHÔNG, Ngày 17 tháng 9 năm 1972