Thiền
Sư TỊNH GIÁC THIỆN TRÌ
(MỘC
Y SƠN ÔNG)
Thiền
sư Tịnh Giác - Thiện Trì, húy Tánh Ban, hiệu là Mộc Y Sơn
Ông thường được gọi là Ông Núi hay Ông Núi mặc áo vỏ
cây, tên là Lê Ban, người Trung Hoa (?).
Năm
Nhâm Ngọ (1702), thời chúa Nguyễn Phước Chu, Ông Núi đến
núi Linh Phong ở vùng miền biển Phương Phi, Phương Thái, huyện
Phù Cát, tỉnh Bình Định, lập am tranh tu hành, đặt tên chùa
là Dũng Tuyền.
Tương
truyền, hằng ngày ông vào núi hái củi, bó thành bó to, đội
củi xuống núi đặt bên vệ đường, người dân địa phương
đem gạo, rau đổi lấy. Núi này nhiều cọp beo và thú dữ,
nhưng với đức hạnh cao phong của Ông Núi, thú dữ trở nên
hiền lành, gần gũi nhau thân thiện, không còn cách biệt giữa
người và vật.
Năm
Quí Sửu (1733), chúa Nguyễn Phước Trú (1726-1738) nghe danh Ông
Núi, quí trọng ông là một Thiền sư chân chính nên ra lệnh
xây cất lại chùa Dũng Tuyền trở thành một ngôi chùa lớn,
đặt tên chùa là “Linh Phong Thiền Tự”, lại ban cho tấm
hoành có viết bốn chữ “Linh Phong Thiền Tự”, phía trái
khắc chữ “Vĩnh Khánh, tháng giêng năm Quí Sửu”, phía mặt
có khắc chữ “Quốc Chủ ngự đề”. Chúa cũng ban cho chùa
câu đối:
Hải
ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ.
Linh
Phong ngưng thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian.
(Bờ
biển gặp duyên may, mưa pháp khắp trời thấm nhuần đất
Phật.
Núi
Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời.)
Chúa
lại ban cho Ông Núi hiệu “Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão
Thiền sư”.
Năm
Tân Dậu (1741), niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba, chúa Võ Vương
Nguyễn Phước Khoát (1738-1765) sắc triệu “Ông Núi” về
đô thành Phú Xuân tham vấn Phật pháp. Ông Núi xách tích trượng
về phủ Chúa ở đó một tháng. Chúa ban cho Ông Núi ca-sa có
móc vàng, vòng ngọc.
Ông
Núi viên tịch tại chùa Linh Phong vào thời Tây Sơn, đồ chúng
lập tháp thờ ở bên phải chùa vào năm Thái Đức thứ tám
(1785). Tháp có câu đối:
“Quyền
thạch tiệm thành sơn, thản thản u trinh thường lạc thổ.
Chúng
lưu năng vi thủy, man man không tế Động Đình thiên.”
(Gom
đá dần dần thành núi, tĩnh mịch thênh thang đất Phật vui.
Nhiều
dòng nước thành sông, mênh mông bát ngát trời Động Đình.)
Năm
Gia Long thứ bảy (1808), Hoàng hậu Hiếu Khương ra lịnh cho
trùng tu chùa Linh Phong, trong khi trùng tu, không ai được lấy
đi bất cứ một vật gì của chùa.
Tương
truyền vào thời vua Minh Mạng (1821-1840), một hôm vua bị bệnh,
vừa chợp mắt mộng thấy một vị sư già mặc áo vỏ cây
đứng bên giường ngọc quạt cho vua. Sáng sớm hôm sau vua
hết bệnh, và khỏe mạnh như thường. Ngự triều kể lại
chuyện đêm qua, có quan trong triều cho rằng: vị Sư già đó
có lẽ là Mộc Y Sơn Ông (ông Núi mặc áo vỏ cây) ở chùa
Linh Phong ngày xưa. Vì vậy vua xuống sắc ra lịnh cho quan trấn
tỉnh Bình Định trùng tu lại chùa Linh Phong, cấp cho một
trăm hai mươi lượng bạc, đồng thời vua ra lệnh cho quan
địa phương thỉnh pháp phục của Sơn Ông được triều trước
ban thưởng đem về cung Nội ở kinh đô Huế để vua chiêm
ngưỡng, rồi theo mẫu đó, chế ra một áo ca-sa móc vàng,
vòng ngà mới ban cho đem về chùa thờ cúng.
Hòa
Thượng MINH VẬT NHẤT TRI
(
? - 1786)-(Đời pháp thứ 34, tông Lâm Tế)
Hòa
thượng Minh Vật Nhất Tri thuộc phái thiền Lâm Tế đời
pháp thứ 34, trụ trì chùa Kim Cang ở Đồng Nai, là đệ tử
của Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch.
Trước
đây, trong các sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam chỉ biết
Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri là đệ tử của Tổ sư Nguyên
Thiều Siêu Bạch, nhưng không biết rõ Hòa thượng Nhất Tri
hoằng hóa ở đâu, hành trạng như thế nào.
Nhờ
đi tìm tòi, nghiên cứu về các Thiền sư hoằng hóa ở Đồng
Nai, chúng tôi phát hiện được tháp của Tổ sư Nguyên Thiều,
Long vị của Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri ở chùa Kim Cang
(Đồng Nai), chúng tôi mới biết được là Hòa thượng Minh
Vật Nhất Tri cùng với Bổn sư là Tổ sư Nguyên Thiều Siêu
Bạch hoằng hóa ở chùa Kim Cang. Sau đó, chúng tôi theo dấu
vết của các Thiền sư hoằng hóa ở Đồng Nai, tìm thấy
thêm các đệ tử và pháp tôn của Hòa thượng Minh Vật Nhất
Tri hoằng hóa ở nhiều nơi như sau:
1.
Hòa thượng Liên Hoa, tức Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt,
là Tăng cang chùa Thiên Mụ (Đô thành Phú Xuân), sau Trụ trì
chùa Sắc Tứ Từ Ân (ở Gia Định), Hòa thượng Liên Hoa có
các đệ tử cũng là Tăng cang chùa Thiên Mụ là Tế Chánh
Bổn Giác, Tế Bổn Viên Thường ...
2.
Thiền sư Thiệt Thoại Tánh Tường khai sơn chùa Hoa Nghiêm
(Thủ Đức, Gia Định) và chùa Long Thọ (xã Phú Cường, Thủ
Dầu Một), có đệ tử nổi danh là Tế Giác Quảng Châu trụ
trì ở chùa Giác Lâm (Gia Định), Tế Vĩnh Quảng Nhân và Tế
Lý Quảng Đức trụ trì chùa Hoa Nghiêm (Huê Nghiêm) ở Thủ
Đức.
3.
Thiền sư Phật Chí Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu (Thủ
Đức Gia Định).
Hiện
chưa biết rõ về hành trạng của Hòa thượng Minh Vật Nhất
Tri, nhưng có thể đoán biết Hòa thượng là cao tăng tài đức
đúng theo ý nghĩa của pháp danh của Ngài, và vì có những
đệ tử và pháp tôn nổi danh trên.
Hiện
chưa biết Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri sanh năm nào, ở đâu,
là người Việt hay người Hoa (có thể là người Trung Hoa).
Chỉ biết được là Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri viên tịch
ngày mùng 10 tháng 10 năm Bính Ngọ (1786) nhờ phía sau long vị
có đề:
“Thập
ngoạt sơ thập nhật viên tịch.” (Viên tịch ngày mùng 10
tháng 10.)
“Tuế
thứ Đinh Mùi niên, Trọng Xuân ngoạt, cát nhật cẩn tạo.”
(Cẩn tạo ngày tốt, tháng hai năm Đinh Mùi.)
Long
vị được tạo mùa Xuân năm Đinh Mùi (1787), mà Hòa thượng
viên tịch ngày mùng 10 tháng 10, như vậy phải là năm trước
năm Đinh Mùi, tức năm Bính Ngọ (1786?).
Đặc
biệt, các đệ tử của Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri truyền
thừa theo nhiều bài kệ truyền pháp khác nhau; trong đó Thiền
sư Thiệt Thoại Tánh Tường truyền theo bài kệ “Thiệt Tế
Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng...” mà nhiều người cho
là bài kệ do Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán đặt ra (?).
-
Thiền sư Thiệt Thoại Tánh Tường khai sơn chùa Huê Nghiêm
(Thủ Đức, Gia Định) có truyền thừa theo bài kệ “Thiệt
Tế Đại Đạo...” ở các chùa Đức Lâm (Gia Định), Linh
Sơn (Bà Đen); ở chùa Huê Nghiêm lại truyền theo bài kệ của
Tổ Vạn Phong “Tổ Đạo Giới... Siêu Minh Thiệt Tế Liễu
Đạt Ngộ Chân Không”.
-
Thiền sư Phật Chí Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu (Thủ
Đức) truyền theo bài kệ của Tổ Đạo Mân “Đạo Bổn
Nguyên Thành Phật Tổ Tiên...”.
(Xem
Phổ hệ truyền thừa của Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri.)
Hòa
Thượng THÀNH ĐẲNG MINH LƯỢNG (MINH YÊU)
và
PHÁP TỬ
Thiền
sư Thành Đẳng Minh Lượng là đệ tử của Tổ sư Nguyên
Thiều Siêu Bạch, thuộc phái thiền Lâm Tế, thế hệ thứ
34, hiện chưa biết rõ quê quán và hành trạng của Ngài ...
Có
thể Thiền sư Thành Đẳng thọ giáo qui y với Hòa thượng
Minh Vật Nhất Tri ở chùa Kim Cang (Bình Thảo - Đồng Nai),
và sau đó, Thiền sư đến trụ trì chùa Đại Giác ở Đại
Phố Đồng Nai (cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, tỉnh Biên Hòa sau
này).
Chúng
tôi chưa tìm được pháp danh (húy) của Thiền sư Quảng Đức
là gì và chưa tìm được về truyền thừa của vị này cũng
như chưa có tài liệu về các Thiền sư Chí Toàn, Đức Bổn,
Chí Bi, Tịnh Nhãn, Viên Trừng, Toàn Chương ... Nhưng về truyền
thừa của Thiền sư Linh Nhạc, chúng tôi tìm được sự truyền
thừa và hành trạng của các Thiền sư khá đầy đủ như:
Thiền sư Linh Nhạc, Thiền sư Mật Hoằng, Thiền sư Viên Quang.
Hòa
Thượng THÀNH NHẠC ẨN SƠN
(
? - 1776)-(Đời pháp thứ 34, tông Lâm Tế)
Hiện
chưa biết rõ về quê quán và hành trạng của Hòa thượng
Thành Nhạc Ẩn Sơn, chỉ biết:
Hòa
thượng Thành Nhạc là đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều Siêu
Bạch, và Hòa thượng Thành Nhạc đã khai sơn chùa trên núi
Châu Thới. Hòa thượng Thành Nhạc vẫn thỉnh thoảng xuống
Bến Ngựa ở trên sông Đồng Nai để tắm, sau này các đệ
tử hay pháp tôn mới lập chùa Long Thiền (xã Bửu Hòa, tỉnh
Biên Hòa sau này).
Hòa
thượng Thành Nhạc Ẩn Sơn viên tịch ngày 17 tháng chạp năm
Bính Thân (1776) ở chùa núi Châu Thới, đệ tử lập tháp
ở gần chùa để an táng và thờ cúng. Sau này, tháp này bị
hư sập nên môn đồ lập thêm vọng tháp ở chùa Long Thiền
để thờ (Theo lời kể của hai huynh đệ là Tỳ-kheo ... và
Đại đức ... chùa núi Châu Thới kể năm 1989.)
Qua
tài liệu ở chùa núi Châu Thới, chùa Phước Tường (Thủ
Đức), chùa Long Thiền và chùa Hiển Lâm (Đồng Nai), chúng
ta biết được là Hòa thượng Thành Nhạc Ẩn Sơn có đệ
tử nổi danh là Thiền sư Phật Chiếu Linh Quang Trụ trì chùa
Long Hưng (?) và chùa Phước Tường ở xã Tăng Nhân Phú (Thủ
Đức).
Hòa
thượng Thành Nhạc còn có hai đệ tử nữa là Phật Bửu
và Phật Định, nhưng hiện chưa biết về tiểu sử và hành
trạng của hai vị này.
Qua
các tài liệu ở các chùa trên, chúng ta có được tạm thời
về sự truyền thừa của Hòa thượng Thành Nhạc Ẩn
Sơn như sau:
Đời
33 Nguyên Thiều
Siêu Bạch
Đời
34 Thành Nhạc
Aån Sơn
Đời
35 Phật Chiếu Phật Bửu Phật Định
Linh Quang
Đời
36 Tổ Kim Tổ Thuận
Lâm Đức Sơn
Từ Chân Đức An Phổ Chiếu
Đời
37 Tiên Đức
Tịnh Tạng
Đời
38 Minh Thi
Thiện Bảo
Đời
39 Như Luật
Đời
40 Kiểu Oai
Tâm Minh
Đời
41 Nhật Giác Nhật Giáo
Huệ Đạt Huệ Lâm
½
( Lệ Hạnh
( Thiện Viên
½
Chùa Long Thiền Chùa Hiển Lâm
Thiền
Sư PHẬT Ý LINH NHẠC
(1725
- 1821)
VỚI
CHÙA SẮC TỨ TỪ ÂN VÀ CHÙA QUỐC ÂN KHẢI TƯỜNG
Hiện
chưa biết về quê quán của Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc, có
lẽ quê ở dinh Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa sau này).
Tài liệu ở chùa Đại Giác cho biết: Thiền sư Phật Ý tịch
năm Tân Tỵ (1821) thọ 97 tuổi, như vậy là sanh năm Ất Tỵ
(1725).
Thiền
sư Linh Nhạc Phật Ý qui y thọ giáo với Hòa thượng Thành
Đẳng Minh Lượng chùa Đại Giác tại Đại Phố Đồng Nai,
dinh Trấn Biên (cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa
ngày nay).
Năm
Giáp Ngọ (1744), chúa Võ Vương tổ chức lãnh thổ Đàng Trong
thành một nước riêng biệt, coi như ngang hàng với Đàng Ngoài
chứ không chịu thần phục vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài
nữa. Chúa đã cho mở rộng lãnh thổ Đàng Trong, phát động
phong trào di cư đông đảo đến huyện Tân Bình, dinh Phiên
Trấn của phủ Gia Định, tức vùng đất Sài Gòn-Gia Định
sau này. Dân chúng từ các địa phương miền Trung nước Việt
và vùng Đồng Nai di chuyển đến huyện Tân Bình.
Thiền
sư Phật Ý Linh Nhạc vâng lời thầy, theo lớp người dân
từ Đồng Nai xuống huyện Tân Bình, trong đó có cả người
Việt và người Hoa. Trên đường đi, Thiền sư Linh Nhạc gặp
một tăng sĩ cùng lứa tuổi (hiện chưa biết rõ pháp danh
và tông phái) kết làm huynh đệ và cùng nhau đến làng Tân
Lộc lo khai phá rừng, cất am tranh tu hành và cùng với dân
chúng khai khẩn ruộng đất canh tác. Hai huynh đệ chia phiên
nhau: cứ nửa tháng ra làm ruộng rẫy, đốn củi, hái rau,
trái cây về ăn, nửa tháng sau ở nhà lo sửa sang am thờ Phật,
đóng bàn ghế, tủ thờ... đêm đến hai huynh đệ cùng nhau
tọa thiền tụng kinh, học thêm kinh sách Phật giáo.
Người
dân di cư sống xa quê hương, ở vùng đất mới hoang vắng
giữa rừng rậm đầy thú dữ, rắn rít độc...Ban ngày lo
khai phá ruộng đất ở giữa rừng, vừa mệt nhọc vừa sống
trong cảnh bất trắc trước những tai họa do ác thú gây ra
(cọp beo ăn thịt, rắn độc cắn, cá sấu ăn...), đêm đến
sống trong cảnh âm u hoang vắng giữa vùng rừng rậm, con người
cảm thấy quá bé nhỏ giữa thiên nhiên rộng lớn bao la. Trước
những tai họa do ác thú gây ra, hoặc tai nạn lao động (cây
đè chết chóc, gãy tay chân...), hoặc bệnh hoạn chết chóc
vì khí thiêng nước độc... làm cho con người thấy rõ được
sự vô thường của cuộc đời, nay còn mai mất, sự thay đổi
của cuộc đời và thỉnh thoảng lại gặp những sự việc
hay hiện tượng huyền bí, mầu nhiệm... con người cảm thấy
cần đến sự an ủi tinh thần và cần đến sự hộ trì của
Trời Phật, của những đấng vô hình, nên họ tìm đến chùa
chiền và các tăng sĩ Phật giáo để nhờ an ủi, cầu nguyện...
Vì vậy, dân chúng trong vùng mới đến am tranh của Thiền
sư Linh Nhạc để cầu nguyện, nghe thuyết giảng về Phật
pháp, tụng kinh lễ sám, nhất là những ngày 14, rằm, 30, mùng
1 âm lịch (sóc, vọng).
Sau
đó, khi cuộc sống tạm ổn định, người bạn đạo của
Thiền sư Linh Nhạc cũng cất thêm một am tranh mới, cách am
tranh cũ vài trăm thước để thuận tiện cho việc tu hành.
Sau
hơn mười năm lao động vất vả, cuộc sống của người
dân di cư được ổn định, khai khẩn trồng trọt đã thu
hoạch được hoa lợi, cuộc sống người dân thoải mái hơn,
nên Phật tử đến chùa càng ngày càng đông. Vì vậy năm
Nhâm Thân (1752), Thiền sư Linh Nhạc với sự hộ giúp
của bổn đạo đã dỡ bỏ am tranh, cất thành một ngôi chùa
khang trang, có đủ chánh điện, nhà Tổ, phòng khách... Thiền
sư Linh Nhạc Phật Ý đặt tên chùa là “Từ Ân” với ngụ
ý là nhờ lòng từ bi và ân huệ của đức Phật mà bá tánh
được bình an, tạo được cuộc sống ấm no hạnh phúc nơi
vùng đất mới và cũng nhờ lòng từ bi và ân huệ của đức
Phật, chư vị hộ pháp mà tạo nên được cơ sở để truyền
bá đạo pháp cho bá tánh.
Ngôi
am của vị sư gần đó cũng được sửa thành ngôi chùa khang
trang với tên là “Khải Tường” với ngụ ý là mở rộng
phước lành cho bá tánh.
Chùa
Khải Tường ở góc đường Lê Quí Đôn và Trần Quí Cáp,
tức vị trí ở ngôi nhà lớn dùng làm trường Đại học
Y khoa; chùa Từ Ân ở vị trí chợ Đũi, thuộc quận 3 Sài
Gòn sau này.
Sau
một thời gian hoằng hóa, vị sư ở chùa Khải Tường viên
tịch, Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc trụ trì luôn cả hai chùa.
Do tài đức và nhiệt tâm hoằng pháp của Thiền sư Linh Nhạc,
hai chùa Từ Ân và Khải Tường trở thành hai ngôi chùa lớn
và nổi tiếng ở phủ Gia Định.
Trong
khi hai chùa Từ Ân và Khải Tường phát triển rộng lớn,
Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý được sự phụ giúp của sư đệ
trong tông phái Lâm Tế là:
-
Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, cũng thuộc đời 35 như
sư Linh Nhạc (đệ tử của Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri)
được cử giữ chức Thủ tọa, lo điều khiển tăng chúng
trong hai chùa. Nhưng sau khi Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri viên
tịch (năm 1786), Thiền sư Liễu Đạt kính Sư huynh Linh Nhạc
Phật Ý như thầy.
Ngoài
ra, Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc cũng đào tạo được một
số đệ tử có trình độ và đức hạnh để lo việc trong
chùa:
-
Thiền sư Tổ Tông Viên Quang: là trưởng tử của Hòa thượng
Linh Nhạc, được giao lo phụ trách việc giảng giải kinh điển
cho đồ chúng trong chùa.
-
Thiền sư Tổ Đạt Trí Tâm được trao chức Tri khách, lo việc
tiếp khách và việc giao dịch của chùa; sau được cử trụ
trì chùa Khải Tường. Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng sau thời
gian tu học ở chùa Từ Ân, được về trụ trì chùa Đại
Giác ở dinh Trấn Biên (Biên Hòa) có lẽ vào năm 1775, sau này
còn được vua Gia Long mời ra kinh đô Huế hoằng hóa, được
phong chức Tăng cang chùa Thiên Mụ (1814-1817), trụ trì chùa
Quốc Ân (do Tổ sư Nguyên Thiều thành lập) cho đến ngày
viên tịch (năm 1835).
-
Thiền sư Tế Chánh Bổn Giác: Đệ tử của Thiền sư Thiệt
Thành Liễu Đạt, được Thiền sư Linh Nhạc giao chức Tri
sự, lo việc điều hành nội bộ chùa Từ Ân.
Năm
Nhâm Thìn (1772), Phật tử ở chùa Giác Lâm (Phú Thọ, Gia Định)
đến chùa Từ Ân xin Hòa thượng Linh Nhạc Phật Ý cử tăng
sĩ vào trụ trì chùa này. Chùa Giác Lâm do cư sĩ Lý Thoại
Long, người Minh Hương, quyên tiền bá tánh xây cất năm Giáp
Tý (1744). Hòa thượng Linh Nhạc cử Thiền sư Viên Quang Tổ
Tông vào trụ trì chùa Giác Lâm từ đó cho đến ngày viên
tịch (1827).
Năm
1801, Nguyễn Vương chiếm lại được kinh đô Phú Xuân và
sau đó chiếm luôn cố đô Thăng Long, dẹp tan nhà Tây Sơn,
thống nhất đất nước Đại Việt sau mấy thế kỷ phân
chia ly tán. Năm 1802, Nguyễn Vương lên ngôi lấy hiệu là Gia
Long.
Sau
khi lên ngôi, vua Gia Long (1802-1820) sắc tứ trùng tu và ban thưởng
cho các chùa:
-
Sắc Tứ Từ Ân Tự, Quốc Ân Khải Tường Tự, cấp lương
tiền và mọi chi phí cho tăng chúng và sinh hoạt của hai chùa
này, coi là hai chùa của quốc gia, dân thường gọi là “chùa
quan”.
-
Vua sai quan trấn Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa sau này) đem tượng
binh và công thợ trùng tu chùa Đại Giác. Sau đó công chúa
Ngọc Anh cũng tu hành ở chùa Đại Giác. Vua ban y bát và sắc
phong cho Thượng tọa Phật Ý Linh Nhạc làm Hòa thượng.
Năm
1814, vua Gia Long lại phong cho đệ tử của Hòa thượng Linh
Nhạc là Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng làm Tăng cang chùa Thiên
Mụ. Năm 1817, vua lại cử Thủ tọa chùa Từ Ân là Thiền
sư Thiệt Thành Liễu Đạt làm Tăng cang chùa Thiên Mụ, thay
thế cho Thiền sư Mật Hoằng qua trụ trì chùa Quốc Ân. Sau
đó, vua lại ban cho Tăng cang Liễu Đạt danh hiệu là Hòa thượng
Liên Hoa. Đại lão Hòa thượng Linh Nhạc là bậïc giác ngộ,
khoảng năm 1820-1821, dù Hòa thượng Linh Nhạc ở chùa Từ
Ân (Gia Định) nhưng biết việc ở xa, nên có nói với đệ
tử là Thiền sư Viên Quang (Trụ trì chùa Giác Lâm) là sợ
cho duyên trần ràng buộc Hòa thượng Liên Hoa đang hoằng hóa
ở kinh đô Huế. Quả thực, Hòa thượng Liên Hoa ở Huế đang
bị Hoàng Cô là Tế Minh Thiên Nhật thương mến và cố kết
gây nghiệp duyên oan trái.
Ngày
20 tháng 11 năm Tân Tỵ (1821), Minh Mạng nguyên niên, Đại lão
Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc viên tịch tại chùa Từ Ân,
thọ 97 tuổi. Khi Đại lão Hòa thượng viên tịch có mùi hương
ngát ở chùa. Chắc hẳn là Ngài đã đạt thành Chánh giác.
Đồ
chúng và quan chức Gia Định làm lễ an táng Đại lão Hòa
thượng hết sức long trọng, lập tháp trong khuôn viên chùa
Từ Ân (trong khuôn viên vườn Tao Đàn ở Sài Gòn ngày nay).
Đến
năm Quí Hợi 1923, Thiền sư Hồng Hưng tổ chức lễ thỉnh
hài cốt của Tổ Phật Ý Linh Nhạc về chùa Giác Lâm và lập
tháp mới bên cạnh tháp của Hòa thượng Tổ Tông Viên Quang
trong khuôn viên chùa Giác Lâm.
Thiền
Sư LIỄU ĐẠT THIỆT THÀNH
(?
- 1823)-(Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế)
Thiền
sư Liễu Đạt Thiệt Thành hay Hòa thượng Liên Hoa. Hiện chưa
biết tên họ thực, quê quán ở đâu, chỉ biết: Thiền sư
Liễu Đạt là đệ tử Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri, có
lẽ Thiền sư Liễu Đạt qui y với Hòa thượng Nhất Tri ở
chùa Kim Cang (Bình Thảo, Đồng Nai).
Trong
thời gian Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc (cũng thuộc phái thiền
Lâm Tế, đời 35) hoằng hóa ở chùa Từ Ân (Gia Định), từ
năm 1744 đến năm 1821 Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành được
cử làm Thủ tọa ở chùa này.
Năm
Đinh Sửu, niên hiệu Gia Long thứ 16 (năm 1817) vua xuống sắc,
triệu Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành ra kinh đô Huế, cử
làm Tăng cang chùa Thiên Mụ (1817-1823), trong thời gian này,
Tăng cang Liễu Đạt còn được cử làm Pháp sư để thuyết
giảng Phật pháp trong Nội cung của vua Gia Long. Mỗi tháng,
Tăng cang Liễu Đạt phải vào nội cung 8 ngày để thuyết
pháp cho Hoàng gia. Sau đó, vua phong cho Tăng cang Liễu Đạt
Thiệt Thành danh hiệu là Hòa thượng Liên Hoa.
Hòa
thượng Liên Hoa có tướng mạo oai nghiêm, tướng tốt (tướng
hảo), thông minh, có tài thuyết giảng và biện luận về Phật
pháp nên được nhiều Phật tử trong cung Nội và triều thần
nhà Nguyễn kính phục và mến mộ tài đức.
Trong
thời gian Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành hoằng hóa ở kinh
đô Huế (vào khoảng năm 1821), Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc
ở chùa Từ Ân (Sài Gòn) nói với đệ tử là Thiền sư Viên
Quang Tổ Tông Trụ trì chùa Giác Lâm là Hòa thượng lo cho
Sư Liễu Đạt không tránh khỏi mối dây ràng buộc của nghiệp
trần duyên vì Thiền sư Liễu Đạt có tướng hảo, có tài
thuyết giảng và khoa ăn nói, lại giảng giải trong nội cung,
gần nhiều với nữ sắc quyền quí.
Ngày
20 tháng 11 năm Tân Tỵ (1821), Đại lão Hòa thượng Phật Ý
Linh Nhạc viên tịch ở chùa Từ Ân, Thiền sư Liễu Đạt
không hay biết việc này. Mãi đến đầu năm 1823, có các quan
đại thần từ Gia Định ra kinh đô Huế dự lễ, Hòa thượng
Liên Hoa mới biết được tin đó, và nhân đó mới có cớ
để xin vua cho từ nhiệm ở chùa Thiên Mụ và ở kinh đô
Huế về Gia Định. Sau cả tháng, Thiền sư Liễu Đạt mới
được vua cho phép về Trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định…
…
Năm Qúi Mùi (1823) Hòa thượng Liên Hoa lên chùa Đại Giác
ở cù lao Phố, tỉnh Biên Hòa để nhập thất…
…
bài kệ Niết-bàn do Hòa thượng Liên Hoa viết bằng mực đen
trên vách chánh điện:
THIỆT
đức rèn kinh vẹn kiếp trần
THÀNH
không vẩn đục vẫn trong ngần
LIỄU
tri mộng huyễn chân như huyễn
ĐẠT
đạo mình vui đạo mấy lần.
Phía
dưới có đề: Sa-môn Thiệt Thành hiệu Liễu Đạt.
Hay
tin Hòa thượng Liên Hoa đã viên tịch, các quan tỉnh Biên
Hòa và các quan thuộc dinh Tổng trấn ở Gia Định phải báo
tin về triều và hợp nhau tổ chức tang lễ.
*
Hòa
thượng Liên Hoa hay Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt có các
đệ tử nổi danh như:
-
Thiền sư Tế Chánh Bổn Giác: sau là Tăng cang chùa Thiên Mụ
(1823-1825), Tăng cang chùa Giác Hoàng đứng ra lo trùng tu chùa
Quốc Ân và chùa Từ Ân.
-
Thiền sư Tế Bổn Viên Thường (1769-1848) trụ trì chùa Long
Quang và chùa Pháp Vân ở Thừa Thiên (Huế), và Tăng cang chùa
Thiên Mụ.
-
Thiền sư Tế Tín Chánh Trực trụ trì và trùng tu chùa Sắc
Tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường.
Thiền
Sư TỔ ẤN MẬT HOẰNG
(1735
- 1835)-(Đời pháp thứ 36, tông Lâm Tế)
Thiền
sư Mật Hoằng, húy Tổ Ấn, họ Nguyễn, sanh năm Ất Mão (1735),
quê ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Năm
1749, lúc mới 15 tuổi, Mật Hoằng từ Bình Định vào Gia Định,
tu hành ở chùa Đại Giác, tại Đại Phố Đồng Nai, huyện
Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là cù lao Phố, xã Hiệp Hòa,
thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai). Sau đó, Mật Hoằng đến
thọ giới cụ túc với Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc ở chùa
Từ Ân, làng Tân Khai, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn (nay
thuộc quận 3, thành phố Hồ Chí Minh). Tu trì giới hạnh tinh
nghiêm.
Năm
Quí Tỵ (1773), Thiền sư Mật Hoằng được cử làm Trụ trì
chùa Đại Giác (Biên Hòa, Đồng Nai).
Trong
thời gian chống với nhà Tây Sơn ở phủ Gia Định (năm 1778
đến năm 1801) Nguyễn Vương Nguyễn Phước Ánh nhiều lần
phải lánh nạn ở các chùa miền Nam như chùa Kim Cang, Bửu
Phong (Đồng Nai), Tập Phước (Gia Định), Long Nguyên (hay Linh
Thứu, Mỹ Tho)... Nguyễn Vương cũng có thời gian tạm trú
ở chùa Đại Giác (Biên Hòa), Từ Ân và Khải Tường (Gia
Định). Trong thời gian đó, con gái thứ ba của Nguyễn Vương
là Ngọc Anh, lánh nạn ở chùa Đại Giác (Biên Hòa), một
thời gian sau, công chúa Ngọc Anh xin xuất gia thọ giới
với Thiền sư Mật Hoằng, hiện chúng ta không biết rõ hành
trạng của công chúa, trong tạp chí Bulletin des Amis du Vieux
Huê (B.A.V.H.) năm 1915, có viết như sau: Công chúa Ngọc Anh,
chị của Vua (Minh Mạng), còn trẻ và tiết liệt, khi tị nạn
nhà Tây Sơn đã đến tu ở chùa Đại Giác, giữ cuộc sống
trầm tư mặc tưởng, hành đạo một cách sùng mộ.
Năm
1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Vương lên ngôi,
lấy hiệu là Gia Long. Vua nhớ ơn sự giúp đỡ của các chùa
trên, nên sắc tứ và ban thưởng cho các chùa. Riêng phần
chùa Đại Giác (Biên Hòa), vua ra lịnh cho quan trấn ở địa
phương phải lo trùng tu cho chùa, cho Tượng binh đem voi đến
dậm nền chùa. Vì vậy, sau này, chùa Đại Giác còn được
gọi là chùa Tượng. Chùa được xây dựng to lớn hơn, có
lầu chuông và lầu trống. Vua lại cho tạo tượng Phật A-di-
đà cao đến 2m25, nên chùa cũng được gọi là chùa Phật
lớn. Vua sắc phong chức Hòa thượng và ban y bát cho bổn sư
của Thiền sư Mật Hoằng là Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (chùa
Từ Ân).
Năm
Gia Long thứ mười bốn (năm 1815) vua xuống chiếu triệu Thiền
sư Mật Hoằng về kinh đô Huế, phong chức Tăng cang chùa Thiên
Mụ, đồng thời thỉnh vào nội cung thuyết pháp cho Hoàng
gia.
Năm
1817, vua lại cử Tăng cang Mật Hoằng trụ trì chùa Quốc Ân
(chùa do Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch lập). Trong thời gian
hoằng hóa ở chùa này, Tăng cang Mật Hoằng cho xây dựng lại
chùa Quốc Ân (bị phá sập trong thời Tây Sơn chiếm đô thành
Phú Xuân).
Năm
Minh Mạng nguyên niên (1820), Tăng cang Mật Hoằng lại lo trùng
tu lại chùa Thập Tháp Di-đà ở Bình Định, là Tổ đình
của phái thiền Lâm Tế Đàng Trong, do Tổ sư Nguyên Thiều
thành lập khi Tổ từ Trung Hoa mới sang Đàng Trong. Tăng cang
còn cúng cho chùa này một tấm hoành có viết tên “Thập
Tháp Di-đà Tự”, hiện vẫn còn.
Ngày
mùng 1 tháng 10 năm Ất Mùi (năm 1835), Thiền sư Tổ Ấn Mật
Hoằng viên tịch tại chùa Quốc Ân (Huế) thọ 101 tuổi, đồ
chúng lập tháp thờ ở bên hông chùa. Bia tháp có ghi: “Sắc
tứ Thiên Mụ tự, Trụ trì Mật Hoằng Đại lão Hòa thượng
chi tháp”.
Long
vị ở chùa Quốc Ân ghi: Sắc tứ Thiên Mụ Trụ trì, trùng
kiến Quốc Ân, Lâm Tế chánh tông, tam thập lục thế, húy
Tổ Ấn, thượng Mật hạ Hoằng, Lão Hòa thượng.
Chùa
Long Hưng hay chùa Tổ (Tổ Đỉa) ở tỉnh Sông Bé cũng có
thờ long vị của Hòa thượng Mật Hoằng.
Sách
Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên phủ, viết về Thiền
sư Mật Hoằng như sau:
“Nguyễn
Mật Hoằng
Người
huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, 15 tuổi xuất gia, lưu ngụ
Gia Định đầu thiền ở chùa Đại Giác, tu trì giới hạnh.
Đời vua Duệ Tông Hoàng đế, năm thứ bảy (Quí Tỵ,
1773) Hoằng mới cắt tóc làm thầy. Năm Gia Long thứ mười
ba, vua triệu Hoằng về kinh cấp cho chức Tăng cang Trụ trì
chùa Thiên Mụ, quán thống tăng chúng. Mùa đông năm Minh Mạng
thứ mười sáu (1835) Hoằng tịch, thọ 101 tuổi.
Hòa
thượng Mật Hoằng có đệ tử nổi danh là Thiền sư Tiên
Huệ Tịnh Nhãn, sau cũng được vua nhà Nguyễn cử làm Tăng
cang, Trụ trì chùa Thiên Mụ.
Thiền
sư Tánh Thiên Nhất Định, một danh tăng ở kinh đô Huế thời
nhà Nguyễn, sau được vua Minh Mạng phong chức Tăng cang chùa
Giác Hoàng (năm 1839), Tổ khai sơn chùa Từ Hiếu (Huế), cũng
đã cầu pháp với Hòa thượng Mật Hoằng (thế độ với
Hòa thượng Đạo Minh Phổ Tịnh chùa Báo Quốc).
Thiền
Sư TỔ TÔNG VIÊN QUANG
(1758
- 1827)-(Đời pháp thứ 36, tông Lâm Tế)
Thiền
sư Viên Quang, húy Tổ Tông, chưa rõ tên họ thật, có thể
là người Minh hương (người Việt lai Trung Hoa) vì ông nội
của Sư là một trong số tướng sĩ trong đạo quân của Tổng
binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên của nhà Minh không chịu
thần phục nhà Thanh, nên bỏ Trung Hoa qua Đàng Trong (Đại
Việt) xin thần phục chúa Nguyễn vào năm 1679, được chúa
Nguyễn cho vào làm ăn sanh sống ở Đồng Nai. Tổng binh Trần
Thượng Xuyên đã định cư ở vùng Bàn Lân, sau dời lên vùng
Tân Lân (trung tâm thành phố Biên Hòa ngày nay) và phát triển
cù lao Phố (xã Hiệp Hòa ngày nay) thành một thành phố lớn,
đồng thời là một giang cảng quốc tế, gọi là “Đại
Phố Đồng Nai” (Đồng Nai Đại Phố).
Lúc
còn nhỏ, Thiền sư Viên Quang cùng Trịnh Hoài Đức [Trịnh
Hoài Đức (1765-1825)] thường đến chùa Đại Giác tại Đại
Phố Đồng Nai để lễ sám. Sau đó, lớn lên Thiền sư Viên
Quang tiếp tục tu hành, Trịnh Hoài Đức theo nho học, và ra
làm quan dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, được thăng
đến chức Hiệp Biện Đại Học Sĩ, tước An Toàn Hầu.
Lúc
còn nhỏ, Thiền sư Viên Quang đã tu học ở chùa Đại Giác,
Trụ trì là Hòa thượng Thành Đẳng Minh Lượng.
Khi
lớn lên, Thiền sư Viên Quang qui y thọ giáo với đệ tử
của Hòa thượng Thành Đẳng là Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc,
là vị khai sơn chùa Từ Ân ở Gia Định (năm 1744).
Thiền
sư Viên Quang tu học từ nhỏ giỏi chữ Hán, chịu khó và
chăm chỉ tu hành, nghiên cứu nhiều kinh sách, từ kinh sách
Phật giáo đến các môn học khác như sách Nho học, Lý dịch,
Địa lý... nên uyên thâm cả Phật học và Nho học. Với sức
học uyên bác đó, Thiền sư Viên Quang được thầy cử thay
thầy diễn giảng kinh pháp cho tăng chúng ở chùa.
Năm
Nhâm Thìn (1772), chùa Giác Lâm khuyết thầy Trụ trì, nên Phật
tử chùa này đến chùa Từ Ân xin Hòa thượng Phật Ý Linh
Nhạc cử Sư đến hoằng hóa. Thiền sư Viên Quang được thầy
bổ đến Trụ trì tại chùa Giác Lâm xã Phú Thọ, huyện Tân
Bình, dinh Phiên Trấn (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).
Khi
về chùa Giác Lâm, Thiền sư Viên Quang đã là một vị cao
tăng uyên bác với tâm nguyện phổ hóa Phật pháp, Thiền sư
Viên Quang mở rộng chùa Giác Lâm thành Phật học xá, thông
báo cho chư tăng khắp nơi ai muốn tham học Phật pháp thì
đến chùa Giác Lâm. Chùa đài thọ cho học tăng mọi phí tổn,
từ việc ăn uống đến kinh sách, tập bút...
Thiền
sư Viên Quang đứng ra thuyết giảng kinh pháp, vừa lo cả vấn
đề tài chánh cho chùa. Phật học xá này hoạt động suốt
hai mươi mấy năm, mà chi phí cho chùa vẫn được đầy đủ,
sung túc.
Năm
Mậu Ngọ (1798), Thiền sư Viên Quang phải tạm cho học tăng
nghỉ học một thời gian để lo đại trùng tu lại chùa Giác
Lâm, vì chùa đã bị hư mục sau khi được lập đến hơn
nửa thế kỷ (lập năm 1744). Chùa Giác Lâm do cư sĩ Lý Thoại
Long đứng ra quyên góp tiền của bá tánh để xây dựng, nên
chùa cất bằng cây thường và không mỹ thuật, cột kèo bằng
cây tạp nên mau hư mục. Thiền sư Viên Quang cho xây cất chùa
lại bằng các loại gỗ quí, cây to, có cây to đến nỗi hai
mươi người vẫn chưa khiêng được. Gỗ, ngói được chuyển
đến bằng đường thủy. Gỗ quí từ rừng đưa về, được
chở bằng thuyền hoặc kết bè, mà chùa Giác Lâm cách xa bến
sông đến 2km. Gỗ được đưa từ rừng, xuôi theo sông Đồng
Nai, đổ vào sông Bến Nghé, theo rạch Ông Bường, ghé vào
bến ở trên bờ rạch Hổ Đất. Từ rạch Hổ Đất đưa
về chùa bằng xe trâu. Có nhiều cây to quá, xe trâu kéo không
muốn nổi. Cây gỗ chuyển về bến ở rạch Hổ Đất quá
nhiều nên Thiền sư Viên Quang phải cử sư Hương đăng của
chùa Giác Lâm xuống đó lập am tranh vừa tu hành, vừa giữ
gỗ. Chùa phải xây cất trong nhiều năm mới hoàn thành (1798-1804),
ông Hương đăng ở bến lo giữ gỗ vẫn chuyên cần công phu,
lại khéo léo tu bổ trang trí biến am tranh thành một am thờ
Bồ-tát Quan Thế Âm rất đẹp.
Năm
Giáp Tý (1804), việc xây cất lại chùa Giác Lâm được hoàn
mãn, chùa được dựng với cột gỗ rất quí, cột được
làm bằng lõi cây, đường kính bốn, năm tấc tây nên rất
chắc, không bị mối mọt và mục nát. Muốn có cột to với
lõi cây như thế, cây nguyên của nó đường vòng phải đến
hai người ôm mới hết, các thợ mộc phải đẽo gọt rất
công phu và mất nhiều thì giờ. Ngoài ra, các câu đối được
khắc ngay trên cột, nên các tấm liễn này cũng rất bền
chắc; các chữ Nho khắc trên cột rất mỹ thuật, lớp vàng
mạ sơn lên chữ Nho làm bằng vàng tốt nên chữ vẫn còn
màu vàng sáng óng ánh, không bị mờ đen, lớp mạ không bị
tróc vỡ.
Hiện
trong chùa Giác Lâm còn hai tấm liễn có ghi như sau:
Vạn
pháp đài trung tuyên tứ đế, báo Phật Tổ hồng ân kỳ phong
điều vũ thuận.
Đại
hùng bảo điện diễn tam thừa, chúc Hoàng vương thánh thọ
nguyện quốc thái dân an.
(Trên
đài Phật pháp, truyền Tứ đế, đáp hồng ân Phật Tổ,
cầu mưa hòa gió thuận.
Nơi
điện Phật Tổ, diễn Tam thừa, chúc Hoàng vương sống thọ,
nguyện đất nước thái bình dân an.)
Trên
hai câu liễn có khắc các hàng chữ nhỏ: “Gia Long tam niên
Giáp Tý, thái tuế trọng Đông, kiết đán” và “Mộc Ân
đệ tử, thiện tín chúng đẳng khẩn bái phụng cúng”; cho
chúng ta biết được; Phật tử Mộc Ân và thiện nam tín nữ
khẩn thành lễ bái và phụng cúng vào ngày tốt, trọng Đông
(tháng 11) năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ ba (1804).
Sau
khi chùa hoàn thành, Hòa thượng Tổ Tông Viên Quang tiếp tục
khai giảng kinh luận trở lại, chư tăng ở các tỉnh tựu
về theo học rất đông.
Khoảng
năm 1816-1820, An Toàn Hầu Trịnh Hoài Đức được Gia Long cử
làm Hiệp Tổng Trấn “Gia Định Thành” (gồm 6 tỉnh Nam
kỳ sau này). Trong thời gian này, trong một dịp lễ ở chùa
Tập Phước (xã Bình Hòa, Gia Định), tình cờ Hiệp Biện
Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức gặp lại Hòa thượng Tổ Tông
Viên Quang, là bạn cũ từ thuở thơ ấu ở quê ngoại, cảm
hứng thành bài thơ ngũ ngôn rất đặc sắc, thể hiện trình
độ thâm hiểu Phật pháp sâu xa và tâm chân thực của một
bực trí giả liễu ngộ lý đạo và hành thâm Phật
đạo:
“Ức
tích thái bình thì,
Lộc
Động phương thịnh mỹ,
Thích-ca
giáo hưng sùng,
Lâm
ngoại tổ phú quí.
Ngã
vi thiêu hương đồng,
Sư
tác chi giới sĩ,
Tuy
ngoại phân thanh hoàng,???
Nhược
mạc khế tâm chí.
Phong
trần thứ lương bằng,?
Thế
giới nhập ngạ quỉ,?
Bình
ngạnh nhậm phù trầm,
Bào
ảnh đẳng sanh tử.
Yểm
tứ thập dư niên,
Hoàn
thuấn tức gian sự,?
Tây
giao thích nhàn hành,?????
Sơn
môn ngẫu tương trị.?
Ngã
Hiệp Biện Trấn Công,?
Sư
Đại Hòa thượng vị,?
Chấp
thủ nghĩ mộng hồn,?
Đàm
tâm tạp kinh quí,?
Vãng
sự hà túc luận,?
Đại
Đạo hiệïp như thị.?
*
Nhớ xưa thuở thái bình,
Đất
Đồng Nai thạnh mỹ,
Đạo
Phật được hưng sùng,
Nhà
ngoại thêm phú quí.
Ta
đồng tử đốt hương,
Sư
theo đòi giáo nghĩa,
Bên
ngoài chia đạo đời,
Bên
trong đồng tâm chí.
Loạn
lạc phải xa nhau,
Thế
giới thành ngạ quỉ,
Ta
trôi nổi vào ra,
Bọt
bèo biển sanh tử.
Mới
đó bốn mươi năm,
Chớp
nhoáng chuyện thế sự,
Nay
bỗng nhiên nhàn hành,
Nơi
thiền môn gặp gỡ.
Ta
Hiệp Biện Trấn Công,
Sư
Cao tăng Thượng sĩ.
Nhìn
xưa như giấc mộng,
Tâm
cùng tâm tương nghị,
Chuyện
xưa nói sao cùng,
Đại
Đạo vốn Như Thị. [Bài này dựa theo Nguyễn Lang, có
thay đổi chút ít]
Sau
đó, có lẽ Hiệp Biện Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức cũng
thường viếng chùa Giác Lâm và đã tặng chùa câu đối mà
chính Ngài đã viết kính điếu thầy học của Ngài là “Xử
sĩ Võ Trường Toản”:
Sanh
tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử,
Một
hậu lưu danh tại thế, tuy vong giả bất vong.
(Khi
sống dạy dỗ được người, không con như có con,
Lúc
mất lưu danh lại đời, tuy mất nhưng không mất)
Cặp
câu đối này vừa mang ý nghĩa hợp với đạo và đời. Một
vị “Thầy” (thầy giáo hay thầy tu), lúc còn sống dạy
dỗ được người đời, dầu không có con để nối dòng dõi
mà cũng như có con vì có học trò nối truyền. Vị thầy này
khi mất rồi, danh tiếng vẫn lưu lại trong đời. Tuy thân
xác không còn nhưng danh vẫn không bao giờ mất.
Năm
Gia Long thứ mười tám (1819), Hòa thượng Viên Quang mở Giới
đàn tại chùa Giác Lâm, tăng chúng và thiện nam tín nữ đến
qui y thọ giới rất đông.
Hòa
thượng Tổ Tông Viên Quang viên tịch tại chùa Giác Lâm vào
ngày mùng ba tháng chạp năm Đinh Hợi (1827), thọ 70 tuổi,
đồ chúng lập tháp chôn hài cốt tại sân chùa, trên bia tháp
chỉ ghi đơn sơ: “Lâm Tế Chánh Tông, Tông Hiến Quang Công,
Đại Lão Hòa thượng.”
Hiệp
Biện Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức viết về Đại lão Hòa
thượng Viên Quang như sau:
“Đại
lão Hòa thượng Viên Quang thuộc thế hệ 36 của phái thiền
Lâm Tế chánh tông, trải từ tuổi nhỏ cho đến khi già, kiên
trì tu hành, ngày càng tinh tấn, lại có tánh ưa cảnh khói
mây, núi non sông suối (yên hà tuyền thạch), ít khi đến
chỗ thành thị huyên náo.”
Từ
khi Ngài đến chùa Giác Lâm, chùa này có tình cảnh hợp với
câu thơ:
Sơn
trung tức phiền não
Lâm
hạ xuất già-lam.
Tạm
dịch:
Trên
núi dứt phiền não
Trong
rừng xuất hiện chùa.
Theo
tài liệu ở chùa Giác Lâm cho biết, Hòa thượng Tổ Tông
Viên Quang tịch năm Đinh Hợi (1827), thọ 70 tuổi, như vậy
là Hòa thượng có thể sanh vào năm Mậu Dần (1758).