Đại
Sư KIM LIÊN TỊCH TRUYỀN
(1745
- 1816)-(Đời pháp thứ 41, tông Lâm Tế)
Sư
quê ở thôn Trình Viên huyện Thượng Phước, xuất gia từ
thuở bé ở chùa Vân Trai. Một hôm Sư đến cầu Hòa thượng
Từ Phong ở chùa Liên Tông thế độ. Từ đây Sư thể hiện
lòng từ bi, nuôi lớn đức hạnh và nghiêm trì giới luật.
Sư tu hành thời khóa không khi nào bê trễ.
Đến
năm Bính Tý niên hiệu Gia Long thứ mười lăm (1816), Sư gọi
đệ tử lớn là Tường Quang đến phó chúc kệ rằng:
Tâm
là trước đất trời
Thân
là sau trời đất
Thân
tâm trong đất trời
Tuần
hoàn không cùng tận.
(Tâm
vi thiên địa tiên
Thân
vi thiên địa hậu
Thân
tâm thiên địa nội
Tuần
hoàn vô cùng dĩ.)
Nói
xong Sư ngồi yên mà tịch, thọ 70 tuổi. Môn đệ hỏa táng,
xây tháp tôn thờ.
Đại
Sư TƯỜNG QUANG- CHIẾU KHOAN
(1741-1830)-(Đời
pháp thứ 42, tông Lâm Tế)
Sư
họ Nguyễn, quê ở bến đò Trình Viên Hà Nội. Thuở bé,
Sư đến chùa Vân Trai đảnh lễ Hòa thượng Kim Liên xin xuất
gia. Sau khi được thu nhận là môn đồ ở chùa Vân Trai, Sư
rất cần mẫn tu tập. Đến lớn lên thọ giới cụ túc xong,
Sư thường tập tu theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh).
Về
đời tu của Sư rất là khiêm hạ, cả ngày chỉ tụng kinh
lễ Phật nhiễu tháp và luôn thúc liễm thân tâm. Nếu gặp
vị tăng nào đến là Sư ra đảnh lễ, chẳng phân cao thấp.
Sư ba năm tịch cốc, sáu năm mỗi ngày ăn một bữa. Phàm
có ai cúng dường Sư món gì, Sư đem cúng dường lại chúng
tăng hết, chẳng dám giữ riêng. Sư đi đâu chỉ có ba y tùy
thân, tự mang theo không phiền người gìn giữ. Sư lấy lục
độ làm tiêu chuẩn trong đời tu hành. Đến đâu, Sư cũng
khuyên người giảng kinh, phóng sanh, tu phước, bố thí, chép
kinh. Phật tử xin qui y với Sư rất đông không thể tính
hết.
Đến
năm Canh Dần niên hiệu Minh Mạng năm thứ mười một (1830),
Sư gọi đệ tử lớn là Từ Tánh bảo:
-Ta
từ bé đến già chuyên tâm tiến đạo, nay giờ qui tịch đã
đến. Hãy nghe ta nói kệ:
Người
bậc nhất tu pháp vô vi
Người
bậc nhì phước tuệ đầy đủ
Người
bậc ba làm thiện chừa ác
Người
bậc tư tam tạng tinh thông.
(Nhất
đẳng nhân tu vô vi pháp
Nhị
đẳng nhân phước tuệ song tu
Tam
đẳng nhân hành thiện trở ác
Tứ
đẳng nhân tam tạng tinh thông.)
Nói
xong, Sư ngồi yên viên tịch, thọ 70 tuổi.
Thiền
Sư PHÚC ĐIỀN
(Thế
kỷ 19)
Thiền
sư Phúc Điền là người có công lớn trong việc bảo tồn
sử liệu Phật giáo. Ông biên soạn sách Đại Nam Thiền Uyển
Truyền Đăng Tập Lục (127). Ông trú trì chùa Liên Tông, làng
Bạch Mai, tỉnh Hà Đông, nhưng công việc san khắc này được
thực hiện tại chùa Bồ Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Công
việc san khắc, ông giao cho Thiền sư Phương Viên, giám tự
chùa Bồ Sơn, đứng ra chủ trì. Một vị tăng chùa Bồ Sơn
pháp danh là Thanh Hà phụ trách việc viết chữ khắc bản.
Thiền sư Phúc Điền viết bài tựa cho sách đầu năm 1859,
và có lẽ sách được ấn hành trong năm đó.
Phúc
Điền cũng là người khai sơn chùa Thiên Quang, ở núi Đại
Hưng tỉnh Hà Nội. Chùa này được Thiền sư Phổ Tịnh, đệ
tử của Thiền sư Chiếu Khoan trú trì. Thiền sư Phổ Tịnh
hồi còn nhỏ đã theo Thiền sư Phúc Điền để tu học, sau
này ông thọ giới cụ túc với Thiền sư Chiếu Khoan.
Sau
đây là danh hiệu hai mươi ba vị Tổ truyền thừa chùa Yên
Tử từ Hiện Quang Tổ Sư đến Vô Phiền Đại Sư, thấy trong
sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục quyển hai của
Phúc Điền Hòa Thượng đính bản:
1/
Hiện Quang Tổ Sư
2/
Viên Chứng Quốc Sư
3/
Đại Đăng Quốc Sư
4/
Tiêu Dao Tổ Sư
5/
Huệ Tuệ Tổ Sư
6/
Nhân Tông Tổ Sư
7/
Pháp Loa Tổ Sư
8/
Huyền Quang Tổ Sư
9/
An Tâm Quốc Sư
10/ Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự) Quốc Sư
11/ Vô Trước Quốc Sư
12/ Quốc Nhất Quốc Sư
13/ Viên Minh Tổ Sư
14/ Đạo Huệ Tổ Sư
15/ Viên Ngộ Tổ Sư
16/ Tổng Trì Tổ Sư
17/ Khuê Thám Quốc Sư
18/ Sơn Đằng Quốc Sư
19/ Hương Sơn Đại Sư
20/ Trí Dung Quốc Sư
21/ Tuệ Quang Tổ Sư
22/ Chân Trú Tổ Sư
23/ Vô Phiền Đại Sư.
Đại
Sư PHỔ TỊNH
(Đời
pháp thứ 43, tông Lâm Tế)
Sư
quê ở Võ Lăng, Thượng Phước. Thuở nhỏ đã theo Hòa thượng
Phúc Điền xuất gia tu học. Một hôm, Sư đến chùa Vân Trai
đảnh lễ Đại sư Tường Quang xin thọ giới cụ túc.
Sau
khi thọ giới, Sư thành tâm trì giới hành đạo. Từ bé chí
trưởng, Sư chuyên tâm nghiên cứu kinh luật, không dám một
phút lơi lỏng. Quá ngọ không để vật gì vào miệng, Sư
về trụ trì tại chùa Tường Quang trên núi Đại Hùng ở
Hà Nội, do Hòa thượng Phúc Điền khuyến hóa xây cất. Nơi
đây, Sư độ tăng tục khá đông, vì thế ngôi chùa càng trang
nghiêm đẹp đẽ.
Một
hôm, Sư gọi chúng lại bảo:
-
Nay ta cáo biệt, phó chúc ngươi kệ truyền pháp đây:
Nhiều
năm ngồi tịnh núi Đại Hùng
Quả
thật thân cùng đạo chẳng cùng
Sáu
chữ chuyên trì thân thọ ký
Truyền
mãi đời sau sáng Tổ tông.
(Kinh
niên tĩnh tọa Đại Hùng phong
Thật
thị thân cùng đạo bất cùng
Lục
tự chuyên trì thân thọ ký
Lưu
truyền hậu thế hiển tông phong.)
Nói
kệ xong, Sư ngồi yên mà tịch. Đồ đệ xây tháp tôn thờ.
Đại
Sư THÔNG VINH
(Đời
pháp thứ 44, tông Lâm Tế)
Sư
quê ở Nhân Kiệt, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ, Sư đến Hàm
Long xin cầu xuất gia, thế độ. Lớn lên, Sư đến Hòa thượng
Phúùc Điền thọ giới cụ túc.
Sư
tu hành chín chắn, đạo đức vang xa. Đệ tử rất đông,
mỗi vị ở mỗi phương hoằng hóa. Khi sắp tịch, Sư nói
kệ phó chúc:
Tâm
không cảnh lặng vượt thánh siêu phàm
Ý
nhiễm tình sanh muôn mối trói buộc
Trời
người các pháp trọn tại trong đây
Ta
người một thể gốc chỉ là tâm.
(Tâm
không cảnh tịch việt thánh siêu phàm
Ý
nhiễm tình sanh vạn đoan hệ phược
Thiên
nhân chư pháp tận tại kỳ trung
Bỉ
ngã nhất thể nguyên bản duy tâm.)
Không
biết Sư tịch lúc nào và ở đâu.
TÔNG
LÂM TẾ TRUYỀN VÀO MIỀN TRUNG VIỆT NAM
(ĐÀNG
TRONG)
Thiền
Sư NGUYÊN THIỀU
(1648
- 1728)-(Đời pháp thứ 33, tông Lâm Tế)
Sư
họ Tạ, pháp danh Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích, quê ở Trình
Hương Triều Châu, Quảng Đông, xuất gia năm 19 tuổi, tu ở
chùa Báo Tư, thọ giáo với Hòa thượng Bổn Khao Khoáng Viên.
Niên
hiệu Cảnh Trị thứ ba đời Lê Huyền Tông (năm Ất Tỵ,
đời chúa Nguyễn Phúc Tần thứ mười bảy - 1665),[Tài liệu
khác: năm Đinh Tỵ 1677] Sư đi theo tàu buôn sang An Nam, trú
ở Qui Ninh (Bình Định), lập chùa Thập Tháp Di Đà mở trường
truyền dạy. Sau, Sư ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung (thuộc
huyện Phú Lộc, nay hãy còn), rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập
chùa Quốc Ân và lập tháp Phổ Đồng.
Sau
Sư lại phụng mệnh chúa Anh Tông (Nguyễn Phúc Trăn 1687-1691)
trở về Trung Quốc tìm mời các danh tăng và cung thỉnh
pháp tượng pháp khí.
Sư
về Quảng Đông mời được Hòa thượng Thạch Liêm và các
danh tăng khác, cùng thỉnh được nhiều kinh điển tượng
khí đem về. Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn truyền giới
rất long trọng tại chùa Thiên Mụ. Sau đó, chúa Nguyễn sắc
ban Sư chức Trụ trì chùa Hà Trung.
Một
hôm, Sư lâm bệnh, họp môn đồ lại dặn dò mọi việc và
truyền bài kệ rằng:
Lặng
lẽ gương không bóng
Rỡ
rỡ châu chẳng hình
Rõ
ràng vật phi vật
Vắng
vẻ không chẳng không.
(Tịch
tịch kính vô ảnh
Minh
minh châu bất dung
Đường
đường vật phi vật
Liêu
liêu không vật không.)
Ngài
viết kệ xong ngồi yên lặng thị tịch. Hôm ấy là ngày 19
tháng 10 [Tài liệu khác: ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân (1728)]niên
hiệu Bảo Thái thứ mười nhà Lê (1729), thọ 81 tuổi. Đệ
tử và tể quan thọ giới đồng xây tháp ở bên đồi nhỏ
xóm Thuận Hóa làng Dương Xuân Thượng, làm lễ nhập tháp
để hương hỏa tôn thờ.
Hoàng
đế Hiển Tông [Tài liệu khác: Chúa Nguyễn Phước Trú ban
hiệu... vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Bảo Thái thứ mười nhà
Lê (1729)]ban thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền Sư và làm bài
minh khắc vào bia tán thán đạo đức của Sư:
Bát-nhã
ưu ưu
Phạm
thất rỡ rỡ
Trăng
nước ngao du
Giới
luật nghiêm mật.
Lặng
lẽ riêng vững
Đứng
thẳng đã xong
Quán
thân vốn không
Hoằng
pháp lợi vật.
Mây
từ che khắp
Tuệ
nhật chiếu soi
Nhìn
Ngài xét Ngài
Thái
Sơn cao ngất.
(Ưu
ưu bát-nhã
Đường
đường phạm thất
Thủy
nguyệt ưu du
Giới
trì chiến lật.
Trạm
tịch cô kiên
Trác
lập khả tất
Quán
thân bổn không
Hoằng
pháp lợi vật.
Biến
phú từ vân
Phổ
chiếu tuệ nhật
Chiêm
chi nghiêm chi
Thái
Sơn ngật ngật.)
Sư
là vị Tổ truyền phái Lâm Tế vào Trung Việt đầu tiên.
Những vị đồng tông Lâm Tế ở Trung Hoa sang Việt Nam dưới
Sư một đời, như Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo,
Minh Vật Nhất Tri và các đệ tử của Sư đồng truyền bá
tông Lâm Tế ở đây.
TÔNG
TÀO ĐỘNG TRUYỀN VÀO
MIỀN
TRUNG VIỆT NAM
(ĐÀNG
TRONG)
Hòa
Thượng THẠCH LIÊM
(Đời
pháp thứ 29, tông Tào Động)
Sư
hiệu là Đại Xán, Hán ông, quê ở tỉnh Giang Tây, Trung Hoa,
có tài, học vấn uyên bác, các thứ thiên văn địa dư, toán
số, cho đến viết, vẽ đều rất tinh xảo, lại sở trường
về thơ phú. Cuối đời nhà Minh, nhà Mãn Thanh làm chủ Trung
Quốc, Sư không chịu ra làm quan, từ biệt mẹ già, cắt tóc
đi tu, rồi vân du khắp nơi. Sư là môn đồ Thiền sư Giác
Lãng tông Tào Động ở Trung Hoa.
Hòa
thượng Nguyên Thiều được lệnh chúa Nguyễn về Quảng Đông
thỉnh các bậc cao tăng, nghe danh tiếng Sư nên đến am Trường
Thọ thỉnh Sư. Sư khởi hành sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng
năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hy thứ ba mươi tư (1695). Đến
ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hóa và ngày mùng 1 tháng
2 ra mắt chúa Nguyễn.
Chúa
Nguyễn mời Sư ở chùa
Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường vời vào cung
thưa hỏi đạo lý. Ngoài ra những thân hào nhân sĩ trong nước,
hoặc trực tiếp hỏi đạo lý, hoặc gián tiếp đưa thơ hỏi
đạo và văn chương khá nhiều.
Dưới
đây là trích ít lá thơ Sư đáp người hỏi đạo.
Đăng
Long Hầu cho người cầm thơ đến hỏi: “Thiền đạo là
giống gì ? Giác ngộ là lý làm sao ?” Sư bèn biên thơ phúc
đáp.
Bức
thư:
Lai
thư dạy rằng : “Thiền đạo ta vốn rất ưa chuộng nhưng
chưa biết đạo là việc gì ? Thiền là giống gì, ngộ là
lý làm sao ? Trước đây nghe nói đến cứu cánh, lòng rất
lưu luyến, nhưng mỗi khi nghe nói đến chữ “Phật” trong
lòng liền chẳng ưa, không hiểu vì sao ? Xin nhờ Lão Hòa Thượng
cao minh, bảo rõ cho biết.”
Lão
tăng đọc xong thư, buột miệng than rằng: “Hay lắm thay !
Nếu chẳng phải người có tâm Phật rõ rệt, ắt chẳng hỏi
được như thế.” Nhưng chưa biết chữ “Phật” mà cư
sĩ chẳng ưa ấy là Phật nào ? Lấy chữ tăng mà nói, vốn
có người đáng ngờ đáng ghét, kẻ lão hủ này xin biểu
đồng tình với Ngài mà chẳng ưa vậy. Phật là bản tâm
đồng có ưa có ghét của chúng ta, tức là tấm lòng “nghe
cứu cánh mà lưu luyến” của Ngài nói trong thơ vậy. Há
lại tự mình chẳng ưa tự mình hay sao ? Vả lại học đạo
vốn cầu vô sự, Ngài chẳng nghe nói: “Cần ở trên chỗ
hữu sự đạt đến vô sự” hay sao ? Tham thiền vốn chẳng
nương tựa vào một vật nào. Ngài chẳng nghe nói: “Bản
lai không có một vật nào”hay
sao
? Nếu lấy sự vật cầu thiền đạo, tức chẳng phải thiền
đạo vậy. Ví phỏng bảo, người sinh ở đời có công danh
phú quí, có vợ chồng con cái, được thì mừng, mất thì
lo, chết đi sống lại, đều là “sự” cả, sao bảo là
vô sự ? Trong đời đất núi cũng là vật, biển cũng là vật,
mặt trăng, mặt trời, các vì tinh tú đều là vật, lục phàm
tứ thánh cũng đều là vật, một ngàn bảy trăm nguyên tắc
công án, cái gì lại chẳng phải là vật... Người tham
thiền phải tiêu qui từng sự từng vật, bảo chẳng nương
cứ vào sự vật được sao. Nên biết rằng thiền đạo quí
tự mình tham cầu, tự mình giác ngộ, chẳng phải do ở người
khác, do ở sự vật vậy. Chẳng thấy Bàng Công hỏi Mã Đại
Sư rằng: “Cái người chẳng làm bạn cùng vạn pháp ấy,
là người thế nào ?” Đại Sư nói rằng : “Bao giờ ngươi
uống một hơi hết cả nước sông Tây Giang, ta sẽ nói với
ngươi.” Lời nói ấy, có phải là câu trả lời chăng ? Hay
tỏ ra một cơ vi mầu nhiệm gì khác chăng? Hay chỉ thẳng
cái người chẳng cùng vạn pháp làm bạn chăng ? Hay có cái
bí mật chẳng truyền, ngụ ở trong ấy chăng ? Thử đem ra
suy gẫm từng lẽ, tìm cho đến cứu cánh; chẳng khá xuyên
tạc một cách cưỡng ép, đem ý thức riêng mà giải nghĩa
quấy quá, lại chẳng nên nhất thiết bỏ qua; nên làm sao
trong bận rộn cũng cứu cánh như thế, nhàn hạ cũng cứu
cánh như thế, dầu gặp cảnh nghịch bế tắc chẳng thông
cũng cứu cánh như thế; mặc kệ chỗ sống gần chín, chỗ
chín gần sống, lại chớ bàn đến “con người đi đến
cứu cánh và câu chuyện cứu cánh” ấy là một là hai, là
có là không, là phàm là thánh, là lý là tình, là đời là
phép Phật; dụng tâm đến đó, rồi bỗng nhiên trong trí mở
mang rộng rãi, đại giác ngộ và cười xòa lên.
Đến
như nói một chữ “ngộ” (biết giác ngộ). Ví dụ: “Như
người kia có việc sanh tử tương quan với người khác, hẹn
nhau đến một chỗ nào đó, thương lượng, mới có thể ổn
thỏa được. Đương lúc mờ mờ sáng, ngủ dậy rửa mặt
chải đầu, lấy bít tất mang vào, trong lúc bối rối cấp
bách, mang bít tất vào một chân rồi, còn một chiếc nữa
chưa thấy; bèn tìm khắp trong tủ trong rương, lục soát hết
các gian buồng, dưới giường trên vách, không chỗ nào không
tìm, tìm đâu cũng chẳng thấy; tức quá, ngồi lại suy nghĩ.
Nghĩ mãi nghĩ hoài, moi óc nghĩ đến chỗ sâu sắc, vẫn nghĩ
chẳng ra, bỗng cúi đầu ngó xuống, thấy hai chiếc tất mang
vào một chân! Bèn lột ra, mang qua chân khác và vô cùng khoan
khoái. Mới biết chiếc tất ngay ở chân mình, biết (ngộ)
thì dễ dàng như thế. Cho nên người ta bảo rằng: “Giày
sắt bước mòn tìm chẳng thấy, tìm ra chẳng phí chút công
phu.” Tuy căn tánh có kẻ bén người lụt, giác ngộ có kẻ
sớm người chầy, nhưng phải cẩn thận. Giữ lòng mình chớ
cho sai lệch, chớ mới hơi thấy biết chút đỉnh, đã cho
đúng phải mười phần; rồi chạy theo lầm lối sai đường,
ba lầm bảy lạc; thà như cư sĩ đến nay chưa hiểu biết
chi, còn hơn cái quang cảnh “thừa ba thẹo bốn” vậy. Nếu
cầu đến cứu cánh, thì phải cứu cánh cho đến đầu đến
đuôi, hầu khỏi lầm đường lạc lối. Ví bằng chẳng xua
đuổi ngày thường nghe thấy, nửa phải nửa chẳng, để
gia tâm tham cứu một cái chỗ đại định, thì chỉ thành
một tấm gương lờ mờ, mà tự mình cho là sáng lắm, có
thể thấy được nước ao trong trẻo, không sóng không mòi,
trăng sáng giữa trời, không mây không bụi. E trong kinh tạng
đức Như Lai của ta không có cái pháp như thế. Nếu chẳng
trừ bỏ hết cái tập khí trước kia, cho rằng “đã thấy
được thông suốt không còn gì chẳng phải”, thì cho người
thực đến địa bộ ấy, cũng chỉ như ao nước tù, chẳng
có rồng ở, tức còn mơ màng trong sanh tử luân hồi vậy.
Cái bệnh tối kỵ của kẻ tham thiền học đạo, ở cả trong
chữ “minh” (sáng), nằm che trước mắt rồi, lầm nhận
“bệnh” làm “thuốc” vậy. Nếu lấy việc bổn phận
làm việc cần kíp, mặc kệ thiền đạo sự lý, lòng lưu
luyến, ưa với chẳng ưa; chỉ chuyển mình một cái thì
thiền đạo sự lý, lòng lưu luyến, ưa ghét, tự nhiên trên
mắt quét sạch một từng mây, chẳng bị sáng mờ chướng
ngại. Chẳng thế thì một chữ “Phật”, ta cũng chẳng ưa
nghe. Vân Môn nói được, Cư sĩ nói chẳng được, phải chờ
đến khi thấy rõ một chân mang hai chiếc bít tất, lột ra
mang lại, tự do thẳng bước tiến lên mới tin lời của Lão
Tăng nói chẳng sai vậy. Chẳng thế cũng ví như ngồi ở bên
giỏ cơm mà cứ kêu đói bụng vậy. Xin chớ chấp mấy lời
đường đột. Thong thả sẽ còn thư sau tiếp theo.
(Trích
Hải Ngoại Kỷ Sự trang 207-209 do Ủy ban
phiên
dịch sử liệu Việt Nam Viện đại học Huế)
*
*
*
Lại
một bức thơ, Sư gởi cho Cư sĩ Nhiếp Chi Hoàng, viết trong
cơn mưa lạnh, và bảo các học trò:
Sách
vốn chẳng khá chẳng học, đạo càng chẳng khá chẳng sáng;
người sáng đạo tuy chẳng tập văn tự nhưng vẫn thường
thông thái; nếu chẳng sáng đạo tuy chuyên công học tập
văn tự, vẫn hay lý luận cưỡng hợp mà thôi. Tuy câu nói
nghe hay ho, nhưng nghĩa không thấu đáo, điều ấy đã từng
xảy ra. Xưa Tử Chiêm học sĩ (Tô Đông Pha) làm văn, hạ bút
nên lời, chữ tuôn ra thao thao theo ý nghĩ, như gió bay, như
nước chảy, phô diễn một cách tự nhiên. Nhưng đến lúc
theo ý riêng thuyết thiền, ông có viết một bài bạt sau bộ
Kim Kinh (Kinh Kim Cang), chẳng hiểu rằng kinh ấy, chẳng phải
có thể thấy bằng sắc, nghe bằng lời, lại phán đoán rằng:
“Chỉ được nửa bộ”, thế là chỗ cưỡng hợp của ông
vậy. Đã tự biết rằng: Ngũ tổ Giới tái lai, sao lại quên
hẳn bổn phận, trở lại hỏi Tham Liễu [Tống Tăng Đạo
Tiềm hiệu Tham Liễu Tử, tu ở chùa Trí Quả ở Hàng Châu.
Lúc Tô Thức ở Hàng Châu, chiêm bao thấy cùng Tham Liễu Tử
làm thơ] “Thác sắc núi, tiếng khe mới xưng ngộ đạo”?
Ấy là chỗ cưỡng hợp của ông vậy. Trong bài “Kim Sơn
Thù Tứ Đại Ngũ Uẩn”, ông muốn đem đai ngọc trấn sơn
môn, nhưng luôn luôn dây xỏ mũi bị nắm trong tay người
khác, chỉ vì từ trước ông chỉ dùng ý thức thông minh ức
đạt nghĩa lý, chưa từng dùng đạo để đánh tan sự chướng
ngại của cách ấm, cho nên hoảng hốt chẳng thấy rõ đoan
đích vậy. Thần Tú Đại Sư ở trong Hoàng Mai Hội, làm thủ
lãnh tám trăm long tượng, nghe rộng nhớ nhiều, ai chẳng suy
tôn Ngài là ngôi thứ nhất. Ngài làm câu kệ rằng: “Thân
tợ bồ-đề thụ” (mình tợ cây bồ-đề). Bồ-đề theo
tiếng Phạn là chánh tri, cũng gọi là chánh kiến, hư linh
không thể chất, chỉ có tính viên minh, hoặc lấy bồ-đề
chỉ cho mặt trăng, chớ cùng với “thân” có giống gì đâu,
huống chi lìa bỏ chánh tri chánh kiến mà nói bồ-đề, thì
bồ-đề há có mắt tai mũi lưỡi, xương máu tay chân, mà
ví với thân người được sao. Ấy là Đại Sư nói cưỡng
hợp vậy. Lại nói rằng: “Tâm như minh cảnh đài” (lòng
như đài gương sáng), chẳng kể sự lý hư thực dưới chữ
“minh cảnh” hạ một chữ “đài” làm vận chân, để
chữ “cảnh” hư, chữ “đài” thực, rồi câu kế nói:
“Thời thời cần phất thức” (buổi buổi siêng lau chùi)
ấy là lau chùi cái đài, chớ không phải lau chùi cái gương;
tức bảo rằng: “tâm” như mặt gương, thế là đã chẳng
phải “tâm” rồi, huống là bảo như cái “đài” của
mặt gương, thì với “tâm”, lại có giống nhau chút nào.
Tây Thiên hai mươi tám Tổ, Đông Độ sáu Tổ, đều lấy
tâm truyền tâm, chẳng phải lấy gương truyền gương hay lấy
đài
truyền đài bao giờ, ấy là cưỡng hợp vậy. Nay trong bài
kệ, hai câu đầu lấy “thân” và “tâm” song khởi, mà
câu kết nói “vật sử nhá trần ai” (chớ khiến dính bụi
dơ), chỉ kết câu “minh cảnh”, không hề nói đến “bồ-đề”;
thế là chỉ luống chuyên công văn tự, mà nghĩa lý không
được thấu đáo, tức là phụ hội khiên hợp vậy. Than ôi,
trong một bài kệ, chưa bàn đến chỗ luận đạo phải hay
trái, chỉ trong chỗ dùng tự đặt câu đã có đến 3 lỗi.
Bởi thế Lô Hành Giả (Tổ Huệ Năng) nói lại rằng: “Bồ-đề
bản vô thụ, minh cảnh diệc phi đài” (Bồ-đề vốn không
cây, gương sáng chẳng phải đài), dùng bốn chữ “bản vô,
diệc phi”, như một tiếng sét vang dội trong đám mây mù,
chớp sáng lòe ra tỏ rõ chẳng phải “đài” cũng chẳng
phải “cây”, chẳng chờ phân biệt mà ai cũng thấy rõ ra
như vậy. Nhưng lại sợ người ta bỏ “đài” bỏ “cây”
mà lại nhận cho “bồ-đề” và “minh cảnh” nhất luật
đánh tan luôn, khiến người ta không còn chỗ nào bám víu
để làm chân đứng; bảo là “bản lai vô nhất vật”, chẳng
phải minh cảnh bồ-đề; huống “minh cảnh đài, bồ-đề
thụ”, hiện có đến ba bốn vật, thì bảo “bản lai vô
nhất vật” sao được. Ý Lô Tổ muốn vì người tìm chỗ
cứu cánh vậy. Toàn hay ở chỗ hỏi tiếp theo hai chữ “hà
xứ”, muốn người ta tự hiểu biết “hà xứ nhá trần
ai”, mới biết rõ “bản lai vô nhất vật”; bản lai đầy
đủ, bản lai thanh tịnh, cần gì phải lau chùi phất thức;
nếu cần lau chùi gương tức chẳng sáng; chờ lau chùi mới
sáng, tức là nhìn bóng quên đầu. Nếu nói lau chùi minh cảnh
mà quên bẵng bồ-đề, rốt cuộc minh cảnh với bồ-đề
có quan hệ gì. Chỉ ở một câu hỏi ấy, nhắm ngay chữ “hà
xứ”, chích một mũi kim, đoạt cảnh, đoạt người, đoạt
pháp, buông bắt khéo léo, sinh sát tỏ tường. “Ta không có
một pháp nào cho người chỉ biết bệnh mà thôi”, lời nói
ấy há dối người hay sao? Chúng ta quí ở chỗ hỏi đạo
cho sáng rõ, rõ đạo rồi quí ở chỗ thể niệm (hòa mình
với đạo). Một phép đã thông, tất nhiên mọi phép đều
thông vậy. Chẳng tin, hãy nhìn xem Lô Hành Giả, con người
chẳng từng đọc sách bao giờ ấy, hiểu biết văn tự một
cách tinh vi như thế nào? Bởi thế, ta bảo người đời muốn
cầu thông, không chi bằng rõ đạo. Đã rõ đạo mà còn biết
đọc sách, thì há chẳng thông hơn vị Hành giả giã gạo
trong bếp ấy mấy bực nữa hay sao. Gần đây, thường thấy
những người tham thiền, đạo lại chẳng rõ, sách lại chẳng
đọc, gượng muốn bàn thiền bàn đạo, làm kệ làm thơ,
khác nào con ruồi nhúng chân vào nước biển, muốn vẫy lên
làm móc làm mưa, phỏng có được hay chăng? Huống chi Cư sĩ
là một người đọc sách thông thái, thường lấy tay sờ
mó lò lửa chùa Trường Thọ, xem nóng hay nguội; chẳng chịu
lấy văn tự thông minh tự cam lòng muốn hùa với Tử Chiêm
cãi cho vừa ý, chẳng chịu để cho đầu lưỡi các Hòa
thượng già xưa nay áp đảo. Việc ấy hãy tạm ngừng. Hãy
hỏi: “Đêm nay trước thềm từng giọt mưa” vì cớ gì
chẳng rơi xuống nơi khác?
(Hải
Ngoại Kỷ Sự trang 217-220 do Ủy ban
phiên
dịch sử liệu Việt Nam Viện đại học Huế)
*
*
*
Sư
ở lại Việt Nam hai năm rồi trở lại Trung Quốc. Tông Tào
Động do Sư truyền vào Việt Nam, về phái xuất gia không thấy
nói đến người thừa kế, về phái tại gia thì thấy ghi
chúa Nguyễn Phúc Châu tự nhận là đồ đệ nối dòng tông
Tào Động thứ 30 (lời khắc trên chuông tại chùa Linh Mụ).
Về
Trung Quốc không biết Sư tịch lúc nào không rõ.
Thiền
Sư TỬ DUNG MINH HOẰNG
(Đời
pháp thứ 34, dòng Lâm Tế)
Chẳng
biết Sư tên gì, chỉ biết người tỉnh Quảng Đông, Trung
Hoa, theo Thiền sư Nguyên Thiều sang An Nam ở Thuận Hóa. Sau
lập chùa Ấn Tông (tức là chùa Từ Đàm ở Huế hiện nay)
rồi trụ trì ở đây.
Cũng
không biết Sư tịch lúc nào, chỉ biết Sư truyền tâm ấn
cho Thiền sư Liễu Quán là người làm nổi bật tông Lâm Tế
ở xứ này.
Thiền
Sư LIỄU QUÁN
(?
- 1743)-(Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế)
Sư
tên Lê Thiệt Diệu, quê làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân,
tỉnh Phú Yên (Sông Cầu bây giờ). Lúc sáu tuổi, Sư mồ côi
mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn thọ giáo với Hòa thượng
Tế Viên (người Trung Hoa). Được bảy năm thì Hòa thượng
tịch, Sư ra Thuận Hóa xin học với Giác Phong Lão Tổ (người
Trung Hoa) ở chùa Báo Quốc. Ở đây được một năm, nhằm
năm Tân Mùi (1691), Sư phải trở về phụng dưỡng cha già,
lấy nghề kiếm củi độ nhật. Qua bốn năm thân phụ mất,
nhằm năm Ất Hợi (1695), Sư lại trở ra Thuận Hóa thọ giới
Sa-di với Hòa thượng Thạch Liêm. Năm Đinh Sửu (1697), Sư
lại thọ giới cụ túc với Lão Hòa thượng Từ Lâm (người
Trung Hoa) ở chùa Từ Lâm.
Năm
Kỷ Mão (1699), Sư đi tham lễ khắp thiền lâm trải qua biết
bao sự khó khăn khổ nhọc. Đến năm Nhâm Ngọ (1702),
Sư lại Long Sơn tham yết Hòa thượng Tử Dung cầu dạy pháp
tham thiền. Hòa thượng dạy Sư tham câu:
Vạn
pháp qui nhất, nhất qui hà xư ù?
(Muôn
pháp về một, một về chỗ nào ?)
Sư
ngày đêm tham cứu đến bảy, tám năm mà chưa lãnh hội, trong
lòng tự lấy làm hổ thẹn.
Một
hôm, nhân đọc Truyền Đăng Lục đến câu: “Chỉ vật truyền
tâm, nhân bất hội xứ”, thoạt nhiên Sư được tỏ ngộ.
Nhưng vì núi sông cách trở, Sư không thể đến ngài Tử Dung
để trình sở ngộ được.
Đến
mùa xuân năm Mậu Tý (1708), Sư trở ra Long Sơn cầu Hòa thượng
ấn chứng. Sư đem chỗ công phu của mình mỗi mỗi trình bày,
đoạn nói đến câu “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội
xứ”, Hòa thượng liền bảo:
-
Bờ thẳm buông tay, tự nhận đảm đang,
Chết
rồi sống lại, dối người chẳng được.
(Huyền
nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương,
Tuyệt
hậu tái tô, khi quân bất đắc.)
Sư
liền vỗ tay cười ha hả !
Hòa
thượng bảo:- Chưa nhằm.
Sư
nói:- Trái cân vốn là sắt (bình thùy nguyên thị thiết).
Hòa
thượng bảo:- Chưa nhằm.
*
*
*
Hôm
sau Hòa thượng gọi Sư đến bảo:
-
Chuyện hôm qua chưa xong, nói lại xem !
Sư
thưa:- Sớm biết đèn là lửa,
Cơm
chín đã lâu rồi.
(Tảo
tri đăng thị hỏa,
Thực
thục dĩ đa thì.)
Bấy
giờ, Hòa thượng mới chấp nhận và khen ngợi.
*
*
*
Mùa
hạ năm Nhâm Thìn (1712), Hòa thượng vào Quảng Nam dự lễ
Toàn Viện (?), Sư đem trình bài kệ Dục Phật (tắm Phật).
Hòa
thượng hỏi:
-
Tổ Tổ truyền nhau, Phật Phật trao nhau, chẳng biết truyền
trao cái gì ?
Sư
thưa:- Búp măng trên đá dài một trượng,
Phất
tử lông rùa nặng ba cân.
(Thạch
duẩn trừu điều trường nhất trượng,
Quy
mao phủ phất trọng tam cân.)
Hòa
thượng nói:- Thuyền chèo trên núi cao,
Ngựa đua dưới đáy bể.
(Cao
cao sơn thượng hành thuyền
Thâm
thâm hải để tẩu mã.)
Sư
đáp:- Cây đàn không dây trọn ngày gẩy
Trâu
đất gãy sừng rống suốt đêm.
(Chiết
giác nê ngưu triệt dạ hống
Một
huyền cầm tử tận nhậït đàøn.)
Sư
biện tài lanh lẹ, lâm cơ ứng biến, như nước với sữa
rất phù hợp. Hòa thượng rất vui mừng ấn khả.
Chỗ
hóa duyên của Sư rất rộng, thường ra vào Huế, Phú Yên
để giáo hóa luôn, không nề khó nhọc.
Năm
Quí Sửu (1733), Giáp Dần (1734) và Ất Mão (1735), Sư nhận
lời thỉnh của chư tăng trong Tông môn, cùng các tể quan,
cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ đại giới đàn. Qua năm Canh Thân
(1740), Sư tấn đàn Long Hoa phóng giới, rồi trở về chùa
Thiền Tông.
Thời
ấy, chúa Nguyễn Ninh Vương rất quí mến đạo đức của
Sư, thường mời vào cung đàm đạo, nhưng Sư vẫn từ chối
không vào.
Mùa
Xuân năm Nhâm Tuất (1742), Sư lại dự lễ giới đàn ở chùa
Viên Thông. Cuối mùa thu năm ấy, Sư có chút bệnh, gọi môn
đồ đến dạy rằng:
-
Nhân duyên ta đã hết, ta sắp đi đây.
Môn
đồ kêu khóc ầm lên. Sư lại bảo:
-
Các ngươi kêu khóc mà làm gì ? Chư Phật ra đời còn nhập
Niết-bàn; nay ta đi lại rõ ràng, về ắt có chỗ, các ngươi
không nên khóc lóc và đừng buồn thảm lắm.
Cuối
tháng hai năm Quí Hợi (1743), trước mấy ngày tịch, Sư ngồi
dậy vững vàng, tự cầm bút viết bài kệ từ biệt rằng:
Hơn
bảy mươi năm ở cõi này,
Không
không sắc sắc thảy dung thông
Hôm
nay nguyện mãn về quê cũ
Nào
phải bôn ba hỏi Tổ tông.
(Thất
thập dư niên thế giới trung
Không
không sắc sắc diệc dung thông
Kim
triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà
tất bôn man vấn tổ tông.)
Đến
ngày 22 tháng 2, buổi sáng, sau khi dùng trà cùng các đồ đệ
hầu chuyện và làm lễ xong, Sư hỏi giờ gì, các môn đồ
thưa: “Giờ Mùi”, Sư liền vui vẻ thị tịch.
Vua
nghe tin, sắc ban bia ký và tứ hiệu là Đạo Hạnh thụy Chánh
Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.
Sư
là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thiền Tông ở Huế. Sư có bài
kệ pháp phái rằng:
Thật
tế đại đạo
Tánh
hải thanh trừng
Tâm
nguyên quảng nhuận
Đức
bổn từ phong.
Giới
định phước huệ
Thể
dụng viên thông
Vĩnh
siêu trí quả
Mật
khế thành công.
Truyền
trì diệu lý
Diễn
sướng chánh tông
Hạnh
giải tương ưng
Đạt
ngộ chân không.
Tăng
đồ và tín đồ miền Trung và miền Nam hiện nay hầu hết
là thuộc dòng Lâm Tế, mà người có công khai hóa hơn hết
chính là Sư. Vì thế mà thành một nhánh lớn gọi là Liễu
Quán. Sư là Sư tổ trong phái này.
*
Thiền
sư Giác Ngộ húy Tánh Thông, hiệu Sơn Nhân, họ Nguyễn, quê
ở phủ Gia Định thuộc phái thiền Lâm Tế, đời 39, đệ
tử của Hòa thượng Đạo Dụng- Đức Quảng.
Trong
sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thượng tọa Mật Thể
viết về Hòa thượng Giác Ngộ như sau:
“Ngài
tự hiệu là Sơn Nhân, người tỉnh Gia Định, nguyên trước
đi làm việc quan đập đá xây thành. Một hôm, phá trong viên
đá thấy một tượng Phật, Ngài liền xin thôi việc, mang
tượng vào rừng, không giao thiệp với người đời nữa và
không ai biết đi đâu.
Được
ít lâu, người tỉnh Phú Yên thoạt thấy Sơn Nhân ở trong
chùa Hang xóm núi. Xóm ấy vốn nhiều cọp, người trong xóm
lập chùa mà không dám đến lễ. Lúc thấy Sơn Nhân ở đó,
ai cũng thất kinh, hỏi Ngài sao không sợ cọp. Ngài đáp: Cọp
mặc cọp, mình mặc mình, cần gì mà sợ. Ngài thường ăn
rau cỏ không dùng cơm. Một hôm có dịch khí nổi lên, ở
các nơi người chết rất nhiều, người trong xóm xin Ngài
cầu đảo cho nên được yên. Họ đem việc ấy trình quan.
Vừa lúc ấy, quan Tuần Vũ trong tỉnh có người con đau bụng,
thầy thuốc chữa không khỏi. Quan liền khiến hai viên đội
đi mời Sơn Nhân. Ngài hỏi: Tỉnh ở ngã nào ? Họ chỉ về
hướng đông Ngài bảo họ đi trước. Hai viên đội cỡi ngựa
về tỉnh thì đã thấy Ngài đến rồi. Quan mời Ngài vào
thăm bệnh cho con, Ngài liền đọc một câu chú, thình lình
nghe một tiếng xạc, và thấy một cái bóng như tấm lụa
từ trong buồng vụt ra, tức thì con quan lành bệnh. Quan tỉnh
đem việc ấy tâu về triều. Vua Minh Mạng sắc triệu Ngài
về “Nội”, hỏi việc đầu đuôi, vua thưởng rất hậu.
Ngài đều từ tạ không lấy. Vua khen rằng:
Người
xưa có nói:
“Thuần
nhất bất tạp là Hòa,
Vạn
loại xưng tôn là Thượng”.
Sơn
Nhân thật đúng hai chữ ấy.
Liền
ban hiệu là “Sơn Nhân Hòa thượng”. Lại sắc các vị Hòa
thượng các chùa phải đổi hiệu Tăng cang, để tỏ rằng
còn thua Hòa thượng một bực (từ đó danh hiệu Hòa thượng
mới là danh hiệu đặc biệt, ít người được nhận
chức đó).
Sơn
Nhân mặc quần áo toàn bằng vỏ cây, lấy hai miếng gỗ làm
guốc mà đi mau lắm. Vua sắc Ngài ở chùa Giác Hoàng, nhưng
được một tháng, Ngài tâu xin về núi. Sau không biết Ngài
đi đâu.”
Nhưng
trong Châu bản triều Nguyễn, có bản văn nội dung như sau:
“Sự
việc: Ngày 18 tháng 10 năm Minh Mạng thứ 21 (1840), Nội các
thi hành theo lịnh của vua (do Thái giám Châu Phước Năng chuyển
truyền) thưởng cấp cho sư Nguyễn Giác Ngộ, Trụ trì chùa
Bát-nhã ở núi Long Sơn về công đức tu hành khổ hạnh.
Ngày
18 tháng 10 năm Minh Mạng thứ 21, thần Phan Huy Thực, thần
Phan Bá Đạt, vâng theo thượng dụ của vua rằng: Về kinh
đô lần này có Nguyễn Giác Ngộ, trụ trì chùa Bát-nhã ở
Long Sơn, là người tịnh tâm tu luyện, tịch cốc đã hơn
bốn mươi năm. Tu hành khổ hạnh, đức hạnh cao phong như
thế thật quí trọng. Truyền cấp cho một văn bằng Tăng cang,
lại gia ân thưởng cho hai mươi lạng bạc, tăng phục và áo
quần vải màu, mỗi thứ năm bộ, cho ngựa trạm đưa về
chùa cũ trụ trì. Trên đường đi qua, các quan quản hạt phải
phái người hộ tống để đường đi được an toàn tốt
đẹp.
Lại
truyền cho quan tỉnh Phú Yên xuất tiền công mua sắm vật
liệu, thuê dân phu sửa sang chùa chiền nơi Nguyễn Giác Ngộ
hiện đang trụ trì cho được tráng lệ đẹp đẽ. Số dân
phu thuê bao nhiêu người, truyền cấp cho mỗi người mỗi
tháng bốn quan tiền và một vuông gạo để cho họ vui vẻ
làm cho sớm hoàn thành công việc.
Sau
khi xong việc cứ thật kê khai chi tiêu. Khâm thử.”
Ngoài
ra, trong nhiều kinh sách được in vào thời đó, Hòa thượng
Giác Ngộ đã đóng góp nhiều công đức trong việc khắc in.
-
Kinh Vô Lượng Nghĩa do Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài in lại
năm Kỷ Sửu (1829).
-
Hứa Sử Vãn Truyện là tập thơ chữ nôm gồm hơn bốn ngàn
câu thơ, Thiền sư Toàn Nhật san bổ và khắc in.
-
...
Hòa
thượng Sơn Nhân viên tịch vào năm Nhâm Dần (1842), thọ 87
tuổi, đồ chúng lập tháp thờ ở chùa Bát-nhã. Có nhiều
đệ tử nổi danh, trong đó có ba Thiền sư Bảo Thanh, Bảo
Tạng, Bảo Chân có nhiều công đức trong việc hoằng dương
Phật pháp ở các tỉnh Nam Trung bộ và các tỉnh miền Đông
Nam bộ.
Thiền
Sư PHÁP THÔNG THIỆN HỶ VỚI CHÙA LONG ẨN
Chùa
Long Ẩn xưa do Thiền sư Pháp Thông Thiện Hỷ khai sơn vào
năm Quí Sửu (có thể là năm 1733 hay năm 1793).
Thiền
sư Pháp Thông thuộc phái thiền Tào Động thế hệ thứ 36
[Ở ba tháp của Thiền sư Pháp Thông có ghi năm Quí Sửu và
Giáo thọ Thiện Hảo tự chú thích là năm 1613, chúng tôi cho
rằng năm 1613 là sai, vì Thiền sư Pháp Thông là Thiền sư
phái thiền Tào Động, thế hệ 36; trong lúc đó, Hòa thượng
Thạch Liêm, thế hệ 29 của phái này sanh năm 1633, tịch năm
1704.]
Chùa
Long Ẩn được xây dựng trên núi Long Ẩn thuộc thôn Tân
Lại, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là xã Tân Bửu
thành phố Biên Hòa), nằm trên mặt đường liên tỉnh từ
Biên Hòa lên thác Trị An (cách Biên Hòa 4 km).
Chùa
Long Ẩn dựa lưng vào núi Long Ẩn, mặt quay về sông Đồng
Nai ở hướng Nam, bên kia sông Đồng Nai , ở phía xa là núi
Châu Thới, tiền phong của núi Long Ẩn. Phía sau núi Long Ẩn
lại có núi Bửu Long (xưa gọi là núi Bình Điện) ở phía
Bắc, làm hậu vệ. Sông Đồng Nai từ thác Trị An đổ về
biển Đông, chia làm hai nhánh bao quanh cù lao Rùa (xã Thạnh
Hội), hợp lại hướng thẳng về cù lao Phố (xã Hiệp Hòa).
Vì vậy có câu thơ:
Phía
sau Bình Điện ngăn phong lãnh [Bình Điện: núi Bình Điện
hay núi Bửu Long]
Mé
trước Trường Giang nước chảy quanh. [Trường Giang tức sông
Đồng Nai hay sông Phước Giang]
Quanh
núi Long Ẩn ngày xưa là rừng rậm, có nhiều tre nứa và nhiều
thú dữ, có cả cọp, beo, voi..., phía dưới sông Đồng Nai
có nhiều rùa, rắn ...
Trước
chùa Long Ẩn, phía chân núi ngày xưa là lối đi của voi, các
đàn voi từ trong rừng sâu ra sông Đồng Nai uống nước và
tắm, nên tục gọi là truông Voi. Vì vậy, xưa có bài thơ
(hiện chưa biết tác giả là ai):
Trên
chùa Long Ẩn dưới truông Voi,
Nước
biếc xem coi rất mặn mòi.
Sóng
bủa ghềnh nghê hình quái cổ,
Nước
xao hàng rắn tiếng reo còi.
Núi
Long Ẩn là một ngọn núi linh, nằm ở vùng linh địa, có
nhiều sản vật quí dưới lòng đất. Đá ở núi Long Ẩn
là đá xanh tốt hơn nhiều nơi khác, phía dưới lòng đất
thỉnh thoảng còn có cả đá thủy tinh trong suốt, rất tốt.
Dưới các hầm đá sâu lại thỉnh thoảng có đá trắng pha
chất vàng chiếu sáng như “vàng gâm”.
Sau
khi Tổ sư Pháp Thông Thiện Hỷ viên tịch, đồ chúng lập
tháp ở phía trước sân chùa, nằm về phía bên phải.
Tháp
xây theo hình khối lục giác, mỗi cạnh ở dưới đất khoảng
hai mét. Tháp cao bốn từng với đỉnh là một bầu hồ lô,
tháp cao khoảng gần sáu mét. Phía trong tháp có một bia đá
lớn (có thể kể về sự tích của Tổ Pháp Thông), phía ngoài
có cửa vào, (Nhưng năm 1972, Giáo thọ Thiện Hảo đã làm
một tấm bia đá nhỏ bít kín cửa vào bên trong tháp, nên
hiện chưa rõ được nội dung của tấm bia trong tháp đó).
Năm
Tự Đức thứ 10 (1852), Thiền sư Từ Ân lập lại biển hiệu
chùa “Long Ẩn Tự” vì bảng cũ bị mục nát.
Năm
Nhâm Thìn (1952), cơn lụt lớn đã làm sụp đổ chùa Long Ẩn.
Đến năm 1960, sư trụ trì chùa là Thích Thiện Hảo mới dời
chùa về ấp Tân Lại xã Tân Thành, xây dựng lại chùa mới
như ngày nay.
Trên
núi Long Ẩn, năm 1958, có một số tu sĩ đến hang ở trên
đỉnh núi sửa sang lại thành chùa “Long Sơn Thạch Động”
và dân địa phương thường gọi là “Chùa Hang” (trong khi
đó, chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long gọi là “Chùa Núi”).
Từ
chùa Hang trên núi Long Ẩn nhìn ra xa, thấy được toàn cảnh
của thành phố Biên Hòa. Đứng trước chùa Hang nhìn xuống
chân núi là hồ Long Ẩn, làn nước xanh bao phủ một vùng,
một số tảng đá đủ hình đủ cỡ nhô lên rải rác khắp
hồ. Phía xa là sông Đồng Nai thơ mộng trải dài uốn khúc
quanh co, xuôi về thành phố Biên Hòa.
Hồ
Long Ẩn ở trên núi Long Ẩn do con người tạo ra khi khai thác
đá ở đó; nhưng hồ Long Ẩn trở thành một cảnh đẹp,
gần giống như vịnh Hạ Long được thu nhỏ lại. Hồ Long
Ẩn là một thắng cảnh cho khách du lịch hay khách hành hương.
Hồ
Long Ẩn, núi Long Ẩn hợp với chùa Bửu Phong và núi Bửu
Long là một khu du lịch nên thơ và lý tưởng của Đồng Nai.