Thiền
Sư NHƯ NHƯ
(TỔ
QUẠ)-(Đời thứ 45, tông Tào Động)
Ngài
pháp húy Quang Lư, Thích Đường Đường, hiệu Như Như, không
rõ năm sanh và năm tịch. Chỉ biết Ngài thuộc hệ phái chùa
Hồng Phúc (Hòe Nhai) đời thứ 9 và thứ 45 tông Tào Động.
Ngài lập chùa Thiên Trúc (Mễ Trì, Hà Nội) và trụ trì tại
đây. Công hạnh của Ngài, chúng ta không thấy ghi trong sử,
chỉ thấy trong bài ca của dân gian kể lại công đức của
Ngài. Bài ca:
Thuở
xưa có Nguyễn Thế Tôn (Trong bài ca câu đầu để “Lê Thế
Tôn”, song xét kỹ là “Nguyễn Thế Tôn” đúng hơn. Có
lẽ thời Ngài trụ trì vào đời Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng
1820-1840) nên nói “Nguyễn Thế Tôn”.)
Trị
vì Thiên tử dân an thái bình.
Làng
ta có Tổ chứng minh,
Ở
chùa Thiên Trúc dân tình vẻ vang.
Nam
nữ tráng thọ vinh quang,
Giàu
sang đức độ hiếu trung đôi đường.
Những
khi con bé bận vương,
Đi
ra ngoài đường cày cấy quanh năm.
Đem
con gởi Tổ trông thăm,
Tổ
vẽ một vòng mỗi cháu một ô.
Chẳng
khóc, chẳng bậy, chẳng xô,
Tới
giờ Tổ gọi môn đồ cho ăn.
Cơm
ăn chẳng phải hồ đồ,
Tổ
cho các cháu, quạ xô lại nhiều.
Tổ
thường bố thí cho đều,
Hằng
ngày quạ đến càng nhiều càng đông.
Tổ
đặt tiêu quạ rất công,
Cơm
nào con ấy, một lòng tuân theo.
Khi
ăn Tổ gọi một lèo,
Xếp
hàng răm rắp tuân theo lời Ngài.
Tổ
đem ghi chép một loài,
Chia
ra từng tổ không sai tí nào.
Mật
thám dạo cảnh đi vào,
Hiên
ngang cậy chức quyền cao đó là.
Hoạnh
Tổ tại cớ làm sao,
Các
tên danh sách ghi vào ở đây ?
Tổ
rằng thực tế nói hay,
Bọn
lũ quạ này có nghĩa có trung,
Vì
vậy tôi chẳng phụ lòng,
Ghi
tên để dạy theo lòng từ bi.
Mật
thám tức giận bỏ đi,
Đem
về báo cáo vua thì nghe theo.
Nghe
lời xảo trá nói điêu,
Bảo
Tổ lập điều phản trái nhà vua.
Sau
về bắt Tổ ra tòa,
Quạ
lớn quạ bé biết là bao nhiêu.
Kêu
la ầm ĩ rất nhiều,
Nhà
vua thấy thế khác điều lạ thay !
Hỏi
Tổ, Tổ lại trình bày,
Nhà
vua thấy thế tha ngay cho về.
Tổ
rằng mọi việc đề huề,
Ai
bắt tôi, về nói lại tôi hay.
Khi
người nói lại trình bày,
Tổ
về quạ hết chẳng bay con nào.
Thực
là công đức biết bao,
Ơn
sâu đức trọng kể sao cho bằng.
Vì
vậy tên Tổ tiếng tăm,
Tên
là Tổ Quạ nghìn năm vẫn còn.
Bút
tích ghi rõ màu son,
Ngày
nay kỷ niệm chúng con trình bày.
Nguyện
xin Tổ chứng tâm này,
Có
lầm, có lỗi, Tổ nay xá cùng.
Chúng
con xin dốc một lòng,
Tu
hành tới đạo báo ân cho người.
Đọc
bài ca này, chúng ta thấy người dân vùng này kính mộ đức
hạnh của Ngài đến độ nào. Ngài tịch ngày 20 tháng 7, tháp
hiệu là Quỳnh Trân.
Thiền
Sư AN THIỀN
Ông
là tác giả Tam Giáo Thông Khảo. Sách cũng có tên Đạo Giáo
Nguyên Lưu, được biên tập vào khoảng giữa thế kỷ thứ
mười chín, trong thời gian vua Thiệu Trị còn tại vị. Thiền
sư An Thiền trú trì tại chùa Đại Giác ở làng Bồ Sơn,
tỉnh Bắc Ninh. Sách Tam Giáo Thông Khảo gồm ba quyển. Có
lẽ sách được in năm 1845, bởi vì đầu sách có một bài
tựa ký tên Nguyễn Đại Phương, viết vào năm 1845.
Quyển
thứ nhất nói về đạo Phật, gồm có những mục sau đây:
1/
Phụng chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền
Trạm Công.
2/
Bản Quốc Thiền Môn kinh bản: Các bản kinh khắc ở Việt
Nam.
3/
Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy Thiền học Việt
Nam.
4/
Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt Nam.
5/
Vô Ngôn Thông truyền pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông.
6/
Danh chấn triều đình: Các cao tăng nổi tiếng ở triều đình.
7/
Lê Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Tiền Lê.
8/
Lý Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Lý.
9/
Trần Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Trần.
10/
Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền pháp: Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi.
11/
Tuyết Đậu truyền pháp: Thiền phái Thảo Đường.
12/ Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt
Nam qua các triều đại.
13/
Danh từ Phật học và các thần thoại Phật giáo ở Trung Hoa
và Việt Nam.
Quyển
thứ hai và quyển thứ ba nói về Khổng và Lão giáo.
TÔNG
LÂM TẾ TRUYỀN SANG MIỀN BẮC VIỆT NAM
(ĐÀNG
NGOÀI)
Hòa
Thượng CHUYẾT CÔNG
(1590
- 1644)-(Đời pháp thứ 34, tông Lâm Tế)
Sư
quê ở Tiệm Sơn tỉnh Phước Kiến, Trung Hoa. Mẹ Sư nằm
mộng thấy từ rốn mọc lên một hoa sen, rồi có thai Sư.
Sư ở trong thai mẹ đến ba năm mới sanh. Thuở bé, Sư thông
minh dĩnh ngộ, học thông cả ngũ kinh tứ thơ. Kế đi xuất
gia lão thông tam tạng giáo điển.
Ban
đầu Sư đến tham vấn với Trưởng Lão ở Tiệm Sơn. Trưởng
Lão hỏi:
-
Ngươi tạo sự nghiệp gì ?
Sư
thưa:- Giúp vua cứu dân.
Trưởng
Lão khen:
-
Lành thay ! Đây là chí xung thiên, song chẳng qua còn tham danh
lợi. Lão sẽ cố gắng xem.
Sư
do luận về công danh được tỉnh ngộ.
Sau
Sư đến yết kiến Hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn. Hòa
thượng thấy Sư thông minh mẫn tiệp bèn hứa nhận. Ngài
bảo chúng rằng: “Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này,
y sẽ bước khỏûi đầu sào trăm trượng.” Ngài bèn đem
yếu chỉ tâm tông dạy cho Sư.
Sau
khi Sư đắc pháp vân du khắp nước, giáo hóa mười phương.
Học giả đương thời đều quí kính Sư. Danh tiếng của Sư
vang khắp tùng lâm.
Sư
sang Việt Nam đến kinh thành Thăng Long năm 1633, thầy trò ở
lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp. Người
đến học gồm cả Hoa và Việt. Sau thời gian, Sư dời về
chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách kinh thành
khoảng ba mươi cây số. Trong thời gian giáo hóa ở đây, Sư
được chúa Trịnh Tráng rất quí mến, xem như bậc thầy.
Vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu cũng đều rất kính
trọng. Thời gian sau, vì chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh
điển Phật giáo để lưu hành trong nước, cho nên Sư sai đệ
tử là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh. Những kinh
điển thỉnh về được an trí tại chùa Phật Tích.
Sau
khi Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc Diệu Viên hiệu Pháp Tánh
và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên Diệu Tuệ xuất gia tại
chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại
chùa Ninh Phúc cũng gọi là chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Khi việc trùng tu
hoàn tất, Sư được mời về trụ trì chùa Ninh Phúc cho đến
khi viên tịch.
Ở
Việt Nam, Sư giáo hóa được những đệ tử cốt cán như
Thiền sư Minh Lương (người Việt), Minh Hành (người Hoa) v.v...
xứng đáng hàng tiếp nối ngọn đèn chánh pháp.
Khi
sắp tịch, Sư gọi chúng lại nói kệ dạy:
Tre
gầy thông vót nước rơi thơm
Gió
thoảng trăng non mát rờn rờn
Nguyên
Tây ai ở người nào biết?
Mỗi
chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.
Sấu
trúc trường tùng trích thúy hương
Lưu
phong sơ nguyệt độ vi lương
Bất
tri thùy trụ Nguyên Tây tự
Mỗi
nhật chung thanh tống tịch dương). [Bài kệ này có thấy trong
Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn do Hương Hải Thiền
Sư đọc dạy chúng. Hai bên chỉ khác nhau có ba chữ. Ở đây
câu một chữ Thúy bên kia chữ Thủy, câu ba Nguyên Tây tự,
Hư Thanh tự]
Nói
kệ xong, Sư bảo đại chúng:
-
Nếu ai động tâm khóc lóc không phải đệ tử của ta.
Sư
ngồi yên thị tịch, mùi hương lạ đầy chùa cả tháng mới
tan.
Sư
tịch ngày rằm tháng 7 năm Giáp Thân (1644), thọ 55 tuổi. Vua
Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại
Đức Thiền Sư. Đệ tử là Thiền sư Minh Hành lập tháp Báo
Nghiêm để an trí nhục thân Sư. Trên đỉnh tháp có hình cây
bút do Minh Hành dựng.
Theo
Dòng Sự Kiện:
Ảnh
Nhục Thân Bất Hoại Tổ Sư Chuyết Thuyết ở chùa Phật Tích,
Bắc Ninh
Thiền
Sư MINH HÀNH
(1596
- 1659)-(Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế)
Thiền
sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương,
tỉnh Giang Tây. Sư theo thầy là Thiền sư Chuyết Chuyết sang
Việt Nam, đến kinh thành Thăng Long năm 1633, là một cánh tay
trợ giúp thầy giáo hóa.
Năm
1644, khi Thiền sư Chuyết Chuyết tịch, Sư thay thế trụ trì
chùa Ninh Phúc. Đến năm 1659, Sư tịch, thọ 64 tuổi. Môn đồ
xây tháp thờ tại chùa Ninh Phúc, tháp hiệu Tôn Đức.
Sư
có hai vị đệ tử là Chân Trú và Diệu Tuệ. Chân Trú trụ
trì chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trụ trì chùa
Phật Tích. Sư có đề bài kệ truyền pháp như sau:
Minh
chân như tánh hải
Kim
tường phổ chiếu thông
Chí
đạo thành chánh quả
Giác
ngộ chứng chân không.
Thiền
Sư MINH LƯƠNG
(Đời
pháp thứ 35, tông Lâm Tế)
Sư
ở núi Phù Lãng, nghe Hòa thượng Chuyết Công từ Trung Hoa
sang, bác thông kinh sử, thấu triệt tâm tông, nên Sư tìm đến
tham vấn. Sư hỏi:
-
Khi sanh tử đến phải làm sao trốn tránh ?
Chuyết
Công đáp:- Chọn lấy nơi không sanh tử trốn tránh.
Sư
hỏi:- Thế nào là nơi không sanh tử ?
Chuyết
Công đáp:- Ở trong sanh tử nhận lấy mới được.
Nghe
nói thế Sư vẫn chưa ngộ.
Chuyết
Công bảo:- Hãy lui đi, đợi chiều sẽ đến.
Sư
giữ đúng hẹn, chiều lại vào phương trượng.
Chuyết
Công bảo:- Đợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng.
Sư
bỗng nhiên tỉnh ngộ, sụp xuống lạy. Chuyết Công hứa khả
và truyền tâm ấn cho.
Sau
khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn
Cương ở Phù Lãng để truyền bá chánh pháp.
Đến
khi sắp tịch, Sư truyền pháp cho Thiền sư Chân Nguyên, nói
kệ rằng:
Ngọc
quí ẩn trong đá
Hoa
sen mọc từ bùn
Nên
biết chỗ sanh tử
Ngộ
vốn thật Bồ-đề.
(Mỹ
ngọc tàng ngoan thạch
Liên
hoa xuất ứ nê
Tu
tri sanh tử xứ
Ngộ
thị tức Bồ-đề.)
Trao
kệ xong, Sư bảo đệ tử: “Nay ta trở về.” Nói dứt lời,
Sư thị tịch. Đệ tử xây tháp ở núi Phù Lãng thờ Sư.
Thiền
Sư CHÂN NGUYÊN pháp danh TUỆ ĐĂNG
(1647
- 1726)-(Đời pháp thứ 36, tông Lâm Tế)
Sư
họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, mẹ họ Phạm
quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Một hôm, mẹ Sư nằm mộng thấy cụ già cho một hoa sen, sực
tỉnh dậy, từ đây biết có mang. Năm Đinh Hợi (1647), tháng
9 ngày 11 giờ ngọ, mẹ sinh ra Sư. Lớn lên theo học với cậu
là ông Giám Sinh. Sư rất thông minh, hạ bút là thành văn.
Năm 16 tuổi, Sư đọc quyển Tam Tổ Thực Lục, đến Tổ thứ
ba là Huyền Quang liền tỉnh ngộ nói: “Cổ nhân ngày xưa
dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống ta là
một chú học trò.” Sư liền phát nguyện đi tu.
Năm
19 tuổi, Sư lên chùa Hoa Yên vào yết kiến Thiền sư Tuệ
Nguyệt (Chân Trú).
Thiền
sư Tuệ Nguyệt hỏi:- Ngươi ở đâu đến đây ?
Sư
thưa:- Vốn không đi lại.
Tuệ
Nguyệt biết Sư là pháp khí sau này, bèn thế phát xuất gia
cho pháp danh là Tuệ Đăng. Sau không bao lâu Tuệ Nguyệt tịch.
Sư cùng bạn đồng liêu là Như Niệm phát nguyện tu hạnh
đầu-đà đi du phương để tham vấn Phật pháp . Thời gian
sau, Như Niệm đổi ý trở về trụ trì chùa Cô Tiên. Sư đi
lên chùa Vĩnh Phúc ở núi Côn Cương tham vấn Thiền sư Minh
Lương là đệ tử của Chuyết Chuyết.
Sư
hỏi:
-
“Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy
thế nào” là sao ?
Thiền
sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại, liền
cảm ngộ, sụp xuống lạy. Minh Lương bảo:
-
Dòng thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa làm thạnh
ở đời.
Minh
Lương đặt cho Sư pháp hiệu là Chân Nguyên và bài kệ phó
pháp:
Ngọc
quý ẩn trong đá
Hoa
sen mọc từ bùn
Nên
biết chỗ sinh tử
Ngộ
vốn thậät Bồ-đề.
(Mỹ
ngọc tàng ngoan thạch
Liên
hoa xuất ứ nê
Tu
tri sinh tử xứ
Ngộ
thị tức Bồ-đề.)
Chính
vì chỗ ngộ này, sau Sư soạn quyển “Trần Triều Thiền
Tôn Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành” có cả thảy bảy
lần nói về “Tứ mục tương cố” (bốn mắt nhìn nhau).
Những đoạn như sau:
Đoạn
I:
Tứ mục tương cố nhãn đồng
Thầy tớ trao lòng, đăng chúc giao huy,
Bổng đầu cử nhãn ấn tri
Cơ quan thấu được thực thì tri âm.
Đoạn
II:
Tam thế chư Phật Tổ sư
Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ.
Đoạn
III:
Hiện ra nhãn nhĩ thanh âm
Tứ mục tương cố chẳng tâm thời gì ?
Tâm nguyên không tịch vô vi
Ngộ được tức thì quả chứng Như Lai.
Đoạn
IV:
Bát tự đả khai bằng nay
Tứ mục tương cố lộ bày viên dung
Ấy là mật ấn tâm tông
Tổ đã truyền lòng chớ có hồ nghi.
Đoạn
V:
Tam thế chư Phật Như Lai
Tứ mục tương cố muôn đời chứng thân.
Đoạn
VI:
Bảo thực cứu cánh cho hay
Tứ mục tương cố thực rày ấn tâm.
Đoạn
VII:
Hóa Phật thọ ký vô biên
Tứ mục tương cố mật truyền tâm tông.
Trong
bài “Ngộ Đạo Nhân Duyên” có đoạn Sư viết:
Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,
Truyền
nhau “bốn mắt ngó” phân minh.
Ngọn
đèn mãi nối sáng vô tận,
Trao
gởi thiền lâm dạy hữu tình.
(Nhất
điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,
Tương
truyền tứ mục cố phân minh.
Liên
phương tục diệm quang vô tận,
Phổ
phó thiền lâm thọ hữu tình.)
Sau
khi được tâm ấn rồi, Sư thọ giới Tỳ-kheo. Một năm sau,
Sư lập đàn thỉnh ba đức Phật (Phật Thích-ca, Di-đà, Di-lặc)
chứng đàn, thọ giới Bồ-tát và đốt hai ngón tay nguyện
hành hạnh Bồ-tát. Về sau, Sư được truyền thừa y bát Trúc
Lâm, làm Trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, là hai
ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm.
Năm
1684, Sư dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa tại chùa Quỳnh Lâm
theo kiểu mẫu đài Cửu Phẩm Liên Hoa mà Thiền sư Huyền
Quang đã dựng trước kia ở chùa Ninh Phúc.
Năm
1692, lúc 46 tuổi, Sư được vua Lê Hy Tông triệu vào cung để
tham vấn Phật pháp. Vua khâm phục tài đức Sư, ban cho Sư
hiệu Vô Thượng Công và cúng dàng áo ca-sa cùng những pháp
khí để thừa tự.
Năm
1722, lúc 76 tuổi, Sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng
Thống và ban hiệu Chánh Giác Hòa Thượng.
Đến
năm 1726, Sư triệu tập đệ tử dặn dò và nói kệ truyền
pháp, kệ rằng:
Bày
hiện rõ ràng được suốt ngày,
Đây
là tự tánh mặc phô bày.
Chân
thường ứng dụng sáu căn thấy,
Muôn
pháp dọc ngang giác ngộ ngay.
(Hiển
hách phân minh thập nhị thì,
Thử
chi tự tánh nhậm thi vi.
Lục
căn vận dụng chân thường kiến,
Vạn
pháp tung hoành chánh biến tri.)
Nói
kệ xong, Sư bảo chúng: “Ta đã 80 tuổi, sắp về cõi Phật.”
Đến tháng mười, Sư nhuốm bệnh, đến sáng ngày 28 viên
tịch, thọ 80 tuổi. Môn đồ làm lễ hỏa táng thu xá-lợi
chia thờ hai tháp ở chùa Quỳnh Lâm và chùa Long Động, tháp
hiệu Tịch Quang. Sư là người khôi phục lại thiền phái
Trúc Lâm.
Tác
phẩm của Sư có:
1/
Tôn Sư Pháp Sách Đăng Đàn Thọ Giới
2/
Nghênh Sư Duyệt Định Khoa
3/
Long Thư Tịnh Độ Văn
4/
Long Thư Tịnh Độ Luận Bạt Hậu Tự
5/
Tịnh Độ Yếu Nghĩa
6/
Ngộ Đạo Nhân Duyên
7/
Thiền Tông Bản Hạnh
8/
Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh
9/
Thiền Tịch Phú
10/ Đạt Na Thái Tử Hạnh
11/ Hồng Mông Hạnh
12/ Kiến tánh thành Phật.
Phụ
bản: THIỀN TỊCH PHÚ
Vui
thay tu đạo Thích !
Vui
thay tu đạo Thích !
Lọ
phải thành đô,
Nào
nề tuyền thạch.
Dù
ngồi nơi cảnh trí danh lam,
Hoặc
ở chốn chùa chiền cổ tích,
Đâu
cũng dòng phước đức trang nghiêm.
Đây
cũng vốn tu công thiền tịch.
Trước
án tiền, đẳng kinh ba bức, tố khảm mã não, xa cừ;
Trên
thượng điện, thánh tượng mấy tòa, vẽ vàng san-hô, hổ
phách.
Thần
Bát bộ Kim Cương đứng chấp, trấn phò vua ai thấy chẳng
kinh;
Tượng
tam thân bảo tướng ngồi bày, ủng hộ chúa cõi nào dám địch.
Tả
A-nan đại sĩ vận sa hoa sặc sỡ vân vi;
Hữu
Thổ địa Long thần, mặc áo gấm lổ lang xốc xếch.
Am
thờ Tổ, ngói rập gỗ dăm,
Nhà
trú tăng, vách vôi tường gạch.
Mấy
bức kẻ chữ triện mặc rời,
Bốn
bên nhiễu câu lan sóc sách.
Gác
rộng thênh chuông đưa vài chập, niệm Nam-mô,nhẹ tiếng boong
boong.
Lầu
cao tót trống dậy mấy hồi, đọc thần chú khu tang cách cách.
Phướn
tràng phan nhuộm vàng khè, lúc gió đưa phất phới nhởn nhơ;
Dù
bóng boong dạng đen sì, khi trập mở nhập nhu thì thích.
Sư
quân tử cấy trúc ngô đồng,
Đệ
trượng phu trồng thông tùng bách.
Trăm
thức hoa đua nở kề hiên,
Bảy
giống báu chất đầy kẻ ngạch.
Ngào
ngạt mùi xạ lan,
Thơm
tho hương trầm bạch.
*
Sãi
chưng nay
Mộ
đạo tu hành
Xả
đường kinh lịch.
Chí
dốc nên Phật Tổ siêu thăng,
Lòng
nguyện độ chúng sanh trầm nịch.
Đêm
đông trường, khi mật niệm, gióng tiếng chuông thánh thót
lênh kênh;
Ngày
hạ tiết, lúc tụng kinh, nện dùi mõ khoan mau lịch kịch.
Chỉn
chuộng một bề đạo đức,
Miệng
chẳng hiềm ăn đắng ăn cay;
Vốn
yêu hai chữ từ bi, thân nào quản mặc lành mặc rách.
Khi
dưa giấm chua lòm,
Bữa
canh suông lạt thếch.
Mũ
viền sô nhuộm mực đen sì.
Quần
áo vải nâu sòng cũ rích.
Tham
tài ái sắc, chẳng bao màng thói tục kiêu ngoa;
Cầu
đạo xả thân, vốn giữ nếp nhà thiền cục kịch.
Túi
để đựng kinh chứa sách, túi nào dùng vóc cải móng rồng;
Dép
đi đỡ bụi cách trần, dép chẳng chuộng da tàu hàm ếch.
Gậy
nương chống đi dong dặm tuyết, gậy chẳng cầu khúc khuỷu
cong queo;
Bầu
để đựng chứa nước cam lồ, bầu lọ phải ngòng ngoèo
ngốc nghếch.
Quảy
bồ tre cầm quạt trúc, nào có hiềm nan cật to đề;
Ngồi
chiếu lát tựa giường song, cũng chẳng quản dá ken thưa thếch.
Chơi
rừng Nho len lỏi suối khe,
Dạo
bể Thích luồn tuôn ngòi lạch.
Trà
bát đức sẵn đà lưu loát, chẳng phải lo củi nấu kỳ cầm;
Bánh
tam thừa vốn đã chứa chan, nào có nhọc bột đâm thì thịch.
Quả
bồ-đề ăn ngọt sớt, muôn kiếp hằng no;
Hoa
Ưu-bát ngửi thơm tho, ngàn đời chẳng dịch.
Sang
Tây phương bệ ngọc đứng chơi,
Về
Đông độ tòa vàng ngồi trịch.
Bè
từ bi thênh thênh rộng rãi, mặc sức chở người;
Thuyền
Bát-nhã thăm thẳm bao la, dầu lòng độ khách.
Sãi
chưng nay
Khuyên
đấng đại thừa,
Bảo
loài tiểu chích.
May
gặp được minh sư đạo đức, một phen liền biết, nào hề
chi chữ nghĩa tìm đòi;
Phúc
lại thấy tri thức bạn lành, mấy chốc mà nên, lọ là phải
văn chương ngóc ngách.
Thích-ca
Phật Tổ năng kiến tánh, ngồi Tuyết Sơn, khô khẳng gầy
gò;
Di-lặc
Tiên Quang bởi vô tâm, đi vân thủy đẫy đà phục phịch.
Đức
Huệ Năng bát nguyệt thung phường,
Tổ
Đạt-ma cửu niên diện bích,
Thần
Quang đoạn tý, lúc còn mê, mặt ngó đăm đăm;
Ca-diếp
nhãn đồng, thoắt chốc ngộ, miệng cười hệch hệch.
Dầu
người quyết lòng học đạo, hỏi cho hay sừng thỏ lông rùa;
Hoặc
kẻ dốc chí chân tu, xem cho biết đầu sò tai ếch.
Khuyên
người ở đời đừng bắt chước sự đời, trước không,
sau lại về không, nữa luống công nghĩ tiếc khuâng khuâng;
Bảo
kẻ có chí phải theo đòi thánh chí, nhân đà tỏ, quả càng
thêm tỏ, rồi đắc ý cười riêng khích khích.
Thiền
Sư NHƯ HIỆN hiệu NGUYỆT QUANG
(?
- 1765)-(Đời pháp thứ 37, tông Lâm Tế)
Sư
sinh ở làng Đường Hào, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương,
Sư xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Long Động ở Yên Tử. Trước
khi Thiền sư Chân Nguyên tịch, Sư được truyền y bát Trúc
Lâm, kế thế chăm sóc các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt
Quang.
Năm
1730, các chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm dưới sự chăm sóc
của Sư được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chùa cùng dân ba huyện
Đông Triều, Thủy Đường và Chí Linh góp sức vào việc xây
dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc
trong suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn này
của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện trên được miễn
sưu dịch một năm. Bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại cho đúc
một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.
Năm
1748, Sư được vua Lê Hiến Tông ban chức Tăng Cương, và năm
1757 được sắc phong là Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng.
Đời sống của Sư rất là đạm bạc mà hàng đại thần
đến hỏi pháp, Sư ăn mặc rất sơ sài mà các bậc cao tăng
thường đến tham vấn. Đồ đệ của Sư hơn sáu mươi vị
anh tài, Trụ trì các nơi làm rường cột cho Phật pháp. Thiền
sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được Sư truyền y bát Trúc
Lâm và kế thế chăm sóc các chùa Quỳnh Lâm, Long Động và
Nguyệt Quang.
Đến
ngày mùng 6 tháng 9 năm Ất Dậu (1765), Sư nhóm chúng từ biệt
thị tịch. Môn đồ xây tháp nơi chùa Nguyệt Quang phụng thờ.
Hiện nay chùa Nguyệt Quang ở phường Đông Khê, quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng.
Thiền
Sư NHƯ TRỪNG LÂN GIÁC
(1696
- 1733)-(Đời pháp thứ 37, tông Lâm Tế)
Sư
tên Trịnh Thập con của Phổ Quang Vương, sinh ngày mùng 5 tháng
5 năm Bính Tý nhằm niên hiệïu Chính Hòa thứ mười bảy
(1696). Trên trán Sư có góc hình như chữ nhật.
Lớn
lên, vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho Sư. Tuy thân sống
trong lầu son gác tía, mà tâm hằng gởi gắm trong cửa thiền.
Sư có tư dinh tại huyện Thọ Xương ở phường Bạch Mai -
Hà Nội, khu đất vườn ao sáu mẫu. Ở sau vườn có gò đất
cao chừng bảy tám thước.
Một
hôm, Sư sai quân gia đào gò đất ấy xuống tận dưới sâu
để làm ao thả cá vàng. Quân gia chợt thấy một cọng sen
lớn, đến trình với Sư. Sư cho đó là điềm đi xuất gia.
Nhân điềm cọng sen này, Sư liền cải gia vi tự (đổi nhà
làm chùa), đặt tên là Liên Tông, viện tên Ly Cấu. Từ đây,
Sư quyết chí tham thiền.
Một
hôm, Sư dâng sớ xin xả tục xuất gia, được nhà vua chấp
thuận. Ngày ấy, Sư đi thẳng đến huyện Đông Triều lên
chùa Long Động trên núi Yên Tử đảnh lễ Thiền sư Chân
Nguyên Chánh Giác xuất gia. Thiền sư Chánh Giác hiện giờ
đã 80 tuổi.
Chánh
Giác bảo:- Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy ?
Sư
thưa:- Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp.
Chánh
Giác bảo:- Trùng hưng Phật Tổ sau này là trông cậy ở ngươi.
Từ
đây, Sư ngày đêm nghiên cứu Tam tạng đều được thấu
suốt.
Một
hôm, Sư đầy đủ oai nghi lên xin ngài Chánh Giác thọ giới
cụ túc. Được chấp thuận, thọ giới xong và được truyền
tâm pháp rồi, Sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông.
Nơi
đây, Sư hoằng hóa rất thạnh, đồ chúng đến tham học rất
đông. Do đó lập thành một phái lấy hiệu là Liên Tông.
Năm
37 tuổi, bỗng một hôm Sư bảo đại chúng rằng:
-
Giờ qui tịch ta sắp đến. Ta được pháp nơi Hòa thượng
Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi, hãy nghe kệ đây:
Vốn
từ không gốc
Từ
không mà đến
Lại
từ không mà đi
Ta
vốn không đến đi
Tử
sanh làm gì lụy.
(Bản
tùng vô bản
Tùng
vô vi lai
Hoàn
tùng vô vi khứ
Ngã
bản vô lai khứ
Tử
sanh hà tằng lụy.)
Sư
lại bảo:- Thân khổ tứ đại này đâu thể giữ lâu.
Nói
xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ 37 tuổi. Năm ấy nhằm
niên hiệu Long Đức thứ hai (1733). Đồ chúng xây tháp thờ
Sư ở ba nơi.
Bình
nhật Sư lập chùa Hộ Quốc ở phường An Xá tại bản huyện.
Sau lại chọn được Giác Sơn ở Quế Dương tỉnh Bắc Ninh
tạo ngôi đại già-lam chùa hiệu Hàm Long. Sau này cho đệ
tử Tính Dược trụ trì chùa Liên Tông, Tính Ngạn trụ trì
chùa Hàm Long.
Thiền
Sư TÍNH TĨNH
(1692
- 1773)-(Đời pháp thứ 38, tông Lâm Tế)
Sư
họ Trần, sinh năm 1692, quê ở Đông Khê, thọ giáo với Hòa
thượng Như Hiện nơi chùa Nguyệt Quang. Sư thâm đạt yếu
chỉ, ngộ được tâm tông.
Sau,
Sư kế thừa trụ trì ở chùa Nguyệt Quang, giáo hóa thịnh
hành làm rạng rỡ cho tông môn Lâm Tế. Sư chỉ chuyên tịnh
nhất tâm, mà đã xây dựng lại được các ngôi cổ tự,
nào Long Động, Phước Quang, Quỳnh Lâm. Sư đã từng làm Hòa
thượng cho tám, chín đàn truyền giới. Đệ tử lớn của
Sư có đến hai mươi vị Đại đức Trụ trì. Sư hằng giữ
luật để bỏ trần về giác, chuyên trì kinh Lăng Nghiêm để
thấy tánh sáng tâm.
Đến
cuối mùa xuân năm Quí Tỵ (1773), Sư từ giã chúng thị tịch,
thọ 82 tuổi.
Thiền
Sư TÍNH TUYỀN
(1674
- 1744)-(Đời pháp thứ 39, tông Lâm Tế)
Sư
họ Huỳnh, quê ở Đa Nhất, Võ Tiên, tỉnh Nam Định. Năm
12 tuổi, Sư đến chùa Liên Tông đảnh lễ Thượng Sĩ xin
thế phát xuất gia, thọ thập giới. Ở đây sáu năm, Sư chuyên
cần học tập, siêng năng hầu hạ không lúc bê trễ.
Một
hôm, Thượng Sĩ than với Sư rằng: “Hiện nay nhằm thời
mạt pháp, nhân tâm suy đồi, Phật pháp quạnh quẽ, giới
luật đã không có người được học. Ngươi nên đi xa cầu
chánh pháp để dẹp trừ những tệ đoan, thì còn gì quí hơn
!”
Sư
lễ tạ vâng lệnh. Thượng Sĩ tiễn Sư kệ rằng:
Thiền
lâm gương cổ đã chôn vùi
Vì
pháp quên mình có mấy người
Thiện
Tài tham vấn nay còn đó
Bát
tuần hành khước gắng chuyên cần.
(Thiền
lâm cổ kính cửu mai trần
Vị
pháp vong thân kỷ hứa nhân
Ngũ
thập tam tham kim cổ tại
Bát
tuần hành khước dã tân cần.)
Sư
tư duy thâm nhập phát thệ nguyện lớn, nghiên tầm kinh luật.
Một hôm Sư đến trước Phật Tổ thắp hương lễ bái xong,
bạch hết chí nguyện mình lên Phật Tổ cầu chứng giám.
Khoảng
niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740), Sư trèo non vượt biển chừng
sáu tháng đến núi Đảnh Hồ ở Quảng Châu, Trung Hoa, vào
chùa Khánh Vân Đại Thiền, ngụ trọ ngoài tam quan ba tháng.
Một hôm, thầy Duy-na đi ra cửa ngoài thấy Sư dung mạo buồn
thảm, hỏi rằng:
-
Ngươi từ phương nào đến? Chí cầu việc gì ?
Sư
thưa:
-
Bần tăng ở nước An Nam, đi xa ngàn dặm muốn cầu đại
pháp. Không có cơ duyên được mãn nguyện, dám nhờ nhân giả
thưa hộ lên Hòa thượng, thật là vạn hạnh cho bần tăng.
Thầy
Duy-na bẩm hết nguyên do lên Hòa thượng. Hòa thượng bảo:
“tốt lắm!”
Sư
được mời vào phương trượng đảnh lễ Hòa thượng Kim
Quang Đoan, trình bày hết chí nguyện của mình. Hòa thượng
bảo: “Vào tăng đường đi.”
Từ
đây, Sư gắng chịu mọi khổ nhọc, chẳng tiếc thân mạng.
Phục dịch như thế đến ba năm, trong ba năm này, Sư vừa
công tác vừa tu niệm và gắng sức học tập không lúc bê
trễ. Khi ấy Sư đã được 25 tuổi, cầu xin thọ giới Tỳ-kheo,
Bồ-tát, được Hòa thượng chấp thuận. Lễ truyền giới
được tổ chức ngay chùa này, Hòa thượng Kim Quang Đoan làm
Hòa thượng trong đàn lễ truyền giới.
Ở
Trung Hoa mãn sáu năm, Sư xin phép trở về cố quốc. Khi về,
Sư thỉnh được ba trăm bộ kinh luật luận, cả thảy hơn
một ngàn quyển. Lúc ra về, Sư đến từ Hòa thượng, Ngài
phó chúc kệ rằng:
Về
mà chẳng ngộ
Ngộ
mà chẳng mê
Tâm
không mê ngộ
Thật
ngồi tòa sen.
(Hoàn
nhi bất ngộ
Ngộ
nhi bất mê
Tâm
vô mê ngộ
Chân
tọa liên hoa.)
Sư
từ giã đại chúng trở về nước. Về đến thôn Nhân Mục,
ở cửa Tam Huyền, Sư hay tin Thượng Sĩ đã tịch ba năm rồi.
Sư chở ba tạng kinh để ở chùa Càn An. Tăng Ni trong nước
đua nhau đến thỉnh Sư truyền giới lại. Sư là người mở
đầu hoằng dương Luật tứ phần. Từ đây Phật giáo nước
nhà được trùng hưng rạng rỡ.
Năm
70 tuổi, một hôm Sư bảo đánh chuông nhóm chúng và gọi đệ
tử lớn là Hải Quýnh bảo:
-
Đạo của ta được thịnh hành là nhờ ngươi vậy. Hãy nghe
kệ đây:
Đạo
cả không lời
Vào
cửa chẳng hai
Pháp
môn vô lượng
Ai
là kẻ sau.
(Chí
đạo vô ngôn
Nhập
bất nhị môn
Pháp
môn vô lượng
Thùy
thị hậu côn.)
Nói
xong, Sư ngồi kiết già thị tịch. Đệ tử làm lễ hỏa táng
nhục thân Sư và xây tháp ở hai chùa Hàm Long và Sùng Phước
để thờ.
Thiền
Sư HẢI QUÝNH hiệu TỪ PHONG
(1728
- 1811)-(Đời pháp thứ 40, tông Lâm Tế)
Sư
họ Nguyễn quê ở thôn Nghiêm Xá huyện Quế Dương tỉnh Bắc
Ninh.
Năm
16 tuổi, Sư xuất gia đến chùa Liên Tông đảnh lễ ngài Bảo
Sơn Tính Dược xin thế độ. Tính Dược bảo:
-
Ngươi thân như mọi rợ đâu kham lãnh đại pháp ?
Sư
thưa:- Thân tuy mọi rợ mà tâm đồng Phật Tổ.
Tính
Dược bảo:
-
Ta hỏi một câu ngươi đáp được thì thế độ cho, bằng
đáp không được, cho một tiền đi tìm thiện tri thức khác.
Sư
thưa:- Thỉnh Hòa thượng hỏi.
Tính
Dược hỏi:- Ngươi là người hay là Phật ? Là thật hay là
giả ?
Sư
thưa:- Người, Phật vốn không huống là có thật giả.
Tính
Dược khen:- Hay lắm ! Ngươi liễu đạo vậy.
Từ
đó Sư học vấn càng ngày càng tiến, đạo đức càng ngày
càng cao. Sư xin thọ giới cụ túc, về sau đi đứng nằm ngồi
đều không rời tâm đạo. Trọn đời Sư không đến chỗ
quyền quí. Bốn chúng đệ tử hơn ba trăm người.
Năm
84 tuổi, một hôm Sư bảo chúng đánh chuông gọi đệ tử
là Đại sư Tịch Truyền đến dạy:
-
Giờ qui tịch của ta đã đến, trao kệ cho ngươi đây.
Các
pháp không tướng
Chẳng
sanh chẳng diệt
Bởi
không chỗ được
Là
thật Phật nói.
(Chư
pháp không tướng
Bất
sanh bất diệt
Dĩ
vô sở đắc
Thị
chân Phật thuyết.)
Nói
xong, Sư ngồi yên lặng thị tịch. Đại chúng hỏa táng lượm
linh cốt xây tháp thờ ba chỗ là Hàm Long, Liên Tông và Nghiêm
Xá. Khi ấy nhằm niên hiệu Gia Long thứ mười (1811).