Thiền
Sư ĐẠO CHÂN và Thiền Sư ĐẠO TÂM
(Thế
kỷ 17)
Thiền
sư Đạo Chân tục danh Vũ Khắc Minh, sinh ngày 15 tháng 11 khoảng
1579 xã Gia Phúc, huyện Phúc Khê. Sư theo học với Hòa thượng
Đạo Long, người xã Thạch Lỗi, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu
Thiên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Sư trụ trì chùa Pháp Vũ cũng
tên chùa Thành Đạo, địa phương gọi là chùa Đậu vì ở
làng Đậu, hiện nay thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện
Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình, cách Hà Nội 23 km về phía
Nam. Trước khi sắp tịch, Sư tọa thiền trong thất nhỏ cho
đến khi tịch. Sư tịch khoảng năm 1638, thọ khoảng 59 hay
60 tuổi. Thấy thân Sư không thối rữa, tín đồ để lại
thờ cho đến ngày nay vẫn còn. Vẻ vui nhè nhẹ trên
gương mặt của Sư khi thị tịch mãi hơn ba trăm năm vẫn
còn, người nay gọi là nụ cười hạnh phúc.
Thiền
sư Đạo Tâm tục danh Vũ Khắc Trường, sinh ngày 15 tháng 8
không biết năm, là cháu kêu Thiền sư Đạo Chân bằng chú,
cùng một quê quán. Sau khi Thiền sư Đạo Chân tịch, Sư thay
trụ trì chùa Pháp Vũ vào khoảng năm 1639. Vì Sư có làm tấm
bia khắc nói về Thiền sư Đạo Chân... nên biết năm ấy
Sư đã thế trụ trì. Khi sắp tịch, Sư cũng vào thất ngồi
thiền rồi thị tịch, xác thân của Sư vẫn không thối rữa,
tín đồ để nguyên tôn thờ. Sau này bị một trận lụt năm
Ất Mão, xác thân Sư bị ngập đến đầu có hư đôi chút,
dân chúng tô đắp lại nên không còn nguyên vẹn như xưa.
Hai
Thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm tu hành đắc đạo, khi tịch
còn lưu nhục thân lại cho đến ngày nay, mà chúng ta không
biết thuộc hệ phái nào và tu hành như thế nào ?
Theo
Dòng Sự Kiện:
Chùa
Đậu, Thái Bảo
Gìn
Giữ Và Bảo Vệ Di Tích Cổ
Nhục
Thân Hai Vị Sư Cổ 300 Năm Tại Chùa Đậu Bị Hư Hỏng Nặng
TÔNG
TÀO ĐỘNG TRUYỀN SANG MIỀN BẮC VIỆT NAM
(ĐÀNG
NGOÀI)
Đời
35 : Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo (người Trung Hoa).
Đời
36 : Thiền sư Thủy Nguyệt pháp húy Thông Giác Đạo Nam.
Đời
37 : Thiền sư Chân Dung pháp húy Tông Diễn.
Đời
38 : Thiền sư Tĩnh Giác pháp húy Từ Sơn Hành Nhất.
Đời
39 : Thiền sư Bản Lai Thiện Thuận pháp húy Tỉnh Chúc Đạo
Chu.
Đời
40 : Thiền sư Viên Thông Lại Nguyên pháp húy Hải Điện Mật
Đa.
Thiền
sư Tự Tại pháp húy Hải Hoằng Tịnh Đức.
Thiền
sư Thanh Từ pháp húy Khoan Nhân Phổ Tế.
Đời
41: Thiền sư Đạo Nguyên Thanh Lãng pháp húy Khoan Dực Phổ
Chiếu.
Thiền
sư Thiện Căn pháp húy Khoan Giáo Nhu Hòa.
Thiền
sư Thanh Quang pháp húy Khoan Thông Chính Trí.
Thiền
sư Thanh Nguyên pháp húy Giác Bản Minh Nam.
Đời
42 : Thiền sư Thanh Đàm pháp húy Giác Đạo Tâm Minh Chánh Hoằng
Quang.
Đời
43 : Thiền sư Lục Hòa pháp húy Giác Lâm Minh Liễu.
Đời
44 : Thiền sư Thanh Như Chiếu pháp húy Đạo Sinh Quang Lịch
Minh Đạt.
Đời
45 : Thiền sư Hồng Phúc pháp húy Quang Lự Thích Đường Đường
hiệu Như Như.
Đời
46 : Thiền sư Hòa Thái pháp húy Chính Bỉnh Thích Bình Bình
Vô Tướng.
Đời
47 : Thiền sư Tâm Nghĩa Thích Nhàn Từ.
Những
Sư trụ trì các chùa Hòe Nhai, Hàm Long, Trấn Quốc ở Hà Nội
hiện nay đều thuộc tông Tào Động.
Thiền
Sư NHẤT CÚ TRI GIÁO
(Đời
pháp thứ 35, tông Tào Động)
Sư
trụ trì tại núi Phụng Hoàng, Hồ Châu, Trung Hoa. Trong lúc
đi tham vấn, Sư đến tham yết Hòa thượng Tịnh Chu ở An
Kiết.
Sư
thưa:- Ngồi vững trên sóng dứt bụi bặm, là ý chỉ thế
nào?
Tịnh
Chu đáp bằng bài kệ. Sư liền đảnh lễ.
Tịnh
Chu hỏi:- Người hiểu được cái gì mà đảnh lễ?
Sư
thưa:- Lửa to đốt núi, một đốm tự rơi.
Tịnh
Chu bảo:
-
Lửa tàn tro lạnh khói hơi bặt
Gió
thổi trăng trong sương mù tan.
Hãy
nói khi ấy thế nào?
Sư
thưa:- Không đáp được.
Tịnh
Chu bảo:
-
Ngọn núi cần nhóm lửa
Dưới mây gió thổi nhanh.
Ý này thế nào ?
Sư
đáp:- Tiếng chuông trống hòa nhau
Nước sóng cồn theo vậy.
Tịnh
Chu thấy Sư lợi căn bèn cho nhập chúng. Sau Tịnh Chu truyền
tâm ấn cho Sư và cho hiệu là Nhất Cú. Sư bái từ trở về
núi Phụng Hoàng.
Về
đây, Sư khai đường dạy chúng, đạo pháp rất tinh nghiêm.
Học giả bốn phương nghe danh qui tụ về rất đông.
Khi
sắp tịch, Sư truyền tâm ấn cho đệ tử là Thông Giác để
kế thừa tông Tào Động. Bài kệ phó pháp:
Xuân
sặc sỡ, cỏ như nhung
Khắp
chốn ngàn cây bông trổ gấp
Một
cành dương liễu nảy trùng trùng
Trăng
chìm đáy biển nước lóng lặng
Đảnh
núi nhật lên bày chót cao.
(Xuân
sắc sắc, thảo nhung nhung
Vạn
vũ chi điều khai thiết thiết
Nhất
hành dương phát sản trùng trùng
Thủy
tẩm nguyệt viên trừng hải để
Sơn
đầu nhật xuất lộ nham phong.)
Nói
kệ xong Sư từ giã chúng, ngồi yên nhập Niết-bàn. Đồ chúng
xây tháp tôn thờ.
Thiền
Sư THỦY NGUYỆT hiệu THÔNG GIÁC
(1637
- 1704)-(Đời pháp thứ 36, tông Tào Động)
Sư
sanh năm Đinh Sửu (1637), quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên,
phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, con nhà họ Đặng. Vừa lớn
lên, Sư theo học Nho giáo, đến 18 tuổi thi đậu Cống cử
tứ trường. Đến năm 20 tuổi, Sư chán cảnh đời bọt bèo
dâu bể, thích đi tu theo các Thiền sư. Sư bỏ nghiệp Nho,
tìm đến chùa xã Hỗ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học
đạo. Ở đây sáu năm học các kinh sách, Sư chưa thỏa mãn,
xin phép thầy đi du phương tham vấn. Đi tham vấn hết các
bậc tôn túc trong nước, mà tâm chưa sáng đạo. Lần lượt
đã 28 tuổi đầu, Sư quyết chí sang Trung Quốc tầm học.
Tháng 3 năm Giáp Thìn (1664) niên hiệu Cảnh Trị triều Lê,
Sư cùng hai đệ tử lên đường sang Trung Quốc.
Trên
đường đi rất vất vả nhọc nhằn, vừa tới tỉnh Cao Bằng
thì một người đệ tử mắc bệnh nặng, thuốc thang không
khỏi phải chết. Sư chôn cất bên vệ đường và dặn rằng:
“Nay ngươi sức mỏi không thể theo ta được, thôi tạm nghỉ
nơi đây, khi ta ngộ đạo trở về sẽ tế độ cho ngươi.”
Từ đây chỉ còn hai thầy trò vai mang bình bát chẳng quản
ngại đường sá xa xôi, hăm hở tiến tới với tấm lòng
vui với đạo. Một hôm trên đường trèo đèo lội suối,
Sư cảm hứng ngâm:
Non
nước với ta có nhân duyên
Đã
lội suối rồi lại vượt non
Nước
rửa bụi trần nhọc nhằn hết
Núi
nâng chân bước ngàn đạo cao.
Trải
mấy tinh sương đến năm Ất Tỵ (1665) mới đến đất Châu
Hỗ cũ, hết bao tháng ngày lội lặn đến thăm các tùng lâm
danh tiếng mà túc duyên chẳng hợp. Sư đang băn khoăn trong
lòng, không biết phải tìm đến đâu? Một hôm Sư lên núi
nằm nghỉ trên tảng đá lớn, bỗng mộng thấy một cụ già
khí sắc trang nghiêm, tinh thần thanh sảng, đi đến trước
ngâm rằng:
Điểu
hoàng phong hạ lưỡng miên man
Ly
khảm gia phu hữu túc duyên
Tảo
thoát dục thinh vô thượng khúc
Đãng
nhai đảnh lễ yết tôn nhan.
Tỉnh
dậy, Sư đem việc này bàn với người cùng đi rằng: Ở trong
câu phá trên chữ Phong có chữ Điểu chữ Hoàng, tức là Phượng
Hoàng; câu giữa có chữ Ly chữ Khảm, Ly là hỏa thuộc về
Nam, Khảm là thủy thuộc về Bắc, tức là Nam Bắc. Câu kết
có chữ Đãng Nhai, chữ Nhai hai chữ Thổ chồng lên nhau, thêm
chữ Thạch ở giữa Đãng, tức là núi cao. Đây đúng
là thần nhân báo cho ta biết ta có duyên với núi Phụng Hoàng
cao, muốn nghe tiếng pháp vô thượng phải lên núi ấy đảnh
lễ bậc tôn túc. Đoán xong, Sư cùng đồ đệ lại mang hành
lý đi tìm các nơi hỏi thăm núi Phụng Hoàng, quanh quẩn mất
hơn một tháng mới tới núi Phụng Hoàng. Ở đây chùa điện
nguy nga, núi cao chót vót, tưởng chừng như núi Linh Thứu khi
xưa hiển hiện nơi đây. Đến đây lòng Sư nửa mừng nửa
sợ, mừng là được thiện thần giúp, sợ là vì ngôn ngữ
bất đồng khó khăn cho việc thưa hỏi. Đến cổng tam quan,
Sư liền viết họ tên và chỗ ở trình lên cho vị tăng gác
cổng xin yết kiến Hòa thượng Tôn sư. Vị tăng này bảo:
“Bắc Nam hai ngả, nói năng không hợp, tuy là đạo vẫn đồng
đường, song lẽ đâu mới đến lại được xông xáo như
thế.”
Bấy
giờ, Sư xin ở nhờ ngoài cổng tam quan, ban ngày học tiếng
Hoa, ban đêm tọa thiền. Qua ba tháng, Sư nói được tiếng
Trung Quốc. Đến ngày mùng một đầu tháng, Sư xin được
yết kiến ngài Thượng Đức. Vị tăng ấy bảo: “Đạo ở
phương Nam hơi giống phương Bắc, vậy muốn yết kiến hãy
viết biểu đưa tôi vào bạch trước, xem có được không”.
Sư nghe qua liền viết tờ biểu: “... con trước đã theo thầy
thụ nghiệp ở nước nhà, song chưa rõ tông chỉ tinh vi uyên
áo, cho nên không ngại trèo đèo lội suối trải qua nghìn
dặm xa xôi, chỉ mong gặp được nhân duyên ngộ đạo, cúi
mong Phương trượng Đại hòa thượng thuyền từ rộng chở
mọi người xa gần đều qua khỏi sông mê...” Sư trao tờ
biểu dâng lên Hòa thượng.
Hòa
thượng xem qua, cảm lời khẩn khoản và thấu rõ nguyên nhân,
tuy chưa thấy mặt mà đã rõ tình ý trong lời, bèn bảo vị
tăng giữ cửa dẫn Sư vào. Sư theo vị tăng dẫn đến tăng
phòng, thấy Hòa thượng ngồi kiết già giữa nhà rất đoan
nghiêm, tăng chúng đứng hầu hai bên rất chỉnh túc. Sư đảnh
lễ Hòa thượng rồi, quì thẳng chắp tay trước Hòa thượng.
Hòa thượng cất tiếng hỏi:
- Trước
khi cha mẹ chưa sanh, trong ấy cái gì là bản lai diện mục
của ngươi ?
-
Sư
thưa: - Mặt trời sáng giữa hư không.
Hòa
thượng nói:- Ba mươi gậy, một gậy không tha.
Sư
lại lễ rồi cuốn chiếu. Hòa thượng bảo:
-
Cho ngươi nhập chúng, tùy theo chúng tham vấn.
Sư
từ đây ngày thì làm việc tùng lâm, đêm thì nghiên cứu
kinh luật, chuyên cần không hề lười trễ. Được một năm,
Sư muốn cầu thọ giới Tỳ-kheo liền lên phương trượng
đảnh lễ Hòa thượng, quì thưa: “Trong cửa Phật có ba môn
học, lấy giới làm đầu, cúi xin Hòa thượng cho con được
thọ giới cụ túc.” Hòa thượng dạy: “Muốn thọ giới
cụ túc phải sắm đủ bảy vật (ca-sa, bình bát... ), đến
tháng tư mới đăng đàn truyền giới.” Đến ngày mùng 8
tháng 4, Hòa thượng thiết lập đàn tràng có đủ tam sư thất
chứng, bạch tứ yết-ma, truyền giới cho Sư. Lúc bấây giờ,
Sư được 30 tuổi.
Lật
bật đã hết sáu năm, một hôm Hòa thượng gọi Sư vào phương
trượng hỏi:- Đã thấy tánh chưa ?
Sư
ra lễ bái, trình kệ:
Sáng
tròn thường ở giữa hư không
Bởi
bị mây mê vọng khởi lồng
Một
phen gió thổi mây tứ tán
Thế
giới hà sa sáng chiếu thông.
(Viên
minh thường tại thái hư trung
Cương
bị mê vân vọng khởi lung.
Nhất
đắc phong xuy vân tứ tán,
Hằng
sa thế giới chiếu quang thông.)
Hòa
thượng đưa tay điểm trên đầu Sư cho hiệu là Thông Giác
Đạo Nam Thiền sư và bài kệ:
Tịnh
trí thông tông
Từ
tính hải khoan
Giác
đạo sinh quang
Chính
tâm mật hạnh
Nhân
đức vi lương
Tuệ
đăng phổ chiếu
Hoằng
pháp vĩnh trường.
Để
về Việt Nam truyền tông Tào Động. Hòa thượng lại dạy:
-
Ngươi về nên tinh tấn làm Phật sự, giảng nói đề cao chánh
pháp, không nên chần chờ để tâm theo với vọng trần, trái
lời Phật, Tổ dặn dò; ngươi thành tâm đi muôn dặm đến
đây nay tôi cho một bài kệ để gắng tiến:
-
Rừng
quế gương đưa đèn nối sáng
Thu
về đâu đấy ngát mùi hương
Vì
người xa đến treo gương báu
Từ
biệt ta về chỉ sợi vàng.
Ai
vào núi Phượng nghìn trùng tuyết
Dường
có An Nam một vị tăng
Nửa
đêm áo gấm ra sau núi
Như
ở chân trời thấy mặt trăng.
(Quế
nham suy phức tục truyền đăng
Thu
nhập trường không quế bích đằng
Trì
nhĩ viễn lai khai bảo kính
Từ
dư qui khứ thị kim thằng.
Thùy
thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết
Cáp
thụ An Nam nhất cá tăng
Dạ
bán cẩm hà sơn hậu khởi
Hạo
tùng thiên tế thức thăng hằng.)
Trong
lúc Sư giao tiếp từ tạ về nước, các thân bằng thiện
hữu hoặc làm thơ kỷ niệm chia tay, hoặc tiệc trà làm lễ
tiễn biệt, đãi đằng đến ba ngày mới xong. Thầy trò Sư
mới cất bước lên đường về cố quốc. Trên đường về,
Sư cảm hứng ngâm rằng:
Sang
Bắc trình rồi lại về Nam
Bắc
Nam đều được thỏa thuê lòng
Cất
bước yên hà càng vui thích
Ngựa
về chuồng cũ, vượt muôn trùng.
(Bắc
lai trình dĩ hựu Nam lai
Nam
Bắc song thanh sảng ngã hoài.
Cước
để yên hà tùy tiếu ngạo
Mã
hoàn trại thượng, xuất thiên nhai.)
Hai
thầy trò đi mất năm tháng mới về tới tỉnh Cao Bằng, đi
vào đường cũ ghé lại mộ người đệ tử đã mất lúc
trước. Thầy trò tạm dựng lều cỏ, thiết lập bàn Phật
tụng kinh siêu độ, được ba ngày thì bỗng nhiên trên mộ
mọc một hoa sen. Bấy giờ nhân dân thấy điều lạ đua nhau
đến xem khác nào thắng hội. Nhiều người phát tâm thỉnh
Sư cúng dường trai phạn, hoặc cầu xin qui y thọ giới. Trải
qua một tháng mới về đến Côn Sơn, Sư thấy cảnh non xanh
nước biếc rất thích, liền lên chùa lễ Phật xong, ngồi
trên tòa ngâm:
Nước
biếc non xanh khác hẳn phàm
Tào
Khê độc chiếm cảnh trời Nam
Không
riêng thờ phụng tam thân Phật
Có
một trạng nguyên giữ Trụ trì.
(Sơn
thủy thanh hề, cảnh thắng hề
Nam
thiên biệt chiếm nhất Tào Khê
Bất
đồ tôn phụng tam thân Phật,
Thặng
hữu khôi nguyên thích Trụ trì.)
Sư
đi khắp các danh thắng, nào ở chùa Vọng Lão núi Yên Tử,
nào ở Quỳnh Lâm để tìm người khế hợp. Sau tới Đông
Sơn ở huyện Đông Triều, trên Thượng Long đã có vị cao
tăng trụ trì rồi, Sư bèn dừng trụ ở Hạ Long để khuông
đồ lãnh chúng. Có khi Sư lên ngọn núi đàm đạo với vị
cao tăng thật là tương ứng. Sư ở đây không bao lâu dân
chúng đến nghe pháp và qui y rất đông. Kể cả những vị
thân hào nhân sĩ, tăng chúng đua nhau tấp nập kéo đến tham
vấn.
Một
hôm Sư ngồi tựa ghế thấy con chim xanh bay đến, liền giác
biết tự ngâm:
Hoa
Xuân nở hết lại sương thu
Phù
thế cuộc đời khó bền lâu
Ra
thẳng ngoài trời cho thỏa chí
Càn
khôn nơi ấy có chừng đâu.
(Xuân
hoa khai liễu phục thu sương
Phù
thế ninh năng đắc cửu trường.
Tranh
tự tiêu dao thiên ngoại thích
Càn
khôn ư thử hữu hà phương.)
Sau
đó, Sư lên Thượng Long nói với thiện hữu rằng: “Nay tuổi
của tôi đã già, năm tháng dài lâu, nay là thời thanh bình
an ổn, tôi muốn cùng Thầy lên núi nhập Niết-bàn.” Thiện
hữu nói: “Đạo quả của huynh nay đã chín muồi xin hãy
về nghỉ ngơi trước, tôi còn ở lại cõi đời để độ
những kẻ có duyên, đến khi đạo quả viên thành, tôi sẽ
cùng theo huynh chẳng muộn.” Chiều hôm ấy, Sư trở về chùa,
cho gọi Tông Diễn đến, nói kệ:
Nước
cốt tuôn ra rửa bụi trần
Sạch
rồi nước lại trở về chân
Cho
ngươi bát nước cam lồ quí
Ân
tưới chan hòa độ vạn dân.
(Thủy
xuất đoan do tẩy thế trần
Trần
thanh thủy phục nhập nguyên chân.
Dữ
quân nhất bát cam lồ thủy,
Sái
tác ân ba độ vạn dân.)
Và
tiếp bài kệ truyền pháp:
Núi
dệt gấm, nước vẽ hình
Suối
ngọc chảy, tuôn rượu đà tô.
Bờ
cúc nở hoa hoàng oanh hót
Nước
trong sóng biếc cá Điệp nhào.
Trăng
sáng rỡ ràng ông chài ngủ
Trời
soi rừng rực kén nằm nhô.
Sơn
chức cẩm thủy họa đồ
Ngọc
tuyền dũng xuất bạch đà tô
Ngạn
thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ
Ba
trung bích thủy điệp quần hô.
Nguyệt
bạch đường đường ngư phủ túy
Nhật
hồng cảnh cảnh kiển bà bô.)
Sư
bảo bốn chúng rằng:
-
Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương nếu bảy ngày không trở
về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm thì ta ở đấy.
Tứ
chúng bùi ngùi mà không dám theo. Đợi đúng bảy ngày không
thấy Sư trở về, tứ chúng cùng nhau kéo lên núi Nhẫm Dương
nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, mọi người tìm đến
một cái hang thấy Sư ngồi kiết già trên tảng đá trong hang.
Thân thể Sư mềm mại, xông ra mùi thơm giống hương trầm
bạch đàn. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên
hiệu Chính Hòa thứ hai mươi, đời vua Lê Hi Tông (1704), Sư
thọ 68 tuổi. Tứ chúng thỉnh nhục thân Sư về hỏa táng
chia linh cốt thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang
núi Nhẫm.
Thiền
Sư TÔNG DIỄN hiệu CHÂN DUNG
(1640
- 1711)-(Đời pháp thứ 37, tông Tào Động)
Thiền
sư Tông Diễn không biết tên tục, quê quán có thể ở thôn
Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Nghe kể rằng: Khi Sư còn bé cha
mất sớm, mẹ tảo tần buôn gánh bán bưng để nuôi con. Khi
Sư được 12 tuổi, một hôm bà mẹ chuẩn bị gánh hàng ra
chợ bán, dặn con: “Mẹ có mua sẵn một giỏ cáy (cua) để
sẵn ở ao, trưa nay con giã cáy nấu canh, trưa về mẹ con mình
dùng.” Bà gánh hàng đi rồi, gần đến giờ nấu cơm, Sư
ra ao xách giỏ cáy lên định đem giã nấu canh như lời mẹ
dặn, song nhìn thấy những con cáy tuôn những hạt bọt ra,
dường như khóc rơi từng giọt nước mắt. Xót thương quá,
Sư không đành đem giã, lại đem đến ao giởû nắp giỏ thả
hết.
Trưa
bà mẹ đi bán về, vừa nhọc nhằn vừa đói bụng, hai mẹ
con lên mâm cơm ngồi ăn, bà không thấy món canh cáy liền
hỏi lý do. Sư thưa: “Con định đem đi giã, thấy chúng nó
khóc, con thương quá đem thả hết.” Bà mẹ nổi trận lôi
đình, không ăn cơm, chạy lấy roi đánh Sư. Sợ quá, Sư chạy
một mạch không dám ngó lại. Bà mẹ đuổi theo không kịp,
mệt lả đi trở về. Ngang đây đứa con trai bà
mất luôn.
Khoảng
hơn ba mươi năm sau, đã thành Hòa thượng Trụ trì, Sư nhớ
đến mẹ liền về quê cũ tìm kiếm. Đến một cái quán bán
nước trà, một bà lão đầu tóc bạc phơ đang châm trà bán
cho khách. Sư vào quán ngồi, chờ bà lão rảnh, hỏi thăm lai
lịch bà lão. Bà thở dài than:
-
Tôi chồng mất sớm, có một đứa con trai mà nó bỏ đi mất
từ khi được mười hai tuổi. Thân già hôm sớm không ai,
tôi phải lập quán bán nước trà, kiếm chút ít tiền sống
lây lất qua ngày.
Sư
hỏi:
-
Bà lão ưng ở chùa không, chúng tôi thỉnh bà về chùa để
nương bóng từ bi trong những ngày già yếu bệnh hoạn.
Bà
nói:
-
Tôi già rồi đâu làm gì nổi mà vào chùa công quả, không
làm mà ăn cơm chùa tội lắm.
Sư
nói:
-
Bà đừng ngại, ở chùa có nhiều việc, người mạnh gánh
nước bửa củi, nấu cơm, người yếu quét sân, nhổ cỏ,
miễn có làm chút ít, còn thì giờ tụng kinh niệm Phật là
tốt.
Bà
lão thấy thầy có lòng tốt bèn nói:
-
Nếu Thầy thương giúp kẻ cô quả này, tôi rất mang
ơn.
Sư
hẹn ít hôm sau sẽ có người đến đón bà về chùa. Về
chùa, Sư họp tăng chúng hỏi ý kiến có thuận cho bà lão
cô quả ấy ở chùa không. Toàn chúng đều động lòng từ
bi đồng ý mời bà lão về chùa. Sư cho cất một am tranh gần
chùa, cho người đi rước bà lão về ở đây. Mỗi hôm, Sư
phân công bà lão quét sân chùa hay nhổ cỏ, tùy sức khỏe
của bà. Sư luôn luôn nhắc nhở Bà tu hành.
Thời
gian sau, bà lão bệnh, Sư cảm biết bà không sống được
bao lâu, song vì có duyên sự phải đi vắng năm bảy hôm. Trước
khi đi, Sư dặn dò trong chúng: “Nếu bà lão có mệnh hệ
gì thì chúng Tăng nên để bà trong áo quan đừng đậy nắp,
đợi tôi về sẽ đậy sau.” Đúng như lời Sư đoán, bốn
năm hôm sau bà tắt thở, Tăng chúng làm đúng như lời Sư
dặn, chỉ để bà trong áo quan mà không đậy nắp. Vài hôm
sau Sư về, nghe bà lão mất còn để trong áo quan. Sư về nhìn
mặt lần chót rồi đậy nắp quan lại. Sư nói to:
-
Như lời Phật dạy: Một người tu hành ngộ đạo cha mẹ
sanh thiên, nếu lời ấy không ngoa xin cho quan tài bay lên hư
không để chứng minh lời Phật.
Sư
liền cầm tích trượng gõ ba cái, quan tài từ từ bay lên
hư không, rồi hạ xuống. Ngang đây mọi người mới biết
bà lão là mẹ của Sư.
Trong
quyển Hồng Phúc Phổ Hệ có những đoạn tán thán công đức
của Sư:
“Diêu
văn Đại Thánh Sư, thần đức nan tuyên giả, chỉ tích mẫu
quan phi, niệm kinh Bảo Liên Hoa, đầu đơn đế nhãn minh, tiến
ngọc quân vương tạ...”
Nghĩa
là: “Xa nghe thầy Đại Thánh, thần đức khó nói hết, gậy
chỉ quan (tài) mẹ bay, tụng kinh Bảo Liên Hoa, nạp đơn vua
mắt sáng, dâng ngọc quân vương tạ (ơn)...”
Sau
này, chỗ quán bán trà của mẹ, Sư lập một ngôi chùa tên
“Mại Trà Lai Tự” ở thôn Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Am
bà ở để tên là “Dưỡng Mẫu Đường” ở phủ Vĩnh
An.
Lại
một đoạn khác cũng tán thán lòng hiếu thảo của Sư có
hai câu:
“Dưỡng
Mẫu Đường linh thế thái vĩnh trường khan, Vọng Mẫu tháp
trí trà lai nhân tịnh đổ.”
Nghĩa
là:
“Dưỡng
Mẫu Đường khiến người đời mãi nhớ,
Vọng
mẫu tháp trí trà lai mọi người thấy.”
*
Sư
trụ trì ở Đông Sơn nghe Thiền sư Thông Giác từ Trung Quốc
đắc đạo trở về ở chùa Vọng Lão trên núi Yên Tử, liền
tìm đến yết kiến. Thiền sư Thông Giác hỏi:
-
Như khi ta đang nghỉ, đợi đến bao giờ có tin tức?
Sư
đáp: - Đúng ngọ thấy bóng tròn, giờ dần mặt trời mọc.
Thông
Giác hỏi: - Bảo nhậm thế nào?
Sư
bạch bằng kệ:
Cần
có muôn duyên có
Ưng
không tất cả không
Có
không hai chẳng lập
Ánh
nhật hiện lên cao.
(Ưng
hữu vạn duyên hữu
Tùy
vô nhất thiết vô
Hữu
vô câu bất lập
Nhật
cảnh bổn đương bô.)
Thông
Giác bước xuống bảo:
-
Tào Động hợp quần thần, tiếp nối dòng của ta, nên cho
ngươi pháp danh Tông Diễn.
Ngài
nói kệ trao pháp:
Tất
cả pháp chẳng sanh
Tất
cả pháp chẳng diệt
Phật
Phật, Tổ Tổ truyền
Uẩn
không sen đầu lưỡi.
(Nhất
thiết pháp bất sanh
Nhất
thiết pháp bất diệt
Phật
Phật, Tổ Tổ truyền
Uẩn
không liên đầu thiệt.)
Từ
đây Sư luôn theo hầu dưới gối, cho đến khi Thiền sư Thông
Giác về trụ trì chùa Hạ Long. Ở chùa Hạ Long, Sư cũng sớm
hôm không rời tả hữu. Ban ngày Sư đi khuyến hóa cúng dường
chúng tăng, ban đêm thì thưa hỏi diệu nghĩa thâm huyền, có
khi suốt đêm ngồi thiền không đặt lưng xuống chiếu. Sư
chịu vất vả nhọc nhằn không tiếc thân mạng. Đến năm
32 tuổi, Sư thọ giới cụ túc. Sau đó, Sư xin phép Thiền
sư Thông Giác đi hành cước tham vấn các nơi.
Năm
niên hiệu Vĩnh Trị (1678) vua Lê Hy Tông ra lệnh cho các quan
khắp nước bất cứ ở đâu Tăng Ni hoặc già hoặc trẻ đều
đuổi hết về rừng núi. Sư biết được tin này rất đau
lòng, tự nghĩ: “Tại sao nhà vua đối với đạo Phật lại
cho là vô dụng? Nếu ở núi rừng, dù thuyết pháp đá phải
gật đầu, giảng kinh được hoa trời rơi loạn, cũng chẳng
có lợi ích gì cho chúng sanh. Nếu không hoằng dương được
chánh pháp thì làm sao đáng đền ơn Phật Tổ! Chỉ riêng
tốt cho mình thì làm sao độ được hàm linh trong bể khổ,
thật uổng công vào cửa Phật, luống trôi qua một đời.”
Sư bèn quyết tâm rời chốn sơn dã về đất thần kinh, mong
cảnh tỉnh nhà vua, cứu vãn Phật pháp trong khi tai nạn. Sư
trở về trình thầy để xin phép đến kinh đô, Thiền sư
Thông Giác hoan hỉ. Sư đi mấy hôm đến chùa Cổ Pháp, xin
phép nghỉ lại trong chùa, vị Trụ trì ở đây tiếp đãi
rất ân cần. Suốt đêm, Sư tọa thiền đến khi nghe tiếng
chuông sáng mới xả thiền, lên điện lễ Phật. Khi lễ, Sư
nhìn lên thấy tượng đức Điều Ngự, Sư liền viết bài
thơ dâng lên như sau:
Trước
là vua sau cũng là vua
Xưa
sao kính mộ nay chẳng ưa?
Có
linh xin nguyện phen này đến
Cửa
khuyết ra vào được tự do.
(
Tiền Quốc vương hề hậu Quốc vương
Tiền
hà kỉnh mộ hậu hà mang
Hữu
linh tương nguyện kim phiên xuất
Ư
cửu trùng môn nhập bất phương.)
Ba
hôm sau, Sư đến kinh đô vào cửa Đông thì trời đã tối,
nghe có tiếng mõ ở gần khám đường, ngỡ đây là nhà Phật
tử, bèn gõ cửa. Chủ nhân mở cửa trông thấy Sư liền thỉnh
vào nhà. Vào nhà, Sư thấy trên bàn thờ Phật hương đèn
trang nghiêm, bèn hỏi:
-
Tượng Phật thờ là từ đâu có ?
Chủ
nhà đáp:
-
Tôi là cai ngục, nhân đào đất được tượng đồng nên
đem về thờ.
Sư
bảo chủ nhà:
-
Tượng Phật quí như thế lẽ nào lại thờ nơi thấp bé thế
này, tôi muốn cùng anh mai ra thành phố quyên tải những nhà
hảo tâm để mua cây gỗ cất một ngôi chùa nhỏ thờ Phật
mới xứng đáng.
Chủ
nhà liền bằng lòng.
Sáng
hôm sau, Sư ra phố phường quyên tiền, gặp quan Đề Lĩnh
bắt đem về dinh chất vấn:
-
Hiện nay lệnh vua truyền khắp nước, tất cả Tăng Ni già
trẻ đều phải vào ở trong rừng núi. Ông là người thế
nào dám bỏ núi rừng về kinh kỳ đi lại tự nhiên như thế
này ? Có phải khinh thường pháp luật của vua không ?
Sư
trả lời:
-
Mệnh lệnh của vua mà có ai dám trái phạm, chỉ vì kẻ tăng
quê mùa này ở trong núi sâu được một viên ngọc quí, mang
đến đây để dâng hiến nhà vua, xin ông đạo đạt lên vua
cho tôi dâng ngọc, dâng xong tôi sẽ trở về núi.
Quan
Đề Lĩnh nghe xong liền vào triều tâu lên vua. Vua sai quan Đề
Lĩnh ra nhận ngọc đem vào vua xem. Đề Lĩnh về thuật lại
Sư nghe.
Sư
nói:
-
Viên ngọc quí rất thiêng liêng vô giá, người ăn cá thịt
hôi tanh không thể cầm giữ được, dám phiền ông trình lên
nhà vua cho tự tay kẻ hèn này dâng lên nhà vua, cho mãn nguyện
của kẻ trung thành ở nơi hoang vắng.
Quan
Đề Lĩnh vào tâu lại, nhà vua không bằng lòng. Sư than: “Mặt
trời tuy sáng tỏ, không khỏi bị mây che. Mặt trăng dù rạng
ngời, khó khỏi đám mây phủ, việc này như thế ta biết
làm sao?” Sư ở đây ba tháng mà không vào được triều đình,
bèn suy nghĩ viết một tờ biểu, nói rõ việc tu hành cách
thức làm yên nhà lợi nước một cách rành mạch rõ ràng.
Thí dụ đạo Phật như là hòn ngọc quí soi sáng mười phương,
phá dẹp mọi mây mờ u tối. Viết xong, Sư để trong cái hộp
đem dán kín cẩn mật, xin cầu quan Đề Lĩnh vào triều tâu
lên Thánh thượng một lần nữa rằng: “Xin nhà vua chọn
lấy một ông quan văn trung trực thanh liêm, tắm gội và trai
giới ba ngày, sẽ ra nhận ngọc quí dâng lên vua.” Vua nghe
xong liền phán cho viện Hàn lâm chọn một người rất tín
cẩn, thành tâm trai giới ba ngày rồi đến chỗ vị tăng quê
nhận lấy hòn ngọc dâng lên vua. Vị quan văn được đề
cử giữ đúng trai giới ba ngày xong, liền đến dinh quan Đề
Lĩnh hỏi vị tăng để nhận ngọc. Sư trao cái hộp, dặn
dò cẩn thận dâng lên tận tay vua. Vị quan văn bưng hộp ngọc
đến trước triều dâng lên vua, khi mở ra xem chỉ là một
tờ biểu, chớ không có hòn ngọc nào. Vua phán vị quan văn
đọc tờ biểu cho vua nghe. Vị quan quì đọc xong, vua nghe qua
thấy lý lẽ rõ ràng, sự tình đy đủ, lời văn sáng suốt,
ý tứ thâm trầm, bèn ra lệnh quan Đề Lĩnh dẫn vị tăng
này vào triều.
Khi
vào triều, vua cho Sư ngồi một bên trước mặt vua. Vua hỏi
những sách lược trị dân, Sư ứng đối sự lý rất dung
thông. Khi ấy, vua phán: “Đạo Phật là viên ngọc quí, chẳng
lẽ trong nước chúng ta không dùng, Tăng Ni hay khuyên người
làm thiện, tại sao lại vất bỏ đi? Người đem Phật pháp
khai hóa dân chúng cũng là phương pháp tốt giúp cho triều
đình trị dân.” Vua liền mời Sư ở lại chùa Báo Thiên
để bàn luận đạo lý. Thượng hoàng nghe tiếng sai Trung sứ
đến nói với vua thỉnh Sư vào cung diễn giảng kinh pháp.
Vua cũng đến dự nghe thấu hiểu đạo lý, liền ban cho Sư
được quyền ra vào nội cung để tuyên dương chánh pháp,
đồng thời ra lệnh thu hồi lệnh trước, để Tăng Ni tự
ý trở về chùa mình ở đâu tùy duyên giáo hóa.
Vua
Lê Hy Tông đã thấm nhuần đạo lý, thành tâm sám hối lỗi
trước của mình, nên tạc hình vua quì mọp để tượng Phật
trên lưng để tỏ lòng thành sám hối. Tượng này hiện còn
thờ ở chùa Hồng Phúc.
Đã
giải được ách nạn của Tăng Ni (Phật pháp) và giáo hóa
được vua chúa trong triều, Sư nghỉ việc xin vua về núi thăm
thầy. Vua bằng lòng liền ban áo gấm cho Hòa thượng ở núi
để an ủy, tặng tiền bạc để Sư làm lộ phí, hẹn thời
gian ngắn gặp lại.
Hôm
ấy, Sư lên đường khi đến bến đò Bồ-đề, thấy nước
sông Nhị trong veo thuyền lớn nhỏ qua lại tự do, liền cảm
hứng làm bài thơ:
Ngàn
tầm sông Nhị đục rồi trong
Qua
lại thuyền bè rất thong dong
Mừng
gặp Bồ-đề đồng đến bến
Toại
lòng ta nguyện độ quần sanh.
(Thiên
tầm Nhị thủy trọc hoàn thanh
Phao
quá đông tây vãng phục hành
Hỉ
đáo Bồ-đề đồng đáo ngạn
Toại
dư xuất thế độ quần sanh.)
Sau
đó, về đến Đông Triều, rồi tới Hạ Long, Sư lên điện
lễ Phật, vào phương trượng lễ thầy, mọi người gặp
lại trong niềm hoan hỉ. Ở lại thời gian, Sư từ giã trở
lại kinh đô. Về đến kinh vua chúa đều mừng rỡ. Vua ban
cho Sư chức Ngự Tiền Chi Quân (ngồi ở trước vua) và
áo gấm. Sư từ chối chức tước, chỉ nhận áo gấm cho vui
lòng vua. Sư tổ chức khắc bản in kinh Hoa Nghiêm để ở chùa
Báo Thiên, khắc bản kinh Pháp Hoa in để ở chùa Khán Sơn.
Bấy giờ bà Quốc nhũ (mẹ vú của vua) quê ở Hòe Nhai mời
cậu vua phát tâm cúng dường cho Sư tu sửa chùa Hồng Phúc.
Sư nhận lời khởi công xây dựng không bao lâu thì được
hoàn thành. Làm chùa xong còn dư tiền, Sư sáng lập chùa Cầu
Đông, xong xuôi Sư xin vua cho người cai ngục lúc trước làm
tăng gìn giữ chùa Cầu Đông.
Sau
Sư trụ trì ở chùa Hồng Phúc, thường tới lui giảng đạo
cho vua chúa nghe. Ngày tháng trôi qua, Sư thấy tuổi già sắp
đến ngày viên tịch, bèn gọi đệ tử là Thiền sư Tĩnh
Giác hiệu Hạnh Nhất đến dạy: “Gió từ thổi mạnh cuốn
sạch mây mù, vầng mặt trời trí tuệ sáng ngời, gió lành
thổi mát trong triều ngoài nội, nhưng không hề trụ trước,
vì không cũng hoàn không. Trước sau như một cho ngươi hiểu
rõ ba điểm hiển mật, cho ngươi giữ lấy trung đạo, ra đời
độ người nay cũng như xưa, trời Tây, cõi Đông đạo vốn
như nhau.” Dặn dò xong Sư nói kệ:
Xuân
đến hoa chớm nở
Thu
về lá vàng rơi
Đầu
cành sương lóng lánh
Cánh
hoa tuyết rạng ngời.
Buổi
sáng trời trong rồng bày vảy
Ngày
trưa mây sáng voi hiện hình
Vằn
cọp tuy thấy một
Bầy
phụng thể toàn đồng.
Đạt-ma
Tây sang truyền pháp gì?
Cành
lau qua biển nổi phau phau.
(Hoa
khai xuân phương đáo
Diệp
lạc tiện tri thu
Chi
đầu sương oánh ngọc
Ngạc
thượng tuyết liên châu.
Thanh
thần vân tán sản long giáp
Bạch
nhật hà quang lỏa tượng khu
Báo
văn tuy kiến nhất
Phụng
chúng thể toàn câu.
Đạt-ma
Tây lai truyền hà pháp ?
Lô
hoa thiệp hải thủy phù phù.)
Truyền
pháp xong, Sư bảo: “Báo thân của ta đến đây đã hết.”
Nói rồi, Sư ngồi trên giường thiền yên lặng thị tịch.
Bấy giờ là ngày 16 tháng 7 năm Tân Sửu nhằm niên hiệu Vĩnh
Thịnh thứ năm (1711) triều Lê Dụ Tông, Sư thọ 72 tuổi.
Đệ tử làm lễ hỏa táng xong, thu xá-lợi xây tháp ở Đông
Sơn để thờ.
Thiền
Sư THANH NGUYÊN
(Đời
thứ 41, tông Tào Động)
Thiền
sư Thanh Nguyên hiệu Minh Nam, là người viết bài tựa cho sách
Pháp Hoa Đề Cương của Thanh Đàm. Hai vị có lẽ cùng một
bổn sư và một môn phái. Sau đây là bài kệ của Sư tán
dương sách Pháp Hoa Đề Cương:
Hồ
xanh trong biếc nảy sen thơm
Kinh
mục nêu bày nghĩa đại cương
Minh
Chánh nhất thừa đà quảng bá
Đạo
trung tâm yếu lại hoằng dương.
Quần
phương tỏ ngộ tâm viên tịnh
Đại
chúng đồng tham lý vĩnh trường
Thanh
tịnh sen kia ngời pháp giới
Tự
tính Tỳ-lô khéo xiển dương.
(
Bích thanh đàm xuất diệu liên hương
Hoa
mục chi tiêu tổng pháp cương
Minh
Chánh nhất thừa khai tố quảng
Đạo
trung tâm yếu thị hoằng dương.
Quần
phương hội ngộ viên tâm tịnh
Chúng
đẳng đế quan nhập lý trường
Thanh
tịnh liên hoa quang pháp giới
Tỳ-lư
tính hải diễn chân thường.)
Bài
tựa sách Pháp Hoa Đề Cương được viết vào tháng tám âm
lịch năm 1820. Hai chữ Minh Chánh trong bài thơ là pháp hiệu
của Thanh Đàm.
Thiền
Sư THANH ĐÀM hiệu MINH CHÁNH
(Đời
pháp thứ 42, tông Tào Động)
Thiền
sư Thanh Đàm hiệu Minh Chánh là Trụ trì chùa Bích Động ở
làng Đam Khê, phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình. Người khai sơn
chùa Bích Động là hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể đến
đây năm 1700. Thiền sư Minh Chánh là vị Trụ trì sau này.
Sư là đệ tử Thiền sư Đạo Nguyên lúc bấy giờ đang trụ
trì thiền viện Nguyệt Quang, một tổ đình của môn phái
Chân Nguyên. Sư xuất gia năm 1807, thọ giới cụ túc năm 1810.
Khoảng này có lẽ Sư hai mươi hoặc trên hai mươi tuổi.
Sau
khi xuất gia, một hôm Sư hỏi Thiền sư Đạo Nguyên:
-
Tâm không phải ở trong thân, cũng không phải ở ngoài thân,
cũng không phải ở chặng giữa, vậy rốt cuộc tâm ở chỗ
nào ?
Đạo
Nguyên cười xoa đầu Sư và nói bài kệ:
Theo
thời ứng dụng,
Gặp
vật thấy cơ,
Tánh
vốn như như,
Nào
ngại trong ngoài.
(
Tùy thời ứng dụng,
Ngộ
vật kiến cơ,
Tánh
bản như như,
Hà
quan nội ngoại.)
Ngày
thọ giới cụ túc, Sư cũng được Đạo Nguyên cho một bài
kệ:
Quang
phóng giữa mày không phải Phật,
Dưới
chân mây trắng chẳng là Tiên.
Bảo
ông nuôi dưỡng trâu cường tráng,
Hôm
sớm cày sâu mảnh ruộng nhà.
(
Quang phóng mi gian vô đạo Phật,
Vân
sinh túc hạ vị ngôn tiên.
Nhiêu
quân bảo dưỡng ngưu nhi tráng,
Triêu
tịch thục canh bỉ thốn điền.)
Đến
năm 1819, Sư sáng tác sách Pháp Hoa Đề Cương tại viện Liêm
Khê. Trong đây, Sư có đặt ra một số câu hỏi để giải
thích về Diệu tâm như:
Hỏi:
Tại sao không chỉ thẳng cái thứ nhất là Diệu Tâm xưa nay,
mà lại chỉ cái thứ hai là căn tánh để làm phương
tiện tu hành ?
Đáp:
Tâm vốn vô hình, làm sao mà chỉ ? Trước kia tôi đã nói
một lần rồi, ngôn thuyết và biểu thị, không nắm được
tâm. Tuy vậy, dù tâm vô hình, nhưng sự ứng dụng của tâm
lại có vết tích, vì có vết tích nên có thể chỉ bày khiến
cho người tu học có thể nhìn vết tích của sự ứng dụng,
do ánh sáng ấy mà về được tâm.
Hỏi:
Dấu vết ấy ở đâu ?
Đáp:
Ở trên đối tượng lục trần. Do sắc mà có cái thấy,
do thanh mà có cái nghe, lục trần là dấu vết ứng dụng của
lục căn. Nay muốn nắm được dấu vết của căn thì phải
quan sát cái thấy cái nghe nơi đối tượng sắc thanh. Nên
biết rằng công dụng của căn là công dụng của tâm, căn
nhận biết là tâm nhận biết; cái khác nhau là căn có tới
sáu công dụng, mà tâm chỉ có một bản thể tinh minh. Chư
Phật truyền nhau là căn pháp này, các vị Tổ truyền nhau
là tâm tông ấy. Đó là bí quyết mà các kinh điển chỉ bày
để được căn bản trí. Pháp ấn truyền trao qua lại các
thời đại cũng lấy cái ấy để phát giác sơ tâm. Chứng
ngộ mau hay chậm là vì căn cơ rộng hay hẹp...
Hỏi:
Tâm ấn làm sao mà truyền ?
Đáp:
Đức Thế Tôn đưa lên một cành hoa, Ca-diếp mỉm cười,
sau đó các Tổ truyền lại, gìn giữ, trường hợp khác nhau,
chỉ có người giác ngộ mới tự biết.
Hỏi:
Tu làm sao ?
Đáp:
Thôi! Thôi! Đó là phương pháp, Thiền sư Đạo Xuyên nói:
Tri
âm, tự khắc tùng theo gió,
Trăng
trong gió mát đất trời nhàn.
Lại
nói:
Nắm
được ở tâm,
Ứng
được nơi tay
Tuyết
gió hoa trăng
Trời
đất lâu dài.
Cứ
hễ canh năm gà gáy sáng,
Xuân
về hoa núi nở ngàn nơi.
Hỏi:
Mục đích tối hậu là gì ?
Đáp:
Hòa thượng Phổ Hóa nói: “Tìm chỗ đi tới không được...”
Thôi xin chào, xin chào! Có bài kệ về pháp như sau:
Vạn
pháp tuy nhiều không đếm xiết
Chung
qui cũng chỉ thức căn trần.
Huyễn
duyên dư ảnh dù không thực
Chân
tri chánh kiến vẫn bao dung.
Gặp
thầy chỉ dạy đường mê ngộ
Thấy
Phật tìm ra lẽ sắc không
Nếu
muốn lên mau bờ bến giác,
Con
đường trước mặt chớ lần khân.
Năm
1843, Sư sáng tác sách Tâm Kinh Trực Giải. Sư có niêm tụng
đề tài Thuần Đà như sau:
Niệâm:
Hay
lắm, Thuần Đà !
Hay
lắm, Thuần Đà !
Tụng:
Không
nói ngắn chẳng nói dài,
Ngắn
dài, tốt xấu thảy đều sai.
Tìm
hay, lại hóa người chê vụng,
Bắn
sẻ ai dè sói chực ngay.
Công
danh cái thế màn sương sớm,
Phú
quí kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng
hiểu bản lai vô nhất vật,
Công
lao uổng phí một đời ai.
Bài
thơ ngộ nghĩnh nhất của Sư là bài thơ Tìm Tâm, có âm hưởng
tiếng trống đánh:
Ngang
lưng đeo trống đối tri âm,
Duỗi
thẳng hai tay, đánh trống tâm.
Tập
tập tìm tâm, tâm tất tập,
Tìm
tâm, tâm tập, tập tìm tâm.
*
Âm
thanh hợp vận, âm trùng họa,
Tịch
chiếu tâm tông, tức tập tâm.
Trăng
sáng, gió thanh thường tự tại,
Tìm
tâm chẳng được, nghỉ tìm tâm.
*
Thôi
nhé, tâm ta chẳng thể tầm,
Tìm
tâm dẫu được, chẳng chân tâm.
Mang
đèn xin lửa thêm điên đảo,
Thà
đứng bên song hát khúc ngâm.
(
Kiên kình yêu cổ đối tri âm,
Thư
thủ vô vi phách cổ tâm.
Tập
tập tầm tâm tâm tắc tập,
Tầm
tâm tâm tập, tập tầm tâm.
*
Cổ
thanh hợp vận tùng thanh họa,
Tịch
chiếu tâm tông tức tập tầm.
Minh
nguyệt thanh phong trường tự tại,
Tầm
tâm bất đắc, tức tầm tâm.
*
Chỉ
chỉ ! ngộ tâm bất khả tầm,
Tầm
tâm túng đắc tắc phi tâm.
Tương
đăng cầu hỏa tư điên đảo,
Bất
nhược song tiền thủ nhất ngâm.)
Sư
cũng thuộc về phái Trúc Lâm. Không biết Sư tịch ở đâu
và vào lúc nào.