Thiền
Sư HUYỀN QUANG
(1254
- 1334)-(Tổ thứ 3, phái Trúc Lâm)
Sư
tên Lý Đạo Tái, sanh năm Giáp Dần (1254) ở làng Vạn Tải
thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu,
nhưng đến đời ông thì không thích công danh, chỉ ưa ngao
du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành, mà ông không
nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức.
Nhà
Sư ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm Sư sanh, một hôm thầy
trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Huệ Nghĩa, tối tụng
kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên ghế trường kỷ,
chợt ngủ quên mộng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng,
chư Phật tụ hội đông vầy, Kim Cang Long Thần chật nứt,
Phật chỉ tôn giả A-nan bảo: “Ngươi thác sanh làm pháp khí
cõi Đông.” Chợt có ông đạo gõ cửa, Ông chợt tỉnh giấc,
làm bài kệ viết trong vách chùa:
Người
mà vì đạo chớ tìm đâu
Phật
vốn tâm mình, tâm Phật sâu
Mộng
thấy điềm lành là ảnh hưởng
Đời
này ắt gặp bạn tâm đầu.
(Nhân
chi vị đạo khởi tha tầm
Tâm
tức Phật hề Phật tức tâm
Tuệ
địch kiết tường vi ảnh hưởng
Thử
sanh tất kiến hảo tri âm.)
Thuở
nhỏ Sư dung nhan kỳ lạ, ý chí xa vời, cha mẹ mến yêu dạy
các học thuật. Sư học một biết mười, biện tài hiển
Thánh. Niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274), đời vua Trần Thánh
Tông, Sư thi đỗ Tiến sĩ (Trạng nguyên), lúc ấy được 21
tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho Sư, nhưng chưa cưới. Sau
khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, Sư vẫn từ chối.
Sư
được bổ làm quan ở Hàn lâm viện và phụng mạng tiếp
đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của Sư vượt hơn
sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục.
Một
hôm, Sư theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng
Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, Sư chợt tỉnh ngộ
duyên trước, khen ngợi quí mến, tự than: “Làm quan được
lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên
nhân gian là bậc tiên, cảnh giới Tây thiên là cõi Phật.
Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ,
đâu nên mến luyến ?”
Sư
mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính
nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho. Đến
niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Sư xuất gia thọ giới
tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được
pháp hiệu là Huyền Quang.
Niên
hiệu Hưng Long thứ mười bảy (1309), Sư theo hầu Pháp Loa
y theo lời phó chúc của Điều Ngự. Năm Đại Khánh thứ 4
(1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm
kệ. Sư vâng lệnh trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử.
Do Sư đa văn bác học, tinh thâm đạo lý, nên học đồ bốn
phương nghe danh tụ hội về tham vấn thường xuyên không dưới
ngàn người.
Sư
thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển
Chư Phẩm Kinh, Công Văn v.v... Những khoa giáo trong nhà thiền
mỗi mỗi đều phải qua tay Sư cả.
Ngày
rằm tháng giêng năm Quí Sửu (1313) vua Anh Tông mời về kinh
ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, Sư dâng chiếu
xin về quê thăm viếng cha mẹ. Nhân đây, lập ngôi chùa phía
tây nhà Sư để hiệu là chùa Đại Bi.
Sư
trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã 60 tuổi. Nhà vua muốn thử
lòng Sư nên cho Thị Bích là một cung nhân tìm cách gần Sư
để lấy bằng chứng đem về dâng vua. Thị Bích dùng man kế
gợi lòng từ bi của Sư, rồi về tâu dối với vua. Vì thế,
Sư bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của
Sư, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không
còn nghi ngờ. Vua liền phạt Thị Bích làm kẻ nô bộc quét
chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện.(Một thiền sư ngộ
đạo, đã 60 tuổi mà nghi ngờ về tình dục là điều
không bao giờ có. Song vì thấy trong sử chép, buộc lòng chúng
tôi phải tóm lược nêu ra.)
Sau,
Sư trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo
hóa đồ chúng. Đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334)
Sư viên tịch tại Côn Sơn, thọ 80 tuổi.
Vua
Trần Minh Tông phong thụy là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại,
đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.
Những
tác phẩm của Sư:
-
Ngọc Tiên Tập
-
Chư Phẩm Kinh
-
Công Văn Tập
-
Phổ Tuệ Ngữ Lục.
*
*
*
PHỤ
BẢN
1.
CÚC HOA
Vong
thân vong thế dĩ đô vong
Tọa
cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế
vãn sơn trung vô lịch nhật
Cúc
hoa khai xứ tức trùng dương.
Dịch:
HOA CÚC
Bẵng
quên thân thế chẳng hề vương
Lặng
lẽ ngồi lâu lạnh thấu giường
Năm
hết trong non không sẵn lịch
Nhìn
xem cúc nở biết trùng dương (Ngày 9 tháng 9 âm lịch gọi
là tiết trùng dương)
2.
SƠN VŨ
Thu
phong ngọ dạ phất thiềm nha
Sơn
vũ tiêu nhiên chẩm lục la
Dĩ
thị thành thiền tâm nhất phiến
Cung
thanh tức tức vị thùy đa.
Dịch:
CHÙA NÚI
Gió
thu đêm vắng thổi hiên ngoài
Chùa
núi im lìm gối cỏ may
Đã
được thành thiền tâm một khối
Rè
rè tiếng dế gọi kêu ai ?
3.
THẠCH THẤT
Bán
gian thạch thất hòa vân trụ
Nhất
lĩnh thuế y kinh tuế hàn
Tăng
tại thiền sàng kinh tại án
Lô
tàn cốt đốt nhật tam can.
Dịch:
THẤT ĐÁ
Nửa
gian nhà đá lẫn trong mây
Một
mảnh áo lông trải tháng ngày
Tăng
ở trên giường, kinh tại án
Lò
hương tàn lụn, mặt trời lên.
4.
TẶNG SĨ ĐỒ TỬ ĐỆ
Phú
quí phù vân trì vị đáo
Quang
âm lưu thủy cấp tương thôi
Hà
như tiểu ẩn lâm tuyền hạ
Nhất
tháp tùng phong, trà nhất bôi.
Dịch:
TẶËNG CON EM LÀM QUAN
Giàu
sang mây nổi đến dần dà
Ngày
tháng trôi nhanh chẳng đợi mà
Chi
bằng tiểu ẩn nơi rừng suối (Tiểu ẩn là ở nơi rừng
núi, trung ẩn là làm quan nhỏ, đại ẩn là ở triều đình.)
Một
giường gió mát, một chung trà.
5.
AN TỬ SƠN CƯ AM
Am
bức thanh tiêu lãnh
Môn
khai vân thượng tầng
Dĩ
can Long Động nhật
Do
xích Hổ Khê băng.
Bảo
chuyết vô dư sách
Phù
suy hữu sấu đằng
Trúc
Lâm đa túc điểu
Quá
bán bạn nhàn tăng.
Dịch:
Ở AM YÊN TỬ
Cao
ngất am lạnh lẽo
Cửa
mở tận từng mây
Mặt
trời soi Long Động
Tuyết
dầy che Hổ Khê
Vụng
về không mưu lược
Nương
gậy đỡ thân gầy
Trúc
Lâm nhiều chim ngủ
Quá
nửa bạn với thầy.
6.
NHÂN SỰ ĐỀ CỨU LAN TỰ
Đức
bạc thường tàm kế Tổ đăng
Không
giao Hàn Thập khởi oan tăng.
Tranh
như trục bạn qui sơn khứ,
Điệp
chướng trùng sơn vạn vạn tằng.
Dịch:
NHÂN VIỆC ĐỀ CHÙA CỨU LAN
Đức
mỏng thẹn mình nối Tổ đăng
Luống
cho Hàn, Thập dấy hờn căm.
Chi
bằng theo bạn về non quách
Núi
chất chập chùng muôn vạn tầng.
*
*
*
7.
XUÂN NHẬT TỨC SỰ
Nhị
bát giai nhân thích tú trì,
Tử
kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả
liên vô hạn thương xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thì.
Dịch:
TỨC CẢNH NGÀY XUÂN
Thêu
gấm thưa tay dáng mỹ nhân
Líu
lo oanh hót, khóm hoa gần.
Đáng
thương vô hạn, thương xuân ý
Chỉ
tại dừng kim, chẳng mở lời.
LỜI
NGƯỜI SOẠN: Bài thơ này khiến nhiều học giả hiểu lầm:
Tác giả là một thiền sư, lại là Tổ thứ ba của Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử mà còn tình cảm dồi dào ướt át như
thế, thì làm sao được giải thoát? Song, nhận xét như vậy
là một hiểu lầm đáng tiếc. Bởi vì tác giả tả cảnh
xuân, nên mượn hình ảnh người con gái đẹp, hoa nở, chim
hót để làm nổi bật ngày xuân. Nhưng đến kết thúc, tác
giả nói lên lòng thương vô hạn của mình, chính là khi “dừng
kim, không nói”. Đâu không phải câu “ngôn ngữ đạo đoạn,
tâm hành xứ diệt”. Bặt đường ngôn ngữ, dứt lối tâm
hành - đây là chỗ kết quả của người tu thiền. Người
tu đến đây mới giải thoát đường sanh tử, mà không thương
tha thiết sao được? Chỗ này chính là mùa xuân bất tận
của người tu.
*
*
*
Sư
còn làm phú chữ nôm, như bài Vịnh Vân Yên Tử phú:
Buông
niềm trần tục;
Náu
tới Vân Yên.
Chim
thụy dõi tiếng ca chim thụy.
Gió
tiên đưa đôi bước thần tiên.
Bầu
đủng đỉnh giang hòa thế giới;
Hài
thong thả dạo khắp sơn xuyên.
Đất
phúc địa nhận xem luống kể,
Kể
bao nhiêu dư trăm phúc địa;
Trời
Thiền thiên thập thu thửa lạ,
Lạ
hơn ba mươi sáu Thiền thiên.
Thấy
đây:
Đất
tựa vàng liền;
Cảnh
bằng ngọc đúc.
Mây
năm thức che phủ đền Nghiêu;
Núi
nghìn tầng quanh co đường Thục.
La
đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;
Nước
suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.
Cỏ
chiều gió lướt, dợm vui vui;
Non
tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.
Ngàn
cây phơi cánh phượng,
Vườn
thượng uyển đóa tốt rờn rờn;
Hang
nước tưới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.
Nhựa
đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;
Da
điểm đồi mồi, giống hòa vườn trúc.
Gác
vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành,
Đền
ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.
Cảnh
tốt và lành;
Đồ
tựa vẽ tranh.
Chỉn
ấy trời thiêng mẽ khéo
Nhèn
chi vua Bụt tu hành.
Hồ
sen trương tán lục;
Suối
trúc bấm đàn tranh.
Ngự
sử mai hai hàng chầu rập;
Trượng
phu tùng mấy chạnh phò quanh.
Phỉ
thúy sắp hai hàng loan phượng;
Tử
vi bày liệt vị công khanh.
Chim
óc bạn cắn hoa nâng cúng;
Vượn
bồng con kề cửa nghe kinh.
Nương
am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mây nhè nhẹ.
Kề
song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vặc vặc, núi xanh
xanh .
Huống
chi,
Vân
thủy bằng lòng;
Yên
hà phải thú.
Vui
thay cảnh khác cảnh hoàng kim;
Trọng
thay đường hơn đường cẩm tú.
Phân
ân ái, am Não am Long;
Dứt
nhân duyên, làng Nường làng Mụ.
Mặc
ca-sa nằm trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy
rương;
Quên
ngọc thực bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một
hũ.
Chặp
tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;
Voi
la đá tính từ chẳng đố.
Xem
phong cảnh hơn cảnh Bà Roi;
Phóng
tay cầu chưng cầu Thằng Ngụ.
Bao
nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;
Chơi
dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.
Ta
nay,
Ngồi
đỉnh Vân Tiêu;
Cỡi
chơi Cánh Diều.
Coi
Đông sơn tựa hòn kim lục;
Xem
Đông hải tựa miệng con ngao.
Nức
đài lan nghĩ hương đan quế;
Nghe
Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.
Quán
thất bảo vẽ bao Bụt hiện;
Áo
lục thù tiếng gió tiên phiêu.
Thầy
tu trước đã lên Phật quả;
Tiểu
tu sau còn vị Tỳ-kheo.
.
. .
Kệ
rằng:
Rũ
không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy
chốn thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya
sớm sáng choang đèn bát-nhã,
Hôm
mai rửa sạch nước ma-ha.
Lòng
thiền vằng vặc trăng soi giại,
Thế
sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc
được tính ta nên Bụt thực,
Ngại
chi non nước cảnh đường xa.
(Huệ Chi)
Quốc
Sư QUÁN VIÊN
(Cuối
thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14)
Sư
hiệu là Quán Viên ở chùa Đông Sơn, giới hạnh thanh bạch,
tuệ giải tròn đầy, mấy mươi năm mà không xuống núi.
Gặp
khi vua Trần Anh Tông (1293-1314) đau mắt đã hơn tháng, chữa
trị không hiệu quả, ngày đêm đau nhức. Bỗng vua nằm mộng
thấy một vị sư lấy tay xoa vào mắt. Vua hỏi sư từ đâu
đến và tên gì? Sư đáp: “Tôi là Quán Viên, đến cứu mắt
vua.” Tỉnh mộng, mắt liền hết đau, qua vài ngày mắt vua
khỏi hẳn. Vua cho người tìm hỏi trong giới tăng sĩ, quả
có người tên Quán Viên ở chùa Đông Sơn. Nhà vua sai người
mời đến, rõ ràng là vị sư đã thấy trong mộng. Vua rất
lấy làm lạ, phong chức Quốc Sư, ban thưởng rất hậu. Sư
đều đem phân phát hết không để lại một đồng nào, vẫn
mặc y vá trở về núi, dường như chẳng quan tâm.
Từ
đó về sau, Sư đi vân du khắp núi sông châu huyện làng mạc,
nếu ở đâu có miếu thờ thần không chính đáng, làm hại
dân, đều bị Sư quở trách đuổi đi, dẹp phá miếu đền.
Còn những thần lớn mạnh mẽ, phần nhiều hiển hiện hay
báo mộng đón tiếp Sư và xin qui y thọ giới, giảm bớt cúng
kiến sinh vật và khiến bảo vệ dân chúng, không ai dám xúc
phạm. Người đời sau vẫn kính trọng Sư.
Không
biết Sư tịch lúc nào, ở đâu và thuộc hệ phái nào.
(Trích
dịch Nam Ông Mộng Lục)
Thiền
Sư ĐỨC MINH
Sư
người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, họ Nguyễn, tên Bình
An, đạo hiệu là Đức Minh. Cha tên Hương, mẹ là Trần Thị
Hoa. Một hôm, mẹ mộng thấy Phật giáng hạ, rồi có mang
sinh ra Sư.
Năm
lên sáu tuổi, cha mẹ mất cả, phải ở nhà bà cô. Cô vốn
nhà làm ruộng, bắt Sư chăn trâu. Sư vẫn còn nhỏ, nhưng
rất mộ đạo Phật, ở túp nhà tranh bên đường, bày bàn
thờ Phật bên tả, thường lấy cơm làm oản cúng. Việc chăn
trâu Sư thường giao cho bọn trẻ khác. Gặp lúc trời đại
hạn, ao đầm khô cạn, Sư thương loài tôm cá bị chết khô,
liền cùng bọn mục đồng ra các ao đầm vớt lấy, đem thả
vào sông Vĩnh Hựu. Bà cô thấy thế giận lắm, trách mắng
Sư cay đắng. Sư cố nhẫn nhục ở, đến năm lên chín tuổi
liền xuất gia, tu tại chùa Đại Bi trong làng. Người làng
đều khen Sư là người có giới hạnh.
Năm
15 tuổi, Sư đi vân du khắp nơi, đến xã Tiên Lữ, huyện
An Sơn, lên núi ngắm cảnh rất thích thú. Núi này có chùa
một gian hai chái, một vị Trưởng lão tu tại đây. Sư yết
kiến Trưởng lão xin theo tu hành. Trưởng lão giảng dạy kinh
kệ, Sư học tinh tấn, không bao lâu hiểu thông mọi pháp linh
thông. Ở chùa Tiên Lữ mười năm, Sư nổi tiếng “đắc
đạo”. Vua Trần nghe tiếng sắc phong là Hòa thượng, cho
hiệu là Đức Minh, rồi mời về ở chùa Trường An.
Sau
khi tin Trưởng lão tịch, Sư về thờ phụng ba năm. Sư về
làng thăm, bà cô giao trả lại những ruộng của cha Sư để
lại trước. Sư cố từ chối không nhận, trở về chùa núi
Tiên Lữ ở tu. Sư xây dựng lại ngôi chùa mới. Thợ làm
hơn trăm người, Sư chỉ để một nồi cơm nhỏ và một ít
muối trên bàn, một lát biến thành cỗ chay la liệt, mọi
người ăn mãi không hết. Lúc chùa đang xây dựng, Sư đi guốc
gỗ qua lại trên cây kèo xem thợ làm, đi lại bình thường
như đi trên đất. Thợ thầy trông thấy đều bái phục thần
thông của Sư.
Sư
tuổi đã 95, một hôm vào ngồi trong am gỗ, gọi chư tăng
đến bảo: “Nay ta đã hết trần duyên sẽ tịch. Các ông
đóng cửa am lại, sau ba tháng mở ra, nếu thấy mùi thơm thì
để thờ, nếu thấy hôi thối thì đem táng ở ngoài đồng.”
Nói xong, Sư liền ngồi yên thị tịch. Sau một trăm ngày,
chư tăng mở cửa am, nghe mùi hương thơm phức, mọi người
liền làm lễ phụng thờ, nhân dân khắp miền chung quanh đều
sùng bái. Xã Bối Khê cũng lập đền thờ phụng, hàng năm
cứ ngày 12 tháng giêng tại các nơi thờ Sư đều có hội
tế lễ, người đến xem hội rất đông. Người đời gọi
Sư là Thánh Bối.
Sau
vua Trần Hậu Đế [Trần Hậu Đế: Giản Định Vương Trần
Ngỗi (1407-1409), Trần Quí Khoáng (1409-1413).] tuổi cao chưa
có con trai, lên chùa Tiên Lữ cầu đảo, sinh được Hoàng
tử, liền tặng phong Sư là “Đại Thánh Khai Sơn Nghĩa Tồn
Bình Đẳng Hành Thiện Đại Bồ-tát”, và xuống chiếu cho
địa phương phải phụng thờ nghiêm khẩn [Phỏng theo tập
“Quảng Nghiêm Tự Thánh Tổ Di Tích”.]
Đến
nay chưa biết Sư tu theo tông phái nào của đạo Phật. Song
chúng tôi đọc thấy một đoạn trong “Thỉnh Thánh Tổ Khoa”
ở chùa Quảng Nghiêm thế này:
“Nhất
tâm phụng thỉnh, thiền lưu diễn phái, Phật Tổ truyền đăng,
đương giác hải chi ba lan, diệu mê đồ chi nhật nguyệt.
Thần thông nhập thánh, tâm tức Phật, Phật tức tâm; phản
chiếu hồi quang, sắc thị không, không thị sắc. Tịch diệt
thường tồn chân tánh, lạc phong trần bất động thủy ba
thanh. Hộ giáng kiết tường, bảo an nhân vật.
Cung
duy, Nam Việt Khai Tiên Lữ Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành Thiện
Bồ-tát.”
Dịch:
Một lòng phụng thỉnh, dòng thiền tràn ngập, Phật Tổ trao
đèn; dậy sóng mòi nơi biển giác, soi nhật nguyệt nơi đường
mê; thần thông nhập thánh, tâm là Phật, Phật là tâm; hồi
quang phản chiếu, sắc là không, không là sắc; chân tánh tịch
diệt thường còn, ưa phong trần chẳng động sóng nước trong;
hộ xuống điềm lành, bảo an nhân vật.
Cúi
mong, Nam Việt Khai Tiên Lữ Sơn Nghĩa Tồn Bình Đẳng Hành
Thiện Bồ-tát.
Ni
Sư TUỆ THÔNG
(Giữa
thế kỷ 14)
Ni
Sư họ Phạm, con gái của một gia đình đời đời làm quan.
Ni Sư xuất gia tu ở am trên núi Thanh Lương. Ni Sư tu khổ hạnh,
trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt, thường
ngồi thiền định, diện mạo giống hệt La-hán. Kẻ đạo
người tục xa gần đều kính mộ, danh tiếng Ni Sư lừng lẫy,
là bậc tông sư của ni chúng cả nước, tên tuổi ngang hàng
với các bậc cao tăng. Vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) ban hiệu
là “Tuệ Thông Đại Sư”.
Về
già, Ni Sư dời về ở Đông Sơn. Một hôm, Sư bảo đệ tử
rằng: “Ta muốn đem thân hư ảo này thí cho hổ lang một
bữa no.” Sư bèn vào giữa núi sâu ngồi kiết già, không
ăn uống hai mươi mốt ngày, hổ lang ngày ngày tới ngồi chung
quanh mà không dám đến gần. Đồ đệ nài nỉ Sư trở về
am. Về am, Sư đóng cửa nhập định qua một mùa hè, rồi
tập hợp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch,
tuổi ngoài tám mươi. Lúc hỏa táng có rất nhiều xá-lợi.
Quan sở tại xây tháp cho Sư ngay trên núi ấy.
Trước
khi tịch Sư dạy đệ tử: “Sau khi ta đi nên chia bớt xương
ta lại đây để mài rửa tật bịnh cho người đời.” Đến
khi nhặt xương, thấy không đành bèn cho hết vào trong hộp
phong lại. Qua đêm, bỗng một chiếc xương cùi tay trên bàn,
bên ngoài hộp, mọi người đều kinh ngạc về sự linh nghiệm
của Sư. Về sau, có người mắc bệnh đến khẩn cầu, đệ
tử đem xương mài với nước cho rửa, mọi người đều lành
bệnh ngay. Sự thệ nguyện của Sư sâu rộng như thế.
Không
biết Sư thuộc hệ phái nào.
(Trích
dịch Nam Ông Mộng Lục)
Thiền
Sư HƯƠNG HẢI
(1628
- 1715)-(Phái Trúc Lâm)
Tổ
tiên Sư quê ở làng Áng Độ, huyện Châu Phúc. Ông Tổ năm
đời của Sư làm quan Quản Chu Tượng coi thợ đóng thuyền
cho triều đình. Ông sanh được hai người con trai, con cả
trông coi Lãng doanh, tước Hùng Quận Công, quản đốc ba trăm
lính thợ. Con thứ làm chức Phó cai quan tước Trung Lộc Hầu,
là ông Tổ bốn đời của Sư. Khoảng niên hiệu Chánh Trị
đời vua Lê Anh Tông (1558-1571), Trung Lộc Hầu theo Đoan quốc
công Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam. Ông được Nguyễn Hoàng
tin dùng nên thăng chức Chánh cai quan, quản lãnh các lính thợ
đóng thuyền. Nguyễn Hoàng lại dâng sớ về triều kể rõ
công trạng, vua Lê phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết
Công Thần, cấp cho ba mươi mẫu ruộng, và con cháu được
thế tập.
*
*
*
Sư
thuở nhỏ đã thông minh tài giỏi, năm 18 tuổi thi đỗ Hương
tiến (Cử nhân) được chọn vào làm Văn chức trong phủ chúa
Nguyễn. Sau lại bổ Sư ra làm Tri phủ phủ Triệu Phong (nay
là tỉnh Quảng Trị). Năm Sư 25 tuổi rất hâm mộ Phật pháp
nên tìm vào học đạo với Thiền sư Viên Cảnh ở Lục Hồ.
Được Thiền sư đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp
tự Minh Châu Hương Hải. Sau, Sư lại tìm đến Thiền sư Đại
Thâm Viên Khoan để tham học.
Hơn
ba năm sau, Sư từ quan xin xuất gia, rồi dong thuyền ra biển
Nam Hải trụ trên ngọn núi Tim Bút La, cất ba gian nhà tranh
ở tu. Ở đây, Sư chuyên tu thiền định và gìn giữ giới
luật tinh nghiêm được hơn tám tháng. Gần đó có biển tên
là Ngọa Long Hải và cù lao Đại Lãnh, hai nơi này ít người
đi đến, là chỗ hang ổ của ma quái. Chúng ma đã nhiều lần
kéo đến làm ngăn trở sự tu hành của Sư, mà tâm Sư vẫn
không lay động.
Một
đêm vào lúc canh hai, những đồ đệ của Sư bỗng trông thấy
một con ma lớn đen sì cao chừng hai trượng (8 th) sồng sộc
chạy vào, một lúc rồi biến đi đâu mất. Đến cuối canh
ba, bỗng có một con rắn lớn bò đến quấn chặt mình Sư,
Sư không cựa động được, cố nhích mình lần tới bàn Phật,
niệm chú thần đao, một lát con rắn ấy biến mất.
Lại
một hôm, đang giữa ban ngày bỗng mây đen kéo đến trước
sân mù mịt, gió cuốn ầm ầm, cây gẫy cát bay, mái nhà bung
tốc. Bỗng nghe tiếng như ngàn muôn con mèo kêu ran lên một
chập. Sư vẫn điềm nhiên không chút sợ hãi.
Lại
một lần, canh vắng đêm khuya, Sư đang ngồi thiền trước
điện Phật, hương đèn sáng choang. Bỗng thấy quân ma vừa
trai vừa gái đứng vây tứ phía, đứa cầm giáo, đứa cầm
mác, đứa dắt trâu, đứa dắt ngựa, đứa dắt voi, nhiều
thứ quái tượng. Sư cảm thấy đau bụng, mắt mờ, không
thấy ánh sáng của đèn. Sư liền lập chí Kim Cương tưởng
lửa tam-muội, quyết đốt cháy thân mình và thiêu cả thế
giới. Một lát chúng ma biến đâu mất, cảnh sắc lại quang
minh như trước.
Sư
cho rằng đất này là ác địa, khó giáo hóa được, bèn trở
về quê cũ là làng Bình An thượng, phủ Thăng Hoa, xứ Quảng
Nam. Một đêm có người Mán lại gõ cửa Sư và thiết tha
mời Sư ra đảo Tim Bút La lại. Hỏi nguyên do, người Mán
thưa: Sư cụ về được bốn ngày, thì cả ba đền ở đảo
Tim Bút La, đền Cao Các Đại Vương, đền Phục Ba Đại Vương
và đền Bô Bô Đại Vương đều phục đồng lên nói rằng:
“Hôm nọ bọn ma tinh tác quái mấy lần để làm não hại
Pháp sư, chúng ta ngồi yên xem thử coi ai thắng ai bại. Chúng
ta thấy Pháp sư biến hình biến tướng chẳng biết ở đâu,
khiến chúng ma tinh phải lui hết. Chúng ta thấy Pháp sư thật
là đạo hạnh kiêm toàn, vì vậy nên báo cho dân làng biết
đi thỉnh Sư về trụ trì ở đây.” Sư lại một phen cùng
đệ tử xuống thuyền trở ra đảo Tim Bút La. Từ đây Sư
ở chuyên tu hơn tám năm mà không có gì chướng ngại. Nhân
dân rất ngưỡng mộ.
Thuần
quận công trấn thủ Quảng Nam có bà vợ đau đã lâu mà không
trị lành, nghe danh tiếng của Sư cho người đến rước. Sư
lập đàn tụng kinh bảy ngày đêm thì bệnh bà lành. Cả nhà
đều kính phục, đồng xin qui y với Sư. Xong việc, Sư trở
lại đảo Tim Bút La.
Hơn
nửa năm sau, quan Tổng thái giám là Hoa Lễ Hầu ở Quảng
Nam mắc bệnh lao đã ba năm, nghe danh Sư cho thuyền ra đón
về trị hộ. Sư về lập đàn Đại sám hối trong vòng mười
ngày bệnh được khỏi. Hoa Lễ Hầu về Thuận Hóa đem việc
đó kể lại cho Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền
1648-1687) nghe. Quốc Công ngưỡng mộ sai sứ ra thỉnh Sư về
doanh phủ. Quốc Công ra cửa đón Sư vào, thăm hỏi và luận
bàn đạo lý rồi lập Thiền Tĩnh Viện ở núi Qui Kính mời
Sư trụ trì.
Sư
ở núi Qui Kính hoằng hóa, bà Quốc Thái phu nhơn cùng ba công
tử là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều xin qui y, quan
dân quân lính đều kính mộ, xin qui y có đến một ngàn ba
trăm người (1300).
Bấy
giờ có quan thị nội giám là Gia quận công người làng Thụy
Bái huyện Gia Định ngoài Bắc, tòng quân vào đánh Thuận
Hóa bị Phúc Tần bắt được, nhưng tha cho để ra vào dạy
nội cung. Gia quận công thường tới lui nghe Sư thuyết pháp.
Có kẻ ganh ghét tâu với chúa Nguyễn là hai người âm mưu
định trốn về Bắc. Chúa Nguyễn sanh nghi, liền bắt Sư và
Gia quận công đem tra tấn, nhưng rốt cuộc không có bằng
chứng gì. Chúa Nguyễn ra lệnh cho Sư về Quảng Nam.
Bởi
lý do ấy, Sư quyết chí trở về Bắc thực sự. Sư ngầm
dự bị một chiếc thuyền cùng năm mươi đồ đệ vượt
biển. Về đến đồn Trấn Lao đến yết kiến quan Đốc Sư
là Yên quận công Trịnh Na. Trịnh Na dâng sớ về triều tâu
cho vua Lê hay. Bấy giờ là tháng ba năm Nhâm Tuất, năm thứ
ba niên hiệu Chính Hòa (1682). Chúa Trịnh (Trịnh Tạc) sai Đường
quận công đem thuyền đón Sư về kinh. Sư đến kinh ở tạm
lại công quán, Chúa Trịnh sai Nội Giám là Nhương quận công
và Bồi Tụng là Lê Hy đến hỏi tra lý lịch, lại đòi người
làng Áng Độ đến nhận thực.
Biết
đúng lẽ thực rồi, Chúa Trịnh cho mời Sư vào triều thăm
hỏi và phong cho chức Vụ Sử, thưởng ba trăm quan tiền, mỗi
năm cấp hai mươi bốn lâu thóc, ba mươi sáu quan tiền, một
tấm vải trắng. Đồ đệ của Sư mỗi người một năm cấp
mười hai lâu thóc, mười hai quan tiền. Chúa sai Sư vẽ địa
đồ của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, Sư vâng lệnh vẽ rất
rõ ràng dâng lên. Chúa khen ngợi thưởng hai ngàn quan tiền.
Tháng
tám năm ấy, Chúa Trịnh sai đưa Sư về ở nhà công quán trấn
Sơn Tây. Ở đây hơn tám tháng, Chúa lại dời Sư về ở trấn
Sơn Nam và ra lệnh quan trấn thủ là Lê Đình Kiên đo ba mẫu
quan thổ cất am cho Sư, lúc này Sư được 56 tuổi.
Sư
về am này lại càng tinh tấn, hằng giữ tâm chánh định,
giới luật tinh nghiêm, sớm hôm không khi nào lười mỏi. Sư
lại chú giải các kinh ra chữ nôm được ba mươi thiên, khắc
bản ấn hành.
Năm
Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa (1700), Sư sang ở chùa Nguyệt
Đường, học trò theo hơn bảy mươi người đều tinh thông
kinh luật. Sư xây dựng lại ngôi chùa Nguyệt Đường rất
rộng rãi và đẹp đẽ. Chính nơi đây, Sư làm hưng thịnh
lại phái Trúc Lâm.
Vua
Lê Dụ Tông vì hiếm hoi con, mời Sư vào nội điện lập đàn
cầu tự, bấy giờ Sư đã 78 tuổi. Lúc vào chầu, vua rất
kính trọng, hỏi Sư rằng:
-
Trẫm nghe Lão sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão sư thuyết
pháp cho trẫm nghe để trẫm được liễu ngộ.
Sư
tâu:
-
Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu bốn câu kệ này:
Hằng
ngày quán lại chính nơi mình
Xét
nét kỹ càng chớ dễ khinh
Trong
mộng tìm chi người tri thức
Mặt
thầy sẽ thấy trên mặt mình.
(Phản
văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm
sát tư duy tử tế khan
Mạc
giáo mộng trung tầm tri thức
Tương
lai diện thượng đổ sư nhan.)
Vua
lại hỏi:- Thế nào là ý của Phật?
Sư
liền đáp:
Nhạn
bay trên không
Bóng
chìm đáy nước
Nhạn
không ý để dấu
Nước
không tâm lưu bóng.
(Nhạn
quá trường không
Ảnh
trầm hàn thủy
Nhạn
vô di tích chi ý
Thủy
vô lưu ảnh chi tâm.)
Vua
khen ngợi:- Lão sư thông suốt thay !
*
*
*
Tháng
sáu năm Giáp Ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh (1714), Sư đã được
87 tuổi, chúa Trịnh Cương (Hi Tổ) nhân đi kinh lý ghé thăm
chùa, phát một ngàn quan tiền để cúng chùa.
Bấy
giờ học trò của Sư đông lắm. Sư sai làm sổ đặt pháp
hiệu, được bảy mươi vị là pháp tử, dự vào hàng đệ
nhất Thượng tọa nhiều lắm. Các pháp tử đặt pháp hiệu
cứ theo thứ tự của những chữ mà Sư đã cho sẵn, như Viên
Thông, Chân Lý v.v... Còn các pháp điệt (cháu trong đạo) thì
đông lắm không thể kể xiết.
Sư
thường đọc lại những câu kệ xưa để dạy đồ chúng
như :
1.
Âm:Sư tử quật trung sư tử
Chiên-đàn
lâm lý chiên-đàn
Nhất
thân hữu lại càn khôn khoát
Vạn
sự vô ưu nhật nguyệt trường.
Dịch
: Sư tử trong hang sư tử
Chiên-đàn
trong rừng chiên-đàn
Một
thân nhờ có trời đất rộng
Muôn
việc không lo ngày tháng dài.
2.
Âm:Long đắc thủy thời thiêm ý khí
Hổ
phùng sơn xứ trưởng uy nanh
Nhân
qui đại quốc phương tri quí
Thủy
đáo Tiêu Tương nhất dạng thanh.
Dịch
: Được nước rồng càng thêm ý khí
Gặp
non cọp mới trổ oai hùng
Người
về đại quốc thành cao quí
Nước
đến Tiêu Tương một sắc trong.
Trên
chỗ Sư ngồi thường yết ba bài tụng này:
1.
Phu tử bất thức tự
Đạt-ma
bất hội thiền
Huyền
diệu vô ngôn ngữ
Thiết
mạc vọng lưu truyền.
Dịch
: Khổng Tử không biết chữ
Đạt-ma
chẳng hội thiền
Huyền
diệu không lời nói
Cốt
đừng dối lưu truyền.
2.
Tầm ngưu tu phỏng tích
Học
đạo quí vô tâm
Tích
tại ngưu hoàn tại
Vô
tâm đạo dị tầm.
Dịch
: Tìm trâu phải noi dấu
Học
đạo quí vô tâm
Dấu
còn trâu nào mất
Vô
tâm đạo dễ tầm.
3.
Sanh tùng hà xứ lai
Tử
tùng hà xứ khứ
Tri
đắc lai khứ xứ
Phương
danh học đạo nhân.
Dịch
: Sanh từ chỗ nào đến?
Chết
sẽ đi nơi nào?
Biết
được chỗ đi đến.
Mới
gọi người học đạo.
Khi
nhàn hạ Sư thường ngâm hai bài kệ này:
1.Âm:
Thành thị du lai ngụ tự triền
Tùy
cơ ứng biến mỗi thời nhiên
Song
chiêu nguyệt đáo thiền sàng mật
Tùng
tiếu phong xuy tĩnh khách miên.
Sắc
ảnh lâu đài minh sắc diệu
Thanh
truyền chung cổ diễn thanh huyền
Nguyên
lai tam giáo đồng nhất thể
Nhậm
vận hà tằng lý hữu thiên.
Dịch
: Dạo qua thành thị nghỉ chùa chiền
Tùy
cơ ứng biến lẽ đương nhiên
Trăng
dòm cửa mở giường kê sát
Gió
thổi thông cười khách ngủ yên.
Lầu
đài rực rỡ mầu đẹp đẽ
Chuông
trống vang rền tiếng diệu huyền.
Ba
giáo nguyên lai cùng một thể
Xoay
vần đâu có lẽ nào thiên.
2.Âm:
Thượng sĩ thường du Bát-nhã lâm
Trần
cư bất nhiễm liễu thiền tâm
Liêm
Khê Trình Thị minh cao thức
Tô
Tử Hàn Văn khế diệu âm.
Vạn
tượng sum la cao dị hiển
Nhất
biều tạo hóa mật nan tầm
Nho
nguyên đãng đãng đăng di khoát
Pháp
hải trùng trùng nhập chuyển thâm.
Dịch
: Thượng sĩ thường chơi cảnh tùng lâm
Phong
trần không vướng hội thiền tâm
Liêm
Khê, Trình Hiệu người thông suốt
Tô
Tử, Hàn Văn hiểu diệu âm.
Muôn
ngàn cảnh vật bày dễ thấy
Tạo
hóa một bầu khó truy tầm
Nguồn
Nho thăm thẳm lên càng rộng
Bể
Thích trùng trùng xuống lại thâm.
Sư
thường thuật lại những diệu ngữ của các đấng cao tăng
để dạy chúng:
- Muốn
cần thấy Phật cứ nhận nơi chúng sanh, chỉ vì chúng sanh
mê không tự biết có Phật, chớ Phật đâu có làm mê chúng
sanh. Ngộ được tự tánh của mình thì chúng sanh là Phật,
mê tự tánh của mình thì Phật là chúng sanh. Giữ được
tự tánh của mình bình đẳng thì chúng sanh là Phật, để
tự tánh mình gian hiểm thì Phật là chúng sanh. Tâm ta sẵn
có Phật, còn tìm Phật nơi nào? Nên kinh nói: “Tâm sanh thì
các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt.” Phàm phu tức
là Phật, phiền não tức là bồ-đề. Niệm trước mê là
phàm phu, niệm sau giác là Phật. Niệm trước chấp cảnh là
phiền não, niệm sau ly cảnh là bồ-đề.
Chân
tâm tự có thể, không phải do ta bịa đặt ra. Nó trong suốt
như hư không, như tấm gương trong sạch tròn sáng. Không thể
lấy cái có cái không, nơi này chốn nọ mà xét tột được
chỗ u huyền của nó. Cũng không thể lấy trí khôn và ngôn
ngữ mà bàn đến chỗ huyền diệu của nó. Chỉ có ai ngộ
được chân tâm thì hiểu ngay ở nơi mình. Ví như muôn thứ
hương thơm, chỉ đốt một lò là hiểu hết mùi thơm. Như
vào bể cả tắm, chỉ cần hớp một hớp nước là biết
hết toàn vị của bể cả.
Chốn
chân thật thâm sâu lặng lẽ, giác ngộ thì bụi trần lắng
sạch tâm thể trong ngần; dứt hết mối manh danh tướng của
ngoại cảnh, sạch hết những năng sở ở trong tâm. Bởi ban
đầu bất giác, bỗng khởi ra vọng động, chiếu soi lại
tự tâm, theo cái chiếu soi ấy mà sanh ra tâm trần. Như gương
hiện hình tượng, thoắùt có thân căn. Từ đó, chân tâm
bị dời đổi, căn tánh bị sai lạc, chấp vào tướng đuổi
theo danh, chứa mãi những vọng trần ứ đọng, kết mãi những
sóng thức liên miên. Đem túm bọc chân giác vào giấc mê đêm,
đắm chìm mê muội trong tam giới. Làm mù lòa con mắt trí
ở trong ngõ tối, khúm núm cúi lòn trong chín loài. Ở trên
cõi chẳng đổi dời, bỗng dưng luống chịu kiếp luân hồi.
Trong pháp vô thoát, mà tự chuốc sự trói buộc nơi thân.
Như con tằm mùa xuân làm kén tự giam mình, con thiêu thân mùa
thu tự nhào vô đèn thiêu xác. Đem những sợi dây mê mờ
buộc lấy nghiệp căn khổ sở, dùng đôi cánh của lòng tham
mù quáng toan dập tắt vòng lửa tử sanh.
Lại
có những kẻ tà căn ngoại nhập, cùng những kẻ tiểu khí
mưu mô. Chúng không hiểu rõ nguồn bệnh của sanh tử, không
biết gốc chung của ngã nhân (ta người). Chỉ muốn tránh
chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng,
tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết.
Làm như thế, tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lý không, nhưng
không biết đó cũng là cái lối làm chôn vùi chân tính lấp
mất chân giác. Thế chẳng khác nào kẻ thấy ngọn đèn có
những tia sáng xanh đỏ, muốn không thấy những tia ấy bèn
đi tắt ngọn đèn; kẻ trông thấy bóng theo dõi mình dưới
bóng mặt trời, bèn chạy ra ngoài trời cho tránh khỏi bóng.
Như thế, chỉ lao nhọc tinh thần, tốn hao sức lực. Chẳng
khác gì gánh nước đổ vào đống băng, vác củi vất vào
đám lửa đang cháy. Có biết đâu những tia sáng trong ngọn
đèn kia là do mắt bệnh, bóng đuổi theo mình vốn ở thân
mình. Nếu chữa khỏi bệnh lòa ở mắt thì những tia sáng
tự mất, diệt thân huyễn chất này thì bóng nọ không còn.
Nếu
biết quay ánh sáng soi lại nơi mình bỏ ngoại cảnh mà xem
ở tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan,
pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt. Ta phải lấy
lưỡi dao khôn ngoan của tâm tự giác cắt đứt những mối
dây triền phược trong lòng để biến nó thành tâm châu. Phải
dùng mũi giáo tuệ của chân như chặt tan những lớp bụi
trần kết thành kiến võng(Kiến võng: Trần cảnh làm mờ
mắt chúng ta chẳng khác nào lưới che mắt.). Ấy chính là
cái tông chỉ cùng tâm, cái chân truyền đạt lý đó vậy.
*
*
*
Sư
lại nói:
-
Vọng thân tới gương soi bóng, bóng với vọng thân giống
nhau. Chỉ muốn để thân bỏ bóng, thì thân có thực đâu
nào ! Thân vốn không khác gì bóng, một không, một có được
sao ? Nếu muốn lấy một, bỏ một, hằng cùng chân lý cách
xa. Lại mến Thánh ghét phàm, nổi chìm trong biển sanh tử.
Phiền não nhân tâm nên có, tâm không phiền não ở đâu
? Chẳng nhọc phân biệt lấy tướng, tự nhiên được đạo
chóng mau.
Ba
đời chư Phật đều ở trong thân ta, chỉ vì tập khí làm
mờ ám, ngoại cảnh làm ngăn trở, khiến ta tự mê đi. Nếu
trong lòng ta được vô tâm là Phật quá khứ. Trong lặng lẽ
mà khởi tác dụng là Phật vị lai. Tùy cơ ứng vật là Phật
hiện tại. Ta thanh tịnh không nhiễm ô lục trần là Phật
Ly Cấu. Ta ra vào không gì làm trở ngại là Phật Thần Thông.
Đến đâu cũng an vui là Phật Tự Tại. Một tâm trong sáng
là Phật Quang Minh. Tâm đạo bền chắc là Phật Bất Hoại.
Ta biến hóa vô cùng chỉ do một chân tánh mà thôi.
*
*
*
Chí
đạo gốc ở tâm pháp, tâm pháp gốc ở vô trụ. Cái bản
thể của tâm và chân tướng của tánh, vốn lặng lẽ chẳng
phải có, chẳng phải không; không có sanh cũng không có diệt.
Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó vẫn chẳng rời. Nếu ta
mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng,
nếu ngộ được chân tánh của nó thì tinh thông sáng suốt.
Tuy tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người
chứng mới biết.
Song
còn chấp có chứng, có biết thì mặt trời trí tuệ rơi vào
đất có. Nếu tâm mờ mịt không chiếu không sáng thì đám
mây hôn trầm đã che lấp cửa không. Chỉ có tâm không sanh
một niệm thì không còn ngăn cách trước sau; chân tánh đứng
riêng thì ta người nào khác. Nhưng mê đối với ngộ, ngộ
trông vào mê, vọng đối với chân, chân nương nơi vọng.
Nếu ta cầu chân mà bỏ vọng, như người chạy trốn bóng
luống nhọc hình. Nếu ta nhận chân chính nơi vọng, như người
vào chỗ mát thì bóng mất. Nếu tâm không vọng chiếu thì
vọng lự tự hết. Từ cái tịch tri mà khởi dụng thì các
thiện hạnh phấn khởi. Thế nên, cái ngộ tịch mà không
tịch, cái chân tri dường như vô tri. Lấy tâm nhất trí không
phân chia tịch và tri, hợp với lẽ huyền diệu dung thông
nhau. Có và không đều không chấp không mắc, phải quấy đều
quên, năng sở cũng dứt. Cái dứt ấy cũng bặt luôn thì hoa
bát-nhã liền nở, mỗi tâm đều thành Phật, không tâm nào
chẳng phải tâm Phật; chốn chốn đều là đạo thì không
chỗ nào chẳng phải cõi Phật.
Thế
nên, chân với vọng, vật với ngã đều do ở một tâm ta,
Phật với chúng sanh cũng đều chung nhau một tâm ấy. Nếu
mê thì người theo sự vật, sự vật thì vô vàn nên người
chẳng giống nhau. Nếu ngộ thì sự vật theo người, người
đem một trí mà dung hòa muôn cảnh. Đến đây thì hết chỗ
nói năng bặt đường tư tưởng, còn gì mà nói nhân trước
quả sau? Tâm thể rỗng lặng, còn gì là người này giống,
kẻ kia khác? Chỉ còn một tâm trong sáng, tăng giảm chan hòa.
Như tấm gương sáng, tuy không có hoa mà bóng hoa hiện, gương
vẫn vô tâm, tuy thấy ảnh tượng chiếu trong gương, mà ảnh
tượng vẫn hằng không vậy.
Sư
cũng thường đọc những bài kệ này dạy chúng:
1.?Âm
:Cô viên khiếu lạc thiên nham nguyệt
Dã
khách ngâm tàn ngũ dạ đăng
Thử
cảnh thử thời thùy hội đắc
Bạch
vân thâm xứ tọa thiền tăng.
Dịch
: Vượn lẻ hú rơi trăng ngàn núi
Khách
quê ngâm lụn ngọn đèn khuya,
Cảnh
ấy người đây ai biết được
Thiền
tăng ngồi lặng núi sâu kìa.
2.
Âm:Nam đài tĩnh tọa nhất lô hương
Chung
nhật ngưng nhiên niệm lự vương
Bất
thị tức tâm trừ vọng tưởng
Chỉ
duyên vô sự khả tư lương.
Dịch
: Đài nam tĩnh tọa một lò hương
Lặng
lẽ suốt ngày niệm lự không
Chẳng
phải dứt tâm trừ vọng tưởng
Chỉ
vì không việc đáng đo lường.
3.Âm:
Khô mộc nham tiền sai lộ đa
Hành
nhân đáo thử tận tha đà
Lộ
loan lập tuyết phi đồng sắc
Minh
nguyệt lô hoa bất tợ tha.
Liễu
liễu liễu thời vô sở thiểu
Huyền
huyền huyền xứ diệc tu đa
Ân
cần vị xướng huyền trung khúc
Không
lý thiềm quang yết đắc ma?
Dịch
: Cây khô trước núi dễ lạc đàng
Người
đi đến đó thảy mơ màng
Tuyết
trong cò trắng đâu đồng sắc
Trăng
sáng hoa lau chẳng giống màu.
Liễu,
liễu, liễu rồi không thiếu sót
Huyền,
huyền, huyền đó cũng thênh thang
Ân
cần hát khúc “huyền trung” ấy
Ánh
sáng trong không bày được sao?
4.Âm:
Nhất dước, dước phiên tứ đại hải
Nhất
quyền, quyền đảo Tu-di sơn
Phật
Tổ vị trung lưu bất trụ
Hựu
xuy ngư địch bạc La loan.
Dịch
: Một nhảy, nhảy khỏi bốn bể cả
Một
đấm, đấm nhào núi Tu-di
Trong
ngôi Phật Tổ mời chẳng ở
Lại
thổi sáo chài thẳng La loan. (La loan: Chỗ biển của quỉ La-sát
ở, nó là loài quỉ dữ nhất mà thế gian đều kinh sợ.)
5.Âm:
Phản vọng qui chân vạn lụy không
Hà
sa phàm thánh bản lai đồng
Mê
lai tận thị nga đầu diệm
Ngộ
khứ phương tri hạc xuất lung.
Phiến
nguyệt ảnh phân thiên giản thủy
Cô
tùng thinh nhậm tứ thời phong
Trực
tu mật khế tâm tâm địa
Thủy
ngộ bình sanh thùy mộng trung.
Dịch
: Bỏ vọng về chân muôn lụy không
Thánh
phàm ức triệu xưa nay đồng
Mê
đi cả thảy ngài vào lửa(Ngài: là con thiêu thân)
Ngộ
lại mới hay hạc sổ lồng.
Một
mảnh bóng trăng phân ngàn suối
Thông
côi reo mãi bốn mùa rung
Cần
phải thầm thông tâm địa ấn
Mới
ngộ bình sinh một giấc nồng.
6.Âm:
Tâm pháp song vong du cách vọng
Sắc
không bất nhị thượng dư trần
Bách
điểu bất lai xuân hựu quá
Bất
tri thùy thị trụ am nhân.
Dịch
: Tâm, pháp đều quên còn cách vọng
Sắc,
không như một vẫn thừa trần
Trăm
chim chẳng đến, xuân cứ tiến
Nào
biết là ai người trụ am ?
*
*
*
Đến
năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ mười một (1715) đời
Lê Dụ Tông, sáng ngày 13 tháng 5, Sư tắm rửa xong, mặc áo
ca-sa, ngồi kiết già an nhiên thị tịch, thọ 88 tuổi. Môn
đệ xây ngôi tháp ba tầng thờ Sư. Tông phong của Sư còn
thịnh mãi mấy đời về sau. Chùa Nguyệt Đường là một
thiền lâm lớn nhất trong nước. Sư là người gây âm hưởng
của dòng thiền Trúc Lâm được vang lên trong khoảng mấy
trăm năm chìm lặng.
Tác
phẩm của Sư có:
1) Giải Pháp Hoa Kinh
2) Giải Kim Cương Kinh Lý Nghĩa
3) Giải Sa Di Giới Luật
4) Giải Phật Tổ Tam Kinh 3 quyển
5) Giải A Di Đàø Kinh
6) Giải Vô Lượng Thọ Kinh
7) Giải Địa Tạng Kinh
8) Giải Tâm Kinh Đại Điên
9) Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ
10) Giải Chân Tâm Trực Thuyết
11) Giải Pháp Bảo Đàn Kinh 6 quyển
12) Phổ Khuyến Tu Hành 1 quyển
13) Bảng Điều Nhất Thiên
14) Cơ Duyên Vấn Đáp Tinh Giải
15) Lý Sự Dung Thông
16) Quán Vô Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ
Theo
Dòng Sự Kiện:
Toàn
Tập Minh Châu Hương Hải, Lê Mạnh Thát
Hương
Hải Thiền Sư Ngữ Lục Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ