SƠ
TỔ PHÁI TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG
(1258
- 1308)
Ngài
tên húy là Khâm con trưởng vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh
hoàng thái hậu. Ngài tuy ở vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền
tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái
tử, Ngài cố từ để nhường lại cho em, mà vua cha không
chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho
Ngài tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Sống trong cảnh
vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm Ngài vẫn thích đi tu.
Một
hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào
núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa
sáng, trong người mệt nhọc quá, Ngài bèn vào nằm nghỉ trong
tháp. Vị Sư trụ trì ở đây thấy Ngài tướng mạo khác
thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan
đi tìm thấy, Ngài bất đắc dĩ phải trở về.
Năm
21 tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279). Tuy ở địa vị cửu
trùng, mà Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường
ngày, Ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập. Một
hôm nghỉ trưa, Ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng
lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng. Có người
đứng bên cạnh chỉ Ngài nói: “Biết ông Phật này chăng?
Là đức Phật Biến Chiếu.” Tỉnh giấc, Ngài đem việc đó
tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc.
Ngài
thường ăn chay lạt thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế
lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do. Ngài trình thật với cha.
Thánh Tông khóc bảo : “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một
mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự
nghiệp của Tổ tiên?” Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt.
Con
người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách
vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời).
Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các thiền khách bàn giải về
tâm tông (thiền) tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung,
thâm đắc đến chỗ Thiền tủy. Đối với Thượng Sĩ, Ngài
kính lễ làm thầy.
Những
khi giặc Nguyên sang quấy rối, Ngài phải xếp việc kinh kệ
để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, Ngài
đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất
nước.
Năm
Quí Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông,
lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để
chỉ dạy cho con được sáu năm, Ngài sắp đặt việc xuất
gia.
Đến
tháng mười, năm Kỷ Hợi (1299) Ngài xuất gia vào tu ở núi
Yên Tử. Ở đây, Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà
(khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó
Ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng
tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, Ngài đến chùa
Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng
dạy mấy năm. Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am
Tri Kiến rồi ở đó.
Đến
năm Giáp Thìn (1304), Ngài dạo đi khắp nơi khuyên dân dẹp
bỏ những dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng), và
dạy họ tu hành Thập thiện. Vào mùa đông năm ấy, vua Anh
Tông dâng biểu thỉnh Ngài về đại nội để truyền giới
Bồ-tát tại gia.
Sau
đó, Ngài chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn
để truyền bá Thiền tông.
Mở
đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa.
Vị Thượng thủ bạch chùy v.v... rồi Ngài nói:
-
Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi
đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi
mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi
tòa này, biết nói chuyện gì đây ?
Ngồi
giây lâu, Ngài ngâm:
Thân
như hơi thở ra vào mũi
Đời
giống mây trôi đỉnh núi xa,
Tiếng
quyên từng chập vầng trăng sáng,
Đâu
phải tầm thường qua một xuân.
(Thân
như hô hấp tỹ trung khí,
Thế
tợ phong hành lãnh ngoại vân.
Đỗ
quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất
thị tầm thường không quá xuân.)
Ngài
vỗ bàn một cái, nói:- Không có gì sao ? Ra đây ! Ra đây
!
*
*
*
Có
vị tăng hỏi:- Thế nào là Phật ?
Ngài
đáp:
-
Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
-
Thế nào là Pháp ?
-
Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
-
Thế nào là Tăng ?
-
Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
-
Cứu cánh thế nào?
-
Chữ bát đã bày trao hết sạch
Đâu còn có việc nói cùng ngươi.
(Bát tự đả khai phân phó liễu
Cánh vô dư sự khả trình quân.)
Lại
hỏi:- Thế nào là một việc hướng thượng ?
Ngài
đáp:
-
Đầu gậy khêu nhật nguyệt.
-
Dùng công án cũ làm gì ?
-
Một lần nhắc lại một lần mới.
-
Thế nào là giáo ngoại biệt truyền ?
-
Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.
-
Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào ?
-
Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.
-
Vẫn là nhảy chẳng khỏi.
Ngài
bèn lớn tiếng nạt:
-
Kẻ mù! Thấy cái gì ?
-
Đại tôn đức lừa người làm gì ?
Ngài
liền “hừ, hừ”.
Vị
tăng suy nghĩ.
Ngài
liền đánh. Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi.
Ngài
liền hét. Vị tăng cũng hét.
Ngài
hỏi:
-
Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc
thế nào ? Nói mau ! Nói mau !
Vị
tăng suy nghĩ.
Ngài
lại hét một tiếng, nói:
-
Con chồn hoang quỉ quái! Vừa rồi tinh lanh giờ ở chỗ nào
?
Vị
tăng lễ bái lui ra.
Tăng
hỏi:
-
Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm,
đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông
?
Ngài
đáp:
-
Cũng được sáu thông.
-
Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông ?
-
Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết,
Như Lai đều thấy.
Vị
tăng liền đưa nắm tay lên nói:
-
Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì ?
Ngài
đáp:
-
Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.
-
Xưa tăng hỏi Hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên,
vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” ý chỉ thế nào?
-
Thật giống thuyền chài ra biển.
-
Ý này thế nào ?
-
Ai biết nơi chốn khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy
nghĩ.
*
*
*
Hỏi:-
Thế nào là gia phong Phật quá khứ ?
Đáp:
-
Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc
Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.
-
Thế nào là gia phong Phật hiện tại ?
-
Gia phong sóng bạc mê yến sớm
Tiên uyển đào hồng say gió xuân.
-
Thế nào là gia phong Phật vị lai?
-
Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,
Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.
-
Gia phong Hòa thượng thế nào ?
-
Áo rách che mây, sáng ăn cháo
Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.
Lại
hỏi:- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào ?
Đáp:
-
Tự nở tự tàn theo thời tiết
Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.
-
Khi giết người không nhìn lại thì sao ?
-
Gan dạ cùng mình.
-
Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?
-
Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ
Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.
Một mai chết đọa A-tỳ ngục
Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.
Hỏi:
-
“Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết
Trên cây oanh đậu một cành hoa”, thì thế nào ?
Đáp:-
Lầm!
-
Theo Đại tôn đức thì thế nào ?
-
Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết
Trên cây oanh đậu một cành hoa.
-
Đó là câu nói của tôi.
-
Muốn biết thần tiên lò luyệïn thuốc
Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.
Hỏi:-
Thế nào là Thanh tịnh pháp thân ?
Đáp:
-
Đục vàng rơi trong phân sư tử
Người đen đúa vác bó hương thơm.
-
Học nhân không hiểu ?
-
Chớ học thói hồ đồ trả giá
Cười người chân thật dối lầm nhau.
-
Thế nào là Viên mãn báo thân ?
-
Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió
Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.
Vị
tăng lễ bái.
Ngài
bảo:
-
Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng
Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.
Hỏi:-
Thế nào là Thiên bách ức hóa thân ?
Đáp:
-
Mây dồn sương phủ trời mù mịt
Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.
Tăng
nói:- Đúng thế.
Ngài
bảo:
-
Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh
Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.
Vị
tăng lễ bái lui ra.
*
*
*
Pháp
Loa hỏi:
-
Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói
đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được
?
Ngài
đáp:
-
Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở
Lách cách vành xe một tiếng vang.
Pháp
Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:
-
Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng
Non tây như trước phủ mây chiều.
-
Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào ?
-
Mưa tầm tã.
-
Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào ?
-
Trăng vằng vặc.
-
Cứu cánh thế nào ?
-
Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.
-
Thế nào là bản lai diện mục ?
Ngài
im lặng giây lâu hỏi: - Hiểu chăng ?
-
Chẳng hiểu.
Ngài
liền đánh.
Pháp
Loa hỏi: - Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ
đẹp ?
Ngài
đáp:
-
Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
-
Thế nào là Phật ?
-
Tấm cám ở dưới cối.
-
Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang ?
-
Bánh vẽ.
-
Thế nào là đại ý Phật pháp ?
-
Cùng hầm, đất không khác.
-
Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không”
Triệu Châu nói “không” ý chỉ thế nào ?
-
Chất muối ở trong nước,
Keo xanh ở trong sắc.
-
Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào ?
Ngài
bèn nói kệ:
Hữu
cú vô cú
Bìm
khô cây ngã
Mấy
kẻ nạp tăng
U
đầu sứt trán.
Hữu
cú vô cú
Thể
lộ gió thu
Hằng
hà sa số
Va
dao chạm bén.
Hữu
cú vô cú
Lập
tông lập chỉ
Đập
ngói dùi rùa
Trèo
non lội nước.
Hữu
cú vô cú
Chẳng
có chẳng không
Khắc
thuyền tìm kiếm
Tìm
ngựa cứ hình (bản đồ).
Hữu
cú vô cú
Hồi
hỗ, hay không
Nón
tuyết giày hoa
Ôm
cây đợi thỏ.
Hữu
cú vô cú
Tự
xưa tự nay
Chấp
tay quên trăng
Đất
bằng chết chìm.
Hữu
cú vô cú
Như
thế như thế
Chữ bát mở ra
Sao
không nắm mũi ?
Hữu
cú vô cú
Ngó
tả ngó hữu
Lau
chau mồm mép
Ồn
ào náo động.
Hữu
cú vô cú
Đau
đáu lo sợ
Cắt
đứt sắn bìm
Đó
đây vui thích.
(Hữu
cú vô cú
Đằng
khô thọ đảo
Cơ
cá nạp tăng
Hàng
đầu khái não.
Hữu
cú vô cú
Thể
lộ kim phong
Hằng
hà sa số
Phạm
nhẫn thương phong.
Hữu
cú vô cú
Lập
tông lập chỉ
Đả
ngỏa toản qui
Đăng
sơn thiệp thủy.
Hữu
cú vô cú
Phi
hữu phi vô
Khắc
chu cầu kiếm
Sách
kị án đồ.
Hữu
cú vô cú
Hỗ
bất hồi hỗ
Lạp
tuyết hài hoa
Thủ
chu đãi thố.
Hữu
cú vô cú
Tự
cổ tự kim
Chấp
chỉ vong nguyệt
Bình
địa lục trầm.
Hữu
cú vô cú
Như
thị như thị
Bát
tự đả khai
Toàn
vô ba tỹ.
Hữu
cú vô cú
Cố
tả cố hữu
A
thích thích địa
Náo
quát quát địa.
Hữu
cú vô cú
Đao
đao phạ phạ
Tiệt
đoạn cát đằng
Bỉ
thử khoái hoạt.)
Ngài
bèn bước xuống tòa.
*
*
*
Ngày
mùng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308) Ngài sai Pháp Loa đến
huyện Siêu Loại tại Báo Ân thiền tự khai giảng trụ trì.
Tháng tư năm ấy, Ngài đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang
kiết hạ và sai Pháp Loa khai giảng trụ trì. Chính Ngài giảng
Truyền Đăng Lục, bảo Quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng
kinh Pháp Hoa. Bãi hạ, Ngài vào núi Yên Tử, đuổi hết những
người cư sĩ theo hầu hạ và những kẻ nô dịch trong chùa,
không được chực hầu như trước. Chỉ để lại mười vị
thị giả thường theo Ngài. Ngài lên ở am Tử Tiêu, vì Pháp
Loa giảng Truyền Đăng Lục. Thị giả xuống núi gần hết,
duy có đệ tử thượng túc là Pháp Loa còn ở thôi.
Từ
đây, Ngài leo khắp các núi, tìm kiếm các hang động, ở tại
thạch thất. Pháp Loa thấy thế bạch:
-
Tôn đức tuổi đã già yếu, mà xông pha trong sương tuyết,
lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào
ai ?
Ngài
bảo:
-
Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy.
Ngày
mùng năm tháng mười năm ấy, người nhà của công chúa Thiên
Thụy lên núi bạch Ngài: “Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng
mong được thấy Tôn đức rồi chết.” Ngài bùi ngùi bảo:
“Thời tiết đã đến vậy.” Ngài bèn chống gậy xuống
núi, chỉ cho theo một người thị giả. Ngày mùng mười Ngài
về đến kinh, dặn dò xong, ngày rằm Ngài trở về núi. Ngài
dừng nghỉ ở chùa Siêu Loại. Hôm sau vừa rạng đông, Ngài
đi bộ đến chùa làng Cổ Châu, tự đề bài kệ rằng:
Số
đời một hơi thở
Lòng
người hai biển vàng
Cung
ma dồn quá lắm
Cõi
Phật vui nào hơn.
(Thế
số nhất tức mặc
Thời
tình lưỡng hải ngân
Ma
cung hồn quản thậm
Phật
quốc bất thắng xuân.)
Đến
ngày 17, Ngài dừng nghỉ ở chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn,
Tuyên Từ hoàng thái hậu thỉnh Ngài vào am Bình Dương cúng
trai. Ngài vui vẻ nói: “Đây là bữa cúng dường rốt sau.”
Ngày
18, Ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn An Kỳ Sanh.
Nghe nhức đầu, Ngài gọi hai vị Tỳ-kheo trong chùa bảo:
-
Ta muốn lên ngọn Ngọa Vân mà chân không thể leo nổi, phải
làm sao ?
Hai
vị Tỳ-kheo bạch:- Hai đệ tử có thể giúp được.
Đến
am Ngọa Vân, Ngài tạ hai vị Tỳ-kheo rằng:
-
Xuống núi tu hành đi, chớ xem thường việc sanh tử.
Ngày
19, Ngài sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên
Tử gọi Bảo Sát đến đây gấp.
Ngày
20, Bảo Sát quảy gói sang, đi đến Doanh Tuyền thấy một
vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn và hạ xuống
Doanh Tuyền, nước đầây tràn lên cao mấy trượng, giây lát
lại bình xuống. Lại thấy hai con rồng đầu bằng đầu ngựa
ngóc cao hơn trượng, hai con mắt như sao, chốc lát lại lặn
xuống. Đêm ấy Bảo Sát nghỉ trong quán trọ dưới núi, mộng
thấy điềm chẳng lành.
Ngày
21, Bảo Sát đến am Ngọa Vân. Ngài trông thấy mỉm cười
bảo:
-
Ta sắp đi đây, nhà ngươi đến sao trễ vậy ? Đối với
Phật pháp, ngươi có chỗ nào chưa rõ hãy hỏi mau.
Bảo
Sát hỏi:
-
Như khi Mã Tổ bệnh, Viện chủ hỏi: “Những ngày gần đây
Tôn đức thế nào?” Mã Tổ bảo: “Nhật diện Phật, Nguyệt
diện Phật.” Nói thế ý chỉ làm sao ?
Ngài
lớn tiếng đáp: - Ngũ đế Tam hoàng là vật gì ?
Bảo
Sát lại hỏi:
-
Chỉ như “Hoa sum sê chừ gấm sum sê, tre đất nam chừ cây
đất bắc”, lại là sao ?
Ngài
đáp:- Làm mù mắt ngươi.
Bảo
Sát bèn thôi.
Suốt
mấy hôm trời đất u ám, chim vượn kêu hót rất bi thảm.
Đến
ngày mùng 1 tháng 11, đêm nay trời trong sao sáng, Ngài hỏi
Bảo Sát: - Hiện giờ là giờ gì ?
Bảo
Sát bạch: - Giờ Tý.
Ngài
lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói: - Đến giờ ta đi.
Bảo
Sát hỏi:- Tôn đức đi đến chỗ nào?
Ngài
nói kệ đáp:
Tất
cả pháp chẳng sanh
Tất
cả pháp chẳng diệt
Nếu
hay hiểu như thế
Chư
Phật thường hiện tiền.
(Nhất
thiết pháp bất sanh
Nhất
thiết pháp bất diệt
Nhược
năng như thị giải
Chư
Phật thường hiện tiền .)
Nào
có đến đi ấy vậy.
Bảo
Sát hỏi:- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt là thế nào
?
Ngài
liền nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói:- Chớ nói
mớ.
Nói
xong, Ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch. Vào niên
hiệu Hưng Long thứ mười sáu (1308), thọ 51 tuổi.
Pháp
Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc
cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần
đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ nơi Đức Lăng và
xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là Huệ
Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều
Trúc Lâm Đầu-đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.
Ngài
còn lưu lại những tác phẩm:
1)
Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục
2)
Đại Hương Hải Ấn thi tập
3)
Tăng-già Toái Sự
4)
Thạch Thất Mị Ngữ do Pháp Loa soạn lại lời của Ngài.
*
Phụ
trích vài bài thơ của Điều Ngự Giác Hoàng:
1.
ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN
Địa
tịch đài du cổ
Thời
lai xuân vị thâm
Vân
sơn tương viễn cận
Hoa
kính bán tình âm,
Vạn
sự thủy lưu thủy
Bách
niên tâm ngữ tâm
Ỷ
lan hoành ngọc địch
Minh
nguyệt mãn hung khâm.
Dịch:
LÊN NÚI BẢO ĐÀI
Đất
vắng đài thêm cổ
Ngày
qua xuân chửa nồng.
Gần
xa mây núi ngất
Nắng
rợp ngõ hoa thông.
Muôn
việc nước trôi nước
Trăm
năm lòng nhủ lòng.
Tựa
lan, nâng ống sáo
Đầy
ngực ánh trăng lồng.
(Ngô Tất Tố)
2.
XUÂN VÃN
Niên
thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất
xuân tâm sự bách hoa trung.
Như
kim khám phá Đông hoàng diện
Thiền
bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Dịch:
CUỐI XUÂN
Thuở
bé chưa từng rõ sắc không
Xuân
về hoa nở rộn trong lòng
Chúa
xuân nay bị ta khám phá
Chiếu
trải giường thiền ngắm cánh hồng.
3.
SƠN PHÒNG MẠN HỨNG
I
Thùy
phược cánh tương cầu giải thoát
Bất
phàm hà tất mích thần tiên
Viên
nhàn mã quyện nhân ưng lão
Y
cựu vân trang nhất tháp thiền.
II
Thị
phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh
lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa
tận vũ tình sơn tịch tịch
Nhất
thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Dịch:
PHÒNG NÚI KHỞI HỨNG
I
Ai
trói lại mong cầu giải thoát
Chẳng
phàm nào phải kiếm thần tiên
Vượn
nhàn, ngựa mỏi, người đã lão
Như
cũ vân trang một chõng thiền.
II
Phải
quấy niệm rơi hoa buổi sớm
Lợi
danh tâm lạnh với mưa đêm
Mưa
tạnh, hoa trơ, non vắng lặng
Chim
kêu một tiếng lại xuân tàn.
4.
ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ
Huân
tận thiên đầu mãn tọa hương
Thủy
lưu sơ khởi bất đa lương
Lão
dung ảnh lý tăng quan bế
Đệ
nhất thiền thanh thu tứ trường.
Dịch:
ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH
Nghìn
hương thắp hết ngát đầy tòa
Làn
nước nhẹ nhàng gió lạnh qua
Dưới
bóng đa già chùa cửa đóng
Ve
ngâm dấy khởi tứ thu xa.
*
Chẳng
những Trúc Lâm Đầu-đà làm thơ chữ Hán mà còn làm phú,
ca chữ nôm nữa. Như Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú
Lâm Tuyền Thành Đạo Ca... Ở đây chúng ta trích vài hội
trong bài Cư Trần Lạc Đạo để thấy rõ tinh thần của Ngài.
CƯ
TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ
-
Hội thứ nhất-
Mình
ngồi thành thị.
Nết
dùng sơn lâm
Muôn
nghiệp lặng an nhàn thể tánh,
Nửa
ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham
ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí,
Thị
phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi
nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý,
Biết
đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chú tri âm.
Nguyệt
bạc, vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng,
Liễu
mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.
Lo
hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục,
Nhắm
trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm.
Sách
dịch xem chơi, yêu tính sáng hơn yêu châu báu,
Kinh
nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nửa hoàng kim.
- Hội thứ hai -
Biết
vậy !
Miễn
được lòng rồi,
Chẳng
còn phép khác.
Gìn
tính sáng, tính mới hầu an,
Nén
niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt
trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương,
Dừng
hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác.
Tịnh
độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương,
Di-đà
là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc.
Xét
thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe,
Cầm
giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác.
Ăn
rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay.
Vận
giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc.
Nhược
chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nữa thiên
cung,
Dầu
hay mến thửa nhân nghì, ba phiến ngói yêu hơn lầu gác...
Đến
sau hội thứ mười, kết thúc bằng bài kệ chữ Hán. Kệ
rằng:
Ở
trần vui đạo hãy tùy duyên,
Đói
đến thì ăn nhọc ngủ liền,
Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối
cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
(Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên,
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền.)
Thiền
Sư PHÁP LOA
(1284
- 1330)-(Tổ thứ hai phái Trúc Lâm)
Sư
tên thực là Đồng Kiên Cương, sinh năm Thiệu Bảo thứ sáu
(1284) ngày mùng 7 tháng 5, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh
Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.
Trước khi sanh Sư, thân mẫu nằm mộng thấy có người trao
cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy. Từ đó, bà
biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái
nên chán ngán, phen này bà cố tình uống thuốc phá thai, nhưng
đều vô hiệu. Đến khi sinh ra Sư, bà mừng lắm, đặt tên
là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ, miệng không nói lời
ác, ăn không thích thịt cá.
Niên
hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), Điều Ngự (Nhân Tông)
dạo đi các nơi, phá dâm từ (miếu thờ thần không chánh
đáng) và ban pháp dược, đến mạn sông Nam Sách. Sư đến
lễ bái xin xuất gia, năm này Sư được 21 tuổi. Điều Ngự
trông thấy bằng lòng, nói: “Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt
làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.” Ngài bèn cho hiệu là
Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tóc và thọ
giới Sa-di. Ngài dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh
Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Sư tìm đủ cách thưa hỏi mà
không được khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có
lẽ kinh Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ
khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư
có chỗ vào. Sư từ tạ Hòa thượng Tánh Giác, trở về tham
yết với Điều Ngự.
Gặp
lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được
tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ Ngài.
Một hôm, Sư trình cả ba bài tụng, bị Điều Ngự chê cả.
Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tựï tham. Sư
vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông
thấy bông đèn tàn rụng xuống, Sư chợt đại ngộ. Sư đem
chỗ ngộ trình lên Điều Ngự, Ngài thầm nhận ấn khả.
Từ đây, Sư thệ tu theo mười hai hạnh Đầu-đà (khổ hạnh).
*
*
*
Đến
niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305). Điều Ngự đem Sư
lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giớiø Bồ-tát.
Thấy chỗ tham học của Sư đã hành đạt, Điều Ngự cho
hiệu là Pháp Loa.
Năm
Hưng Long thứ mười lăm (1307), Sư được 24 tuổi, Điều Ngự
trụ ở am Thiên Bảo Quan có bảy tám người thị giả mà
Sư là đứng đầu. Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ
Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa
Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố-tát (sám hối tụng giới)
xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết
tâm kệ trao cho Sư dạy khéo gìn giữ.
Năm
Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng giêng,
Sư vâng lệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp Trụ trì tại nhà
Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và đình thần
đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ
cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế
trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ sơn môn Yên Tử, là đời
thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn
hai trăm bộ kinh sử và bảo Anh Tông sung cúng vào chùa cả
trăm khoảnh ruộng.
Tháng
mười một năm ấy (1308), Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng
cung nghinh xá-lợi về kinh đô. Trở về núi, Sư soạn lại
những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành
quyển Thạch Thất Mị Ngữ.
Năm
Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục
khắc bản Đại Tạng Kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc
này. Tháng tư, Sư giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu
Loại. Sau đó, Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp
nhận.
Năm
Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng 9, Sư phụng chiếu
đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang định chức cho tăng
đồ. Chúng tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người
cầm sổ bộ ấy. Lúc đó, Sư độ hơn một ngàn vị tăng.
Về sau cứ ba năm một lần độ tăng như thế.
Năm
Đại Khánh thứ tư (1317) đời Trần Minh Tông, vào tháng 2,
Sư bệnh nặng. Sư đem y của Điều Ngự và viết bài tâm
kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung,
phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp
thơ và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn,
sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau ít hôm, bệnh Sư được lành.
Những
hàng Thái hậu, Công chúa, Vương công, quí khanh đều thỉnh
Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát, cho đến vua
Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất,
vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in kinh quá
nhiều, đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên
cúng, thuyền của vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về
kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.
Năm
đầu Khai Hựu (1329), đời Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh
Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, làm thành danh lam thắng cảnh. Sư
có làm bài thơ đề là Luyến Thanh Sơn:
Thưa
gầy làn nước vút,
Chót
vót ánh soi trong.
Ngẩng
đầu coi chẳng hết,
Đường
tới lại trùng trùng.
(Trần Tuấn Khải)
(Sơ
sấu cùng thu thủy
Sàm
nham lạc chiếu trung
Ngang
đầu khán bất tận
Lai
lộ hựu trùng trùng.)
Một
hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:
-
Đại chúng ! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà
nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao
mà xét ? Làm sao mà quán ? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai
mà nói, cũng không được thế ấy.
Sư
bèn nhìn hai bên nói:
-
Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu
có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần
đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ
mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại
thành một khối hỗn độn. Lắng nghe ! Lắng nghe !
Đại
đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không
thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa
khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng
một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội
phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Người
người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân
như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly.
Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên
mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng
nghe nói “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu
dụng đều ở nguồn tâm” nên nói: Cửa giới cửa định
cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình.
Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt,
tay cầm, chân đi, ấy là tánh gì ? Biết được tánh này,
ấy là tâm gì ? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào
chẳng phải ? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào
chẳng phải là pháp ? Tâm nào chẳng phải là Phật ? Tức
tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp,
pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.
Các
nhân giả ! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ
đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng
? Tham !
*
*
*
Có
vị tăng bước ra nói:
-
Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh
nghi ngờ ?
Ông
lễ bái xong, đứng dậy hỏi:- Cõi thiền không dục là khỏi
hỏi, cõi dục không thiền xin nói cho một câu.
Sư
lấy tay điểm trong hư không.
Vị
tăng nói:
-
Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì ?
-
Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.
Vị
tăng thưa:
-
Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp,
thế nào là Tăng.” Chỉ đây thế nào ? Việc ấy thế nào
?
Sư
đáp:- Thế nào ? Việc ấy thế nào ?
Vị
tăng thưa:
-Trên
đàn không dây tri âm ít.
Cao
vút tiếng đàn cha con hòa...
(Một
huyền cầm thượng tri âm thiểu
Phụ
tử đàn lai cách điệu cao...)
*
*
*
Một
hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:- Chúng làm gì ?
Có
vị tăng ra thưa:- Chúng niệm Phật tâm.
Sư
bảo:
-
Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật,
Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm ?
Vị
tăng ấy đáp không được.
Sư
lại hỏi vị tăng khác:- Chúng làm gì ?
Tăng
thưa:- Niệm Phật.
Sư
bảo:- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì ?
Tăng
thưa:- Chẳng biết.
Sư
bảo:- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai ?
Tăng
không đáp được.
*
*
*
Gần
mãn đời Sư, kiểm những công tác Phật sự: đúc tượng
Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1300) vị;
tạo đại già-lam được hai ngôi. Xây tháp được năm ngọn;
lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở; độ tăng và ni hơn
một muôn năm ngàn (15000) người; in được một bộ Đại
Tạng Kinh; đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3000) người; thành
Đại pháp sư có sáu vị.
Năm
Khai Hựu thứ hai (1330) ngày mùng 5 tháng 2, Sư phát bệnh, trong
hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày
11 thì bệnh rất nặng. Ban đêm Huyền Quang đứng hầu, thấy
Sư ngủ mà nói ra tiếng: “Hồng ! Hồng !” Huyền Quang liền
thưa:
-
Tôn giả nói mớ chăng ?
Sư
đáp:- Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ.
Huyền
Quang:- Đâu thể ngủ với thức là một ?
Sư
bảo: - Ngủ với thức là một.
Huyền
Quang :- Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một ?
Sư
bảo:- Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng
can gì y.
Huyền
Quang:- Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài ?
Sư
bảo:- Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào ?
Huyền
Quang :- Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong
khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người.
Sư
bảo:- Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây.
Huyền
Quang:- Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh.
Sư
bèn đạp. Huyền Quang lui ra.
Từ
đây bệnh lại giảm xuống. Đến ngày 13, Sư trở về viện
Quỳnh Lâm nơi phương trượng cũ mà nằm. Đệ tử các nơi
dồn về thưa hỏi xin kệ. Sư vẫn đối đáp và tùy người
cho kệ, không biết mệt mỏi.
Đến
ngày mùng 1 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân
đến thăm bệnh và gọi Thái y đến trị cho Sư.
Đến
tối mùng 3 bệnh Sư trở lại nặng.
Huyền
Quang thưa:
-
Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại
là tốt ?
Sư
bảo:- Thảy đều không can hệ.
Huyền
Quang:- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào ?
Sư
bảo:- Tùy xứ tát-bà-ha.
Đệ
tử đồng đến thỉnh:
-
Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử
sao riêng Thầy không có ?
Sư
quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết
lại. Sư viết một bài kệ:
Muôn
duyên cắt đứt, một thân nhàn
Hơn
bốn mươi năm giấc mộng tràng
Nhắn
bảo mọi người thôi chớ hỏi
Bên
kia trăng gió rộng thênh thang.
(Vạn
duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ
thập dư niên mộng huyễn gian
Trân
trọng chư nhơn hưu tá vấn
Na
biên phong nguyệt cánh man khoan.)
Viết
xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ 47 tuổi. Đệ tử
theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại
Thanh Mai Sơn.
Đến
ngày 11 tháng 3, Thái Thượng Hoàng ngự bút ban hiệu Sư là
Tịnh Trí Tôn Giả, tháp tên Viên Thông, tặng mười lượng
vàng để xây tháp và đề một bài thi vãn:
Đã
hết duyên trần thõng tay đi
Giác
Hoàng kim tuyến được truyền y
Thanh
Sơn cỏ mọc che phần mộ
Cây
biếc trong sương để xác ve.
Đêm
phủ giảng đường trăng kim cổ
Ngày
ngày trượng thất khói mờ che
Thân
mến biết bao, ôi luyến tiếc !
Nhớ
công giáo hóa lệ đầy mi.
(Thùy
thủ trần hoàn dĩ liễu duyên
Giác
Hoàng kim lũ đắc nhân truyền
Thanh
Sơn mạn thảo quan tàng lý
Bích
thọ thâm sương xác thuế thiền.
Dạ
yểm giảng đường kim cổ nguyệt
Hiểu
mê trượng thất hữu vô yên
Tương
đầu châm giới ta phi tích
Trác
tựu ai chương thế lệ huyền.)
Những
tác phẩm của Sư còn lưu truyền lại có:
-
Đoạn Sách Lục
-
Tham Thiền Chỉ Yếu (Thiền Đạo Yếu Học ?)
-
Kim Cương Đạo Tràng Đà-la-ni Kinh.
-
Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Số.
-
Bát-nhã Tâm Kinh Khoa
-
và một bài kệ thị tịch...
*
*
*
PHẦN
PHỤ.- Chúng tôi trích dịch vài bài trong tập “Thiền Đạo
Yếu Học” của Sư để chúng ta hiểu phần nào tư tưởng
Sư đối với Thiền đạo.
1.
LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO
(Khuyến
xuất gia tiến đạo ngôn)
Kính
khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này:
Chúng ta nghiệp dầy phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời
chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa
sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn
thay !
Những
vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu
giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ,
biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp.
Thế
nào là hai ? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp
cầu thầy.
Ba
thứ pháp là: 1. Rõ tông sư 2. Biện pháp chân ngụy 3. Biết
thiện ác.
1.
Rõ tông sư - Kinh Bổn Hạnh nói : Từ trước Tổ Sư thuyết
pháp những gì ? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền
tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học ?
2.
Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới
luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của
Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý,
lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.
3.
Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên
mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng
tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn
ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục,
tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.
Trên
là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.
Hai,
phải học pháp cầu thầy. Như trong Lễ Tán nói: Thường ở
trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức
của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.
Nếu
người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đạt được tâm
Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.
Này
các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông
Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì
? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo
Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân
nào sánh bằng” mà các ngươi còn bỏ được, huống là những
kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể
cổi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại
cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân.
Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu
không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.
Từ
trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư
không, mặc đến mặc đi, hoặc Nam hoặc Bắc, tham thiền hỏi
đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới
thật là Phật pháp.
*
*
*
2.
KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC
(Thượng
thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết)
Là
người học Phật, trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không
phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể
thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy,
thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng
phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời
đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Sau
khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào
là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờø, ngoài dứt
các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên
cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức
mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun
vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói
ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân,
ý cũng như thế. Đó gọi là giới đại thừa, là giới vô
thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới nầy,
dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Nhân
giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập Thiền.
Cái yếu chỉ của Thiền định là thân tâm đều xả. Trước
tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà
đến? Tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ
đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có?
Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ
đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có.
Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu ?
Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp
này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được
thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.
Người
tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng mà
không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham
thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không
có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không
hôn trầm. Phải trong trẻo như viên ngọc lăn trên mâm, phải
sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng
được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được,
nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được
?
Đã
được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam
quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân
chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của Thiền tổ. Bảy
phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên,
chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương,
nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn
chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng Diệu Huệ, chiếu
soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ,
tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám
pháp bất cọng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni,
trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình
lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Tuệ
đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận,
tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được
thấm nhuần. Nếu Tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ
khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Thiền
có chia làm năm:
1)
Phàm phu thiền,
2)
Ngoại đạo thiền,
3)
Tiểu thừa thiền,
4)
Đại thừa thiền,
5)
Thượng thừa thiền.
Đây
nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này,
từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả
thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức
Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ
và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền
bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do
giới này, định này, huệ này mà được chứng ngộ, thật
không có pháp nào khác.
Các
chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò,
chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là
chỗ hạ thủ của Phật, Tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của
ngoại đạo, tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua,
lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi
phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn
oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may.
Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi.
Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng,
rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”.
Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến
suy tàn chánh pháp.
Ôi
! Tôi còn biết nói gì hơn !