Thiền
Sư GIÁC HẢI
(Khoảng
thế kỷ 11-12)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nguyễn, quê làng Hải Thanh, thuở nhỏ làm nghề chài lưới,
thường dùng một chiếc thuyền con làm nhà, sống lênh đênh
trên khắp sông hồ. Năm 25 tuổi, Sư dứt bỏ thế nghiệp
xuất gia làm tăng. Ban đầu, Sư cùng Thiền sư Không Lộ đồng
thờ thầy Hà Trạch ở chùa Diên Phước, Hải Thanh. Sau, Sư
lại kế thừa dòng pháp của Không Lộ và trụ trì luôn chùa
này.
Đời
vua Lý Nhân Tông (1072-1127), Sư cùng Thông Huyền bị triệu
vào hầu. Bỗng đâu có hai con cắc kè cất tiếng kêu chát
tai. Vua bảo Thông Huyền làm cho nó đừng kêu. Thông Huyền
thầm niệm thần chú, một con rơi xuống. Thông Huyền cười
nhìn Sư, bảo: “Để lại một con cho Sa-môn.” Sư chú mắt
nhìn nó, chốc lát nó cũng rơi xuống. Nhà vua kinh dị, làm
thơ tặng:
Giác
Hải tâm như biển,
Thông
Huyền đạo lại huyền.
Thần
thông gồm biến hóa,
Một
Phật, một thần tiên.
(Giác
Hải tâm như hải,
Thông
Huyền đạo hựu huyền.
Thần
thông kiêm biến hóa,
Nhất
Phật nhất thần tiên.)
Sư
nổi tiếng khắp thiên hạ, tăng tục đều quí kính. Vua Nhân
Tông mỗi khi ra chơi hành cung Hải Thanh đều ghé chùa thăm
Sư.
Một
hôm vua hỏi:
-
Phép chân thần túc có thể được nghe chăng?
Sư
liền hiện tám phép thần biến: Thân vọt lên hư không cách
đất vài trượng, chợt lại trở xuống...
Vua
và quần thần vỗ tay khen ngợi. Từ đó vua ban cho Sư tự
do ra vào cung vua.
Đến
đời vua Lý Thần Tông (1128-1138), nhiều lần triệu vào cung,
nhưng Sư từ chối viện cớ già bệnh chẳng đến được.
*
Có
vị tăng hỏi:
-
Phật và chúng sanh ai khách ai chủ?
Sư
dùng bài kệ đáp:
Gái
để chỏm đầu bạc,
Bảo
ông, tác giả biết.
Nếu
hỏi cảnh giới Phật,
Long
môn bị điểm trán.
(A
giác nữ đầu bạch,
Báo
nhĩ tác giả thức.
Nhược
vấn Phật cảnh giới,
Long
môn tao điểm ngạch.)
Lúc
sắp tịch, Sư gọi chúng nói kệ:
Xuân
về hoa bướm gặp nhau đây,
Hoa
bướm phải cần họp lúc này.
Hoa
bướm xưa nay đều là huyễn,
Giữ
tâm bền chặt bướm hoa thây.
(Xuân
lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa
điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
Hoa
điệp bổn lai giai thị huyễn,
Mạc
tu hoa điệp hướng tâm trì.)
Đêm
ấy có ngôi sao lớn rơi xuống góc Đông nam thất Sư, Sư ngồi
ngay thẳng an nhiên thị tịch. Vua hạ chiếu quyên ba mươi
hộ để cúng hương hỏa. Hai đứa con Sư cũng được ân thưởng
làm quan.
Thiền
Sư TỊNH KHÔNG
(?
- 1170)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Ngô quê ở Phúc Xuyên. Ban đầu đến viện Sùng Phước
trong bản châu xuất gia và thọ giới cụ túc.
Năm
30 tuổi, Sư đi hành khước phương Nam đến chùa Khai Quốc,
phủ Thiên Đức dừng lại Trụ trì. Khoảng năm sáu năm chuyên
tu hạnh đầu-đà, ngày chỉ dùng một ít đậu, một ít mè,
ngồi hoài không ngủ. Mỗi khi Sư nhập định đến nhiều
ngày mới xuất. Đàn thí bốn phương đem lễ vật cúng dường
chất cao như núi. Những kẻ gian đến rình mò, Sư trông thấy
bảo “tự do lấy đi.”
Bà
công chúa Nam Khương ý muốn xuất gia, sắp soạn lễ vật
định xin xuống tóc. Triều đình hay được, xuống chiếu
bắt Sư vào triều. Vào đến cửa khuyết, thần sắc Sư vẫn
bình thường, vua thấy thế càng thêm kính nể, bái phong là
bậc danh tăng.
Một
hôm, có một vị thiền khách đến chùa Sư, hỏi thăm sự
tu hành, biết Sư chưa đạt yếu chỉ Thiền tông, liền giới
thiệu Sư đến tham vấn Thiền sư Đạo Huệ ở núi Tiên Du,
Sư bèn giao chùa đi thẳng đến núi Tiên Du.
Đến
nơi Sư hỏi Đạo Huệ:
-
Nơi này có tông chỉ Thiền tông chăng?
Đạo
Huệ đáp:
-
Nơi đây tông chỉ chẳng phải không, nhưng Xà-lê làm sao đảm
nhận?
Sư
suy nghĩ trả lời. Đạo Huệ nạt:
-
Ngay trước mặt đã lầm qua rồi!
Sư
liền lãnh hội yếu chỉ. Sư ở lại đây hầu hạ thầy
ba năm.
Sau,
Sư về chùa cũ thu nhận đồ chúng. Một hôm Sư hội chúng
nói kệ:
Trên
không miếng ngói che,
Dưới
không đất cắm dùi.
Hoặc
đổi áo thẳng đến,
Hoặc
xách trượng mà đi.
Khoảng
chuyển động xúc chạm,
Tợ
rồng vẫy đớp mồi.
(Thượng
vô phiến ngõa giá,
Hạ
vô trác chùy địa.
Hoặc
dịch phục trực nghệ,
Hoặc
sách trượng nhi chí.
Chuyển
động xúc xứ gian,
Tợ
long dước thôn nhĩ.)
Có
vị tăng đến hỏi:
-
Từ trước chỉ thẳng là nói cái gì ?
Sư
đáp:
-
Ngày ngày đi gặt lúa, giờ giờ kho lẫm không.
(Nhật
nhật khứ hoạch hòa,
Thì
thì không thương lẫm)
-
Con chẳng hội.
-
Nhật nguyệt hằng sáng, mây nổi phủ che.
(Nhật
nguyệt trường minh,
phù
vân cái ấm)
Sư
nói kệ:
Người
trí không ngộ đạo,
Ngộ
đạo tức kẻ ngu.
Khách
nằm thẳng duỗi chân,
Nào
biết ngụy và chơn.
(Trí
nhân vô ngộ đạo,
Ngộ
đạo tức ngu nhân.
Thân
cước cao ngọa khách,
Hề
thức ngụy kiêm chân.)
*
*
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là Phật ?
Sư
đáp:- Nhật nguyệt sáng trời trùm ức cõi,
Ai
biết mây mù rơi núi sông.
(Nhật
nguyệt lệ thiên hàm ức sát,
Thùy
tri vân vụ lạc sơn hà.)
-
Thế nào hội được ?
-
Mục đồng chỉ thích nằm lưng trâu,
Kẻ
sĩ thường khoe được anh hùng.
(Mục
đồng chí quán ngọa ngưu bối,
Thổ
hữu anh hùng khóa đắc y.)
-
Ý tổ và ý kinh là đồng là khác ?
-
Muôn dặm nhờ thuyền đều đến triều vua.
-
Hòa thượng có việc kỳ đặc, tại sao không nói cho con ?
-
Ngươi thổi lửa, ta hốt gạo, ngươi khất thực, ta giữ bát,
ai mà cô phụ ngươi ?
Tăng
nghe xong liền khai ngộ.
Năm
thứ tám niên hiệu Chính Long Bảo Ứng (1170) đời Lý Anh Tông,
sắp tịch Sư từ giã chúng dặn:
-
Các ngươi khéo tự gìn giữ như lúc ta còn, chớ nhiễm thế
gian sanh ra quyến luyến.
Đến
nửa đêm, Sư ngồi kiết già mà tịch, thọ hơn 80 tuổi.
Thiền
Sư ĐẠI XẢ
(1120
- 1180)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Hứa, quê ở phường Đông Tác (nay thuộc huyện Hoàng
Long, Hà Đông). Xuất gia từ thuở bé, theo học với Thiền
sư Đạo Huệ, nhận được chút ít yếu chỉ thiền học,
Sư thường trì tụng kinh Hoa Nghiêm và thần chú của ngài
Phổ Hiền làm việc thường nhật. Có lúc, Sư xõa tóc bỏ
ăn, chỗ ở không nhất định. Các vương công đều quí kính,
Kiến Ninh Vương và công chúa Thiên Cực cũng rất kính trọng.
Sư
thường ở Tuyên Minh Hỗ Nham lập chùa giáo hóa, học giả
các nơi đến học rất đông. Có vị tăng nước Tống hiệu
Nham Ông, nghe tiếng Sư cảm mộ đốt ngón tay để cúng dường.
Có người nghi Sư dùng yêu thuật, nên trong khoảng niên hiệu
Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175) Thái úy Đỗ Anh Vũ ra lệnh bắt
Sư vào giam, hành phạt nặng nề mà Sư không có vẻ sợ hãi.
Sau đó, có lệnh thả Sư.
Vua
Lý Anh Tông triệu Sư vào hỏi:
-
Trẫm bị phiền muộn, Sư có thuật gì trị chăng ?
Sư
đáp:
-
Pháp Mười hai nhơn duyên là căn bản tiếp nối sự sống
chết, cần lấy đó để trị, nó thật là phương thuốc hay
vậy.
Vua
hỏi:- Ý chỉ nó thế nào ?
Sư
đáp:
-
Vô minh là nhân duyên của Hành cho đến lo buồn khổ não,
muốn cầu quả Bích-chi Phật nên nói Mười hai nhơn duyên.
Đem trị trong thân này thì không còn phiền não.
Vua
hỏi:- Thế thì, trẫm phải tĩnh tâm tu tập ?
Sư
đáp:
-
Khi giữ được nghiệp thức yên tịnh, tức là lóng trong phiền
não, không còn pháp nào khác đáng tu tập cả. Xưa kia vua Lương
Võ Đế thường đem vấn đề này hỏi Thiền sư Bảo Chí,
Bảo Chí cũng đáp như thế. Hôm nay trộm vì bệ hạ đưa
ra điều tương tợ ấy.
*
*
*
Đến
ngày 2 tháng 5 niên hiệu Trinh Phù thứ năm (1180), Sư gọi đệ
tử dặn dò nói kệ:
Bốn
rắn chung rương trước giờ không,
Núi
cao năm uẩn đâu chủ ông.
Chân
tánh sáng ngời không chướng ngại,
Niết-bàn
sanh tử mặc che lồng.
(Tứ
xà đồng khiếp bổn lai không,
Ngũ
uẩn sơn cao diệc bất tông.
Chân
tánh linh minh vô quái ngại,
Niết-bàn
sanh tử nhậm già lung.)
Lại
nói:
Ngựa
đá nhe răng cuồng,
Ăn
mạ ngày tháng kêu.
Đường
cái người đồng qua,
Trên
ngựa không người đi.
(Thạch
mã xỉ cuồng nanh,
Thực
miêu nhật nguyệt minh.
Đồ
trung nhân cộng quá,
Mã
thượng nhân bất hành.)
Nói
kệ xong, đến canh năm Sư tịch, thọ 61 tuổi.
Thiền
Sư TÍN HỌC
(?
- 1190)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Tô quê ở làng Chu Minh, phủ Thiên Đức. Gia đình chuyên
nghề khắc bản kinh. Thuở nhỏ Sư theo học với thầy Thành
Giới, không thích giao du.
Năm
32 tuổi, Sư đến Thiền sư Đạo Huệ ở núi Tiên Du thọ
giáo. Ở đây hầu Thầy ba năm, Sư nhận được tông chỉ
thiền tông một cách sâu sắc. Sau đó, Sư một mình chống
gậy du phương, đến chùa Quán Đảnh núi Không Lộ huyện
Thạch Thất, Sơn Tây dừng lại trụ trì.
Sư
ở trước Phật đốt ngón tay cúng dường và phát nguyện
lớn:
-
Con đã nhiều kiếp trôi lăn trong trần lao, nay nguyện dứt
hẳn không còn tạo lại.
Sư
chuyên tu Tam quán theo trong kinh Viên Giác, ngày chỉ ăn một
bữa, đến hình dung tiều tụy, trải nhiều năm như thế mà
chẳng thối chí. Do đây, thâm đắc Chánh định tam quán. Công
khanh sĩ thứ ngưỡng mộ phong thái cao nhã của Sư đua nhau
đến học hỏi rất đông.
Một
hôm Sư tự bảo:
-
Có lợi ắt có nhiễm, có nhiễm ắt có lợi; có lợi có nhiễm
Bồ-tát chẳng làm; không lợi không nhiễm, Bồ-tát mới làm.
Đến
ngày 9 tháng giêng năm Thiên Tư Gia Thụy thứ năm (1190) đời
Lý Cao Tông, Sư cáo bệnh nói kệ:
Núi
rừng cọp beo,
Vằn
vện lẫn lộn.
Nếu
muốn phân rành,
Con
kêu, mẹ mổ.
(Sơn
lâm hổ báo,
Hoành
văn ban bác.
Nhược
dục chân biệt,
Tử
thốt mẫu trác.)
Nói
kệ xong, Sư thị tịch.
Thiền
Sư TRƯỜNG NGUYÊN
(1110
- 1165)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Phan, quê ở Trường Nguyên, Tiên Du, dòng dõi theo Phật.
Khi mới xuất gia thọ giáo với Thiền sư Đạo Huệ. Sau khi
được Đạo Huệ ấn chứng, Sư đi thẳng vào núi Từ Sơn
ẩn tích. Ở đây, hàng ngày Sư mặc áo cỏ, ăn trái dẻ,
làm bạn cùng suối, đá, khỉ, vượn. Suốt mười hai giờø,
Sư nhồi nặn thân tâm lặng lẽ thành một mảnh. Trải qua
năm, sáu năm, người đời không ai xem thấy được chỗ ảnh
hưởng của Sư.
Vua
Lý Anh Tông nghe tiếng ái mộ, muốn gặp Sư mà không thể
được. Vua thầm sai Phiên thần họ Lê là bạn cũ của Sư
khéo dẫn dụ về triều. Họ Lê dụ được Sư về đến nhà
trọ chùa Hương Sát. Sư tự hối hận, liền trốn trở về
núi xưa. Sư bảo đồ đệ:
-
Hạng người thân khô tâm nguội như ta, không phải những
vật phù ngụy thế gian có thể cám dỗ được. Bởi vì chí,
hạnh của ta chưa thuần nên bị các thứ bẫy lồng vây khốn.
Nghe ta nói kệ đây:
Khỉ
vượn bồng con lại núi xanh,
Từ
xưa hiền thánh không mối manh.
Xuân
về oanh hót trong vườn uyển,
Thu
đến cúc cười mất dáng hình.
Viên
hầu bão tử qui thanh chướng
Tự
cổ thánh hiền một khả lượng.
Xuân
lai oanh chuyển bách hoa thâm,
Thu
chí cúc khai một mô dạng.)
Sư
thường bảo mọi người:
-
Lạ thay ! Lạ thay ! Tại sao các chúng sanh này có đủ trí
tuệ Như Lai, mà ngu si mê hoặc chẳng thấy chẳng biết. Ta
thường đem đạo lý dạy dỗ, khiến họ lìa hẳn vọng tưởng
chấp trước trong tự thân, mà thấy trí tuệ rộng lớn Như
Lai của mình, được lợi ích an lạc.
Đến
ngày 7 tháng 6 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ ba (1165),
Sư có chút bệnh, nói kệ dạy chúng:
Ở
chỗ bóng trần,
Thường
lìa bóng trần,
Tâm
phủ lóng tột,
Cùng
vật không thân.
Thể
vốn tự nhiên,
Hiện
vật không thiên,
Tài
bằng trời đất,
Vượt
cả nhân luân.
Dưỡng
nuôi muôn vật,
Cùng
vật làm xuân,
Đứng
múa gái sắt,
Đánh
trống người cây.
(Tại
quang tại trần,
Thường
ly quang trần,
Tâm
phủ trừng triệt,
Dữ
vật vô thân.
Thể
ư tự nhiên.
Ứng
vật vô ngân,
Tông
tượng nhị nghi,
Đào
thải nhân luân.
Đình
độc vạn vật,
Dữ
vật vi xuân,
Tác
vũ thiết nữ,
Đả
cổ mộc nhơn.)
Nói
kệ xong, Sư viên tịch, thọ 56 tuổi.
Thiền
Sư TỊNH LỰC
(1112
- 1175)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Ngô tên Trạm, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình. Thuở nhỏ, Sư
rất thông minh, lớn lên càng giỏi về văn chương, nghệ thuật
và chữ viết. Sư gặp Thiền sư Đạo Huệ thầy trò tương
ưng như cây kim hạt cải. Tâm dừng nơi cảnh Phật, mặc cỏ
ăn cây, phước huệ song tu. Trải qua nhiều năm giữ tâm càng
vững chắc. Thiền sư Đạo Huệ bảo:
-
Tâm ấn của chư Phật, ngươi tự có đó, chẳng phải từ
nơi người mà được.
Sư
thưa:
-
Đã nhờ Thầy chỉ dạy, con phải trụ nơi nào ?
-
Chẳng cần đi xa, nên ở Vũ Ninh là tốt.
Sư
vâng lời thầy thẳng lên núi cất một am cỏ tên Vương Trì,
làng Cương Việt, Vũ Ninh rồi trụ trì nơi đây. Trong mười
hai giờ, Sư lễ Phật sám hối, được niệm Phật tam-muội.
Bấy giờ tiếng nói của Sư trong vắt như tiếng Phạm Thiên.
Sư thường giảng kinh Viên Giác, nghĩa lý chỗ nào chẳng ổn,
đích thân Sư cải chính. Thời nhân bảo trong miệng Sư có
chất thư hoàng (Thư Hoàng: là một khoáng chất có màu vàng
đỏ. Đời xưa dùng tán nhỏ hòa nước làm mực để bôi
những chữ viết lầm. Câu này dùng chỉ người có tài biện
bác, lỡ nói sai sửa được ngay, như trong miệng có sẵn thư
hoàng.)
Đến
niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ hai (1175) một hôm Sư cáo
bệnh nhóm môn đồ dạy:
-
Các ngươi! Tất cả các người học đạo lấy tâm siêng năng
cúng dường Phật, không gì khác hơn chỉ cầu dứt được
các nghiệp ác. Tâm miệng niệm tụng, tin hiểu nghe nhận,
ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần thiện tri thức. Nói ra lời
hòa nhã, nói phải thời đúng lúc, trong tâm không khiếp nhược.
Liễu đạt nghĩa lý, xa lìa ngu mê, an trụ chỗ bất động.
Quán tất cả pháp vô thường vô ngã, vô tác vô vi. Nơi nơi
lìa phân biệt, ấy là người học đạo. Nay phần hóa duyên
của ta đã xong.
Lại
nói kệ:
Trước
tuy nói kiết, sau gọi hung,
Từ
đời Thái Tổ kiêng chẳng tùng.
Vì
thấy rồng lên làm Phật tử,
Chợt
trông chuột hiện lặng vô cùng.
(Tiên
tuy ngôn kiết, hậu ngôn hung,
Tự
thị Thái Tổ húy bất tùng,
Vi
ngộ kiến long vi Phật tử,
Hốt
tao thử xuất tịch vô cùng.)
Nói
xong, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, thọ 64 tuổi.
Thiền
Sư TRÍ BẢO
(?
- 1190)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nguyễn, quê ở Ô Diên, Vĩnh Khương, là cậu ruột Tô
Hiến Thành, một đại công thần đời Lý Anh Tông.
Sư
xuất gia vào tu ở chùa Thanh Tước trên núi Du Hý làng Cát
Lợi, đất Thường Lạc. Thường ngày mặc áo vá ăn cơm hẩm,
cả mười năm không đổi chiếc áo, đến ba ngày chẳng thổi
lửa nấu cơm, tay chân chai cóp, thân thể khô khan. Thấy có
người đến thì khoanh tay đứng nép một bên, gặp bậc Sa-môn
thì quì gối lễ bái. Sư chuyên tu như vậy đến sáu năm mới
xuống núi.
Xuống
núi, Sư chuyên tạo phước nào sửa đường, bắc cầu, cất
chùa, xây tháp, tùy duyên khuyến khích người, không vì lợi
dưỡng.
Chợt
gặp một vị tăng hỏi:- Sanh từ đâu lại, tử đi về đâu
?
Sư
liền suy nghĩ. Vị tăng ấy bảo:
-
Trong lúc ông suy nghĩ, mây trắng bay ngàn dặm.
Sư
không đáp được. Vị tăng ấy quát:- Chùa tốt mà không có
Phật.
Nói
rồi bèn bỏ đi. Sư tự than rằng:
-
Ta tuy có tâm xuất gia, nhưng chưa được yếu chỉ của người
xuất gia, ví như kẻ đào giếng, dù đào đến chín, mười
thước mà chưa có nước, vẫn phải bỏ đi. Huống là, tu
thân mà chẳng ngộ đạo thì có ích gì ?
Từ
đây, Sư dạo khắp bốn phương tham tìm bậc thiện tri thức.
Nghe Thiền sư Đạo Huệ giáo hóa ở Tiên Du, Sư liền đến
đó.
Sư
hỏi Đạo Huệ:- Sanh từ đâu lại, tử đi về đâu ?
Đạo
Huệ bảo:- Sanh không từ đâu lại, tử chẳng đi về đâu.
Sư
thưa:- Thế ấy, đâu chẳng rơi vào chỗ không sao ?
Đạo
Huệ bảo:
-
Chân tánh diệu viên, thể tự không tịch, vận dụng tự tại,
chẳng đồng với sanh tử. Thế nên, sanh không từ đâu đến,
tử chẳng đi về đâu.
Ngay
câu nói này, Sư liền lãnh ngộ, nói:
Chẳng
nhân gió cuốn mây trôi hết,
Đâu
thấy trời trong muôn dặm thu.
(Bất
nhân phong quyển phù vân tận,
Tranh
kiến thanh thiên vạn lý thu.)
Đạo
Huệ hỏi:- Ngươi thấy cái gì ?
Sư
thưa:- Biết nhau khắp thiên hạ,
Tri âm có mấy người.
(Tương
thức mãn thiên hạ,
Tri
âm năng kỉ nhân.)
Sư
bèn từ tạ trở về núi.
Từ
đây, Sư nói ngang nói dọc, như chọi đá nháng lửa. Một
hôm, Sư thăng đường, tăng tục vây quanh, có người hỏi:
-
Thế nào là tri túc ?
Sư
đáp:
-
Phàm người xuất gia và tại gia đều phải biết tri túc.
Nếu người biết tri túc thì ngoài chẳng lấn người, trong
không tổn mình. Vật nhỏ nhít như rau cỏ, người không cho,
mình chẳng nên lấy. Huống là, những vật lớn khác thuộc
của người, khởi tưởng là vật của người, trọn không
do đây mà sanh tâm trộm cắp. Cho đến, thê thiếp của người,
khởi tưởng là thê thiếp người, cũng không do đây mà sanh
tâm dâm. Các ngươi nghe ta nói kệ:
Của
dùng Bồ-tát biết vừa đủ,
Đối
người thương xót chẳng lấn tham.
Vật
mọn không cho ta chẳng lấy,
Chẳng
quản của người đức ngọc lành.
Bồ-tát
vợ nhà còn biết đủ,
Tại
sao vợ người lại khởi tham ?
Thê
thiếp của người người bảo hộ,
Đâu
nỡ lòng mình khởi vạy tà.
(Bồ-tát
tư tài tri chỉ túc,
Ư
tha từ bi bất dâm dục.
Thảo
diệp bất dữ ngã bất thủ,
Bất
tưởng tha vật đức như ngọc.
Bồ-tát
tự thê phương tri túc,
Như
hà tha thê khởi tham dục ?
Ư
tha thê, thiếp, tha sở hộ,
An
nhẫn tự tâm khởi tâm khúc.)
Đến
ngày 14 tháng 4 năm thứ năm niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy (1190)
đời Lý Cao Tông (Thiền Uyển Tập Anh ghi “Lý triều Anh Tông
hoàng đế Thiên Tư Gia Thụy ngũ niên” là nhầm. Theo Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư, niên hiệu này thuộc triều Cao Tông.)Sư
cáo bệnh và thị tịch. Đệ tử làm lễ hỏa táng, thu linh
cốt, xây tháp thờ tại sơn môn.
Thiền
Sư NGUYỆN HỌC
(?
- 1174)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nguyễn, quê ở làng Phù Cầm. Thuở nhỏ, Sư thọ pháp
với Thiền sư Viên Trí ở chùa Mật Nghiêm, đã lãnh hội
yếu chỉ.
Ban
đầu, Sư ở ẩn trên núi Vệ Linh chuyên tu phạm hạnh mười
hai năm. Mỗi khi nhập thiền quán đến ba ngày mới xuất.
Sư thường trì Hương Hải Đà-la-ni nên các môn trị bệnh,
cầu mưa rất được linh nghiệm.
Vua
Lý Anh Tông cảm nhận sự linh nghiệm của Sư, cho Sư được
ra vào cung vua tự do.
Sau
Sư viện cớ già bệnh về trụ trì chùa Quảng Báo làng Chân
Hộ, Như Nguyệt, tăng chúng đến tham học thường có mặt
không dưới một trăm người.
Đến
ngày 11 tháng 6 niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo năm đầu (1174),
sắp thị tịch, Sư bảo chúng:
Đạo
không hình tướng,
Trước
mắt chẳng xa,
Xoay
lại tìm kiếm,
Chớ
cầu nơi khác.
Dù
cho cầu được,
Được
tức chẳng chân.
Ví
có được chân,
Chân
ấy vật gì?
Vì
thế,
Chư
Phật ba đời,
Lịch
đại Tổ sư,
Ấn
thọ tâm truyền,
Cũng
nói như thế.
(Đạo
vô ảnh tượng
Xúc
mục phi diêu
Tự
phản suy cầu
Mạc
cầu tha đắc.
Túng
nhiêu cầu đắc
Đắc
tức bất chân,
Thiết
sử đắc chân
Chân
thị hà vật
Sở
dĩ
Tam
thế chư Phật,
Lịch
đại Tổ sư,
Ấn
thọ tâm truyền,
Diệc
như thị thuyết.)
Nghe
ta nói kệ đây:
Thân
tâm liễu ngộ mắt tuệ mở,
Biến
hóa linh thông bày tướng báu.
Đi
đứng ngồi nằm riêng vững vàng,
Hóa
thân ứng hiện đâu tính được.
Mặc
dầu đầy dẫy cả hư không,
Xem
ra nào thấy có tướng gì.
Thế
gian không có vật để sánh,
Thường
hiện linh quang sáng khắp nơi.
Luôn
luôn diễn nói không nghĩ bàn,
Không
có một lời cho thỏa đáng.
(Liễu
ngộ thân tâm khai tuệ nhãn,
Biến
hóa linh thông hiện bảo tướng,
Hành
trụ tọa ngọa độc trác nhiên,
Ứng
hiện hóa thân bất khả lượng.
Tuy
nhiên sung tắc biến hư không,
Quan
lai bất kiến như hữu tướng.
Thế
gian vô vật khả tỷ huống,
Trường
hiện linh quang, minh lãng lãng.
Thường
thời diễn thuyết bất tư nghì,
Vô
đắc nhất ngôn dĩ vi đáng.)
Nói
xong, Sư ngồi kiết già thị tịch.
Thiền
Sư MINH TRÍ
(?
- 1196)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Tô, tên Thiền Trí, quê ở làng Phù Cầm. Tư chất thông
minh, đọc khắp sách vở ngoài đời. Lúc trẻ gặp Thiền
sư Đạo Huệ liền xả tục xuất gia. Theo hầu Đạo Huệ,
Sư thấu đạt lý huyền diệu của Thiền, trực nhận được
ý chỉ các bộ kinh Viên Giác, Nhân Vương, Pháp Hoa và sách
Truyền Đăng. Do chuyên cần đọc tụng quên cả nhọc nhằn,
nên nhà vua ban hiệu cho Sư là Minh Trí.
Sau
Sư trụ trì chùa Phúùc Thánh, tăng chúng theo học đông đảo.
Một hôm Sư đang bàn luận với một vị tăng, có vị tăng
bên cạnh nói:
-
Nói là Văn Thù, nín là Duy Ma.
Sư
bảo:- Không nói, không nín, đâu chẳng phải là ông ?
Vị
tăng ấy liền chấp nhận. Sư bảo:- Sao chẳng hiện thần
thông ?
Vị
tăng thưa:
-
Chẳng từ chối hiện thần thông, chỉ sợ Hòa thượng bắt
vào dạy.
Sư
bảo:- Ngươi chưa phải là con mắt giáo ngoại biệt truyền.
Bèn
nói kệ:
Giáo
ngoại nên biệt truyền,
Lâu
xa Phật Tổ sâu.
Nếu
người cầu phân biệt,
Ánh
nắng tìm khói mây.
(Giáo
ngoại khả biệt truyền,
Hy
di Tổ Phật uyên.
Nhược
nhân dục biện đích,
Dương
diệm mích cầu yên.)
Đến
niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ mười một (1196) Sư sắp
thị tịch, nói kệ:
Gió
tùng, trăng nước sáng,
Không
bóng cũng không hình.
Sắc
tướng chỉ thế ấy,
Trong
không tìm tiếng vang.
(Tùng
phong thủy nguyệt minh,
Vô
ảnh diệc vô hình.
Sắc
tướng giá cá thị,
Không
không tầm hưởng thinh.)
Nói
xong, Sư lặng lẽ thị tịch.
Thiền
Sư TỊNH GIỚI
(?
- 1207)-(Đời thứ 10, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
tên Chu Hải Ngung, quê làng Giang Mão. Xuất thân trong gia đình
hàn vi, nhưng tánh tình Sư rất thuần hậu, lúc nhỏ theo học
Nho. Đến năm 26 tuổi, Sư mang bệnh nặng, mộng thấy thần
nhân cho thuốc. Tỉnh giấc, bệnh được lành, Sư bèn quyết
chí xuất gia. Theo một vị kỳ túc trong làng, Sư được thọ
giới cụ túc và chuyên nghiên cứu về Luật tạng.
Nghe
ở vùng Lãng Sơn thanh u vắng vẻ, tiện cho sự tu học, Sư
chống gậy đi về phương đông. Trải qua bảy năm tham học,
Sư gặp được Thiền sư Bảo Giác ở chùa Viên Minh, qua một
câu nói, Sư liền khế hội.
Khoảng
niên hiệu Chính Long Bảo Ứng (1163-1173), lúc Thiền sư Bảo
Giác sắp tịch có nói:
-
Sanh già bệnh chết là việc thường của người đời, riêng
ta há lại khỏi sao?
Sư
liền hỏi:- Ngày nay Tôn đức thế nào ?
Bảo
Giác cười nói kệ:
Muôn
pháp về không không thể nương,
Chân
như lặng lẽ hiện tỏ tường,
Thấu
tột nguồn tâm không chỗ chỉ,
Nước
tâm bóng nguyệt bặt nghĩ lường.
(Vạn
pháp qui không vô khả y,
Qui
tịch chân như mục tiền ky,
Đạt
ngộ tâm viên vô sở chỉ,
Thủy
tâm thủy nguyệt dẫn tâm nghì. (Câu này nguyên văn “thủy
thủy tâm nguyệt dẫn tâm nghì”, hai chữ thủy viết lộn
nên đổi lại.)
Nói
kệ xong, Bảo Giác truyền tâm ấn cho Sư.
Từ
đây, tùy phương giáo hóa, dần dần đến chùa Quốc Thanh
trên núi Linh Bí ở An Phủ, Sư bèn dừng lại trụ trì. Sư
ở đây cấm túc sáu năm chuyên tu hạnh đầu-đà. Quan Châu
mục tên Phạm Từ nghe danh đức rất quí mến, đến ra mắt
và kính lễ, ông phát tâm thỉnh Sư đúc hồng chung để tại
sơn môn.
Sau,
Sư trở về làng cũ trùng tu lại ngôi chùa Quảng Thánh và
quyên tiền đúc chuông, mua trống, dựng bia. Sư trụ luôn ở
đây thu nhận môn đồ giáo hóa.
Có
vị tăng hỏi:- Thế nào là Phật lý ?
Sư
đáp:- Ngươi, ta.
Sư
thường bảo:
-
Tánh của tâm chính là tánh của Như Lai tạng tâm. Thế nên
tự tánh tâm thanh tịnh vậy.
Đến
ngày 7 tháng 7 niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ ba (1207), sắp
tịch Sư nói kệ:
Thời
nay giảng đạo hiếm tri âm,
Chỉ
bởi vì người mất đạo tâm.
Nào
giống Tử Kỳ nghe nhạc giỏi,
Nghe
qua suốt cả Bá Nha cầm.
(Thử
thời thuyết đạo hãn tri âm,
Chỉ
vị như tư tán đạo tâm.
Hề
tợ Tử Kỳ đa sảng sấm,
Thính
lai nhất đạt Bá Nha cầm.)
Lại
nói:
Thu
về mát mẻ thích trong lòng,
Tám
đấu tài cao hát thong dong.
Cửa
thiền những thẹn người si độn,
Biết
lấy câu gì để truyền tâm.
(Thu
lai lương khí sảng hung khâm,
Bát
đấu tài cao đối nguyệt ngâm.
Kham
tiếu thiền gia si độn khách,
Vi
hà tương ngữ dĩ truyền tâm?)
Nói
kệ xong, Sư ngồi kiết già thị tịch.