Thiền
Sư KHÁNH HỶ
(1066
- 1142)-(Đời thứ 14, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, vốn hạt giống tịnh
hạnh. Thuở nhỏ, Sư đã không ăn thịt cá. Lớn lên theo thọ
học với Thiền sư Bổn Tịch ở chùa Chúc Thánh.
Một
hôm, trên đường đến nhà đàn việt thọ trai, Sư hỏi:
-
Thế nào là ý chính của Tổ sư ?
Ngay
lúc đó nghe tiếng trống lên đồng trong nhà dân, Bổn Tịch
nói:
-
Lời nói ấy đâu không phải đồng cốt giáng thần ?
-
Hòa thượng chớ chuyên nói đùa.
-
Ta không từng có mảy may nói đùa.
Sư
không hội, bèn từ thầy mà đi.
Đến
chùa Vạn Tuế, Sư ra mắt Thiền sư Biện Tài. Biện Tài hỏi:
-
Ngươi từ đâu đến ?
Sư
thưa:- Con từ Bổn Tịch đến.
-
Thầy ấy cũng là thiện tri thức một phương, đã từng nói
với ngươi câu gì ?
-
Con đã thờ Thầy nhiều năm, chỉ một câu hỏi mà chẳng
khứng cho, nên con bỏ đi.
-
Ngươi đã từng hỏi câu gì ?
Sư
liền thuật lại câu hỏi trước. Biện Tài bảo:
-
Ôi ! Tịch sư vì ngươi đã nói tột rồi, chớ hủy báng Bổn
sư không tốt.
Sư
dừng lại suy nghĩ, Biện Tài bảo:
-
Đâu không nghe nói khi đạt khắp cảnh đầy đủ, chẳng ngộ
hằng trái xa.
Sư
bỗng nhiên đốn ngộ, liền trở về yết kiến Bổn Tịch.
Bổn
Tịch thấy Sư trở về bèn hỏi:
-
Ngươi đến đâu mà về mau thế ?
Sư
sụp xuống lạy thưa:
-
Con mang tội hủy báng Hòa thượng nên trở về xin sám hối.
-
Tướng tội, tánh nó không, ngươi làm sao sám hối ?
-
Phải như thế mà sám hối.
Bổn
Tịch liền thôi.
*
*
*
Sư
cùng hai Thiền giả Tịnh Nhãn, Tịnh Như đứng hầu thầy.
Bổn
Tịch bảo:
-
Các nhân giả ở trong tông môn của ta, học hỏi đã lâu.
Các ông hãy trình kiến giải của mình, để ta xem xét chỗ
tiến đạo của các ông thế nào ?
Tịnh
Nhãn, Tịnh Như toan mở miệng đáp, Sư bèn nói to:
-
Một khi mắt bị bệnh, hoa đốm rơi loạn giữa hư không.
Bổn
Tịch khen:
-
Xà-lê Khánh Hỷ! Sao dùng thuyền lại đập bể gàu múc nước
?
-
Dùng thuyền làm gì ?
-
Kẻ lanh lợi, chớ có mở hoác, ngươi chỉ giỏi nói đến
việc bên này, nếu việc bên kia vẫn còn chưa mộng thấy.
-
Tuy nhiên chỉ là y.
-
Rời khỏi đầu sào trăm trượng buông tay đi, ngươi nói làm
sao ?
Sư
nắm hai tay, thưa:
-
Chẳng liễm ! Chẳng liễm !
-
Tha ngươi một gậy.
Do
đây, danh tiếng Sư đồn khắp tùng lâm.
*
*
*
Khoảng
niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138), vua Lý Thần Tông
mời Sư vào kinh. Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ, vua bái phong
chức Tăng Lục, lại thăng chức Tăng Thống.
Một
hôm, đệ tử Pháp Dung hỏi:
-
Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh ?
Sư
ứng thinh đáp bài kệ:
Uổng
công thôi hỏi sắc cùng không,
Học
đạo gì hơn phỏng Tổ tông.
Ngoài
trời tìm tâm thật khó thấy,
Thế
gian trồng quế đâu thành tòng.
Đầu
lông trùm cả càn khôn thảy,
Hạt
cải bao gồm nhật nguyệt trong.
Đại
dụng hiện tiền tay nắm vững,
Ai
phân phàm thánh với tây đông.
(Lao
sanh hưu vấn sắc kiêm không,
Học
đạo vô như phỏng Tổ tông.
Thiên
ngoại mích tâm nan định thể,
Nhân
gian thực quế khởi thành tùng.
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung.
Đại
dụng hiện tiền quyền tại thủ,
Thùy
tri phàm thánh dữ tây đông?)
*
*
*
Niên
hiệu Đại Định năm thứ ba (1142) nhằm năm Nhâm Tuất, ngày
27 tháng giêng, Sư thị hiện có chút bệnh rồi tịch, thọ
76 tuổi.
Sư
có sáng tác “Ngộ Đạo Ca Thi Tập”, được lưu hành ở
đời.
Theo
Sử ký ghi Sư tịch vào năm Thiên Chương Bảo Tự thứ ba (1135).
Thiền
Sư GIỚI KHÔNG
(Đời
thứ 15, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
tục danh là Nguyễn Tuân, con một lương gia trong quận Mãn
Đẩu. Thuở nhỏ, Sư đã mến Phật pháp, theo Thiền sư Quảng
Phước ở chùa Nguyên Hòa trên núi Chân Ma xuất gia và thọ
giới Cụ túc. Theo Thầy tu học mấy năm, Sư nhận được
ý chỉ.
Sau,
Sư đến Lịch Sơn dựng một am nhỏ, chuyên tu thiền định
khoảng năm, sáu năm. Rời am, Sư chống gậy xuống núi, tùy
phương hóa đạo. Trên đường ngang qua vùng Nam Sách, Sư lại
vào trong hang đá Thánh Chúa cấm túc sáu năm, tu hạnh đầu-đà.
Vua
Lý Thần Tông (1128-1138) nhiều lần vời về kinh, Sư từ chối
mãi, sau bất đắc dĩ mới nhận lời. Về đến kinh, vua sắc
Sư ở chùa Gia Lâm để giáo hóa.
Về
già, Sư trở về quê trụ trì chùa làng Tháp Bát quận Mãn
Đẩu. Chính Sư trùng tu lại được chín mươi lăm ngôi chùa.
Một
hôm không bệnh Sư nói kệ dạy chúng:
Ta
có một việc kỳ đặc,
Chẳng
xanh vàng đen đỏ trắng.
Cả
người tại gia, xuất gia,
Thích
sanh, chán tử là giặc.
Chẳng
rõ sanh tử khác đường,
Sanh
tử chỉ là được mất.
Nếu
cho sanh tử khác đường,
Lừa
cả Thích-ca, Di-lặc.
Ví
biết sanh tử, sanh tử,
Mới
hiểu lão tăng chỗ náu,
Môn
nhân, hậu học, các người,
Chớ
nhận khuôn mẫu pháp tắc.
(Ngã
hữu nhất sự kỳ đặc,
Phi
thanh huỳnh xích bạch hắc.
Thiên
hạ tại gia xuất gia,
Thân
sanh ố tử vi tặc.
Bất
tri sanh tử dị lộ,
Sanh
tử chỉ thị thất đắc.
Nhược
ngôn sanh tử dị đồ,
Trám
khước Thích-ca Di-lặc.
Nhược
tri sanh tử, sanh tử,
Phương
hội lão tăng xứ nặc.
Nhữ
đẳng hậu học môn nhân,
Mạc
nhận bàn tinh quĩ tắc.)
Nói
kệ xong, Sư cười một tiếng lớn, rồi chấp tay viên tịch.
Môn nhân và đệ tử là Châu mục Lê Kiếm sai các tráng đinh
lo việc hỏa táng, thu xá-lợi xây tháp thờ, đồng thời đắp
tượng Sư để cúng dường.
Thiền
Sư PHÁP DUNG
(?
- 1174)-(Đời thứ 15, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Lê quê ở Bối Lý, là dòng dõi Châu mục Ái Châu Lê Lương
dưới thời Đường. Trải mười lăm đời làm Châu mục,
gia tộc vinh hiển. Cha là Huyền Nghi hiệu Tăng Phán. Sư hình
thái đẹp đẽ, giọng nói trong thanh, đối với kinh văn ngọc
kệ không đâu chẳng tán tụng.
Thuở
bé, Sư theo Tăng thống Khánh Hỷ xuất gia. Khánh Hỷ thấy
Sư khen là kỳ đặc, bèn đem pháp ấn trao cho.
Từ
đó, Sư mặc ý ngao du sơn thủy, tùy duyên hóa đạo. Kế,
Sư dừng ở chùa Khai Giác trên ngọn Thứu Phong. Hằng ngày
môn đồ tìm đến tham vấn đầy thất. Sau, Sư về núi Ma
Ni ở phủ Thanh Hóa, dựng ngôi chùa Hương Nghiêm rồi trụ
trì.
Niên
hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ nhất (1174) nhằm năm Giáp Ngọ,
ngày mùng 5 tháng 2, Sư không bệnh mà tịch.
Môn
nhơn là Đạo Lâm... làm lễ hỏa táng, xây tháp thờ Sư tại
bổn sơn.
Thiền
Sư KHÔNG LỘ
(?
- 1119)-(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Dương, không rõ tên thực là gì, quê ở làng Hải Thanh.
Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề
ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh
(1059-1065), Sư theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng
làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.
Phong
cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng
mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên thiền định,
trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.
Sau
khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt
nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục.
Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.
Đến
ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119)
đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng,
thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang [Thiền
sư Không Lộ chùa Nghiêm Quang: Chùa Nghiêm Quang đổi tên là
Thần
Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy
hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở
tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư,
tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa
Keo dưới.]là nơi Sư trụ trì.
Tác
phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn.
Kệ
Ngôn Hoài:
Trạch
đắc long xà địa khả cư,
Dã
tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu
thời trực thướng cô phong đảnh,
Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Dịch:
Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả
buổi tình quê những mảng vui.
Có
lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một
hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.
(Ngô Tất Tố)
Thơ
Ngư Nhàn:
Vạn
lý thanh giang vạn lý thiên,
Nhất
thôn tang giá nhất thôn yên.
Ngư
ông thùy trước vô nhân hoán,
Quá
ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.
Dịch:
Muôn
dặm sông dài, muôn dặm trời,
Một
làng dâu giá, một làng hơi.
Ông
chài mê ngủ, không người gọi,
Tỉnh
giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.
Thiền
Sư ĐẠO HUỆ
(?
- 1172)-(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Âu, quê ở Chân Hộ làng Như Nguyệt, tướng mạo đoan
trang, tiếng nói rất trong trẻo.
Năm
25 tuổi, Sư theo Ngô Pháp Hoa (Thông Biện) ở chùa Phổ Ninh
xuất gia. Ở đây Sư thầm hỏi về huyền môn và thâm đắc
đến chỗ uyên áo.
Sau,
Sư tìm đến chùa Quang Minh núi Thiên Phúc trong huyện Tiên
Du dừng trụ. Sư khép mình trong giới luật, chuyên tu thiền
định, suốt ngày đêm không nằm, ngót sáu năm trường. Cảm
đến loài khỉ vượn trong núi họp lại nghe pháp. Do đó,
tiếng Sư vang dậy đến kinh sư.
Niên
hiệu Đại Định thứ hai mươi (1159), Hoàng cô Thụy Minh có
bệnh, vua sai sứ thỉnh Sư vào xem bệnh. Khi Sư xuống núi
khỉ vượn đều kêu la bi thảm, như quyến luyến trong sự
chia ly. Khi vào cung, Sư vừa đến cửa ngoài thì bệnh Hoàng
cô được lành. Vua Lý Anh Tông rất vui mừng, mời Sư ở lại
chùa Báo Thiên trong khoảng mười ngày. Các công khanh và bạn
đạo khắp nơi nghe danh Sư tìm đến thăm viếng đông đảo
không kể xiết. Nhân đó, Sư khai đường giáo hóa, không trở
về núi lại.
Đến
niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ mười (1172) ngày mùng một
tháng tám, Sư có chút bệnh, than rằng: “Loạn ly lan rộng,
ái chừ, từ đó mà đến.”
Lại
nói kệ:
Đất
nước lửa gió thức,
Nguyên
lai thảy đều không.
Như
mây lại tan hợp,
Phật
nhật chiếu không cùng.
Sắc
thân cùng diệu thể,
Chẳng
hợp chẳng chia lìa.
Nếu
người cần phân biệt,
Trong
lò một cành hoa.
(Địa
thủy hỏa phong thức,
Nguyên
lai nhất thiết không.
Như
vân hoàn tụ tán,
Phật
nhật chiếu vô cùng.
Sắc
thân dữ diệu thể,
Bất
hiệp bất phân ly.
Nhược
nhân yếu chân biệt,
Lô
trung hoa nhất chi.)
Đến
canh ba, Sư im lặng mà hóa. Môn nhân đưa linh cữu Sư về cố
quận làm lễ hỏa táng, xây tháp thờ tại chùa Bảo Khám,
núi Tiên Du, lại đưa một phần xá-lợi về an trí.
Thiền
Sư BẢO GIÁM
(?
- 1173)-(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Kiều tên Phù, quê ở làng Trung Thụy. Tánh tình trung thực,
giản dị và điềm đạm. Thuở nhỏ học Nho, thông hiểu Thi,
Thơ, Lễ, Dịch, chữ viết rất đẹp. Sư làm quan đến chức
Cung Hậu Xá Nhân đời Lý Anh Tông.
Năm
30 tuổi, Sư bỏ quan đến chùa Bảo Phước quận Mỹ Lương
thọ giáo xuất gia với Thiền sư Đa Vân. Tạng kinh trong chùa
nầy, chính tay Sư chép lại. Đến khi Thiền sư Đa Vân tịch,
Sư kế tiếp trụ trì chùa này. Đời sống của Sư rất là
đạm bạc, suốt năm chỉ mặc áo gai thô sơ, trong mình không
dính một sợi tơ. Công việc tu trì thì không bao giờ trễ
nải.
Sư
thường bảo môn đồ:
-
Muốn tiến đến tông thừa của Phật là phải siêng năng,
song thành Phật chánh giác phải nhờ trí tuệ. Ví như nhắm
bắn cái đích ngoài trăm bước, mũi tên đến được là nhờ
sức mạnh, song trúng được đích không phải do sức.
Đến
ngày 7 tháng 5 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ mười một
(1173), sắp viên tịch, Sư nói kệ:
Được
thành chánh giác ít nhờ tu,
Ấy
chỉ nhọc nhằn, trí tuệ ưu.
Nhận
được ma-ni lý huyền diệu,
Ví
thể trên không hiện vầng hồng.
Người
trí khác nào trăng rọi không,
Chiếu
soi khắp cõi sáng khôn ngần.
Nếu
người cần biết, nên phân biệt,
Khói
mù man mác phủ non chiều.
(Đắc
thành chánh giác hãn bằng tu,
Chỉ
vị lao lung, trí tuệ ưu.
Nhận
đắc ma-ni huyền diệu lý,
Chỉ
như thiên thượng hiển kim ô.
Trí
giả du như nguyệt chiếu thiên,
Quang
hàm trần sát chiếu vô biên.
Nhược
nhơn yếu thức tu phân biệt,
Lãnh
thượng phù sơ tỏa mộ yên.)
Sư
lại dạy:
-
Tâm ý Như Lai đều không thể được, chỉ nên gọi là Vô
lượng trí. Cho nên biết, tâm Như Lai như hư không, là chỗ
nương của tất cả, trí tuệ của Như Lai cũng như thế.
Nói
xong Sư tịch, môn đồ trà tỳ thu xá-lợi xây tháp thờ.
Thiền
Sư BỔN TỊNH
(1100
- 1176)-(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Kiều quê ở Phù Diễn, Vĩnh Khương. Thuở nhỏ rất hiếu
học, thấu tột được lẽ sinh tử của đạo Phật, thông
suốt thuyết nhân nghĩa của đạo Nho.
Sư
xuất gia theo học với Thiền sư Mãn Giác ở chùa Giáo Nguyên,
đạt được thâm chỉ Thiền tông.
Năm
Đại Định thứ hai (1141), Sư lên núi Chí Linh, tu tại am Bình
Dương. Quan Hữu Bật Ngụy Quốc Bảo mến phục đức hạnh
của Sư, kính thờ làm thầy. Sau Sư nhận lời thỉnh của
Thành Dương Công, đến trụ trì chùa Kiền An. Sư thường
phát đại nguyện:
-
Nguyện con đời đời chẳng lầm tông chỉ của Phật, hạnh
tự giác giác tha không bao giờ gián cách, dùng phương tiện
dẫn dắt mọi người đồng vào một đạo.
Niên
hiệu Trinh Phù năm đầu (1176), tháng giêng, Sư không bệnh
gọi chúng đến dạy:
Một
đạo một đạo,
Mèo
đá vẫy đuôi,
Nhảy
bổ chụp chuột,
Lại
hóa thành quỉ.
Nếu
cần rành rõ
Vàng
sanh sông Lệ.
(Nhất
quỹ nhất quỹ ?
Thạch
miêu diêu vĩ
Trịch
thân tróc thử
Hoàn
hóa vi quỉ
Nhược
yếu phân minh
Kim
sanh Lệ thủy.) ?
Và
kệ:
Thân
huyễn vốn từ không tịch sanh,
Dường
tợ trong gương hiện bóng hình.
Bóng
hình giác rõ không tất cả,
Thân
huyễn chớp mắt chứng tướng chân.
(Huyễn
thân bổn tự không tịch sanh,
Du
như cảnh trung xuất hình tượng.
Hình
tượng giác liễu nhất thiết không,
Huyễn
thân tu du chứng thật tướng.)
Nói
kệ xong, Sư thị tịch, thọ 77 tuổi.
Thiền
Sư TRÍ
(Đời
thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Lê tên Thước, dòng dõi Ngự Man Vương triều Lê Đại
Hành quê ở Phong Châu. Ông nội tên Thuận Tông làm quan triều
Lý, chức Trung thư đại liêu ban, kết duyên với công chúa
Kim Thành. Ông thân sinh Sư tên Đạc làm quan chức Minh Tự.
Người anh tên Kiếm bổ chức Tam Nguyên Đô Tuần Kiểm và
Châu mục. Thuở nhỏ, Sư vẫn theo nghiệp trường ốc, thi
đỗ Tiến sĩ, sung chức Cung Hầu Thư Gia.
Năm
27 tuổi, Sư theo ông anh đến Pháp tịch của Thiền sư Giới
Không, nghe giảng kinh Kim Cang đến câu:
Tất
cả pháp hữu vi,
Như
mộng huyễn bọt bóng,
Như
sương cũng như điện,
Phải
quán sát như thế.
(Nhất
thiết hữu vi pháp,
Như
mộng huyễn bào ảnh,
Như
lộ diệc như điện,
Ưng
tác như thị quán.)
Bỗng
nhiên Sư cảm ngộ, bèn nghĩ: “Năm lời của đức Như Lai
chẳng phải luống dối. Bởi tất cả pháp trong thế gian đều
hư huyễn không thật chỉ có Đạo mới là chân thật. Ta còn
cầu cái gì? Nhà Nho thì truyền bá đạo vua tôi cha con; Phật
pháp thì dạy rõ công đức của Thanh văn, Bồ-tát. Hai lối
dạy tuy có khác, tựu trung chỉ về một mối mà thôi. Nhưng
muốn vượt khỏi khổ lớn sanh tử, dứt chấp có không, ngoài
Phật giáo không thể được vậy.”
Nghĩ
xong Sư xin cạo tóc xuất gia.
*
*
*
Sau
khi được tâm ấn, Sư thẳng vào núi Từ Sơn tạm trú dưới
gốc cây, ngày đêm thiền định chuyên tu khổ hạnh, thệ
trọn sáu năm.
Một
hôm Sư đang ngồi thấy con cọp đuổi con nai chạy đến. Sư
dụ bảo chúng: “Tất cả chúng sanh đều yêu tiếc tánh mạng,
các ngươi chớ nên hại nhau.” Cọp nghe lời Sư cúi đầu
sát đất nhận qui y rồi đi.
Mãn
sáu năm, Sư xuống chân núi cất am tên Phù Môn, thu nhận đồ
chúng giáo hóa. Tín thí bốn phương dâng lễ cúng dường chất
đầy cả am.
Quanh
núi có bọn man rợ tụ tập nhau làm trộm cướp. Mỗi khi
Sư đi ra ngoài, thường có cọp lớn nằm duỗi chân trước
cửa am. Kẻ trộm thấy thế chẳng dám xâm phạm, chúng lại
cầu xin Sư chỉ dạy đạo lý. Những người được Sư dạy
dỗ trở về con đường lương thiện rất nhiều.
Triều
Lý hai vua Anh Tông và Cao Tông nhiều lần vời Sư về kinh,
mà Sư đều từ chối.
Quan
Phụ quốc Thái úy Tô Hiến Thành và Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa
đều xin làm đệ tử Sư, mà suốt mười năm chưa từng biết
mặt thầy. Bỗng một hôm, thầy trò gặp nhau rất hoan hỉ.
Vừa hỏi thăm xong, Sư bèn nói kệ dặn dò:
Đã
mang giống Phật dưỡng trong lòng,
Nghe
nói lời mầu ý thích mong.
Vất
ngoài ngàn dặm niềm tham muốn,
Lý
nhiệm càng ngày càng bao dong.
(Ký
hoài xuất tố dưỡng hung trung,
Văn
thuyết vi ngôn ý duyệt tùng.
Tham
dục truất trừ thiên lý ngoại,
Hy
di chi lý nhật bao dung.)
Lại
nói:
Đạm
bạc tự giữ
Chỉ
đức là vụ.
Hoặc
nói lời lành
Tha
thiết một câu:
Lòng
không bỉ ngã,
Đã
dứt bụi mù,
Ngày
đêm lên xuống,
Không
hình khá trụ,
Như
bóng như vang,
Không
vết khá đến.
(Đạm
nhiên tự thủ
Duy
đức thị vụ.
Hoặc
vân thiện ngôn
Quyền
quyền nhất cú
Tâm
vô bỉ ngã
Ký
tuyệt hôn mai,
Nhật
dạ trắc giáng,
Vô
hình khả trụ.
Như
ảnh như hưởng
Vô
tích khả thú.)
Nói
xong, Sư chấp tay ngồi ngay thẳng vui vẻ thị tịch. Các công
khanh và đệ tử gào khóc thảm thiết, tiếng vang cả núi.
Thiền
Sư CHÂN KHÔNG
(1045
- 1100) - (Đời thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Vương tục danh Hải Thiềm, quê làng Phù Đổng huyện
Tiên Du, con nhà sang trọng. Lúc mẹ mang thai Sư, cha mộng thấy
vị Tăng trao cho cây tích trượng. Sau đó, sinh ra Sư.
Thuở
nhỏ, Sư thích ở riêng một mình, siêng năng đọc sách, chẳng
màng những việc vặt vãnh. Năm 15 tuổi, Sư đã bác thông
sách sử. Đến 20 tuổi, Sư xuất gia, rồi dạo khắp tùng
lâm tìm nơi khế hợp.
Sư
đến pháp hội chùa Tĩnh Lự núi Đông Cứu nghe giảng kinh
Pháp Hoa, hoát nhiên tỉnh ngộ. Cơ duyên khế hợp ấy, khác
nào con rùa mù gặp bộng cây. Sư ở đây nhập thất sáu năm,
sự tham vấn càng ngày càng sâu. Nhân đó, được truyền tâm
ấn.
Sau,
Sư đến núi Từ Sơn dừng trụ. Tự lấy giới luật giữ
mình, trên hai mươi năm không hề xuống núi. Danh tiếng vang
dậy xa gần. Vua Lý Nhân Tông nghe danh, xuống chiếu mời vào
Đại nội giảng kinh Pháp Hoa. Thính giả nghe giảng ai nấy
đều kính phục.
Bấy
giờ, Thái úy Lý Thường Kiệt, Thích sử Lạng Châu, Tướng
quốc Thân Công rất kính trọng Sư thường xả tài vật cúng
dường. Những phần cúng dường Sư đều dùng vào việc sửa
chùa xây tháp, đúc hồng chung để lại đời.
Về
sau, Sư trụ trì chùa Chúc Thánh trên núi Phả Lại, có vị
tăng đến hỏi:
-
Thế nào là diệu đạo ?
Sư
đáp:
-
Sau khi giác rồi mới biết.
-
Giáo chỉ từ trước học nhân chưa rõ, lời dạy hôm nay làm
sao hội được ?
-
Nếu đến tiên gia trong động sâu,
Hoàn
đan hoán cốt được mang về.
-
Thế nào là hoàn đan ?
-
Nhiều kiếp tối tăm không hiểu thấu,
Hôm
nay chợt ngộ được khai minh.
-
Thế nào là khai minh ?
-
Khai minh chiếu khắp cõi ta-bà,
Tất
cả chúng sanh chung một nhà.
Tăng
lại thưa:
-
Tuy nhiên không biện rõ.
-
Chốn chốn đều gặp y.
-
Cái gì là y ?
Sư
đáp:
-
Kiếp hỏa cháy tan mảy may sạch,
Núi
xanh như cũ, mây trắng bay.
Tăng
hỏi:
-
Khi sắc thân bại hoại thì thế nào ?
-
Xuân đến, xuân đi ngỡ xuân hết,
Hoa
nở, hoa tàn chỉ là xuân.
Tăng
suy nghĩ, Sư quát rằng:
-
Đất bằng sau binh lửa,
Thực
vật đều ngát thơm.
(Bình
nguyên kinh hỏa hậu,
Thực
vật các thù phương)
Tăng
lễ bái.
*
*
*
Vãn
niên, Sư trở về quận nhà, trùng tu lại ngôi chùa Bảo Cảm.
Công việc vừa xong, ngày mùng 1 tháng 11 niên hiệu Hội Phong
thứ chín (1100), Sư báo tin sắp tịch nói kệ:
Diệu
bản thênh thang rõ tự bày,
Gió
hòa thổi dậy khắp ta-bà.
Người
người nhận được vô vi lạc,
Nếu
được vô vi mới là nhà.
(Diệu
bản hư vô minh tự khoa,
Hòa
phong xuy khởi biến ta-bà.
Nhân
nhân tận thức vô vi lạc,
Nhược
đắc vô vi thủy thị gia.)
Đến
nửa đêm, Sư lại bảo: “Đạo của ta đã thành, ta giáo
hóa đã xong, vậy ta tùy ý ra đi.” Bèn ngồi kiết già mà
tịch, thọ 55 tuổi, được 36 tuổi hạ.
Hoàng
Thái Hậu, Công chúa Thiên Thành, Ni sư Diệu Nhân và đông
đảo đệ tử làm lễ cúng dường trai tăng hai ngày. Đại
sư Nghĩa Hải ở chùa Đại Minh, được vua ban tử y. Sa-môn
Pháp Thành, toàn thể đồ chúng lo đủ lễ an táng Sư, xây
tháp bên ngoài trai đường.
*
Học
sĩ Nguyễn Văn Cử vâng chiếu soạn lời minh ghi trên tháp.
Công bộ thượng thơ Đoàn Văn Khâm làm thơ truy điệu Sư:
Trong
triều, ngoài nội kính gia phong,
Chống
gậy đường mây quyện bóng rồng.
Cửa
từ chợt hoảng rường cột đổ,
Rừng
đạo bùi ngùi cội thông long.
Cỏ
biếc quanh mồ thêm tháp mới,
Non
xanh nước thắm gởi thân trong.
Vắng
vẻ cửa thiền ai đến gõ,
Văng
vẳng chuông chiều nát cõi lòng.
Hạnh
cao triều dã chấn thanh phong,
Tích
trụ như vân mộ tập long.
Nhân
vũ hốt kinh băng huệ đống,
Đạo
lâm trường thán yển trinh tòng,
Phần
oanh bích thảo thiêm tân tháp
Thủy
trám thanh sơn nhận tạ dung.
Tịch
tịch thiền quan thùy cánh khấu,
Kinh
qua sầu thính mộ thiên chung.)
Thiền
Sư ĐẠO LÂM
(?
- 1203) - (Đời thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Tăng quê ở Cửu Cao (?), Chu Diên. Lúc nhỏ Sư đã mộ
Không tông, ý chí cao cả nết hạnh thuần khiết. Sư theo học
với Thiền sư Pháp Dung ở chùa Hương Nghiêm, chẳng bao lâu
đã được thầy truyền tâm ấn.
Về
sau, Sư trụ trì chùa Long Vân làng Siêu Loại, Long Phúc, tùy
duyên nối tiếp ngọn đuốc chánh pháp khiến được rạng
rỡ. Khi tiếp xúc với mọi người tùy chỗ khế hợp, Sư
làm lợi ích cho họ chẳng ít.
Đến
niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai (1203) nhằm năm Quí Hợi,
khoảng tháng năm, Sư ngồi kiết già viên tịch.
Ni
Sư DIỆU NHÂN
(1041
- 1113)-(Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Bà
tên Ngọc Kiều là trưởng nữ của Phụng Càn Vương. Thuở
nhỏ bà thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang, được
vua Lý Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên vua gả cho người
họ Lê, làm quan Châu mục ở Chân Đăng. Chồng mất, bà tự
thệ thủ tiết không chịu tái giá.
Một
hôm bà than:
-
Ta xem tất cả pháp trong thế gian như giấc mộng, huyễn ảo,
huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao ?
Thế
rồi bà đem tất cả tư trang ra bố thí, cạo tóc xuất gia,
đến Thiền sư Chân Không ở làng Phù Đổng xin thọ giới
Bồ-tát, và học hỏi tâm yếu. Thiền sư Chân Không cho bà
pháp danh Diệu Nhân và dạy trụ trì Ni viện Hương Hải ở
làng Phù Đổng, Tiên Du. (Ni sư Diệu Nhân Hương Hải Ni Viện:
cũng gọi là chùa Linh Ứng hiện nay nằm bên cạnh chùa Kiến
Sơ, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.)
Hằng
ngày, bà gìn giữ giới luật và hành thiền được chánh định,
là bậc mẫu mực trong ni chúng thời ấy. Có người đến
cầu học, bà thường dạy họ tu tập Đại thừa, dạy rằng:
-
Chỉ tánh mình trở về nguồn, đốn tiệm liền tùy đó mà
vào.
Thường
ngày, bà chỉ thích ngồi lặng lẽ, có bệnh kỵ thanh sắc,
ngôn ngữ. Có học giả hỏi:
-
Tất cả chúng sanh bệnh nên ta bệnh, tại sao lại kỵ sắc
thanh ?
Bà
nương theo kinh đáp:
Nếu
dùng sắc thấy ta,
Dùng
âm thanh cầu ta,
Người
ấy hành đạo tà,
Không
thể thấy Như Lai.
(Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai.)
-
Tại sao ngồi yên?
-
Xưa nay không đi.
-
Thế nào chẳng nói ?
-
Đạo vốn không lời.
Năm
Hội Tường Đại Khánh thứ tư (1113), ngày mùng 1 tháng 6,
bà có bệnh, nói kệ dạy chúng:
Sanh
già bệnh chết
Xưa
nay lẽ thường.
Muốn
cầu thoát ra
Mở
trói thêm ràng.
Mê
đó tìm Phật,
Lầm
đó cầu thiền.
Phật,
thiền chẳng cầu,
Uổng
miệng không lời.
(Sanh
lão bệnh tử
Tự
cổ thường nhiên
Dục
cầu xuất ly
Giải
phược thiêm triền.
Mê
chi cầu Phật
Hoặc
chi cầu thiền
Thiền,
Phật bất cầu
Uổng
khẩu vô ngôn.)
Nói
kệ xong, bà cạo tóc, tắm rửa thân thể, ngồi kiết già
viên tịch, thọ 72 tuổi.
Thiền
Sư VIÊN HỌC
(1073
- 1136)-(Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Hoàng, quê làng Như Nguyệt, tu ở chùa Đại An Quốc, huyện
Tế Giang. Thuở nhỏ, Sư đọc hết các loại sách ngoài đời,
đến năm 20 tuổi mới nghiên tầm nội điển.
Nhơn
nghe một câu nói của Thiền sư Chân Không mà tâm Sư được
mở sáng. Từ đó, thiền học càng cao, luật nghi cũng hoàn
bị. Suốt năm, Sư chỉ khoác một áo nạp, hai mùa lạnh nóng
cũng thế thôi. Bình bát, tích trượng chẳng rời thân, Sư
tùy phương giáo hóa. Cho đến việc sửa cầu, đắp đường...
chẳng việc nào Sư không đứng ra làm trước, rồi mới khuyến
bảo người.
Về
sau, Sư trùng tu ngôi chùa Quốc Thanh ở làng Phù Cầm và đúc
một quả chuông. Sư có làm bài kệ hóa duyên:
Sáu
thức tối tăm khổ đêm dài,
Vô
minh che đậy mải mê say.
Sớm
tối nghe chuông lòng tỉnh giác,
Thần
lười dứt sạch, được thần thông.
(Lục
thức thường hôn chung dạ khổ,
Vô
minh bị phú cửu mê dung.
Trú
dạ văn chung khai giác ngộ,
Lãn
thần tịnh sát đắc thần thông.)[Ở đây chữ “sát”, bản
khác chữ “khước”.]
Năm
Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136) nhằm năm Bính Thìn ngày
14 tháng 6, Sư thị tịch, thọ 64 tuổi.
Môn
đệ là Ngô Thông Thiền, Lưu Vương Nhân, Lữ Pháp Hoa, Châu
Diệu Dụng... thu di thể Sư xây tháp thờ.
Thiền
Sư TỊNH THIỀN
(1121
- 1193)-(Đời thứ 17, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Phí tên Hoàn, quê làng Cổ Giao, quận Long Biên. Lúc đầu,
Sư cùng bạn đồng học là Tịnh Không thờ Thiền sư Đạo
Lâm chùa Long Vân làm thầy. Ngày ngày Sư thiết tha vì đạo,
nên thâm nhập được huyền yếu. Đạo Lâm biết Sư là pháp
khí, ban cho pháp hiệu là Tịnh Thiền và ấn chứng rằng:
Tịnh
là trí tịnh tròn mầu
Thiền
là tâm thiền lặng lẽ.
Đạo
Lâm qua đời, Sư mới dạo khắp các thiền hội, tìm bạn
đạo và học hỏi thêm. Đạo duyên thuần thục, Sư về quê
nhà trùng tu ngôi chùa Long Hoa rồi trụ trì tại đây. Hằng
ngày ngoài giờ tu tập thiền luật, mọi hoạt động Sư đều
nhắm vào tâm niệm lợi tha.
Năm
Thiên Tư Gia Thụy thứ tám (1193) nhằm năm Quí Sửu, ngày 12
tháng 8, Sư tịch, thọ 73 tuổi. Môn đệ là Pháp Ký soạn
văn bia chùa ghi rằng:
Sư
sanh đồng thời, họ Lý trị đời,
Sáu
độ đâu quên, tứ hoằng nào bỏ.
Chỗ
uống trà, là chỗ thập phương thí chủ dồn về,
Khi
chống tích, bốn bộ học đồ qui tụ.
Thần
thông khó lường, huyền dụng khôn xét.
Tự
chẳng đến trường Phật giác thì đâu thể nêu cao thắng
nghiệp.
Thực
là vầng trăng báu trong bầu trời, là hoa pháp của linh hồn
xóm làng...
(Sư
sanh đương Lý nhật xuất trị minh thời.
Lục
độ ninh vong, tứ hoằng vật xả.
Hương
bôi phù xứ, thập phương tín chủ ba tùy.
Tích
trượng chấn thời, tứ bộ học đồ vụ tập.
Thần
thông cự trắc, huyền dụng nan lượng.
Tự
phi phó Phật giác tràng, an năng du dương thắng nghiệp.
Chân
sở vị: Thích thiên bảo nguyệt, pháp uyển hồn thôn...)
Quốc
Sư VIÊN THÔNG
(1080
- 1151)-(Đời thứ 18, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
tục danh Nguyễn Nguyên Ức, quê làng Cổ Hiền sau dời về
phường Thái Bạch, kinh đô Thăng Long, lập nghiệp luôn tại
đây. Thế tộc làm Tăng quan, cha tên Huệ Dục làm quan dưới
triều Lý đến chức Tả Hữu Nhai Tăng Lục, đạo hiệu là
Bảo Giác thiền sư.
Sư
tư chất thông minh, học hiểu đến chỗ tinh diệu, xuất gia
lúc còn nhỏ. Thọ học với Thiền sư Viên Học ở chùa An
Quốc, huyện Cổ Hiền, Sư được thầy truyền tâm ấn.
Năm
thứ sáu niên hiệu Hội Phong (1097), Sư đậu thủ khoa kỳ
thi Tam giáo, sung chức Đại Văn. Đến năm thứ tám niên hiệu
Long Phù Nguyên Hóa (1108) Sư lại đứng đầu kỳ tuyển khoa
hoằng tài để bổ khuyết Tăng Đạo. Nhà vua quá quí kính
muốn đem chính sự giao phó cho Sư, Sư cố từ chối chẳng
dám nhận. Vua bèn tiến chức Nội Cung Phụng Truyền Giảng
Pháp Sư. Bấy giờ, Sư tùy cơ giảng giải giáo lý, khiến
người giác ngộ, phá ngu giải hoặc không còn dư thừa. Những
người thụ giáo nơi Sư đều nổi tiếng sau nầy.
Năm
thứ ba niên hiệu Hội Tường Đại Khánh (1112), sau khi trùng
hưng ngôi chùa Diên Thọ, vua sắc Sư làm bài văn bia. Vua mến
phục tài, phong Sư lên chức Tả Nhai Tăng Lục.
Năm
thứ ba niên hiệu Thiên Thuận (1130), vua Lý Thần Tông triệu
Sư vào cung để hỏi việc trị loạn, hưng vong của đất
nước. Sư đáp:
-
Thiên hạ ví như món đồ dùng, đặt vào chỗ yên thì yên,
đặt vào chỗ nguy thì nguy, chỉ ở đức vua thực hành khác
nhau đó thôi. Đức hiếu sinh của vua nhuần thấm đến nhân
dân thì nhân dân yêu vua như cha mẹ, tôn vua như mặt trời,
mặt trăng, thế tức đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy.
Sư
lại tiếp:
-
Việc trị loạn còn ở các quan, được lòng người thì trị
an, mất lòng người thì loạn lạc. Tôi trải xem các đế
vương đời trước, chưa từng chẳng do dùng quân tử mà được
hưng thạnh, vì dùng tiểu nhân mà bị nguy vong. Xét lý do như
thế, không phải tại ngay một sớm một chiều, mà nguyên
do của nó phát từ từ đã lâu lắm vậy.
Trời
đất không thể làm nóng lạnh ngay, ắt phải dần dần từ
xuân sang thu; nhân quân không thể làm trị loạn ngay, ắt phải
dần dần từ thiện ác. Các thánh vương đời xưa biết thế,
nên bắt chước trời tu đức sửa mình, bắt chước đất
chăm tu đức để an dân. Sửa mình là cẩn thận bên trong,
run sợ như dẫm đi trên lớp băng mỏng. Yêu dân là kính cẩn
công chúng, nơm nớp như cầm roi nắm cương ngựa. Được
như thế thì đâu mà chẳng hưng; nếu trái lại thì đâu mà
chẳng vong. Lý do hưng vong từ từ như thế.
Vua
nghe qua rất hài lòng, lại thăng Sư chức Hữu Nhai Tăng Thống,
Tri Giáo Môn Công Sự. Sư nghiêm trang đến gần dâng vua một
bài châm để làm qui củ, lúc nào cũng chăm chỉ chưa từng
thiếu sót.
Năm
thứ năm niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1137) vua sắp băng,
Sư có dự vào hàng Cố mệnh thảo tờ di chiếu. Vua phó thác
mọi việc cho Sư.
Năm
thứ nhất niên hiệu Thiệu Minh (1138), vua Lý Anh Tông lên ngôi,
Thái hậu xét thấy Sư có công lớn nên rất trọng hậu.
Sau,
Sư về làng Cổ Hiền tỉnh Nam Định lập ngôi chùa hiệu
Quốc Ân trụ trì đến già. Những thôn gần đây lấy thuế
cung cấp mọi phí dụng cho Sư.
Năm
thứ tư niên hiệu Đại Định (1143) nhà vua vinh thăng Sư chức
Tả Hữu Nhai Tăng Thống, Nội Cung Phụng Tri Giáo Môn Công
Sự, Truyền Giảng Tam Tạng Văn Chương, Ứng Chế Hộ Quốc
Quốc Sư và ban tử y.
Ngày
21 tháng 4 năm Tân Mùi, niên hiệu Đại Định (1151), Sư họp
chúng từ biệt, không bệnh mà tịch, thọ 72 tuổi.
Tác
phẩm của Sư:
1.-
Chư Phật Tích Duyên Sự, 30 quyển.
2.-
Hồng Chung Văn Bi Ký.
3.-
Tăng Gia Tạp Lục, hơn 50 quyển.
4.-
Viên Thông Tập, hơn một ngàn bài thơ.