Thiền
Sư ĐẠO HẠNH
(?
- 1115)-(Đời thứ 12, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
tục danh là Từ Lộ, con viên Tăng quan Đô Án Từ Vinh. Thuở
nhỏ, Từ Vinh trọ học ở làng Yên Lãng, lấy người con gái
họ Tăng, bèn theo quê quán bên vợ. Bà Tăng sanh ra Sư.
Sư
tánh tình hào hiệp và có chí lớn. Thường làm bạn với
nho giả tên Phí Sinh, đạo sĩ tên Lê Toàn Nghĩa và một phường
chèo tên Vi Ất. Ban đêm, Sư cần cù đọc sách, ban ngày lại
thổi sáo, đá cầu, đánh cờ vui chơi. Thân phụ thấy thế
thường quở mắng về tội biếng nhác.
Một
đêm, ông vào phòng dò xét thấy ngọn đèn đã tàn, sách vở
chất đầy bên cạnh, Sư thì tựa án ngủ say, trong tay còn
cầm quyển sách, tàn đèn rơi đầy cả mặt bàn. Ông mới
biết con chăm lo học, chẳng còn lo lắng nữa.
Sau,
Sư thi đỗ Tăng quan, do nhà vua tổ chức.
*
*
*
Từ
Vinh có sự trái ý với Diên Thành Hầu, Hầu nhờ pháp sư
Đại Điên đánh chết. Sư muốn trả thù cho cha, định sang
Ấn Độ học thuật linh dị để giết Đại Điên. Nhưng khi
đi tới xứ mọi răng vàng, vì thấy đường sá hiểm trở,
Sư đành trở về. Sư vào ẩn trong hang đá Từ Sơn chuyên
trì Đại bi tâm Đà-la-ni. Thời gian sau, Sư thấy đủ khả
năng trả thù cha, bèn tìm đến Đại Điên đánh ông ta mang
bệnh rồi chết.
Từ
đây, oan nghiệp xưa sạch như tuyết tan, các việc đời lặng
như tro lạnh, Sư trải khắp tùng lâm tìm học pháp thiền.
*
*
*
Nghe
Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái Bình, Sư thân đến tham
vấn. Sư nói kệ hỏi về chân tâm:
Lẫn
lộn phàm trần chưa hiểu vàng
Chẳng
biết nơi nào phải chân tâm?
Cúi
mong chỉ thẳng bày phương tiện
Thấy
rõ như như hết khổ tầm.
(Cửu
hỗn phàm trần vị thức câm (kim)
Bất
tri hà xứ thị chân tâm?
Nguyện
thùy chỉ đích khai phương tiện
Liễu
kiến như như đoạn khổ tầm.)
Trí
Huyền đáp:
Trong
ngọc ẩn thanh diễn diệu âm,
Nơi
kia đầy mắt bày thiền tâm.
Hà
sa cảnh là Bồ-đề cảnh,
Nghĩ
đến Bồ-đề cách vạn tầm.
(Ngọc
lý bí thanh diễn diệu âm
Cá
trung mãn mục lộ thiền tâm.
Hà
sa cảnh thị Bồ-đề cảnh,
Nghĩ
hướng Bồ-đề cách vạn tầm.)
Sư
vẫn mờ mịt chẳng hiểu, lại tìm đến pháp hội của Thiền
sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân. Đến đây, Sư cũng lặp
lại câu hỏi:
-
Thế nào là chân tâm ?
Sùng
Phạm đáp: - Cái gì chẳng phải chân tâm ?
Sư
hoát nhiên nhận được. Lại hỏi: - Làm sao gìn giữ ?
Sùng
Phạm bảo: - Đói ăn, khát uống.
Sư
liền lễ bái rồi lui.
Sau,
Sư trụ trì chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích, (Chùa Thiên
Phúc cũng gọi là chùa Thầy ở núi Phật Tích, nay là núi
Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Nơi sanh Thiền sư Đạo
Hạnh có lập chùa
Chiêu
Thiền cũng gọi là chùa Láng để thờ Ngài. Chùa Láng ở
làng Yên Lãng, huyện Từ Liêm, kinh thành Thăng Long, hiện nay
là phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Ca dao có
câu: Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,Trở về chùa Láng, trở
ra hội Thầy. ) tăng chúng tìm đến tham vấn. Có vị tăng
hỏi:
-
Đi đứng nằm ngồi thảy đều Phật tâm, thế nào là Phật
tâm ?
Sư
nói kệ đáp:
Có
thì muôn sự có,
Không
thì tất cả không.
Có,
không trăng đáy nước,
Đừng
mắc có cùng không.
(Tác
hữu trần sa hữu,
Vi
không nhất thiết không.
Hữu
không như thủy nguyệt,
Vật
trước hữu không không.)
Sư
lại tiếp:
Nhật
nguyệt tại non đầu
Người
người tự mất châu.
Kẻ
giàu sẵn ngựa mạnh
Bộ
hành chẳng ngồi xe.
(Nhật
nguyệt tại nham đầu,?
Nhân
nhân tận thất châu.
Phú
nhân hữu câu tử
Bộ
hành bất kỵ câu.)
Sư
sắp tịch, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi y phục, gọi các
môn đồ đến dạy:
- Túc
nhân của ta chưa hết phải còn sanh lại thế gian này tạm
làm vị quốc vương. Sau khi mạng chung ta lại sanh lên cõi
trời thứ ba mươi ba làm Thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị
hư hoại thì ta mới thật vào Niết-bàn, chẳng còn trụ trong
vòng sinh diệt này nữa.
Môn
đồ nghe lời dạy này ai nấy đều buồn thảm rơi lệ. Sư
nói kệ dạy:
Thu
về chẳng hẹn nhạn cùng bay,
Cười
lạt người đời luống xót vay.
Thôi!
Hỡi môn nhân đừng lưu luyến,
Thầy
xưa mấy lượt hóa Thầy nay.
(Thu
lai bất báo nhạn lai qui,
Lãnh
tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị
báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ
sư kỷ độ tác kim Sư.)
Nói
xong, Sư an nhiên mà hóa, mãi đến sau này thân xác vẫn còn
[Đến năm Vĩnh Lạc nhà Minh, bị người Minh đốt cháy. Người
làng ấy đắp tượng để thờ như cũ, hiện nay hãy còn (Theo
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)]
Thiền
Sư BẢO TÁNH và Thiền Sư MINH TÂM
(?
- 1034)-(Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông)
Hai
Sư quê ở Chu Minh, Bảo Tánh họ Nghiêm, Minh Tâm họ Phạm.
Cùng xuất gia thuở nhỏ đồng làm bạn chí thân với nhau.
Hai vị cùng với Thiền sư Viên Chiếu đồng thờ Trưởng
lão Định Hương và sâu được cốt tủy của Thiền.
Về
sau, mỗi người mang tâm ấn tùy phương giáo hóa, đều là
hàng tuấn kiệt trong tùng lâm. Riêng hai Sư cùng trụ tại
chùa Cảm Ứng ở Sơn Ấp, phủ Thiên Đức, chuyên trì tụng
kinh Pháp Hoa, trải 15 năm chưa khi nào thiếu sót. Mỗi khi hai
vị tụng đến phẩm Dược Vương thảy đều rơi nước mắt,
bảo nhau:
- Nhân
địa của Bồ-tát đã nhiều huân tu, đối với tâm Đại
thừa vẫn hay phát đại dõng mãnh tinh tiến chẳng tiếc thân
mạng. Huống là chúng ta ở trong đời Mạt pháp, là người
sơ phát tâm, nếu không có lòng chí thành như thế, thì đối
với Đại Bồ-đề tâm chân đại thừa, làm sao có thể trông
mong ?
Tháng
4 niên hiệu Thiên Thành thứ bảy (1034), hai Sư muốn thiêu
thân, vua Thái Tông được tin, cho sứ thỉnh về triều, lập
hội giảng kinh. Giảng kinh xong, hai Sư đồng nhập hỏa quang
tam-muội, hài cốt còn lại đều thành bảy báu. Vua ra chiếu
lưu hài cốt để ở chùa Trường Thánh cúng dường. Do có
sự linh dị, vua Thái Tông đổi niên hiệu là Thông Thụy,
xây chùa tháp.
Thiền
Sư QUẢNG TRÍ
(Đời
thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nhan, người ở kinh đô, là anh của Hoàng phi Chương Phụng,
vốn người không ưa cái đẹp xa xỉ bên ngoài, chỉ thích
giữ khí tiết thanh cao của mình. Năm đầu niên hiệu Chương
Thánh Gia Khánh (1059), Sư từ bỏ thế tục, đến tham vấn
với Thiền Lão Thiền Sư ở Tiên Du. Ngay một câu nói của
thầy, Sư nhận được yếu chỉ. Từ đó, năm tháng miệt
mài. Sư dốc hết ý chí vào thiền học, chưa bao lâu tiếng
tăm vang xa khắp nơi.
Về
sau, Sư trụ chùa Quán Đỉnh núi Không Lộ, thường mang một
y nạp, ăn uống rất đạm bạc. Sư cùng tăng Minh Huệ kết
bạn đồng tu. Người đời cho là “Hàn Sơn, Thập Đắc tái
thế”. Công bộ Thượng thơ Đoàn Văn Khâm rất kính trọng
Sư, có làm thơ tặng:
Chống
gậy non cao bỏ sáu trần,
Ở
yên huyễn mộng hỏi phù vân.
Ân
cần không cách tham Trừng, Thập
Trót
vướng bầy cò lớp mũ cân.
(Quải
tích nguy phong bãi lục trần,
Mặc
cư huyễn mộng vấn phù vân.
Ân
cần vô kế tham Trừng, Thập
Sách
bán trâm anh tại lộ quần.)
Khoảng
niên hiệu Quảng Hựu (1085-1091) đời Lý Nhân Tông, Sư qui
tịch. Đoàn Văn Khâm thương tiếc làm lời văn điếu rằng:
Lánh
chợ vào rừng tóc bạc phơ,
Non
cao rũ áo ngát hương thừa,
Chùn
khăn những muốn hầu bên chiếu,
Treo
dép đà nghe khép cửa chùa.
Trăng
dọi sân trai chim khắc khoải,
Tháp
không bia chữ, mộ thờ ơ,
Bạn
thiền thôi cũng đừng thương xót!
Non
nước ngoài am đó dáng xưa. (Ngô Tất Tố)
(Lâm
man bạch thủ độn kinh thành
Phất
tụ cao sơn viễn cánh hinh.
Kỷ
nguyện tịnh trung xu trượng tịch,
Hốt
văn di lý yểm thiền quynh.
Trai
đình u điểu không đề nguyệt,
Cơ
tháp thùy nhân vi tác minh,
Đạo
lữ bất tu thương vĩnh biệt,
Viện
tiền sơn thủy thị chân hình.)
Thiền
Sư THUẦN CHÂN
(?
- 1101)-(Đời thứ 12, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Đào, quê làng Cửu Ông, huyện Tế Giang. Thuở nhỏ Sư
bác thông kinh sử. Lớn lên Sư gặp Thiền sư Pháp Bảo ở
chùa Quang Tịnh, qua một câu nói, liền nhận được yếu chỉ.
Bấy giờ, tất cả sở học Sư đều buông bỏ.
Chẳng
bao lâu, Sư mở tung được cánh cửa áo diệu, tia sáng đá
lửa xuất hiện. Từ đó, Sư đến trụ trì chùa Hoa Quang,
làng Tây Kết, Thượng Nghi. Tùy người đến thưa hỏi, Sư
phát huy tông chỉ, dẫn dắt những kẻ mờ tối.
Ngày
7 tháng 2 nhằm năm đầu niên hiệu Long Phù đời Lý Nhân Tông
(1101), Sư báo tin sắp tịch. Có đệ tử là Bổn Tịch vào
thất thưa hỏi thêm, Sư nói kệ dạy:
Chân
tánh thường không tánh,
Đâu
từng có sanh diệt.
Thân
là pháp sanh diệt,
Pháp
tánh chưa từng diệt.
(Chân
tánh thường vô tánh
Hà
tằng hữu sanh diệt
Thân
thị sanh diệt pháp
Pháp
tánh vị tằng diệt.)
Nói
xong, Sư tịch. Phụ quốc Thái bảo là Cao Công trông nom việc
hỏa thiêu và dựng tháp.
Thiền
Sư TRÌ BÁT
(1049
- 1117)-(Đời thứ 12, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Vạn, quê ở Luy Lâu, tuổi trẻ mà tâm mộ Phật pháp
rất thiết tha. Đến độ 20 tuổi, Sư theo Thiền sư Sùng Phạm
ở chùa Pháp Vân xin xuất gia và thọ giới cụ túc.
Thiền
sư Sùng Phạm thấy Sư siêng năng tu học, đức hạnh hoàn
bị, làm việc rất cẩn thận, thầm ấn chứng và ban đạo
hiệu là Trì Bát.
Sau
khi Sùng Phạm tịch, Sư dạo khắp các thiền tịch, tham yết
các vị tôn túc, và đến trụ trì chùa Tổ Phong ở núi Thạch
Thất, làng Đại Cầu, Tân Trại để giảng cứu. Tướng quốc
Lý Thường Kiệt là một thí chủ của Sư. Những tài vật
tín thí cung cấp, Sư đều để hết vào Phật sự trùng tu
các ngôi chùa: Pháp Vân, Thiền Cư, Thê Tâm, Quảng An... để
báo đáp phần nào công ân pháp nhũ.
Niên
hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ tám (1117) đời Lý Nhân
Tông, ngày 18 tháng 2, Sư gọi đồ chúng đến nói bài kệ
thị tịch:
Có
tử ắt có sanh,
Có
sanh ắt có tử.
Chết
là người đời buồn,
Sanh
là người đời vui.
Buồn,
vui hai không cùng
Chợt
vậy thành kia đây.
Đối
sanh tử chẳng để lòng,
Án
tố rô tố rô tất rị.
(Hữu
tử tất hữu sanh
Hữu
sanh tất hữu tử
Tử
vi thế sở bi
Sanh
vi thế sở hỉ
Bi
hỉ lưỡng vô cùng
Hốt
nhiên thành bỉ thử
Ư
chư sanh tử bất quan hoài
Án
tố rô tố rô tất rị.)
Nói
kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng mà đi, thọ 69 tuổi. Đệ tử
là Thiền sư Tịnh Hạnh, Pháp Nhãn... làm lễ hỏa táng thu
xá-lợi xây tháp cúng dường.
Thiền
Sư HUỆ SINH
(?
- 1063)-(Đời thứ 13, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Lâm tên Khu quê làng Đông Phù Liệt, dòng dõi Lâm Phú
ở Trà Sơn, Vũ An. Cha Sư tên Khoáng kết duyên với con gái
nhà họ Quách, vì theo quê vợ nên lập nghiệp ở làng Phù
Liệt. Sư có hai anh em, người anh cả làm quan đến chức Thượng
Thơ Binh Bộ Viên Ngoại Lang và Sư.
Sư
tướng mạo khôi ngô biện luận lưu loát, lại nổi tiếng
văn hay, chữ tốt, vẽ khéo. Ngoài giờ học Nho, Sư nghiên
cứu sách Phật, chư kinh bách luận không bộ nào chẳng qua
mắt Sư. Mỗi khi luận đến chỗ cốt yếu của Phật pháp,
Sư thường than thở rơi nước mắt.
Năm
19 tuổi, Sư xả tục xuất gia cùng Sư Pháp Thông ở Hạc Lâm
thờ Thiền sư Định Huệ ở chùa Quang Hưng làm thầy. Từ
đây, huyền học càng ngày càng tiến. Định Huệ an ủi và
ấn chứng cho Sư.
Sau
đó, Sư lê gót khắp tùng lâm tham vấn đầy đủ yếu chỉ
Thiền. Rồi trụ ở Trà Sơn, ngọn núi Bồ-đề. Mỗi lần
Sư vào Thiền định ít ra cũng năm ngày. Thời nhơn gọi Sư
là nhục thân Đại sĩ.
Vua
Lý Thái Tông (1028-1054) nghe danh Sư, sai sứ đến mời về kinh.
Sư
bảo sứ rằng:
-
Ông không thấy con vật đem tế lễ sao? Khi chưa tế thì người
ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến khi dẫn vào Thái
miếu thì chỉ xin một chút sống cũng không được, huống
là việc gì !
Nói
xong, Sư từ chối không đi. Sau vì nhà vua cố ép bất đắc
dĩ Sư phải đến cửa khuyết. Sau khi đàm đạo với Sư, vua
rất kính phục, phong chức Nội Cung Phụng Tăng và sắc Trụ
trì tại chùa Vạn Tuế gần thành Thăng Long.
Một
hôm, nhân lễ trai tăng trong Đại nội, vua hỏi:
- Trẫm
nghĩ nguồn tâm của Phật Tổ, học giả các nơi tranh cãi
nhau mãi. Vậy xin các bậc thượng đức ở đây, mỗi vị
tự thuật chỗ thấy của mình, để trẫm rõ cách dụng tâm
của các Ngài thế nào ?
Sư
ứng thinh đọc kệ:
Pháp
gốc như không pháp,
Chẳng
có cũng chẳng không.
Nếu
người biết pháp ấy,
Chúng
sanh cùng Phật đồng.
Trăng
Lăng-già vắng lặng
Thuyền
Bát-nhã rỗng không.
Biết
không, không giác có
Chánh định mặc thong dong.
(Pháp
bản như vô pháp
Phi
hữu diệc phi vô
Nhược
nhân tri thử pháp
Chúng
sanh dữ Phật đồng.
Tịch
tịch Lăng-già nguyệt
Không
không độ hải chu.
Tri
không, không giác hữu
Tam-muội
nhậm thông châu.)
Vua
nghe qua càng mến phục, phong Sư chức Đô Tăng Lục.
Bấy
giờ, các vương công như: Phụng Càn Vương, Uy Vũ, Hỉ Từ,
Thiện Huệ Chiêu Khánh, thái tử Hiến Minh, Thượng tướng
Vương Công Tại, Thái sư Lương Văn Nhậm, Thái bảo Đào Xử
Trung, Tham chánh Kiều Bồng v.v... đều tới lui thưa hỏi đạo
lý với Sư.
Đến
đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072), lại thăng Sư chức Tả Nhai
Đô Tăng Thống, ngang với tước Hầu.
Niên
hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ năm (1063), Sư sắp tịch,
liền họp chúng nói kệ:
Nước
lửa ngày hỏi nhau,
Nguyên
do chưa thể bàn.
Đáp
anh không nơi chốn,
Tam
tam lại tam tam.
Xưa
nay kẻ tham học,
Người
người chỉ vì Nam.
Nếu
người hỏi việc mới,
Việc
mới, ngày mùng ba.
(Thủy
hỏa nhật tương tham
Do
lai vị khả đàm.
Báo
quân vô xứ sở
Tam
tam hựu tam tam.
Tự
cổ lai tham học
Nhân
nhân chỉ vị Nam.
Nhược
nhân vấn tân sự
Tân
sự, nguyệt sơ tam.)
Nói
xong, Sư tắm gội, thắp hương, vào giữa đêm lặng lẽ viên
tịch.
Sư
có soạn văn bia các chùa: Thiên Phúùc, Thiên Thánh, Khai Quốc
ở Tiên Du; Diệu Nghiêm, Báo Đức v.v. ở Vũ Ninh. Các tác
phẩm: Pháp Sự Trai Nghi, Chư Đạo Tràng Khánh Tán Văn… vẫn
còn lưu hành.
Thiền
Sư NGỘ ẤN
(1019
- 1088)-(Đời thứ 8, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Đàm, tên Khí, quê ở Tư Lý làng Kim Bài. Theo truyền thuyết,
mẹ Sư họ Cù, khi chưa lấy chồng nhà bà ở gần khu rừng
cạnh làng. Một hôm, bà đang dệt vải ở trong nhà, bỗng
có một con khỉ lớn vào ôm sau lưng bà trọn cả ngày rồi
mới đi. Sau đó, biết có thai. Khi bà sanh được một đứa
con trai, bà ghét lắm đem bỏ trong rừng. Trong làng có một
nhà sư họ Đàm, người Chiêm Thành, lượm đem về nuôi đặt
tên là Khí.
Năm
Sư lên mười, nhà sư Chiêm Thành cho Sư theo học Nho, học
vấn càng ngày càng tiến. Sư thông cả hai thứ chữ Hán và
Phạn. Năm 19 tuổi, Sư xuất gia thọ giới cụ túc, chuyên
học hai bộ kinh Viên Giác và Pháp Hoa, nghĩa lý thông suốt.
Sư theo học thiền với Thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Đỉnh
và được Quảng Trí truyền tâm ấn.
Sau,
Sư đi vào Ninh Sơn phủ Thiên Ứng kết cỏ làm am tranh ở
tu (sau thành chùa hiệu là Long Ân), lấy hiệu là Ngộ Ấn.
Có
vị tăng đến hỏi: - Thế nào là đại đạo ?
Sư
đáp:- Là đường cái.
- Con
hỏi đại đạo, Hòa thượng đáp đường cái, chưa biết
bao giờ đạt được đại đạo ?
-
Con mèo chưa biết bắt chuột.
-
Con mèo có Phật tánh chăng ?
-
Không.
-
Hòa thượng có Phật tánh chăng ?
-
Không.
-
Tất cả chúng hàm linh đều có Phật tánh, vì sao riêng Hòa
thượng không co ù?
-
Vì ta chẳng phải hàm linh.
-
Đã chẳng phải hàm linh tức là Phật chăng ?
-
Ta chẳng phải Phật, cũng chẳng phải hàm linh.
*
*
*
Có
người đến hỏi:- Thế nào là Phật, Pháp và Thiền ?
Sư
đáp:
- Đấng
Pháp Vương Vô Thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp,
ở tâm là Thiền. Tuy có ba thứ, kỳ thật là một. Ví như
nước ba con sông, tùy chỗ đặt tên tuy chẳng đồng, mà tánh
nước không khác.
*
*
*
Niên
hiệu Quảng Hựu thứ tư (1088), ngày 14 tháng 6, sắp thị tịch
Sư nói bài kệ:
Diệu
tánh rỗng không chẳng thể vin,
Rỗng
không tâm ngộ việc dễ tin.
Tươi
nhuần sắc ngọc trong núi cháy,
Lò
lửa hoa sen nở thật xinh.
(Diệu
tánh hư vô bất khả phan,
Hư
vô tâm ngộ đắc hà nan.
Ngọc
phần sơn thượng sắc thường nhuận,
Liên
phát lô trung thấp vị càn.)
Nói
kệ xong, Sư vui vẻ thị tịch, thọ 69 tuổi, môn nhân để
tâm tang ba năm.
Thiền
Sư MÃN GIÁC
(1052
- 1096)-(Đời thứ 8, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nguyễn tên Trường, quê ở Lũng Chiền làng An Cách. Thân
phụ là Hoài Tố làm chức Trung Thơ Viên Ngoại Lang.
Lúc
vua Lý Nhân Tông còn làm Thái tử, triều đình có chọn con
em của các danh gia vào hầu. Sư là người học rộng hiểu
nhiều lại thông cả Nho, Lão, Phật nên được dự tuyển.
Những lúc rảnh, Sư thường chú tâm vào Thiền-na. Đến khi
vua Lý Nhân Tông lên ngôi, vì lòng mến Sư nên ban hiệu Hoài
Tín.
Khoảng
niên hiệu Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), Sư dâng biểu xin xuất
gia, theo học với Thiền sư Quảng Trí. Sau khi được tâm ấn,
Sư thường chống gậy mang bát vân du khắp nơi, để tìm thiện
tri thức. Sư đến nơi nào thường có học giả vân tập đông
đảo.
Sau,
Sư xem Đại tạng kinh được Trí vô sư, là bậc lãnh tụ
pháp môn trong một thời vậy.
Vua
và bà Hoàng Thái hậu Cảm Linh Nhân (Ỷ Lan) đang để tâm
học Thiền, bèn dựng ngôi chùa bên cạnh cung Cảnh Hưng hiệu
là Giáo Nguyên, thỉnh Sư trụ trì để tiện việc tới lui
học hỏi. Đối với Sư chẳng dám gọi danh thường, chỉ
xưng là Trưởng Lão.
Một
hôm, nhà vua bảo Sư:
- Bậc
chí nhân thị hiện, cốt cứu vớt chúng sanh, không hạnh nào
chẳng đủ, không việc nào chẳng tu, chẳng phải chỉ sức
định huệ, mà cũng có công giúp ích, nên phải kính nhận
đó.
Bèn
phong hiệu Giáo Nguyên Thiền Viện, Hoài Tín Đại Sư truyền
Tổ Vô Tu Vô Chứng Tâm Ấn.
Sư
phụng chiếu nhận chức Nhập Nội Đạo Tràng, Tứ Tử Đại
Sa-môn, Đồng Tam Ty Công Sự, được quyên 50 hộ.
Niên
hiệu Hội Phong thứ năm (1096), cuối tháng 11, Sư cáo bệnh
để kệ dạy chúng:
Xuân
đi trăm hoa rụng,
Xuân
đến trăm hoa cười.
Trước
mắt việc đi mãi,
Trên
đầu già đến rồi.
Chớ
bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm
qua, sân trước, một cành mai.
(Xuân
khứ bách hoa lạc, ?
Xuân
đáo bách hoa khai.
Sự
trục nhãn tiền quá,
Lão
tùng đầu thượng lai.
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai.)
Nói
kệ xong, Sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 45 tuổi, được
19 tuổi hạ.
Vua
kính lễ rất hậu, các công khanh đi đưa đều có đốt tín
hương, làm lễ hỏa táng thu xá-lợi xây tháp thờ tại chùa
Sùng Nghiêm làng An Cách. Vua ban thụy là Mãn Giác.
Quốc
Sư THÔNG BIỆN
(?
- 1134)-(Đời thứ 8, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Ngô, quê ở Đan Phượng, vốn con nhà họ Thích, tánh rất
thông minh lại hiểu tột Tam học.
Ban
đầu, Sư đến chùa Kiết Tường tham vấn với Thiền sư Viên
Chiếu, thầm nhận được ý chỉ. Sau, Sư đến trụ tại Quốc
tự trong kinh đô Thăng Long, từ đó Sư lấy hiệu là Trí Không.
Năm
thứ năm niên hiệu Hội Phong (1096), ngày rằm tháng hai, bà
Hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân (Ỷ Lan) đến chùa
thiết lễ trai tăng. Khi đó, bà hỏi các vị kỳ túc:
- Nghĩa
Phật, Tổ có gì hơn kém ? Phật ở phương nào ?
Tổ ở thành nào ? Đến nước này từ bao giờ? Truyền trao
đạo này ai trước ai sau ? Người niệm danh hiệu Phật, người
đạt tâm ấn Tổ, chưa rõ ý chỉ thế nào ?
Mọi
người đều không đáp được, Sư bèn tâu:
- Thường
trụ thế gian, không sanh không diệt gọi là Phật. Rõ biết
tâm tông của Phật, hạnh và giải tương ưng gọi là Tổ.
Phật và Tổ chỉ là một, bởi những kẻ lạm học dối nói
có hơn kém mà thôi. Vả lại, Phật là giác. Cái giác này
xưa nay lặng lẽ thường trụ. Tất cả chúng sanh đều đồng
có lý này, chỉ vì tình trần che lấp, theo nghiệp trôi lăn,
chuyển thành các cõi.
Phật
do lòng từ bi, cho nên thị hiện sanh ở Ấn Độ, mười chín
tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo, ở đời nói pháp
bốn mươi chín năm, mở bày pháp phương tiện khiến người
ngộ đạo, đây là một thời đại hưng giáo vậy. Sắp nhập
Niết-bàn, Phật sợ người đời lầm mắc kẹt, nên bảo
ngài Văn Thù rằng: “Ta bốn mươi chín năm chưa từng nói
một chữ, sẽ bảo là có nói ư ?”
Nhân
Phật đưa cành hoa sen lên, trong hội chúng đều mờ mịt,
chỉ có tôn giả Ca-diếp chúm chím miệng cười, Phật biết
Ca-diếp đã ngộ, bèn đem Chánh pháp nhãn tạng trao cho, đó
là vị Tổ thứ nhất. Đây gọi là Tâm tông giáo ngoại biệt
truyền vậy.
Sau
ngài Ma-đằng mang giáo pháp vào Lưu Hán, Tổ Đạt-ma đem ý
chỉ này vào nước Ngụy, nước Lương. Người truyền giáo
pháp đến ngài Trí Giả ở núi Thiên Thai là thạnh, gọi là
Giáo tông. Người được tông chỉ thiền đến Tổ Huệ Năng
ở Tào Khê là sáng tỏ, gọi là Thiền tông.
Hai
tông truyền vào nước Việt chúng ta đã lâu. Về Giáo tông,
lấy ngài Mâu Bác, Khương Tăng Hội làm đầu. Về Thiền tông
lấy ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi làm trước, ngài Vô Ngôn Thông
là sau. Đây gọi là Tổ của hai phái vậy.
Thái
Hậu lại hỏi:
-
Phần Giáo tông thì gác lại, còn hai phái Thiền tông có hiệu
nghiệm gì ?
Sư
tâu:
-
Xét theo truyện Pháp sư Đàm Thuyên có nói, vua Tùy Cao Tổ
bảo các Pháp sư rằng: “Trẫm nghĩ ơn từ bi dạy dỗ của
đấng Điều Ngự, ân đức đó không biết lấy gì báo đền.
Trẫm thẹn ở ngôi nhân vương, muốn hộ trì tam bảo rộng
khắp, cho góp hết xá-lợi ở trong toàn quốc, xây dựng bốn
mươi chín ngôi bảo tháp tôn thờ, để tiêu biểu cho đời
và sửa sang xây cất một trăm năm mươi ngôi chùa. Những
cõi ngoài như xứ Giao Châu, cũng muốn xây dựng các ngôi chùa
tháp để cho đạo đức thấm nhuần khắp cõi đại thiên.
Nhưng xứ Giao Châu tuy nội thuộc nước ta (Trung Quốc) vẫn
là sự liên hệ ràng buộc. Pháp sư nên chọn những vị Sa-môn
danh đức sang xứ ấy giáo hóa họ, khiến tất cả đều được
đạo Bồ-đề.” Pháp sư tâu: “Cõi Giao Châu có đường
thông Thiên Trúc gần hơn nước ta (Tàu), lúc Phật pháp mới
du nhập Giang Đông chưa truyền khắp, mà xứ này đã xây dựng
trên hai mươi ngôi bảo tháp, độ hơn năm trăm vị tăng, phiên
dịch được mười lăm quyển kinh, do đó ở bên ấy có Phật
pháp trước ta vậy. Thuở ấy đã có các Tỳ-kheo Ma-ha Kỳ-vực,
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác đến đó truyền
đạo. Hiện nay lại có Pháp Hiền thượng sĩ đắc pháp nơi
ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi, kế thừa truyền bá tông phái của
Tam tổ, là hàng Bồ-tát trong loài người, hiện Trụ trì tại
chùa Chúng Thiện, thu nhận môn đồ giáo hóa trong hội không
dưới ba trăm người, cùng Trung Quốc không khác. Bệ hạ là
cha lành khắp trời, muốn bình đẳng bố thí nên muốn phái
chư tăng đến đó giáo hóa, song họ đã có đủ người rồi,
ta chẳng cần phải sang.”
Lại,
Tướng quốc nhà Đường hiệu Quyền Đức Dư, làm bài tựa
truyền pháp rằng: “Sau khi Tổ Tào Khê mất, pháp thiền được
thạnh hành, mỗi nơi đều có dòng dõi: Thiền sư Chương Kỉnh
Uẩn mang tâm yếu Mã Tổ giáo hóa thạnh hành ở xứ Ngô Việt.
Đại sĩ Vô Ngôn Thông truyền tông chỉ của Tổ Bá Trượng
khai ngộ ở đất Giao Châu.”
Lấy
đây để nghiệm xét biết vậy.
Thái
Hậu lại hỏi:- Sự truyền thừa của hai tông thứ tự thế
nào ?
Sư
đáp:
-
Người kế thừa phái Lưu-chi hiện nay chính là Thiền sư Huệ
Sinh, Thiền sư Chân Không vậy. Người kế thừa phái Vô Ngôn
Thông hiện là Thiền sư Viên Chiếu, Thiền sư Quảng Trí.
Bên phái Khương Tăng Hội hiện nay có Lôi Hà Trạch ấy vậy.
Ngoài ra những vị kế thừa phụ nhiều không thể kể hết.
Thái
Hậu rất hoan hỉ lễ bái phong Sư chức Tăng Lục, ban tử
y ca-sa và hiệu là Thông Biện Đại Sư cùng trọng thưởng
rất hậu. Bởi kính trọng Sư, Thái Hậu thường triệu thỉnh
vào nội và lễ bái phong làm Quốc Sư. Do sự giáo hóa của
Sư, Thái Hậu nhận được yếu chỉ. Chính bà làm kệ ngộ
đạo rằng:
Sắc
là không, không tức sắc,
Không
là sắc, sắc tức không.
Sắc
không đều chẳng quản,
Mới
được hợp chân tông.
(Sắc
thị không, không tức sắc,
Không
thị sắc, sắc tức không.
Sắc
không câu bất quản,
Phương
đắc khế chân tông.)
Lúc
tuổi cao, Sư về trụ chùa Phổ Minh ở Từ Liêm, mở đàn
thuyết pháp. Sư dạy người tu thường lấy kinh Pháp Hoa làm
dụng. Thế nên thời nhân gọi Sư là Ngô Pháp Hoa.
Ngày
rằm tháng hai năm Giáp Dần, nhằm niên hiệu Thiên Chương
Bảo Tự thứ hai (1134), đời Lý Thần Tông, Sư cho hay có bệnh
rồi tịch.
Thiền
Sư BỔN TỊCH
(?
- 1140)-(Đời thứ 13, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Nguyễn, trước tên Pháp Mật, quê làng Tây Kết, dòng
dõi Nội cung phụng đô úy Nguyễn Kha dưới triều Lê. Thuở
nhỏ Sư đã có tư thái khác thường. Có một vị tăng lạ
khen: “Đứa bé nầy cốt tướng phi thường, nếu xuất gia
ắt thành tựu giống pháp chân thực.”
Lớn
lên, Sư đến thụ nghiệp với Thiền sư Thuần Chân chùa Hoa
Quang. Sau khi nhận được yếu chỉ, Sư xin thầy thọ giới
cụ túc. Thuần Chân thấy Sư giới, định đều được tròn
đầy thanh tịnh, học một biết mười, bèn xoa đảnh bảo:
“Chánh pháp ở phương Nam đợi ngươi xiển dương đây !”
Bấy
giờ, đối với chánh pháp, Sư đã vượt ngoài có, không và
gồm thông cả đốn, tiệm. Nơi nào Sư đến đều rưới những
trận mưa pháp, làm chấn động huyền phong, Tăng Ni sĩ thứ
đều quí mộ.
Sau,
Sư trụ trì chùa Chúc Thánh làng Nghĩa Trụ, khiến Phật pháp
nơi đây càng hưng thạnh.
Đến
niên hiệu Thiệu Minh thứ ba (1140) ngày 14 tháng 6, Sư gọi
đồ chúng lại bảo: - Vô sự ! Vô sự !
Nói
xong, Sư tịch.
Thiền
Sư THIỀN NHAM
(1093
- 1163)-(Đời thứ 13, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Khương, tên Thông, gia thế đời đời làm Tăng quan, tinh
thần quắc thước, tiếng nói trong thanh.
Triều
đình mở khoa thi về các kinh điển Đại thừa: Pháp Hoa, Bát
Nhã, Sư đỗ Giáp khoa (thủ khoa). Sư tìm đến chùa Thành Đạo
tham vấn với Thiền sư Pháp Y, qua một câu nói Sư lãnh hội,
liền được ấn chứng. Nhân đó, Sư mới xuất gia.
Ban
đầu Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, giới hạnh
tinh nghiêm, tâm đạo rộng lớn. Đói thì ăn lá cây, khát
thì uống nước suối, suốt sáu năm trường như vậy. Sau,
Sư trở về quê trùng tu ngôi chùa Trí Quả làng Cổ Châu,
Long Biên và trụ trì nơi đây.
Khoảng
niên hiệu Thiên Thuận (1128-1132), triều đình gởi chiếu vời
Sư về kinh đô cầu mưa. Bởi có linh nghiệm nên vua Lý Thần
Tông trọng Sư vào hàng danh tăng và ban cho Sư thượng phục.
Năm
Chính Long Bảo Ứng thứ nhất (1163), khoảng giữa mùa xuân,
lúc ban ngày, Sư đốt hương từ biệt mọi người, ngồi an
nhiên mà tịch, thọ 71 tuổi.
Thời
gian sau, thể xác của Sư vẫn còn, thời nhân gọi Sư là “Phật
sống”.
Thiền
Sư MINH KHÔNG
(1076
- 1141)-(Đời thứ 13, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
tên Nguyễn Chí Thành, sinh ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn (1076)
tại làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định, thường
cùng với Giác Hải, Đạo Hạnh làm bạn thân. Năm 29 tuổi,
Sư cùng hai vị ấy sang Thiên Trúc học đạo với Thầy Sa-môn,
được phép Lục trí thần. Trở về quê, Sư tạo ngôi chùa
Diên Phước, ở đó chuyên trì chú Đại bi.
Bấy
giờ, Sư muốn tạo Đại Nam Tứ Khí (tượng Phật, hồng
chung, cái đỉnh, cái vạc) không nệ nhà nghèo sức mọn. Một
hôm, Sư suy nghĩ: “Nước Tống ắt có nhiều đồng tốt,
có thể dùng đúc được.” Nghĩ xong, Sư thẳng đường sang
Bắc triều (Trung Quốc). Trước nhất, Sư ghé trọ một nhà
trưởng giả xin mảnh đất bằng chiếc ca-sa để lập Kỳ
Viên. Trưởng giả cười bảo: “Xưa kia Thái tử nhà Lương
muốn lập Kỳ Viên, khoảng đất rộng đến ngàn dặm, lấy
vàng lót đất. Tại sao ông chỉ xin mảnh đất bằng áo ca-sa,
chỉ bằng chuồng gà mà làm gì ?” Đêm ấy, Sư trải chiếc
ca-sa khắp mười dặm đất. Trưởng giả thấy Sư có phép
thần liền dẫn vợ con ra lễ bái, từ đây cả nhà đều
qui y Tam bảo.
Hôm
khác, Sư đắp y mang bát chống gậy trước thềm rồng đứng
khoanh tay. Vua Tống vào triều, bá quan văn võ tung hô xong, xem
thấy vị sư già bèn triệu vào, hỏi:
-
Thầy già ốm này là dân phương nào, tên họ là gì ? đến
đây có việc chi ?
Sư
tâu:
-
Thần là kẻ bần tăng ở tiểu quốc, xuất gia đã lâu, nay
muốn tạo Đại Nam Tứ Khí, mà sức không tùy tâm, nên chẳng
sợ xa xôi lặn lội đến đây, cúi mong Thánh đế mở rộng
lòng thương ban cho chút ít đồng tốt, để đem về
đúc tạo.
Vua
Tống hỏi:- Thầy đem theo bao nhiêu đồ đệ ?
Sư
tâu:- Bần tăng chỉ có một mình, xin đầy đãy này quảy
về.
Vua
bảo:
-
Phương Nam đường xa diệu vợi, tùy sức Sư lấy được bao
nhiêu thì cho bấy nhiêu, đủ quảy thì thôi.
Sư
vào kho đồng lấy gần hết sạch mà chưa đầy đãy, quan
giữ kho le lưỡi lắc đầu, vào triều tâu việc ấy cho vua.
Vua ngạc nhiên hối hận, nhưng lỡ hứa rồi, không biết làm
sao.
Sư
nhận đồng xong, vua Tống sai bá quan tiễn Sư đưa về nước.
Sư từ rằng:
-
Một đãy đồng này, tự thân bần tăng vận sức quảy nổi,
không dám làm phiền nhọc các ngài tiễn đưa.
Nói
xong, Sư bước ra lấy đãy máng vào đầu gậy nhẹ nhàng mang
đi. Đến sông Hoàng Hà, Sư lấy nón thả xuống nước sang
sông chỉ trong khoảng chớp mắt đã đến bờ.
Về
nước, Sư đến chùa Quỳnh Lâm huyện Đông Triều, tỉnh Hải
Dương đúc một tượng Phật Di-đà thật cao lớn. Tại kinh
đô nơi tháp Báo Thiên, Sư đúc một cái đỉnh. Ở Phả Lại,
Sư đúc một quả đại hồng chung. Tại Minh Đảnh, Sư đúc
một cái vạc.
Phần
còn dư, Sư đem về chùa quê làng đúc một đại hồng chung
nặng ba ngàn ba trăm cân, và đúc một đại hồng chung ở
chùa Diên Phước Giao Thủy nặng ba ngàn cân. Công quả hoàn
thành, Sư làm bài tán rằng:
Nón
nổi vượt biển cả,
Một
hơi muôn dặm đường.
Một
đãy sạch đồng Tống,
Dang
tay sức ngàn ngựa.
(Lạp
phù việt đại hải,
Nhất
tức vạn lý trình.
Tống
đồng nhất nang tận,
Phấn
tý thiên câu lực.)
Thời
vua Lý Nhân Tông kiến tạo điện Hưng Long cả năm mới xong,
điện cực kỳ tráng lệ. Bỗng trên nóc có hai con chim cáp
đậu kêu to, tiếng vang như sấm. Vua lo buồn chẳng vui, quan
chỉ huy thấy thế tâu: “Điềm này chỉ có Minh Không và
Giác Hải mới trừ được.” Vua bèn sai ông đi thỉnh Sư,
ngày rằm tháng giêng, ông đến trước am Sư. Sư hỏi: “Quan
chỉ huy sao đến chậm vậy?” Ông hỏi lại: “Sao Thầy biết
trước chức của tôi?” Sư đáp: “Ta cỡi trăng đạp gió
chợt vào thành vua, sớm đã nghe biết việc này.” Liền hôm
ấy, Sư đến kinh đô, thẳng đến điện Hưng Long, Sư tụng
chú thầm, hai con chim lạ ấy nghẹn cổ chẳng kêu, giây lát
sau liền rơi xuống đất. Vua thưởng cho Sư một ngàn cân
vàng, và năm trăm khoảnh ruộng để hương hỏa cho chùa và
phong chức Quốc Sư.
Năm
vua Lý Thần Tông 21 tuổi, bỗng nhiên mắc bệnh biến
thành cọp, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn đáng sợ.
Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó. Khi ấy có
đứa bé ở Chân Định hát rằng:
Nước
có Lý Thần Tông,
Triều
đình muôn việc thông.
Muốn
chữa bệnh thiên hạ,
Cần
được Nguyễn Minh Không.
Triều
đình sai quan chỉ huy đi đón Sư. Đến am, Sư cười bảo:
“Đâu không phải là việc cứu cọp đó ư ?” Quan chỉ huy
hỏi: “Sao Thầy sớm biết trước ?” Sư bảo: “Ta đã biết
việc này trước ba mươi năm.” Sư đến triều vào trong điện
ngồi, lên tiếng bảo: “Bá quan đem cái đảnh dầu lại mau,
trong đó để một trăm cây kim, và nấu cho sôi, đem cũi vua
lại gần đó.” Sư lấy tay mò trong đảnh lấy một trăm
cây kim găm vào thân vua, nói: “Quí là trời.” Tự nhiên
lông, móng, răng đều rụng hết, thân vua hoàn phục như cũ.
Vua tạ ơn Sư một ngàn cân vàng và một ngàn khoảnh ruộng
để hương hỏa cho chùa, ruộng này không có lấy thuế.
Đến
năm Đại Định thứ hai (1141) Sư qui tịch.
Hiện
nay tại Hà Nội, trước đền thờ Lý Quốc Sư vẫn còn tượng
Sư và có bia ký. Dân chợ Tiên Du muôn đời hương khói phụng
thờ.
*
Chú
thích: Nguyễn Minh Không hay Khổng Minh Không chùa Lý Quốc Sư,
thôn Tiên Thị huyện Thọ Xương, nay là phố Lý Quốc Sư,
quận Hoàn Kiếm, Thủ đô Hà Nội.
Lời người soạn: Thiền sư Không Lộ không có trị bệnh
vua Lý Thần Tông, vì khi vua mắc bệnh hóa hổ lúc 21 tuổi,
nhằm năm 1136, còn Thiền sư Không Lộ tịch vào niên hiệu
Hội Tường Đại Khánh thứ 10 tức là năm 1119. Thế là Không
Lộ tịch trước khi vua Lý Thần Tông hóa hổ 17 năm.
Thiền
sư Nguyễn Minh Không tịch năm 1141 mới thực sự là người
trị bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông.
Thiền
sư Nguyễn Minh Không là họ Nguyễn, sinh ngày 14 tháng 8 năm
Bính Thìn (1076) tại làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh
Nam Định. Thiền sư Không Lộ họ Dương, không biết năm sanh,
quê ở Hải Thanh. Thiền sư Minh Không sau về quê tạo ngôi
chùa Diên Phước ở đó. Thiền sư Không Lộ tạo chùa Nghiêm
Quang sau đổi tên là Thần Quang. Cả hai họ khác, tên khác,
xứ sở khác, tuổi tác khác và chỗ trụ trì khác mà nói
là một người là không hợp lý.