Thiền
Sư VIÊN CHIẾU
(999
- 1090)-(Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Mai tên Trực, quê ở Phước Đường, Long Đàm, là con
người anh bà Linh Cảm thái hậu vợ vua Lý Thái Tông. Thuở
nhỏ Sư rất thông minh và hiếu học, nghe ở chùa Mật Nghiêm
trong bản quận có vị trưởng lão giỏi về tướng số liền
đến nhờ xem. Trưởng lão xem xong bảo:
-
Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị thiện
Bồ-tát, bằng không thì việc thọ yểu khó giữ.
Cảm
ngộ lời đoán này, Sư từ giã cha mẹ đến ấp Tiêu Sơn
thọ giáo với Trưởng lão Định Hương. Ở đây phục dịch
nhiều năm để thâm nghiêm thiền học. Sư thường trì kinh
Viên Giác tinh thông pháp tam quán. Một đêm, trong thiền định,
Sư thấy Bồ-tát Văn Thù cầm dao mổ bụng Sư, rửa ruột
và trao cho diệu dược. Từ đây, những sở tập trong tâm
rõ ràng khế hợp, sâu được ngôn ngữ tam-muội, giảng kinh
thuyết pháp thao thao.
Về
sau, Sư tìm đến phía tả kinh đô Thăng Long dựng một ngôi
chùa để hiệu là Cát Tường và trụ trì ở đó. Học giả
bốn phương tìm đến tham vấn rất đông.
Có
vị tăng hỏi:- Phật với Thánh nghĩa ấy thế nào?
Sư
đáp:- Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
(Ly
hạ trùng dương cúc,
Chi
đầu thục khí oanh.)
Tăng
thưa:- Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại
nêu bày ra?
Sư
đáp:- Ngày thì vầng nhật chiếu,
Đêm đến ánh trăng soi.
(Trú
tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thố minh.)
Tăng
hỏi:- Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy
thế nào?
Sư
đáp:- Bưng thau nước đầy không chú ý,
Một lúc sẩy chân hối ích gì.
(Bất
thận thủy bàn kình mãn khứ,
Nhất
tao tha điệt hối hà chi.)
Tăng
hỏi:- Tất cả chúng sanh từ đâu mà đến? Sau khi chết đi
về đâu?
Sư
đáp:- Rùa mù dùi vách đá,
Trạnh què trèo núi cao.
(Manh
qui xuyên thạch bích,
Ba miết thướng cao sơn.)
-
Tâm và pháp cả hai đều quên, tánh tức chân; thế nào là
chân?
Sư
đáp:- Hoa núi mưa sa, thần nữ khóc,
Tre sân gió thổi, Bá Nha đờn.
(Vũ trích nham hoa thần nữ lệ,
Phong
xao đình trúc Bá Nha cầm.)
*
*
*
Sư
có soạn “Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn”, vua Lý Nhân
Tông đưa bản thảo cho sứ thần sang Trung Hoa dâng vua Triết
Tông nhà Tống. Vua Triết Tông trao cho các vị Cao tọa pháp
sư ở chùa Tướng Quốc xem. Xem xong, các Ngài tâu vua Tống
rằng:
- Đây
là nhục thân Bồ-tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh
nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào.
Vua
Tống liền sắc sao lại một bản, bản chính trả lại cho
vua ta. Sứ thần về kinh tâu lại, triều đình càng kính nể
và khen thưởng Sư.
*
*
*
Tháng
9 năm Quảng Hựu thứ sáu (1090) đời Lý Nhân Tông, Sư không
bệnh gọi môn đồ vào dạy:
- Trong
thân ta đây, xương lóng gân mạch, bốn đại hòa hợp, ắt
phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang
đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi, hãy nghe ta nói kệ:
Thân
như tường vách đã lung lay,
Đau
đáu người đời luống xót thay.
Nếu
đạt tâm không, không tướng sắc,
Sắc
không ẩn hiện, mặc vần xoay.
(Thân
như tường bích dĩ đồi thì
Cử
thế thông thông thục bất bi.
Nhược
đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc
không ẩn hiển nhậm suy di.)
Nói
kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, thọ 92 tuổi,
56 tuổi hạ.
Tác
phẩm gồm có:
-
Tán Viên Giác Kinh.
-
Thập Nhị Bồ-tát Hạnh Tu Chứng Đạo Tràng.
-
Tham Đồ Hiển Quyết 1 quyển.
-
Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn.
?
Phiên
âm: THAM ĐỒ HIỂN QUYẾT
Nhất
nhật, đường tiền tọa thứ, hốt hữu tăng vấn:
-
Phật chi dữ Thánh, kỳ nghĩa vân hà?
Sư
vân:Ly hạ trùng dương cúc,
Chi
đầu thục khí oanh.
Tiến
vân: Tạ! Học nhân bất hội, thỉnh tái chỉ thị.
Sư
vân:Trú tắc kim ô chiếu,
Dạ
lai ngọc thố minh.
Tăng
hựu vấn:Dĩ hoạch sư chân chỉ
Huyền
cơ thị như hà?
Sư
vân:Bất thận thủy bàn kình mãn khứ.
Nhất
tao tha điệt hối hà chi!
Tiến
vân: Tạ!
Sư
chỉ vân:Mạc trạc giang ba nịch,
Thân
lai khước tự trầm.
Tăng
hựu vấn: Thiếu thất, Ma-kiệt tối huyền, tự cổ vu kim
thùy kế tương vi chủ?
Sư
vân:U minh càn tượng nhân ô thố,
Khuất
khúc khôn duy vị Nhạc, Hoài.
Hựu
vấn:Như hà thị đại đạo,
Căn
nguyên nhất lộ hành?
Sư
vân:Cao ngạn tật phong tri kính thảo,
Bang
gia bản đãng thức trung lương.
Hựu
vấn:Nhất thiết chúng sanh tòng hà nhi lai,
Bách
niên chi hậu tòng hà nhi khứ?
Sư
vân:Manh qui xuyên thạch bích,
Bả
miết thướng cao sơn.
Hựu
vấn: “Thanh thanh thúy trúc tận chân như.” Như hà thị chân
như dụng?
Sư
vân:Tặng quân thiên lý viễn,
Tiếu
bả nhất âu trà.
Tiến
vân:Nhậm ma tức “không lai hà ích”?
Sư
vân:Thùy thức Đông A khứ,
Đồ
trung tái bạch đầu.
Hựu
vấn:Dã hiên nhất thâm hộ,
Thùy
thức đẳng nhàn xao?
Sư
vân:Kim cốc tiêu sơ hoa thảo loạn,
Nhi
kim hôn hiểu nhậm ngưu dương.
Tiến
vân:Vi thập ma như thử?
Sư
vân:Phú quí kiêm kiêu thái,
Phiên
linh bại thị lâu.
Hựu
vấn: Long nữ hiến châu thành Phật quả,
Đàn
na xả thí phúc như hà?
Sư
vân:Vạn cổ nguyệt trung quế,
Phù
sơ tại nhất luân.
Tiến
vân:Nhậm ma tức lao nhi vô công?
Sư
vân:Thiên thượng như huyền kính,
Nhân
gian xứ xứ thông.
Hựu
vấn:“Độ hà tu dụng phiệt,
Đáo
ngạn bất tu thuyền.”
Bất
độ thời như hà?
Sư
vân:Hạc trì ngư tại lục,
Hoạch
hoạt vạn niên xuân.
Tiến
vân: Nhậm ma tức “tùy lưu thủy hoạch diệu lý”ù?
Sư
vân:Kiến thuyết Kinh Kha lữ,
Nhất
hành cánh bất hồi.
Hựu
vấn:Kim khoáng hỗn giao nguyên nhất khí,
Thỉnh
Sư phương tiện luyện tinh hình.
Sư
vân:Bất thị Tề quân khách,
Na
tri hải đại ngư?
Tiến
vân:Quách quân nhược bất nạp
Gián
ngữ diệc hề vi?
Sư
vân:Nhược dục tiên đề ẩm,
Hưu
vi xảo họa xà.
Hựu
vấn: Xà tử ư lộ thỉnh Sư cứu hoạt.
Sư
vân: Nhữ thị hà phương nhân?
Tăng
viết:Bản lai sơn nhân.
Sư
vân:Tốc hồi cựu nham ẩn,
Mạc
kiến Hứa Chân Quân.
Hựu
vấn: Hải tạng thao thao ưng bất vấn,
Tào
Khê trích trích thị như hà?
Sư
vân:Phong tiền tùng hạ thê lương vận,
Vũ
hậu đồ trung thiển trọc nê.
Tiến
vân: Nhậm ma tức bất dị kim thời dã?
Sư
vân:Ly hạ trùng dương cúc,
Chi
đầu noãn nhật oanh.
Hựu
vấn:Chiêu chiêu tâm mục chi gian,
Lãng
lãng sắc thân chi nội.
Nhi
lý bất khả phân, tướng bất khả đổ, vi thập ma bất đổ?
Sư
vân:Uyển trung hoa lạn mạn,
Ngạn
thượng thảo ly phi.
Tiến
vân:Tuế hàn quần miêu lạc,
Hà
dĩ khả tuyên dương.
Sư
vân:Hỉ quân lai tự đạt,
Bất
diệc thả hoan ngu.
Tiến
vân:Hạnh văn kim nhật quyết
Tòng
thử miễn hốt vô.
Sư
vân:Thiển nịch tài đề xuất,
Hồi
đầu vạn trượng đàm.
Hựu
vấn: “Niết-bàn thành nội thượng do nguy.” Như hà thị
bất nguy chi xứ?
Sư
vân:Doanh sào liêm mạc thượng,
Mấn
phát vi thiều hành.
Tiến
vân:Nhược tao thời bách cận,
Lưỡng
xứ thị hà vi?
Sư
vân:Trượng phu tùy phóng đãng,
Phong
nguyệt thả tiêu dao.
Hựu
vấn:“Nhất thiết chúng sanh
Giai
ngôn thị Phật.”
Thử
lý vị minh,
Thỉnh
Sư thùy thị.
Sư
vân:Khuyến quân thả vụ nông tang khứ,
Mạc
học tha nhân đãi thố lao.
Tiến
vân:Hạnh mông Sư hiển quyết,
Chung
bất hướng tha cầu.
Sư
vân:Khả lân tao nhất yết,
Cơ
tọa khước vong xan.
Hựu
vấn:Kỷ niên đa tích nang trung bảo,
Kim
nhật đương trường địch diện tiền.
Sư
vân:Chỉ đãi trung thu nguyệt,
Khước
tao vân vũ xâm.
Tiến
vân:Tuy văn Sư ngữ thuyết,
Thử
lý vị phân minh.
Sư
vân:Tiếu tha đồ bảo trụ,
Nịch
tử hướng trung lưu.
Hựu
vấn: Như hà thị nhất pháp?
Sư
vân:Bất kiến xuân sinh kiêm hạ trưởng,
Hựu
phùng thu thục cập đông tàng.
Tiến
vân: Nhậm ma tức thành Phật đa dã?
Sư
vân:Tổ Long khu tự chỉ,
Từ
Phúc viễn đồ lao.
Hựu
vấn: “Kiến tánh thành Phật”, kỳ nghĩa như hà?
Sư
vân:Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,
Phong
xuy thiên lý phức thần hương.
Tiến
vân: Học nhân bất hội, nguyện Sư tái chỉ.
Sư
vân:Vạn niên gia tử thụ,
Thương
thúy tủng vân đoan.
Hựu
vấn:Ma-ni dữ chúng sắc,
Bất
hợp bất phân ly.
Sư
vân:Xuân hoa dữ hồ điệp,
Cơ
luyến cơ tương vi.
Tiến
vân: Nhậm ma tức thùy tha hỗn tạp?
Sư
vân:Bất thị Hồ tăng nhãn,
Đồ
lao sính biện châu.
Hựu
vấn: Như hà thị xúc mục bồ-đề?
Sư
vân:Kỷ kinh khúc mộc điểu,
Tần
xuy lãnh tê nhân.
Tiến
vân: Học nhân bất hội, cánh thỉnh biệt dụ.
Sư
vân:Tủng nhân thính cầm hưởng,
Manh
giả vọng thiềm thừ.
Hựu
vấn:Bản tự hữu hình kiêm hữu ảnh,
Hữu
thời ảnh dã ly hình phủ?
Sư
vân:Chúng thủy triều Đông hề vạn phái tranh lưu,
Quần tinh củng Bắc hề thiên cổ qui tâm.
Hựu
vấn: Như hà thị “nhất cú liễu nhiên siêu bách ức”?
Sư
vân: Viễn hiệp Thái sơn siêu Bắc hải,
Ngưỡng
phao trụ trượng nhập thiềm cung.
Hựu
vấn:“Duy thử nhất sự thật,
Dư
nhị tắc phi chân.”
Như
hà thị chân?
Sư
vân:Trượng đầu phong dị động,
Lộ
thượng vũ thành nê.
Hựu
vấn:“Bất hướng Như Lai thi diệu tạng,
Bất
cầu Tổ diệm tục đăng chi.”
Ý
chỉ như hà?
Sư
vân:Thu thiên đoàn thử lệ,
Tuyết
cảnh mẫu đơn khai.
Hựu
vấn: Như hà thị tối diệu chi cú?
Sư
vân:Nhất nhân hướng ngung lập,
Mãn
tọa ẩm vô hoan?
Hựu
vấn:Cổ kim đại sự ưng vô vấn,
Đặc
địa Tây lai ý nhược hà?
Sư
vân:Xảo ngôn lệnh sắc giả,
Toản
qui đả ngõa nhân.
Hựu
vấn: “Tâm pháp song vong tính tức chân.” Như hà thị “chân”?
Sư
vân:Vũ trích nham hoa thần nữ lệ,
Phong
xao đình trúc Bá Nha cầm.
Hựu
vấn: Như hà thị tối diệu chi cú?
Sư
vân:Hầu lý do tồn ngạnh,
Thường
cư bất khoái nhiên.
Hựu
vấn: Hữu tu hữu chứng khai tứ bệnh,
Xuất
đầu hà khả thoát trần lung.
Sư
vân:Sơn cao cánh đại dung trần trữ,
Hải
khoát năng thâm nạp tế lưu.
Hựu
vấn:“Duy Phật dữ Phật nãi tri tư sự.” Như hà thị “tư
sự”?
Sư
vân:Giáp kính sâm sâm trúc,
Phong
xuy khúc tự thành.
Hựu
vấn:Bất dụng bình thường, bất dụng thiên nhiên, bất dụng
tác dụng nhi kim tác thập ma?
Sư
vân:Bồng thảo thê đê yến,
Thương
minh ẩn cự lân.
Hựu
vấn:Tứ đại đới lai do khoáng kiếp,
Thỉnh
Sư phương tiện xuất luân hồi.
Sư
vân:Cử thế súc đồ tê thị bảo,
Thực
ư kinh cức ngọa ư nê.
Hựu
vấn:“Chủng chủng thủ xả, giai thị luân hồi.” Bất thủ
bất xả thời như hà?
Sư
vân:Tòng lai hồng hiện thù thường sắc,
Hữu
diệp sâm si bất hữu hoa.
Hựu
vấn: “Ngôn ngữ đạo đoạn” kỳ ý như hà?
Sư
vân:Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo,
Sơn
nham đới nguyệt quá tường lai.
Hựu
vấn:“Chư Phật thuyết pháp giai thị hóa vật. Nhược ngộ
bản ý, thị danh xuất thế.” Như hà thị “bản ý”.
Sư
vân:Xuân chức hoa như cẩm,
Thu
lai diệp tợ hoàng.
Hựu
vấn: Như hà thị “trực tiệt nhất lộ”?
Sư
vân:Đông tây xa mã tẩu,
Trần
thổ hiểu hôn phi.
Hựu
vấn:Hữu pháp hữu tâm khai vọng thức,
Như
hà tâm pháp đãng câu tiêu?
Sư
vân:Khả đoạt tùng sao trường uất uất,
Khởi
ưu sương tuyết lạc phân phân.
Hựu
vấn:Tổ ý dữ giáo ý như hà?
Sư
vân:Hứng lai huề trượng du vân kính,
Khốn
tức thùy liêm ngọa trúc sàng.
Hựu
vấn: Tổ tổ tương truyền, hợp truyền hà sự?
Sư
vân:Cơ lai tu tầm thực,
Hàn
tức hướng cầu y.
Hựu
vấn:Thế nhân giai nhẫm ốc, Lậu nhân hà sở tại?
Sư
vân:Kim ô kiêm ngọc thố,
Doanh
trắc mạn lao phân.
Hựu
vấn: Như hà thị Tào Khê nhất lộ?
Sư
vân:Khả lân khắc chu khách,
Đáo
xứ ý thông thông.
Dịch
nghĩa:
BÀY
RÕ BÍ QUYẾT CHO NGƯỜI THAM VẤN
Một
hôm ngồi trước Tăng đường, có vị tăng hỏi:
-
Phật và Thánh khác nhau thế nào?
Sư
đáp:Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên
cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
Tăng
thưa: Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại
nêu bày ra.
Sư
đáp:Ngày thì vầng nhật chiếu,
Đêm
đến ánh trăng soi.
Tăng
lại hỏi: Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì
dạy thế nào?
Sư
đáp:Bưng thau nước đầy không chú ý
Một
lúc sẩy chân hối ích gì?
Tăng
thưa: Đa tạ!
Sư
bảo:Chớ rửa sông to sóng,
Chính
mình đến chết chìm.
Tăng
hỏi: Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến
nay ai kế thừa làm chủ?
Sư
đáp:Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt,
Đất
hiểm, phân ranh có núi sông.
Tăng
hỏi:Thế nào là đại đạo,
Cội
nguồn một lối đi?
Sư
đáp:Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng,
Nước
nhà lận đận thấy tôi trung.
Hỏi:
Tất cả chúng sanh từ đâu tới,
Sau
khi trăm tuổi sẽ về đâu?
Đáp:
Rùa mù dùi vách đá,
Trạnh
què trèo núi cao.
Hỏi:“Trúc
biếc xanh xanh trọn là chân như”, thế nào là “dụng”
của chân như?
Đáp:
Tặng anh đi ngàn dặm,
Cười
trao một ấm trà.
Lại
thưa: Thế là uổng công đến mà vô ích?
Đáp:
Ai biết được người chủ (Đông A),
Trên
đường lại bạc đầu.
Hỏi:
Dã Hiên một nhà kín,
Ai
biết gõ dễ dàng.
Đáp:
Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn,
Mà
nay sớm tối mặc ngựa dê.
Hỏi:
Tại sao như thế?
Đáp:
Giàu sang vẫn kiêu sa,
Khiến
thành lầu chợ hoại.
Hỏi:
Long nữ dâng châu thành Phật quả,
Đàn-na
bố thí phước thế nào?
Đáp:
Quế trong trăng muôn thuở,
Héo
tươi tại một vầng.
Lại
thưa: Thế là nhọc mà không công?
Đáp:
Trên trời như treo gương,
Nhân
gian nơi nơi tỏ.
Hỏi:
Qua sông cần dùng bè,
Đến
bờ thuyền bỏ lại.
Khi
không qua thì thế nào?
Đáp:
Hồ khô cá mắc cạn,
Sống
được muôn năm xuân.
Lại
thưa: Thế là theo dòng mới được diệu lý?
Đáp:
Thấy nói bạn Kinh Kha,
Một
đi không trở lại.
Hỏi:
Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại,
Thỉnh
Thầy phương tiện luyện cho tinh.
Đáp:
Chẳng phải khách nước Tề,
Đâu
biết cá to biển.
Lại
thưa: Ông Quách chẳng chịu nhận,
Can
gián cũng làm gì?
Đáp:
Nếu muốn trước uống rượu,
Khéo
vẽ rắn làm gì?
Hỏi:
Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống?
Sư
bảo: Ông là người phương nào?
Tăng
thưa: Vốn là người ở núi.
Sư
bảo:Núi xưa về ẩn gấp,
Chớ
thấy Hứa Chân Quân.
Hỏi:
Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi,
Tào
Khê giọt giọt là thế nào?
Đáp:
Trước gió thông reo tiếng buồn bã,
Mưa
tạnh trên đường ít bùn lầy.
Lại
thưa: Thế là chẳng khác thời nay?
Đáp:
Dưới giậu trùng dương cúc,
Đầu
cành xuân ấm oanh.
Hỏi:
Rõ ràng trong khoảng tâm mắt,
Sáng
chói ở trong sắc thân,
Mà
lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không
thấy?
Đáp:
Trong vườn hoa khoe sắc,
Trên
bờ cỏ xanh rì.
Hỏi:
Năm lạnh các mầm thối,
Lấy
gì để khoe xinh.
Đáp:
Mừng ông đã thấu suốt,
Cũng
chẳng vui hay sao.
Tăng
nói:Hân hạnh nghe Thầy giải,
Từ
đây khỏi chợt không.
Sư
đáp:Chìm cạn vừa ra khỏi,
Quay
đầu muôn trượng đầm.
Hỏi:
“Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng
nguy?
Đáp:
Xây tổ trên rèm cháy,
Râu
tóc cọng hoa lau.
Hỏi:
Nếu gặp khi bức bách,
Hai
chỗ là làm gì?
Đáp:
Trượng phu tùy thong thả,
Gió
trăng mặc tiêu dao.
Hỏi:
“Tất cả chúng sanh đều nói là Phật,”
Lý
này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy?
Đáp:
Khuyên ông hãy gắng việc nông tang,
Chớ
học theo người đợi thỏ nhọc.
Tăng
nói:Được nhờ Thầy chỉ rõ,
Trọn
chẳng đến ai cầu.
Sư
nói:Đáng thương người mắc nghẹn,
Ngồi
đói lại quên ăn.
Tăng
nói:Nhiều năm cất giấu báu trong đãy,
Ngày
nay trước mắt thấy rõ ràng.
Sư
nói:Chỉ đợi trăng thu sáng,
Đâu
ngờ mây mưa che.
Tăng
nói:Tuy nghe Thầy thuyết giảng,
Lý
nầy vẫn chưa rành.
Sư
đáp:Cười kẻ luống ôm cột,
Chết
đuối nằm giữa dòng.
Hỏi:
Thế nào là một pháp?
Đáp:
Chẳng thấy xuân sanh cùng hạ trưởng,
Lại
gặp thu chín và đông thâu.
Lại
thưa: Thế là nhiều người thành Phật?
Đáp:
Tổ Long chợt tự dừng,
Từ
Phúc xa luống nhọc.
Hỏi:
“Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào?
Đáp:
Cây khô gặp xuân hoa đua nở,
Gió
thổi hương thần thơm rất xa.
Tăng
nói: Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại.
Sư
đáp: Muôn năm cây cà ấy,
Xanh
tươi thấu từng mây.
Hỏi:
Ma-ni cùng các sắc,
Chẳng
hợp cũng chẳng lìa?
Đáp:
Hoa xuân cùng bươm bướm,
Lúc
mến lúc chia lìa.
Hỏi:
Thế là theo kia hỗn tạp?
Đáp:
Chẳng phải mắt tăng Ấn,
Luống
nhọc trình biện châu.
Hỏi:
Thế nào là chạm mắt Bồ-đề?
Đáp:
Chim từng sợ cây cong,
Người
thổi mãi rau nguội.
Hỏi:
Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác.
Đáp:
Kẻ điếc nghe đàn sáo,
Người
mù ngắm trăng lên.
Hỏi:
Vốn tự có hình cùng có bóng,
Có
khi bóng cũng lìa hình chăng?
Đáp:
Các sông về Đông chừ muôn dòng tranh chảy.
Chúng
sao chầu Bắc chừ ngàn xưa về tâm.
Hỏi:
Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức?
Đáp:
Xa ném Thái Sơn qua biển Bắc,
Ngước
tung cây gậy đến cung trăng.
Hỏi:
Chỉ một việc này là thực, còn hai ắt chẳng chân, thế
nào là chân?
Đáp:
Đầu gậy gió dễ động,
Trên
đường mưa thành lầy.
Hỏi:
“Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng,
Không
mong đuốc Tổ nối ngọn đèn.”
Ý
chỉ câu này thế nào?
Đáp:
Trời thu hoàng oanh hót,
Trong
tuyết mẫu đơn xinh.
Hỏi:
Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Một người xây vách đứng,
Cả
nhà uống chẳng vui.
Hỏi:
Cổ kim việc lớn thôi không hỏi,
Chỉ
chuyện Tây lai ý thế nào?
Đáp:
Người nói khéo mặt lành,
Kẻ
dùi rùa đập ngói.
Hỏi:
“Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Hoa núi mưa sa, Thần nữ khóc,
Tre
sân gió thổi, Bá Nha đàn.
Hỏi:
Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Trong cổ vẫn còn nghẹn,
Thường
ở chỗ bất an.
Hỏi:
Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh,
Xuất
đầu sao được thoát lồng trần?
Đáp:
Núi cao lại lớn dung chứa bụi,
Bể
cả càng sâu nhận các dòng.
Hỏi:
“Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là
việc này?
Đáp:
Đường hẹp trúc um tùm,
Gió
thổi thành khúc nhạc.
Hỏi:
Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng
tác dụng, thì nay phải làm sao?
Đáp:
Cỏ bồng chim én đậu,
Biển
cả náu cá kình.
Hỏi:
Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp,
Thỉnh
Thầy phương tiện thoát luân hồi?
Đáp:
Tất cả súc sanh tê giác quí,
Ăn
toàn gai góc, ngủ trong bùn.
Hỏi:
“Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không
xả thì sao?
Đáp:
Xưa nay sam tía sắc thường khác,
So
le cành lá chẳng có hoa.
Hỏi:
“Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào?
Đáp:
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,
Đầu
non mang nguyệt vượt tường sang.
Hỏi:
“Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người,
nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý?
Đáp:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu
sang lá tợ vàng.
Hỏi:
Thế nào là một đường thẳng đứt?
Đáp:
Đông Tây xe ngựa chạy,
Sớm
tối bụi mù bay.
Hỏi:
Có pháp, có tâm mở vọng thức,
Làm
sao tâm pháp thảy tiêu vong?
Đáp:
Vượt được tùng cao che rợp rợp,
Đâu
lo sương tuyết rớt bời bời.
Hỏi:
Ý Tổ cùng ý kinh thế nào?
Đáp:
Hứng lên xách gậy chơi đường núi,
Nhọc
tức xổ rèm nằm chõng tre.
Hỏi:
Tổ Tổ truyền nhau là truyền việc gì?
Đáp:
Đói đến cần tìm ăn,
Lạnh
về phải mặc áo.
Hỏi:
Người đời đều thuê nhà,
Nhà
dột ở chỗ nào?
Đáp:
Quạ vàng cùng thỏ bạc,
Đầy
vơi chớ bận lòng.
Hỏi:
Thế nào là một con đường Tào Khê?
Đáp:
Đáng thương kẻ khắc thuyền.
Đến
chốn ý lăng xăng.
Thiền
Sư CỨU CHỈ
(Đời
thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Đàm, quê ở làng Phù Đàm, phủ Chu Minh. Thuở nhỏ Sư
rất ham học, đọc suốt các sách Tam giáo. Một hôm, Sư tự
than :
“Khổng
và Mặc câu chấp về lẽ có, Lão và Trang đắm đuối về
lẽ không, những sách thế tục chẳng phải phương pháp giải
thoát. Chỉ có Phật giáo chẳng kể có hay không, có thể liễu
thoát sanh tử, nhưng phải siêng năng tu trì giữ giới thanh
tịnh và tìm thiện tri thức ấn chứng mới được.”
Nhân
đó Sư xả tục xuất gia, tìm đến Ấp Sơn, chùa Cảm Ứng
xin làm đệ tử Trưởng Lão Định Hương.
Giờ
tham thỉnh, Sư hỏi:- Thế nào là nghĩa cứu cánh ?
Trưởng
Lão im lặng giây lâu, hỏi lại Sư:- Hiểu chưa ?
Sư
thưa:- Chưa hiểu.
Trưởng
Lão bảo:- Ta đã cho ngươi nghĩa cứu cánh.
Sư
suy nghĩ.
Trưởng
Lão bảo:- Lầm qua rồi!
Ngay
câu nói này, Sư thấu triệt ý chỉ. Nhân đó Trưởng Lão
đặt tên Sư là Cứu Chỉ.
*
*
*
Sau,
Sư lên chùa Quang Minh, núi Tiên Du (Bắc Ninh) ở luôn trong đó
chuyên tu hạnh Đầu-đà, trọn năm không bước chân xuống
núi. Tiếng đồn tới kinh đô, vua Lý Thái Tông cho mời mấy
phen mà Sư không đến. Đích thân vua ba lần đến chùa Sư
thưa hỏi. Thái sư Lương Văn Nhậm rất kính trọng Sư.
*
Khoảng
niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054-1059), Tể tướng Dương
Đạo Gia lập chùa Diên Linh trên núi Long Đội, Yên Lãng thỉnh
Sư trụ trì. Cố từ chối mà không được, Sư đành hạ sơn.
Ngày ra đi, Sư nói: “Ta chẳng trở lại đây nữa.” Cầm
thú trong núi kêu buồn suốt ba tuần mà chưa dứt.
*
*
*
Trụ
trì chùa Diên Linh được ba năm, khoảng niên hiệu Chương
Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư sắp tịch, bèn gọi môn đồ
đến dạy:
-
Phàm tất cả các pháp môn vốn từ tánh của các ngươi, tánh
tất cả các pháp vốn từ tâm của các ngươi. Tâm pháp nhất
như, vốn không hai pháp. Phiền não trói buộc, tất cả đều
không. Tội phước phải quấy, tất cả đều huyễn. Không
cái nào chẳng phải quả, chẳng phải nhân. Không nên ở trong
nghiệp mà phân biệt báo, không nên ở trong báo mà phân biệt
nghiệp, nếu có phân biệt thì chẳng tự tại. Tuy thấy tất
cả pháp mà không có chỗ thấy, tuy biết tất cả pháp mà
không có chỗ biết. Biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm
gốc. Thấy tất cả pháp lấy chánh chân làm tông. Tuy chuyên
nơi thật tế mà rõ thế gian đều như biến hóa. Rõ thấu
chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng rời
cảnh nghiệp mà phương tiện khéo léo, ở trong cõi hữu vi
hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng vô vi là
do hết dục, dứt ngã, quên niệm mà nhận lấy vậy.
Sư
nói kệ:
Giác
ngộ thân tâm vốn lặng yên,
Thần
thông các tướng biến hiện tiền.
Hữu
vi vô vi từ đây có,
Thế
giới hà sa không thể lường.
Tuy
nhiên đầy khắp cõi hư không,
Mỗi
mỗi xem ra chẳng tướng hình.
Muôn
đời ngàn đời nào sánh được,
Chốn
chốn nơi nơi thường rạng ngời.
(Giác
liễu thân tâm bản ngưng tịch
Thần
thông biến hóa hiện chư tướng
Hữu
vi vô vi tùng thử xuất
Hà
sa thế giới bất khả lượng.
Tuy
nhiên biến mãn hư không giới
Nhất
nhất quan lai một hình trạng.
Thiên
cổ vạn cổ nan tỷ huống
Giới
giới xứ xứ thường lãng lãng.)
Nói
xong, Sư ngồi yên thị tịch.