Thiền
Sư PHÁP THUẬN
(914
- 990)
(Đời
thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, xuất gia từ thuở bé,
thọ giới với Thiền sư Long Thọ Phù Trì. Sau khi đắc pháp,
Sư nói lời nào cũng phù hợp sấm ngữ.
Nhà
Tiền Lê mới dựng nghiệp, thường mời Sư vào triều luận
bàn việc chánh trị và ngoại giao. Khi quốc thái dân an, Sư
không nhận sự phong thưởng. Vì thế, vua Lê Đại Hành rất
kính trọng, không dám gọi tên, chỉ gọi là Đỗ Pháp Sư.
Nhà vua nhờ Sư trông coi việc soạn thảo văn kiện, thư từ
ngoại giao.
Năm
Thiên Phước thứ bảy (986), nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang
phong tước hiệu cho vua Đại Hành. Vua nhờ Sư cải trang làm
lái đò để đón Sứ. Trên sông, bất chợt Lý Giác thấy
hai con ngỗng bơi, cảm hứng liền ngâm:
Song
song ngỗng một đôi
Ngửa
mặt ngó ven trời.
(Nga
nga lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nha.)
Sư
đang chèo, ứng khẩu ngâm tiếp:
Lông
trắng phơi dòng biếc
Sóng
xanh chân hồng bơi. (T.T.Mật Thể)
(Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba.)
Lý
Giác rất thán phục.
*
*
*
Vua
Đại Hành hỏi vận nước dài ngắn thế nào, Sư đáp bằng
bài kệ:
Vận
nước như dây quấn
Trời
Nam sống thái bình
Rảnh
rang trên điện các
Chốn
chốn dứt đao binh.
(Quốc
tộ như đằng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh.)
Về
sau, Sư trụ trì chùa Cổ Sơn làng Thừ, quận Ải.
Niên
hiệu Hưng Thống thứ hai (990), Sư không bệnh mà tịch, thọ
76 tuổi. Tác phẩm của Sư có:
*
Bồ Tát Hiệu Sám Hối Văn
*
Thơ tiếp Lý Giác
*
Một bài kệ.
Theo
Dòng Sự Kiện:
Bài
Thơ Vận Nước và Tư Tưởng Chính Trị của Thiền Sư Pháp
Thuận, Lê Mạnh Thát
Thiền
Sư VÂN PHONG
(?
- 956)-(Đời thứ ba, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Nguyễn, quê ở Từ Liêm quận Vĩnh Khương. Khi mẹ mang
thai Sư, thường trai giới tụng kinh, lúc sanh ra có hào quang
chiếu sáng cả nhà. Bởi cha mẹ nhận thấy sự linh dị ấy
nên cho Sư đi xuất gia.
Đến
lớn, Sư theo hầu Thiền sư Thiện Hội ở Siêu Loại. Sư thuộc
hàng cao đệ, được thầy truyền dạy thiền yếu. Thiện
Hội thường bảo Sư:
-
Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.
Sư
hỏi:
-
Khi sống chết đến làm sao tránh được?
-
Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.
-
Thế nào là chỗ không sống chết?
-
Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.
-
Làm sao mà hiểu?
-
Ngươi hãy đi, chiều sẽ đến.
Chiều
Sư lại vào. Thiện Hội bảo:
-
Đợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.
Sư
hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp xuống lạy.
Thiện
Hội hỏi:
-
Ngươi thấy đạo lý gì?
Sư
thưa:
-
Con đã lãnh hội.
-
Ngươi hội thế nào?
Sư
bèn đưa nắm tay lên thưa:
-
Chẳng tỉnh ngộ là cái gì?
Thiện
Hội liền thôi.
*
*
*
Sau,
Sư trụ trì chùa Khai Quốc trong kinh đô Thăng Long. Đến năm
thứ ba niên hiệu Hiển Đức đời Châu (956), Sư thị tịch.
Đại
Sư KHUÔNG VIỆT
(933
- 1011)
(Đời
thứ 4, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
tục danh Ngô Chân Lưu, quê làng Cát Lợi quận Thường Lạc,
dòng dõi của Ngô Thuận Đế. Sư dáng mạo khôi ngô, ý chí
lỗi lạc và tánh tình bình thản. Thuở nhỏ theo nghiệp Nho,
lớn lên trở về Phật. Sư thọ giáo với Thiền sư Vân Phong
ở chùa Khai Quốc, thấu tột thiền yếu và đọc khắp các
kinh điển.
Năm
40 tuổi, danh Sư vang khắp tùng lâm, vua Đinh Tiên Hoàng mời
vào cung hỏi đạo. Sư ứng đối rành rẽ, vua rất mến phục,
phong chức Tăng Thống. Năm sau, niên hiệu Thái Bình thứ hai
(971), vua lại phong Khuông Việt Đại Sư.
Đến
đời vua Lê Đại Hành, Sư càng được kính trọng. Bao nhiêu
việc binh, việc nước, vua đều mời Sư vào hỏi.
Năm
thứ bảy niên hiệu Thiên Phước (986), nhà Tống sai sứ là
Lý Giác sang nước ta, vua Đại Hành sắc Sư ra đón tiếp sứ.
Khi Lý Giác về có để lại một bài thơ:
May
gặp minh quân giúp việc làm
Một
mình hai lượt sứ miền Nam.
Mấy
phen qua lại lòng thêm nhớ
Muôn
dặm non sông mắt chửa nhàm
Ngựa
đạp mây bay qua suối đá
Xe
vòng núi chạy tới dòng lam.
Ngoài
trời lại có trời soi rạng
Vừng
nguyệt trong in ngọn sóng đầm. (T.T. Mật Thể)
*
Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du
Nhất
thân lưỡng độ sứ Giao Châu
Đông
đô tái biệt tâm vưu luyến
Nam
Việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã
đạp yên vân xuyên lãng thạch
Xa
từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên
ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê
đàm ba tịnh kiến thiềm thu.)
Vua
Đại Hành đưa bài thơ ấy cho Sư xem, và hỏi có ý gì không.
Sư
tâu:
-
Câu thứ bảy sứ Tống có ý tôn bệ hạ ngang hàng với vua
của họ.
Vua
Đại Hành nhờ Sư làm một bài tiễn sứ. Sư vâng lệnh làm
bài từ theo điệu “Tống vương lang qui”:
Gió
hòa phấp phới chiếc buồm hoa
Thần
tiên trở lại nhà.
Đường
muôn nghìn dặm trải phong ba
Cửa
trời nhắm đường xa.
Một
chén quan hà dạ thiết tha
Thương
nhớ biết bao là
Nỗi
niềm xin nhớ cõi Nam hà
Bầy
tỏ với vua ta. (T.T.Mật Thể)
(Tường
quang phong hảo cẩm phàm trương
Thần
tiên phục đế hương.
Thiên
lý vạn lý thiệp thương lương
Cửu
thiên qui lộ trường.
Nhân
tình thảm thiết đối ly thương
Phan
luyến sứ tình lang.
Nguyện
tương thâm ý vị nam cương.
Phân
minh tấu ngã hoàng.)
Sau,
Sư viện lẽ già yếu xin từ quan, về quê dựng một ngôi
chùa hiệu Phật Đà trên núi Du Hý, làng Cát Lợi, quận Thường
Lạc, rồi trụ trì ở đó. Học giả bốn phương tụ họp
về học vấn rất đông.
Một
hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi:
-
Thế nào là trước sau học đạo ?
Sư
đáp:
-
Trước sau không vật tợ hư không,
Hội đắc chân như thể tự đồng.
(Thủy
chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự đồng.)
-
Làm sao gìn giữ ?
-
Không chỗ cho ngươi hạ thủ.
-
Hòa thượng nói rõ rồi.
-
Ngươi hội thế nào ?
Đa
Bảo hét một tiếng.
*
*
*
Năm
thứ hai niên hiệu Thuận Thiên triều Lý (1011) ngày rằm tháng
hai, Sư gọi Đa Bảo lại nói kệ:
Trong
cây sẵn có lửa,
Có
lửa, lửa lại sanh.
Nếu
bảo cây không lửa,
Cọ
xát làm gì sanh.
(Mộc
trung nguyên hữu hỏa,
Hữu
hỏa, hỏa hoàn sanh.
Nhược
vị mộc vô hỏa,
Toản
toại hà do manh.)
Dạy
kệ xong, Sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 79 tuổi.
Thiền
Sư MA HA
(Ma-ha
Ma-da)
(Đời
thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
gốc người Chiêm Thành, sau đổi họ là Dương. Cha tên Bối
Đà, tinh thông sách lá bối, làm quan dưới triều Lê là Bối
trưởng (xưa gọi Đà Phan). Lớn lên Sư có nhận thức
thấu đáo, học thông cả hai thứ chữ Phạn và Hán.
Năm
24 tuổi, Sư nối nghiệp cho cha kế thế trụ trì ngôi chùa
cũ. Một hôm, đang lúc giảng kinh thấy Hộ pháp Thiện thần
xuất hiện quở rằng: “Đâu cần cái học bên ngoài ấy
làm gì? Ắt không thể thông lý.” Do đây hai mắt Sư bị
mù. Sư hết lòng ăn năn hối lỗi, toan gieo mình xuống vực
sâu mà chết. Bỗng gặp Đông Lâm Viễn ngăn rằng: “Dừng!
Dừng!” Sư nghe lời này liền tỉnh ngộ.
Về
sau, Sư đến chùa Cổ Sơn thọ giáo với Thiền sư Đỗ Pháp
Thuận. Ở đây Sư chuyên việc sám hối và tụng Đại Bi tâm
chú, ròng rã ba năm chưa từng có một phút giây biếng trễ.
Cảm Bồ-tát Quan Âm lấy nước cành dương rưới trên đảnh
và mặt mắt. Bỗng nhiên mắt Sư sáng lại tâm càng thanh tịnh.
Niên
hiệu Thuận Thiên năm thứ năm (1014), Sư dời về ngọn núi
Đại Vân ở Trường An ngày ngày chuyên cần tu tập được
“Tổng trì tam-muội” và các pháp thuật, người đời không
thể lường nổi.
Hoàng
đế Lê Đại Hành ba lần triệu Sư vào cung thưa hỏi, Sư
chỉ chấp tay cúi đầu mà thôi. Đến lần thứ ba, Sư mới
đáp: “Cuồng tăng ở chùa Quan Ái.” Vua nổi giận sai cầm
Sư ở chùa Vạn Tuế trong Đại nội, cắt người canh gác.
Sáng hôm sau thấy Sư ở ngoài phòng tăng, mà cửa vẫn kín
như cũ. Vua rất kinh dị, bèn trả tự do cho Sư.
Sư
dạo phương Nam châu Ái, đến trấn Sa Đảng. Nhân dân ở
đây rất sùng mộ quỉ thần, lấy việc sát sanh làm chủ
yếu. Sư khuyên họ ăn chay làm phước, họ đồng đáp: “Thiên
thần của chúng tôi, họa phước không dám trái.” Sư bảo:
“Các ngươi nếu bỏ ác làm lành, dù có quỉ thần xúc hại
Lão tăng sẽ gánh chịu cho.” Dân làng thưa: “Gần đây có
người mang bệnh hủi nặng, các thầy thuốc đều bó tay,
nếu ông trị lành được bệnh này, chúng tôi sẽ nghe theo
lời khuyên.” Sư bảo dẫn người bệnh ấy đến. Họ đến,
Sư liền tụng chú, lấy nước phun vào người bệnh, chẳng
bao lâu bệnh được lành. Dân làng tuy cảm phục, mà tập
nhiễm của họ đã lâu, chưa có thể nhất thời cảm hóa
được.
Trong
đó, có Hương hào họ Ngô nhân ăn thịt uống rượu bèn đem
nài ép Sư: “Hòa thượng có thể thưởng thức cái vui này
với chúng tôi, chúng tôi sẽ tuân theo lời Ngài dạy.” Sư
đáp: “Đã mời thì chẳng dám từ, chỉ sợ e đau bụng thôi.”
Hương hào mừng rỡ thưa: “Có đau thì tôi xin thay cho.”
Sư nhận lời, ăn uống được vài tuần rượu, chợt bụng
sình to lên, hơi thở hào hển. Sư kêu to: “Ông Hương hào
đâu chịu thay cho tôi!” Ông Hương hào và cả bọn mặt xám
ngắt, không biết làm sao.
Sư
tự chấp tay niệm lên: “Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô
Tăng cứu con.” Giây lát, Sư mửa ra thịt thì biến thành
thú chạy, cá thì hiện cá nhảy, rượu thì hóa thành nước
đồng. Mọi người trông thấy đều kinh hãi. Sư bảo: “Thân
các ngươi bệnh thì ta chữa được lành, ta đau bụng các
ngươi không thay thế được. Vậy từ nay các ngươi có theo
lời ta dạy hay không?”
Tất
cả dân làng đều bái tạ xin vâng.
Năm
Thiên Thành thứ hai (1029) quan Đô úy Nguyễn Quang Lợi mời
Sư trụ trì chùa Khai Thiên, phủ Thái Bình. Ở đây được
sáu năm, Sư lại rời châu Hoan. Từ đó về sau chẳng biết
Sư trụ ở phương nào.
THIỀN
ÔNG ĐẠO GIẢ
(902
- 979)
(Đời
thứ 11, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Lữ quê làng Cổ Pháp, tuổi nhỏ đã không thích việc
đời. Sau theo Đinh trưởng lão xuất gia và đắc pháp.
Sư
trụ trì ở chùa Song Lâm làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức. Niên
hiệu Thái Bình thứ mười triều Đinh (979) nhằm năm Kỷ Mão,
Sư viên tịch, thọ 78 tuổi.
Thiền
Sư SÙNG PHẠM
(1004
- 1087)
(Đời
thứ 11, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Mâu, dáng vẻ mạnh mẽ to lớn, hai trái tai thòng đến
vai. Xuất gia xong, Sư đến tham vấn với ngài Vô Ngại ở
Hương Thành. Sau khi được tâm ấn, Sư dạo khắp nước Thiên
Trúc để cầu học hỏi sâu rộng. Mãn chín năm Sư trở về
nước gồm thông giới định.
Về
sau, Sư trụ trì chùa Pháp Vân làng Cổ Châu, Long Biên thuyết
pháp giáo hóa, học giả các nơi qui hướng rất đông.
Hoàng
đế Lê Đại Hành nhiều phen thỉnh Sư vào cung để thưa hỏi
huyền chỉ. Vua lấy lễ đãi Sư rất trọng hậu.
Đến
năm Quảng Hựu thứ ba triều Lý (1087) nhằm năm Đinh Mão,
Sư viên tịch, thọ 84 tuổi.
Vua
Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tặng Sư:
Nước
Nam ngài Sùng Phạm
Tâm
không thi đậu về
Tai
dài hiện tướng lạ
Pháp
pháp thảy nhiệm mầu.
(Sùng Phạm cư Nam quốc
Tâm
không cập đệ qui
Nhĩ
trường hồi thụy chất
Pháp
pháp tận ly vi.)
Thiền
Sư ĐỊNH HUỆ
(Đời
thứ 12, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Khúc quê ở Cẩm Điền, Phong Châu. Lúc đầu, Sư cùng
Thiền sư Vạn Hạnh thờ Thiền Ông Đạo Giả làm thầy, và
được truyền tâm ấn. Sau Sư về trụ trì ở chùa Quang Hưng,
làng An Trinh, phủ Thiên Đức.
Khi
sắp tịch, Sư trao Pháp ấn lại cho đệ tử Lâm Huệ Sinh.
Thiền
Sư VẠN HẠNH
(?
- 1018)-(Đời thứ 12, Dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư
họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp, gia đình đời đời thờ
Phật. Thuở nhỏ Sư đã thông minh khác thường, thông suốt
Tam học và nghiên cứu Bách luận, mà vẫn xem thường công
danh phú quí.
Năm
21 tuổi Sư xuất gia, cùng Thiền sư Định Huệ, thọ học
với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ làng Dịch Bảng
phủ Thiên Đức. Khi việc rảnh rỗi, Sư học hỏi quên cả
mỏi mệt.
Sau
khi Thiền Ông tịch, Sư kế tiếp trụ trì chùa này và chuyên
tập pháp “Tổng trì tam-ma-địa” lấy đó làm sự nghiệp.
Bấy giờ Sư có nói ra lời gì dân chúng đều cho là lời
sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính Sư.
Niên
hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), tướng Tống là Hầu
Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương
Giáp, Lãng Sơn, vua Lê Đại Hành mời Sư đến hỏi:
-
Quân ta thắng bại thế nào?
Sư
đáp:
-
Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui.
Quả
đúng như lời Sư đoán.
Có
kẻ gian tên Đỗ Ngân âm mưu hại Sư. Biết trước sự việc,
Sư đưa cho y một bài thơ:
Thổ
mộc sanh nhau Cấn với Kim,
Vì
sao ôm ấp lòng hận phiền?
Bấy
giờ tôi biết lòng buồn dứt,
Thật
đến sau này chẳng bận tâm.
(Thổ
mộc tương sanh Cấn bạn Câm (kim) [Thổ Mộc là Đỗ, Cấn
Kim là Ngân]
Vân
hà mưu ngã uẩn linh khâm?
Đương
thời ngũ khẩu thu tâm tuyệt
Chân
chí vị lai bất hận tâm.)
Được
thơ này gã Ngân hoảng sợ không tiến hành mưu hại nữa.
Lúc
vua Lê Ngọa Triều ở ngôi quá tàn bạo, mọi người đều
oán ghét. Khi ấy Lý Thái Tổ còn làm chức Thân Vệ, chưa
lên ngôi. Bấy giờ trong nước có những điềm lạ xuất hiện
liên miên. Tùy theo chỗ thấy nghe, Sư đều bàn giải phù hợp
với triệu chứng nhà Lê sắp mất, nhà Lý lên thay.
Ngày
vua Lý Thái Tổ lên ngôi, Sư ở tại chùa Lục Tổ mà vẫn
biết trước, báo tin cho chú và bác vua Lý hay: “Thiên tử
đã băng hà, Lý Thân Vệ đã khuất phục trong thành nội,
túc trực trong vài ngày Thân Vệ ắt được thiên hạ.” Và
để chiêu an bá tánh, Sư ra yết thị rằng:
Tật
Lê chìm biển Bắc
Cây
Lý che trời Nam
Bốn
phương binh đao dứt
Tám
hướng thảy bình an
(Tật
Lê trầm bắc thủy
Lý
tử thọ nam thiên
Tứ
phương qua can tịnh
Bát
biểu hạ bình an.)
*
*
*
Niên
hiệu Thuận Thiên thứ chín (1018) ngày rằm tháng năm, Sư không
bệnh chi, mà gọi chúng nói kệ:
Thân
như bóng chớp có rồi không,
Cây
cỏ xuân tươi, thu đượm hồng,
Mặc
cuộc thạnh suy không sợ hãi,
Thạnh
suy như cỏ hạt sương đông.
(Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô,
Nhậm
vận thạnh suy vô bố úy
Thạnh
suy như lộ thảo đầu phô.)
Nói
xong, Sư lại bảo chúng: “Các ngươi cần trụ chỗ nào? Ta
chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ.”
Ngừng giây lát, Sư tịch.
*
Vua
Lý Thái Tổ và đệ tử làm lễ hỏa táng, nhặt xá-lợi xây
tháp cúng dường.
Về
sau vua Lý Nhân Tông có làm bài truy tán Sư rằng:
Vạn
Hạnh thông ba mé (Ba mé: quá khứ, hiện tại, vị lai.)
Thật
hợp lời sấm xưa.
Quê
nhà tên Cổ Pháp
Dựng
gậy vững kinh vua.
(Vạn
Hạnh dung tam tế,
Chơn
phù cổ sấm cơ (ky)
Hương
quan danh Cổ Pháp,
Trụ
tích trấn vương kỳ.)
Thiền
Sư ĐA BẢO
(Đời
thứ 5, dòng Vô Ngôn Thông)
Chẳng
rõ Sư người ở đâu và họ gì. Chỉ biết, khi Khuông Việt
đại sư mở trường giáo hóa ở chùa Khai Quốc, Sư đến
tham học. Được Đại sư khen là bậc gặp cơ lãnh ngộ, xử
sự rất đặc cách, riêng cho vào thất.
Sau
khi đắc pháp, Sư chỉ một mình một bình bát tiêu dao ngoại
vật.
Lúc
Lý Thái Tổ còn nhỏ, Sư trông thấy dung nghi dị thường,
bèn bảo: “Đứa bé này cốt tướng phi thường, sau này ắt
làm chủ nước Nam.” Thái Tổ nghe nói thất kinh thưa: “Nay
Thánh thượng anh minh còn tại vị, chốn hải nội đều trị
yên, cớ sao Thầy lại nói lời phải tội tru di này?” Sư
bảo: “Mệnh trời đã định, người dù muốn tránh cũng
chẳng được nào.”
Đến
khi Thái Tổ lên ngôi, thường thỉnh Sư vào cung thưa hỏi
yếu chỉ Thiền và ân lễ Sư rất thâm hậu. Vua xuống chiếu
trùng tu ngôi chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng là nơi Sư trụ
trì.
Sau
không rõ Sư tịch ở đâu và lúc nào.
Trưởng
Lão ĐỊNH HƯƠNG
(?
- 1051)-(Đời thứ 6, dòng Vô Ngôn Thông)
Sư
họ Lữ, quê ở Chu Minh, xuất gia hồi thuở nhỏ, theo học
với Thiền sư Đa Bảo. Sư theo hầu thầy ngót 24 năm, thâm
hiểu Thiền chỉ. Trong nhóm môn đồ của Đa Bảo, Sư
là người xuất sắc nhất.
Một
hôm Sư hỏi thầy:
-
Làm sao thấy được chân tâm?
Đa
Bảo đáp:
-
Là ngươi tự nhọc.
Sư
hoát nhiên tỉnh ngộ, thưa:
-
Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con.
-
Người hội chưa?
-
Đệ tử hội rồi lại đồng chưa hội.
-
Cần phải gìn giữ cái ấy.
Sư
bịt tai, xây lưng đứng.
Đa
Bảo liền nạt: Đi!
Sư
sụp xuống lạy.
Đa
Bảo dạy:
-
Về sau ngươi lại giống một kẻ điếc để tiếp người.
Bấy
giờ Đô tướng Thành Hoàng Sứ tên Nguyễn Tuân rất quí mến
Sư, thỉnh Sư về trụ trì chùa Cảm Ứng, ở Tiêu Sơn, phủ
Thiên Đức. Học chúng các nơi vân tập đông đảo, Sư có
công lớn trong việc giáo hóa người.
Đến
ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần nhằm niên hiệu Sùng Hưng
Đại Bảo thứ ba đời Lý Thái Tông (1051), Sư gọi đồ chúng
lại từ biệt và để kệ:
Xưa
nay không xứ sở
Xứ
sở là chân tông,
Chân
tôâng như thế huyễn
Huyễn
có là không không.
(Bản
lai vô xứ sở
Xứ
sở thị chân tông
Chân
tông như thị huyễn
Huyễn
hữu tức không không.)
Dạy
kệ xong, Sư im lặng mà hóa.
Thiền
Sư THIỀN LÃO
(Đời
thứ 6, dòng Vô Ngôn Thông)
Không
rõ tên họ và sanh quán Sư ở đâu. Chỉ biết Sư đến tham
học với Thiền sư Đa Bảo ở chùa Kiến Sơ, thầm được
tâm yếu. Sau, Sư tìm đến Từ Sơn cắm gậy ở đó, trụ
trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc huyện Tiên Du.
Thiền
phong của Sư lan khắp, học giả theo học có trên ngàn người,
cảnh chùa này trở thành một tùng lâm sung thạnh.
Khoảng
niên hiệu Thông Thụy (1034-1038) vua Lý Thái Tông thường đến
viếng chùa Sư. Vua hỏi Sư:
-
Hòa thượng trụ núi này đã được bao lâu?
Sư
đáp:-Chỉ biết ngày tháng này
Ai
rành xuân thu trước.
(Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu.)
Vua
hỏi:- Hằng ngày Hòa thượng làm gì?
Sư
đáp: - Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân.
(Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân minh nguyệt lộ toàn chân.)
Vua
lại hỏi:- Có ý chỉ gì?
Sư
đáp:- Lời nhiều sau vô ích.
Vua
hoát nhiên lãnh hội.
*
*
*
Sau
khi về cung, vua sai sứ đến chùa rước Sư vào triều làm
cố vấn. Khi đến nơi, Sư đã viên tịch. Vua rất đỗi mến
tiếc, ngự chế thi và ai vãn, sai Trung sứ đến cúng và tặng
lễ, thu linh cốt xây tháp cúng dường. Tháp dựng tại cửa
núi, vua lại cho trùng tu lại ngôi chùa Sư ở và đặt người
hôm sớm lo hương hỏa.
Thiền
Sư THẢO ĐƯỜNG
(Tổ
khai sáng dòng thiền Thảo Đường ở Việt Nam)
Sư
người Trung Hoa, là đệ tử của Thiền sư Trùng Hiển ở
Tuyết Đậu (Tuyết Đậu Trùng Hiển) nhằm đời pháp thứ
ba phái Vân Môn. Không rõ lý do gì, Sư sang ở Chiêm Thành.
Năm
Kỷ Dậu (1069), vua Lý Thánh Tông đem binh sang đánh Chiêm Thành,
bắt được Chế Củ là vua nước ấy cùng một số tù binh.
Về triều, vua ban cho bá quan những tù binh để làm nô bộc.
Sư cũng nằm trong tù binh ấy, và chính Sư lại rơi vào làm
nô bộc cho một vị Tăng lục.
Một
hôm vị Tăng lục đi khỏi, Sư thấy bản Ngữ lục để trên
bàn có mấy chỗ sai, bèn tự ý sửa chữa lại. Vị Tăng lục
đi về, xem thấy thế ngạc nhiên, hỏi ra mới biết Sư sửa.
Ông đem việc ấy tâu lên vua Lý Thánh Tông. Vua đòi Sư vào
triều, đem kinh luận và thiền hỏi Sư. Sư ứng đối rất
lanh lẹ và xác đáng. Vua rất kính phục, truy nguyên ra mới
biết tông tích của Sư.
Từ
đó, vua Thánh Tông thường thưa hỏi Phật pháp nơi Sư và
phong Sư chức Quốc sư, mời ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng
Long. Đồ chúng nghe tiếng tìm đến tham vấn rất đông. Do
đây biến thành phái thiền thứ ba ở Việt Nam.
Đến
50 tuổi, Sư có chút bệnh ngồi kiết già thị tịch.
Phái
thiền của Sư truyền xuống được năm đời, song ít thấy
ghi chép lịch sử đầy đủ.