ĐỜI THỨ
BẢY SAU LỤC TỔ
22.
Thiền sư Huyền Ngộ hiệu Quang Huệ ở Hà Ngọc.
23.
Thiền sư Tùng Chí hiệu Huyền Minh ở Kim Phong.
24.
Thiền sư Xử Chơn ở Lộc Môn.
25.
Thiền sư Huệ Ngung hiệu Bảo Ứng ở Nam Viện.
26.
Thiền sư Toàn Phó ở Thanh Hóa.
27.
Thiền sư Huệ Thanh ở Ba Tiêu.
28.
Thiền sư Sư Nhan ở Đoan Nham.
29.
Thiền sư Tông Nhất pháp danh Sư Bị ở Huyền Sa.
30.
Thiền sư Huệ Lăng ở Trường Khánh.
31.
Thiền sư Văn Yến ở Vân Môn khai Tổ tông Vân Môn.
22.
THIỀN SƯ HUYỀN NGỘ
Hiệu
Quang Huệ ở Hà Ngọc
Ban
đầu Sư ở Long Tuyền thượng đường dạy chúng:
- Hòa
thượng Tuyết Phong vì người như chim đại bàng cánh vàng
bắt rồng ăn.
Có
vị Tăng ra hỏi:- Hòa thượng thì thế nào?
Sư
bảo:- Ở nơi nào đi đến?
- Thế
nào ý Tổ sư từ Ấn sang?
- Sao
chẳng lễ bái đợi chừng nào?
- Thế
nào là mật truyền tâm?
Sư
lặng thinh giây lâu.
Tăng
thưa:- Thế ấy luống nhọc lắng tai.
Sư
gọi thị giả bảo:- Đem lửa đến.
*
Tăng
hỏi:
- Cổ
nhân nói: ?nếu nhớ một câu luận, một kiếp làm dã hồ
tinh?, chẳng biết ý cổ nhân thế nào?
Sư
bảo:- Nhà tăng Long Tuyền chưa từng khóa.
- Hòa
thượng thế nào?
- Gió
thổi bên tai.
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là một câu trước tiếng?
Sư
đáp:- In tuồng chẳng nói.
- Cổ
nhân nói: ?như một hạt tuyết trên lò lửa?, ý chỉ thế
nào?
- Khéo
tiếc giữ lông mày.
- Chỉ
dạy thế nào liền chẳng lầm trong thời gian?
- Không
thể trên tuyết lại thêm sương.
- Thế
ấy là toàn nhân nơi Hòa thượng?
- Nhân
cái gì?
*
Có
khi Sư đưa gậy lên chỉ chúng:
- Từ
trước vẫn lưu lại một đường phương tiện này để tiếp
người.
Vị
Tăng ra hỏi:- Hòa thượng lại đứng đầu đường vậy.
- Tạ
nhau xong.
Tăng
hỏi:- Thế nào và Văn-thù?
Sư
đáp:- Không có mặt trăng thứ hai.
- Việc
hiện giờ thế nào?
- Chính
là mặt trăng thứ hai.
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là lời Như Lai?
Sư
đáp:- Gió mạnh có dây trói.
- Thế
nào là diệu minh chân tánh?
- Rộng
rãi chớ bóp hẹp.
*
Sư
thượng đường giây lâu. Có vị Tăng bước ra hỏi:
- Vị
chúng kiệt lực, họa ra cửa tư, chưa biết tha lỗi, chẳng
tha lỗi?
Sư
vẫn lặ?g thinh.
*
23.
THIỀN SƯ TÙNG CHÍ
Hiệu
Huyền Minh ở Kim Phong
Thượng
tọa Tiến hỏi:- Thế nào là chánh chủ Kim Phong?
Sư
đáp:- Đây cách trấn huyện chẳng xa, Xà-lê chớ thứ lớp.
- Sao
chẳng nói?
- Miệng
như bàn đá.
- Ngàn
phong muôn phong, thế nào là Kim Phong?
Sư
bèn vạch trán rồi thôi.
*
Sư
đưa chiếc gối chỉ Tăng bảo:
- Tất
cả người gọi là chiếc gối, Kim Phong nói chẳng phải.
Tăng
thưa:- Chẳng biết Hòa thượng gọi là gì?
Sư
cầm chiếc gối đưa lên.
Tăng
thưa:- Như thế thì y đó mà hành?
Sư
hỏi:- Ngươi kêu là gì?
- Chiếc
gối.
-Rơi
trong hang Kim Phong.
*
Tăng
hỏi:- Thân này vô tri như cây đất ngói đá, cái này thế
nào?
Sư
bước xuống giường thiền lại nắm lỗ tai vị Tăng ấy
vặn. Tăng đau quá la lên.
Sư
bảo:- Ngày nay mới nắm được cái vô tri.
Tăng
lễ bái đi ra. Sư gọi: Xà-lê! Tăng xoay đầu lại. Sư bảo:
Nếu vào nhà tăng không được nói lại. Tăng hỏi: Vì sao?
Sư bảo: Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà.
*
Sư
thượng đường:
- Việc
còn giấu kín, hợp lý nên lấy tên nhọn chống. Có người
nói được chăng? Nếu có người nói được, Kim Phong sẽ
chia nửa Viện cho ở.
Có
vị Tăng bước ra làm lễ.
Sư
bảo:- Thấy nhau dễ được, ở chung tốt đẹp khó, vì người.
Sư
bèn xuống tòa.
Sư
hỏi Tăng: Ra đi từ đâu? Tăng thưa: Từ Triệu Châu. Sư hỏi:
Triệu Châu nối pháp ai? Tăng thưa: Nam Tuyền. Sư bảo: Ông
đâu phải từ Triệu Châu đi? Tăng thưa: Chẳng biết tôn ý
Hòa thượng thế nào? Sư bảo: Triệu Châu thật nối pháp
Nam Tuyền.
Đến
chiều giờ thưa thỉnh, Tăng thưa: Sáng này nhờ ơn Hòa thượng
từ bi mà con chưa hội, thỉnh Hòa thượng chỉ dạy. Sư bảo:
Nếu đến chỗ khác, chớ nói câu sau của Kim Phong. Tăng hỏi:
Vì sao thế? Sư bảo: E làm nhục Triệu Châu.
Tăng
hỏi:- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Sư
đáp:- Trước cửa Kim Phong không có tấm bảng năm dặm.
*
Về
sau Sư trụ tại viện Báo Ân ở Kim Lăng và tịch tại đây.
Vua
phong thụy là Viên Quảng Thiền sư tháp hiệu Qui Tịch.
*
24.
THIỀN SƯ XỬ CHƠN
Ở
Lộc Môn
Sư
trụ trì tại viện Hoa Nghiêm ở núi Lộc Môn.
Có
vị Tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Sư đáp:
Có muối không giấm. Tăng hỏi: Thế nào là đạo nhân? Sư
đáp: Có miệng giống hệt lỗ mũi. Tăng hỏi: Chợt gặp khách
đến đem cái gì đối đáp? Sư bảo: Cổng gỗ cửa lá cảm
ơn ông đi qua.
*
Tăng
hỏi: Tổ Tổ tương truyền, truyền vật gì? Sư bảo: Ca-sa
Kim Lan. Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã trong rương? Sư bảo:
Trong điện Phật để sáu trăm quyển.
Tăng
hỏi: Sau khi Hòa thượng trăm tuổi sẽ đi về đâu? Sư đáp:
Làm con trâu nhà họ Lý ở dưới núi. Tăng thưa: Cho con cùng
đi theo được chăng? Sư bảo: Nếu ông đi theo chớ giống
đầu mọc sừng. Tăng đáp: Dạ! Sư hỏi: Nên đến chỗ nào?
Tăng thưa: Con mắt Phật biện còn chẳng được. Sư bảo:
Nếu chẳng bỏ qua cũng là mờ mờ.
*
Tăng
hỏi: Thế nào là Thiền? Sư đáp: Loan phụng vào lồng gà.
Tăng hỏi: Thế nào là đạo? Sư đáp: Chỉ sen cột voi lớn.
Tăng hỏi: Khi kiếp hoại cái này có hoại chăng? Sư đáp:
Đến bờ nhìn mắt cọp, khắp nơi một trường sầu. Tăng
hỏi: Thế nào là chỗ Hòa thượng chuyển thân? Sư đáp: Canh
ba đêm qua rơi mất chiếc gối.
Sư
có làm bài kệ dạy chúng:
Nhất phiến ngưng nhiên quang xán lạn
Nghĩ ý truy tầm tốt nan kiến
Bỉnh nhiên trịch trước khoát nhân tình
Đại sự phân minh giai tổng biện.
Thị khoái hoạt vô hệ bạn
Vạn lượng huỳnh kim chung bất hoán
Nhậm tha thiên thánh xuất đầu lai
Tùng thị hướng cừ ảnh trung hiện.
Dịch:
Một mảnh lóng trong sáng khắp trời
Để lòng tìm kiếm cách xa vời
Rõ ràng ném đến nhân tình rỗng
Việc lớn phân minh thảy biện rồi.
Mới là vui sống không buộc ràng
Muôn lượng vàng ròng đổi chẳng màng
Mặc tình ngàn thánh hiện ở thế
Từ ấy theo y trong bóng vàng.
*
25.
THIỀN SƯ HUỆ NGUNG
Hiệu
Bảo Ứng ở Nam Viện
Sư
trụ trì Nam Viện nên gọi là Nam Viện Huệ Ngung, cũng hiệu
Bảo Ứng nên gọi Bảo Ứng Hòa thượng ở Nhữ Châu.
Sư
thượng đường dạy chúng:- Trên cục thịt đỏ vách đứng
ngàn nhẫn.
Có
vị Tăng hỏi:
- Trên
cục thịt đỏ vách đứng ngàn nhẫn, đâu chẳng phải lời
của Hòa thượng?
Sư
đáp:- Phải.
Vị
Tăng ấy liền giở giường thiền. Sư bảo: con lừa mù, liền
đánh.
*
Sư
hỏi vị Tăng mới đến: Vừa rời nơi nào đến? Tăng thưa:
Vừa rời Trường Thủy. Sư bảo: Đi dòng đông hay dòng tây?
Tăng thưa: Thảy không thế ấy.
Sư
hỏi: Làm sao? Tăng trân trọng. Sư liền đánh, đuổi xuống
pháp đường.
*
Sư
hỏi Tăng: Vừa rời nơi nào đến? Tăng thưa: Vừa rời Nhượng
Châu. Sư hỏi: Đến làm gì? Tăng thưa: Riêng đến lễ bái
Hòa thượng. Sư bảo: Dường như lão Ngung Bảo Ứng chẳng
ở đây. Tăng liền hét! Sư bảo: Đã nói với ông chẳng có
ở đây, lại hét cái gì? Tăng lại hét! Sư liền đánh. Tăng
lễ bái. Sư bảo: Gậy này bổn phận ngươi đánh ta, mà ta
lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.
*
Hòa
thượng Tư Minh khi chưa trụ Tây Viện đến tham vấn Sư, lễ
bái xong, hỏi:
- Không
có vật gì tốt khác, từ Hứa Châu mua được dao cạo Nhất
Khẩu Giang Tây đến hiến Hòa thượng.
Sư
hỏi:- Ông từ Hứa Châu đến, nơi nào mua được dao cạo
Giang Tây?
Tư
Minh nắm tay Sư, bấm một cái.
Sư
bảo:- Thị giả nhận lấy.
Tư
Minh phủi áo ra đi.
Sư
nói:- A thích thích.
*
Sư
thượng đường nói:
- Các
nơi chỉ đủ con mắt thốt trác đồng thời, mà chẳng đủ
dụng thốt trác đồng thời.
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là dụng thốt trác đồng thời?
Sư
đáp:
- Tác
gia (bậc đạt đạo) thấy nhau chẳng thốt trác thì thốt
trác đồng thời mất.
Tăng
thưa:- Đây vẫn chưa phải chỗ con hỏi.
Sư
hỏi:- Chỗ ngươi hỏi thế nào?
Tăng
thưa:- Mất.
Sư
liền đánh. Vị Tăng ấy chẳng chấp nhận.
*
Sau
vị Tăng ấy ở trong hội Vân Môn nghe hai vị Tăng nhắc lại
nhân duyên này. Một vị Tăng nói: đương thời Nam Viện đánh
gãy Tăng kia. Ông nghe lời nói này hốt nhiên đại ngộ. Chừng
đó, ông mới thấy chỗ đáp của Nam Viện. Ông bèn trở về
Nhữ Châu yết kiến Sư, Sư đã qui tịch. Ông đến thưa hỏi
Phong Huyệt. Phong Huyệt nhận ra liền hỏi: Thượng tọa khi
xưa hỏi Tiên sư câu thốt trác đồng thời đây chăng? Ông
thưa: Phải. Phong Huyệt hỏi: Hội chưa? Ông đáp: Hội. Phong
Huyệt hỏi: Ông khi ấy hội thế nào? Ông nói: Tôi khi ấy
in tuồng đi trong bóng đèn. Phong Huyệt nói: Ông hội.
*
26.
THIỀN SƯ TOÀN PHÓ
Hiệu
Thanh Hóa - (882-947)
Sư
quê ở Côn Sơn quận Ngô, cha làm nghề mua bán. Sư theo cha
đến Dự Chương nghe các thiền hội thạnh hành, liền xin
xuất gia.
Sư
đến Giang Hạ yết kiến Đại sư Thanh Bình. Thanh Bình hỏi:
Ngươi đến cầu cái gì? Sư thưa: Cầu pháp. Thanh Bình cho
là lạ, chấp nhận vào chúng. Sư được thọ giới, thờ thầy
rất thuần cẩn.
Một
hôm, Sư tự bảo: ?Ông thầy học vô thường, đâu nên bày
biện phiền như vầy?? Sư liền từ tạ thầy đi du phương.
Đến
Nghi Xuân, Sư yết kiến Thiền sư Quang Dũng. Quang Dũng hỏi:
Từ đâu đến? Sư thưa: Từ Ngạc Châu đến. Quang Dũng hỏi:
Sứ quân Ngạc Châu tên gì? Sư thưa: Ở đất Hóa chẳng dám
xúc phạm. Quang Dũng bảo: Ở đây chẳng sợ. Sư thưa: Đại
trượng phu cần gì biết nhau. Quang Dũng ngạc nhiên cười
to.
Sư
dừng lại đây và thâm ngộ tông chỉ, được Quang Dũng ấn
khả.
*
Sau,
Sư dạo Lô Lăng, quan huyện An Phước lập Thiền uyển Ứng
Quốc thỉnh Sư trụ trì. Học chúng đua nhau đến tham vấn,
ở đây trở thành thiền hội hưng thạnh. Nhà vua nghe tiếng
ban cho Sư hiệu Thanh Hóa.
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là chỗ Hòa thượng cấp thiết vì người?
Sư
đáp:- Sáng nhìn đông nam, chiều nhìn tây bắc.
- Chẳng
hội.
- Khách
luống qua Đông Dương mà không biết vật báu Đông Dương.
- Thế
nào là chánh pháp nhãn?
- Không
thể ban ngày mà đái trên giường.
*
Về
sau, có vị Tăng đồng hương khuyên Sư trở về cố hương.
Văn Mục Vương đặc biệt quí trọng Sư. Nhà Tấn niên hiệu
Thiên Phước năm thứ hai (937), Văn Mục Vương khai phá ngọn
núi Vân Phong lập thiền viện cũng để Thanh Hóa, thỉnh Sư
trụ trì. Nơi đây pháp lữ đông vầy.
*
Tăng
hỏi:- Hòa thượng được bao nhiêu tuổi?
Sư
đáp:- Mới thấy năm rồi chín tháng chín, hiện nay lại thấy
lá thu vàng.
- Thế
ấy tức là vô số?
- Hỏi
lấy lá vàng.
- Cứu
kính việc thế nào?
- Sáu
chiếc đầu tử đầy bồn đỏ.
*
Tăng
hỏi:- Tăng chết sẽ đi đến đâu?
Sư
đáp:- Sông dài không gián đoạn, hòn bọt mặc gió trôi.
- Lại
nhận sự cúng kiến chăng?
- Cúng
kiến chẳng không.
- Thế
nào là cúng kiến?
- Lão
chài giở chèo hát, trong hang nghe tiếng vang.
*
Đến
Trung Hiến Vương ban cho Sư tử y phương bào, Sư từ chối
chẳng nhận. Sư nói: Tôi không thích dùng, sợ e người sau
bắt chước tôi mà muốn như thế.
Niên
hiệu Khai Vận năm thứ tư (947) tháng bảy năm Đinh Mùi, Sư
có chút bệnh, ngồi an nhiên thị tịch, thọ sáu mươi sáu
tuổi.
*
27.
THIỀN SƯ HUỆ THANH
Ở
núi Ba Tiêu
Sư
người Tân La (Triều Tiên) năm hai mươi tám tuổi đến Ngưỡng
Sơn yết kiến Nam Tháp Quang Dũng, nhân đây được ngộ đạo.
Sư
trụ trì tại núi Ba Tiêu đồ chúng đến tham vấn rất đông.
Có
vị Tăng hỏi: Thế nào là nước Ba Tiêu (cây chuối)? Sư đáp:
Mùa đông ấm mùa hạ mát. Tăng hỏi: Thế nào là kiếm thổi
lông (kiếm bén thổi sợi lông qua liền đứt)? Sư tiến ba
bước. Thế nào là Hòa thượng một câu vì người? Sư đáp:
Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.
*
Sư
thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng:
- Các
ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không
có gậy thì ta cướp cây gậy các ông.
Sư
chống gậy đứng, rồi bước xuống tòa.
*
Tăng
hỏi:- Giặc đến cần đánh, khách đến cần xem, chợt gặp
khách giặc đồng thời đến thì làm sao?
Sư
bảo:- Trong thất có một đôi giày cỏ rách.
- Chỉ
như đôi giày cỏ rách lại kham thọ dụng chăng?
- Ông
nếu đem đi, trước hung sau chẳng kiết.
*
Tăng
hỏi:- Quang, cảnh đều quên lại là vật gì?
Sư
đáp:- Tri.
- Tri
cái gì?
- Kiến
Châu cửu Lang.
*
Tăng
hỏi:
- Chẳng
hỏi hai đầu ba cổ, thỉnh Thầy chỉ thẳng bản lai diện
mục?
Sư
ngồi thẳng lặng thinh.
*
28.
THIỀN SƯ SƯ NHAN
Ở
Đoan Nham
Sư
họ Hứa quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ, giữ giới luật
đầy đủ. Đi du phương, trước nhất Sư đến Nham Đầu.
Sư
hỏi Nham Đầu: Thế nào là lý bản thường? Nham Đầu đáp:
Động. Sư thưa: Khi động thế nào? Nham Đầu bảo: Chẳng
phải lý bản thường. Sư trầm ngâm giây lâu. Nham Đầu bảo:
Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức
hằng chìm sanh tử. Sư liền lãnh hội, thân tâm sáng suốt.
*
Sư
đến yết kiến Giáp Sơn Thiện Hội. Thiện Hội hỏi: Ở
nơi nào đến? Sư thưa: Ở Ngọa Long. Thiện Hội hỏi: Khi
đến Ngọa Long dậy chưa? Sư bèn nhìn qua ngó lại. Thiện
Hội bảo: Trên vết thương lại để bổi đốt. Sư thưa:
Hòa thượng lại khổ như thế để làm gì? Thiện Hội bèn
thôi.
Sư
tìm đến Đan Khưu, suốt ngày ngồi trên thạch bàn như kẻ
ngu, thỉnh thoảng tự gọi: ?ông chủ nhân?, lại ứng thanh:
?dạ?, bèn bảo: ?tỉnh tỉnh lấy về sau chớ bị người gạt?.
Bốn chúng ngưỡng mộ đức của Sư, thỉnh Sư trụ trì tại
Đoan Nham, học lữ nghe danh đua nhau kéo đến.
*
Cảnh
Thanh hỏi:- Trời không thể che, đất không thể chở, đâu
chẳng phải?
Sư
đáp:- Nếu phải tức bị che chở.
- Nếu
chẳng phải Đoan Nham vừa gặp?
Sư
tự xưng: Sư Nhan.
*
Có
ba vị Tăng người Ấn, thân xanh mắt đỏ như luồng điện,
so vai đồng bước đến lễ Sư. Sư hỏi: Các ông từ đâu
đến? Ba vị ấy thưa: Ở Thiên Trúc đến. Sư hỏi: Khởi
đi lúc nào? Họ đáp: Sáng đi vừa đến. Sư hỏi: Được
chẳng nhọc chăng? Họ đáp: Vì pháp quên nhọc. Sư nhìn kỹ
thấy chân họ chẳng dính đất, Sư bảo: Vào nhà tăng an nghỉ.
Sáng hôm sau chẳng thấy ba vị ấy.
*
Tăng
hỏi: Thế nào là Phật? Sư đáp: Trâu đá. Hỏi: Thế nào
là pháp? Sư đáp: Con trâu đá. Hỏi: Thế ấy là chẳng đồng?
Sư đáp: Hiệp không được. Hỏi: Tại sao hiệp chẳng được?
Sư đáp: Không có cái đồng có thể đồng thì hiệp cái gì?
*
Tăng
hỏi: Làm sao thương lượng được chẳng rơi vào giai cấp?
Sư đáp: Đuổi chẳng đi. Hỏi: Vì sao đuổi chẳng đi? Sư
đáp: Vì y từ trước không giai cấp. Hỏi: Chẳng biết ở
vị nào? Sư đáp: Chẳng ngồi điện Phổ Quang. Hỏi: Lại
lý hóa cùng chăng? Sư đáp: Tiếng vang ba cõi trọng, chỗ nào
chẳng về chầu.
*
Một
hôm, có bà lão trong thôn đến đảnh lễ Sư. Sư bảo: Bà
về mau để cứu mấy ngàn sanh mạng. Bà lão về gấp đến
nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng đem về.
Bà liền tiếp lấy đem xuống hồ thả hết.
*
Đến
khi Sư tịch làm lễ trà-tỳ, có con rắn lớn từ trên cây
gieo mình xuống đống lửa. Sau khi lửa tắt, xá-lợi bay tung,
gió thổi cỏ cây ngã rạp.
*
29.
THIỀN SƯ TÔNG NHẤT
Pháp
danh Sư Bị ở Huyền Sa - (835-908)
Sư
họ Tạ quê ở huyện Mân, Phước Châu. Thuở nhỏ thích câu
cá, Sư sắm một chiếc thuyền nhỏ thường thả câu trên
sông Nam Đài.
Đến
năm ba mươi tuổi, nhằm niên hiệu Hàm Thông năm đầu (860),
Sư chợt phát tâm cầu giải thoát. Liền bỏ thuyền câu, Sư
lên núi Phù Dung theo Thiền sư Linh Huấn xuất gia, đến chùa
Khai Nguyên ở Dự Chương thọ giới cụ túc với Luật sư
Đạo Huyền. Sau đó, Sư chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa
đủ sống, suốt ngày ngồi yên lặng. Trong chúng thấy đều
kinh dị.
Đối
với Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Sư là đàn em trong đạo, mà gần
gũi kính thờ như thầy trò. Tuyết Phong thấy Sư khổ hạnh
nên gọi là Đầu-đà.
Một
hôm, Tuyết Phong hỏi: Cái gì là Đầu-đà Bị? Sư đáp: Trọn
chẳng dám dối người. Hôm khác, Tuyết Phong gọi: Đầu-đà
Bị! tại sao chẳng đi tham vấn các nơi? Sư thưa: Đạt-ma
chẳng đến Đông độ, Nhị Tổ chẳng sang Tây thiên. Tuyết
Phong gật đầu.
*
Tuyết
Phong lên núi Tượng Cốt hoằng hóa, Sư cùng góp sức đắc
lực. Học lữ các nơi tụ họp thật đông.
Sư
nhập thất quên mất sớm chiều, lại xem kinh Lăng Nghiêm phát
minh tâm địa. Do đó, Sư ứng đối lẹ làng cùng kinh điển
phù hợp. Những vị huyền học ở các nơi chưa giải quyết
nghi ngờ đều đến cầu Sư chỉ dạy. Đến như Tuyết Phong
gạn hỏi đối đáp cũng tương đương chẳng nhượng. Tuyết
Phong bảo: ?Đầu-đà Bị là người tái sanh.?
*
Tuyết
Phong thượng đường nói:
- Cần
hỏi được việc này, ví như gương xưa hiện ở trên đài,
Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán.
Sư
thưa:- Chợt gặp gương sáng đến thì thế nào?
Tuyết
Phong bảo:- Hồ Hán đều ẩn.
Sư
thưa:- Lão Hòa thượng gót chân chưa dính đất.
*
Trưởng
lão Nam Tế đến Tuyết Phong, Tuyết Phong dạy đến hỏi Sư:
Sư
hỏi:
- Cổ
nhân nói: ?việc này chỉ ta hay biết?, ý kiến Trưởng lão
thế nào?
Nam
Tế thưa:- Nên biết có người chẳng cầu biết.
Sư
bảo:- Hòa thượng ở trên chót núi chịu bao nhiêu thứ khổ
sở để làm gì?
*
Tuyết
Phong nói:
- Thế
giới rộng một thước gương xưa rộng một thước; thế
giới rộng một trượng gương xưa rộng một trượng.
Sư
chỉ lò lửa hỏi:- Lò lửa rộng bao nhiêu?
- Như
gương xưa rộng.
- Lão
Hòa thượng gót chân chưa dính đất.
*
Sư
từ biệt Tuyết Phong rằng:
- Thưa
Hòa thượng! ?mỗi người có tự do tự tại?, hôm nay tôi
xin xuống núi.
Tuyết
Phong hỏi:- Lời ai nói thế ấy?
- Lời
Hòa thượng nói thế ấy.
- Còn
ông thì sao?
- Chẳng
tự do tự tại.
- Biết.
Lúc
đầu, Sư được thỉnh trụ viện Phổ Ứng tại trường Mai
Khê. Kế đó, Sư dời trụ tại núi Huyền Sa. Từ đây chúng
tăng khắp nơi đua nhau đến tham vấn. Học chúng hă?g ngày
trên số tám trăm vị. Mân soái Vương Công thỉnh Sư
diễn Vô thượng thừa và kính Sư làm thầy.
*
Sư
thượng đường im lặng giây lâu, bảo chúng:
- Tôi
đã vì các ông triệt khốn (thống thiết), lại hội chăng?
Có
vị Tăng thưa:- Khi lặng lẽ không nói là sao?
- Nói
mớ làm gì? [Mớ là tiếng nói trong giấc mộng.]
- Thỉnh
Thầy nói việc bổn phận?
- Ngủ
mê làm gì?
- Học
nhân tức ngủ mê, còn Thầy thì sao?
- Đâu
được thế ấy, chẳng biết ngứa ngáy.
Sư
lại nói:
Đáng
tiếc! Sư tăng đông như thế, đi hành khước ngàn dặm muôn
dặm đến đây, mà chẳng tiêu cái ngủ mê nói mớ, bèn thối
lui.
*
Vi
Giám Quân đến yết kiến Sư, thưa: Hòa thượng Tào Sơn rất
kỳ quái. Sư hỏi: Vũ Châu cách Tào Sơn mấy dặm? Vi Giám
chỉ vị Tăng bên cạnh hỏi: Thượng tọa từng đến Tào
Sơn chăng? Vị Tăng ấy nói: Đã từng đến. Vi Giám hỏi:
Vũ Châu cách Tào Sơn mấy dặm? Tăng nói: Một trăm hai mươi
(120) dặm. Vi Giám bảo: Thế ấy là Thượng tọa chưa đến
Tào Sơn. Vi Giám đứng dậy đảnh lễ Sư, Sư bảo: Giám Quân
nên lễ vị Tăng này, vị Tăng này đầy đủ hổ thẹn.
*
Sư
dạy chúng:
- Chư
thiền đức! các ông du phương hành khước đến đây, nói
rằng ta tham thiền học đạo, là có chỗ kỳ đặc, hay chỉ
hỏi đông hỏi tây? Nếu có chỗ kỳ đặc hãy thông qua, tôi
sẽ vì các ông chứng minh là phải hay chẳng phải. Tôi trọn
biết hết, lại có kỳ đặc chăng? Nếu không có kỳ đặc,
chỉ là người đuổi theo tiếng. Các ông đã đến trong đây,
giờ đây tôi xin hỏi: các ông là người có mắt chăng? Nếu
có thì hiện đây liền nhận biết được, mà các ông có
biết được chăng? Nếu các ông chẳng biết, bị tôi gọi
kẻ mù từ nhỏ, kẻ điếc từ nhỏ, có phải chăng? chấp
nhận lời nói như thế chăng?
Chư
thiền đức! cũng chớ tự khi mà lui sụt, cái chân thật của
các ông đâu từng là người mù điếc. Chư Phật mười phương
nắm các ông để trên đầu, chẳng dám lầm lẫn một phần
tử, chỉ nói ?việc này duy ta hay biết?, hội chăng? Như hiện
nay thừa kế, trọn nói là thừa kế Thích-ca. Tôi nói: ?Thích-ca
cùng tôi đồng tham cứu.? Các ông nói tham cứu cái gì? hội
chăng? Thật không phải dễ dàng biết, phải là người đại
ngộ mới có thể biết được. Nếu cái sở ngộ chừng bực
cũng không thể gặp. Các ông lại biết đại ngộ chăng? Không
phải là nhận cái chiếu soi trên đầu các ông, không phải
cái các ông nói không, nói rỗng, nói bên nây bên kia, nói
có pháp thế gian, nói có một cái chẳng phải pháp thế gian.
Hòa
thượng con! hư không vẫn từ mê vọng huyễn sanh. Hiện nay
nếu đại ngộ thì còn có chỗ nào để nói năng? Còn không
có hư không thì chỗ nào có tam giới? nghiệp dẫn, cha mẹ
làm duyên sanh ra ta thành lập trước sau? Hiện nay nói không
vẫn là lừa dối, huống là nói có. Biết chăng? Các ông đi
hành khước đã lâu, tự nói có việc giác ngộ. Nay tôi hỏi
ông: ví như chót núi bờ vực chỗ không có dấu vết người,
lại có Phật pháp chăng? biện được rành rẽ chăng? Nếu
biện chẳng được thật là chưa có.
Tôi
thường nói: trước mặt vị Tăng chết tức là chạm mắt
Bồ-đề, thần quang muôn dặm là tướng sau đảnh. Nếu người
gặp được, chẳng ngại ra ngoài ấm giới, thoát khỏi ý
tưởng trên đầu ông, xưa nay chỉ là thể người chân thật
của ông. Chỗ nào còn có một pháp khác che đậy? Các ông
biết chăng? tin chăng? hiểu thừa đương được chăng? Rất
cần nỗ lực!
*
Có
vị Tăng hỏi:
- Nhân
nghe Hòa thượng nói ?tột mười phương thế giới là một
hòn minh châu?, con làm sao được hội?
Sư
đáp:
- Tột
mười phương thế giới là một hòn minh châu, dùng hội để
làm gì?
Vị
Tăng ấy bèn thôi.
Sư
hỏi lại:
-Tột
mười phương thế giới là một hòn minh châu, ngươi làm sao
hội?
Tăng
thưa:
- Tột
mười phương thế giới là một hòn minh châu, dùng hội làm
gì?
Sư
bảo:- Biết ngươi nhằm trong hang quỉ tìm kế sống.
*
Sư
dạy chúng:
- Nay
tôi hỏi các ông đã thừa đương được việc gì? tại thế
giới nào an thân lập mạng? biện biệt được chăng? Nếu
biện chẳng được in tuồng ấn mắt thấy hoa đốm, thấy
việc đã sai, biết chăng? Hiện nay thấy núi sông đồng nội
sắc không tối sáng bao nhiêu sự vật đều là tướng hoa
đốm cuồng nhọc sanh ra, gọi là tri kiến điên đảo. Phàm
người xuất gia phải Thức tâm đạt bản, nên hiệu là Sa-môn.
Nay các ông đã cạo tóc đắp y làm tướng Sa-môn, thì phải
có phần tự lợi lợi tha. Mà nay xem thấy đầu đen kịt tối
tăm như dầu hắc, tự cứu còn chẳng được, làm sao giải
cứu cho người.
Nhân
giả! nhân duyên Phật pháp là việc lớn, chớ nên thong thả
dụm đầu nói bậy nói loạn theo tiếng qua ngày, thì giờ
khó được, đáng tiếc, kẻ đại trượng phu sao chẳng tự
tỉnh xét, xem là vật gì? Về tông phong từ trước là dòng
chư Phật đảnh, các ông đã thừa đương chẳng được. Do
đó, tôi phương tiện khuyên các ông nên từ cửa Ca-diếp
tiếp tục chóng vượt qua đi. Một cửa này vượt khỏi nhân
quả phàm thánh, vượt cả biển thế giới diệu trang nghiêm
của Tỳ-lô, vượt luôn cửa phương tiện của đức Thích-ca,
thẳng đây vĩnh kiếp chẳng dạy có mộ? vật để ông trông
thấy. Sao ông chẳng mau mau tham cứu lấy? Không nên nói ?ta
hãy đợi hai đời, ba đời, gom chứa tịnh nghiệp lâu xa mới
được?.
Nhân
giả! tông thừa của các ông là việc gì? Không thể do thâm
tâm ông dụng công trang nghiêm mà được, không thể do tha
tâm túc mạng mà được, hội chăng? Như đức Thích-ca ra đời
làm rất nhiều việc, nói mười hai phần giáo, tạo thành
một trường Phật sự cho ông. Nhưng, trong cửa này dùng một
điểm chẳng được, dùng một đầu sợi lông lượng xét
chẳng được. Biết chăng? Như việc trong mộng, cũng như ngủ
mớ. Sa-môn chẳng chịu hiện ra là chẳng đồng việc mộng,
bởi vì biết được, hiểu chăng? Biết được tức là đại
giải thoát, người thấu triệt. Do đó, mà siêu phàm vượt
thánh, dứt sanh lìa tử, rời nhân xa quả, siêu Tỳ-lô, vượt
Thích-ca, chẳng bị nhân quả phàm thánh lừa, tất cả chỗ
không người biết được ông, biết chăng? Chớ hằng mắc
trong lưới ái sanh tử, bị nghiệp thiện ác trói buộc lôi
đi, không có phần tự do. Dù ông luyện được thân tâm đồng
hư không, dù ông được đến chỗ tinh minh lặng lẽ chẳng
động, vẫn không ra khỏi thức ấm. Cổ nhân gọi nó ?như
thác nước?. Vì nó chảy nhanh nên chă?g biết vọng, cho là
lặng lẽ. Tu hành thế ấy trọn chẳng ra khỏi mé luân hồi,
vẫn như trước bị luân chuyển. Cho nên nói ?các hạnh vô
thường, hẳn là công quả của tam thừa?. Như thế, thật
đáng sợ. Nếu không có đạo nhãn cũng chẳng được cứu
kính. Sao bằng hiện nay là phàm phu chay chẳng dùng một mảy
công phu liền được chóng siêu xuất. Hiểu sức tĩnh tâm
chăng? Lại mong thích chăng? Khuyên các ông, như tôi hiện giờ
đứng thẳng đợi các ông nhìn thấy, chẳng dạy các ông
dụng công luyện hạnh. Hiện nay chẳng thế ấy, lại đợi
khi nào? lại chấp nhận chăng?
*
Sư
dạy chúng:
- Này
các ông! giống như người ngồi trong biển cả nước ngập
lút đầu, mà đưa tay hỏi người xin nước uống. Hội chăng?
Phàm người học Bát-nhã Bồ-tát phải đại căn khí có đại
trí tuệ mới được. Nếu người có trí tuệ thì hiện nay
được siêu thoát. Nếu người căn cơ trì độn cần phải
siêng
năng khổ nhọc nhẫn nại, ngày đêm bỏ ăn quên mệt, giống
hệt người đưa đám ma mẹ vậy. Cấp thiết thế ấy đến
trọn một đời, lại được người dìu dắt cần phải ghi
xương thật cứu, chẳng ngại gì cũng sẽ được gặp. Huống
là, hiện nay ai là người kham chịu thọ học?
Nhân
giả! chớ có nhớ câu ghi lời, giống hệt người niệm thần
chú, cất bước đi đến trong miệng đọc đa đa hòa hòa,
bị người nắm đứng hỏi, liền quên mất hết, liền nổi
sân nói: Hòa thượng chẳng vì con đáp thoại. Việc học thế
ấy là đại khổ, biết chăng?
Có
một bọn Hòa thượng ngồi trên giường thiền xưng là thiện
tri thức, bị người hỏi liền động thân, động tay, chỉ
mắt, le lưỡi, trợn mắt. Lại có một bọn bèn nói: sáng
rỡ linh thông trí tánh linh đài hay thấy hay nghe, nhằm trong
thửa ruộng thân năm uẩn làm chủ tể. Thiện tri thức! Thế
ấy là quá dối người. Biết chăng? Nay tôi hỏi các ông:
nếu nhận cái sáng rỡ linh thông ấy là ông chân thật, tại
sao khi ngủ mê lại không có sáng rỡ linh thông? Nếu khi ngủ
mê chẳng phải, thì tại sao có khi sáng rỡ? Các ông hội
chăng? Cái ấy gọi là nhận giặc làm con, là cội gốc sanh
tử, duyên khí vọng tưởng. Các ông muốn biết căn do này
chăng? tôi nói với ông: cái sáng rỡ linh thông của ông chỉ
nhân pháp sắc thanh hương vị? của tiền trần mà có phân
biệt, bèn nói đây là sáng rỡ linh thông. Nếu không có tiền
trần thì cái sáng rỡ linh thông của ông đồng với lông
rùa sừng thỏ.
Nhân
giả! Chân thật ở chỗ nào? Nay ông muốn ra khỏi cái chủ
tể của thửa ruộng thân năm uẩn, chỉ biết nhận lấy thể
kim cang bí mật. Cổ nhân đã nói với các ông ?viên thành
chánh kiến khắp giáp sa giới?. Nay tôi lấy ít phần nói thí
dụ, các ông có trí do đó có thể biết: Các ông thấy mặt
trời nơi thế giới này chăng? Người thế gian tạo tác sanh
hoạt, bao nhiêu việc tâm hành tạo nghiệp đều nhờ ánh sáng
mặt trời mà có. Song mặt trời có nhiều thứ đến tâm hành
chăng? lại có chỗ chẳng khắp giáp chăng? Muốn biết thể
kim cang này cũng như thế. Hiện nay núi sông đất bằng, mười
phương cõi nước sắc không sáng tối và thân tâm ông,
đều nhờ cái oai quang viên thành của ông mà hiện. Cả thảy
trời người các loài quần sanh tạo nghiệp thọ quả báo
có tánh không tánh, đều nhờ cái oai quang của ông. Cho đến,
chư Phật thành đạo thành quả tiếp vật lợi sanh, đều
trọn nhờ cái oai quang của ông. Nhưng thể kim cang lại có
phàm phu chư Phật chăng? có tâm hành của ông chăng? Không
thể nói không là đúng được. Biết chăng? Ông đã có cái
kỳ đặc như thế, bày hiện chỗ xuất thân, sao chẳng phát
minh lấy? Lại theo người nhằm trong thửa ruộng thân năm
ấm, trong cõi quỉ mà tìm kế sống. Hẳn là tự dối mất
vậy. Chợt gặp quỉ vô thường đến, mắt trợn miệng méo
thân kiến mạng kiến khi thế ấy thật khó chống chọi được.
Giống như lột vỏ con rùa sống, thật khổ!
*
Nhân
giả! chớ bám lấy kiến giải ngủ mê, cần phải dẹp đi.
Chưa giải che đậy bao nhiêu đầu sợi lông? Ông lại biết
chăng? Tam giới không yên ví như nhà lửa, vả lại ông vẫn
là người chưa được an ổn, chỉ kết thành đoàn can phạm
việc thế nhân, bên này bên kia bay chạy in tuồng con nai rừng
chỉ biết tìm ăn tìm mặc. Nếu thế ấy, đâu thể hành vương
đạo. Biết chăng? Quốc vương đại thần chẳng bắt buộc
ông, cha mẹ cho ông đi xuất gia, mười phương thí chủ cúng
dường ông áo mặc cơm ăn, thổ địa long thần ủng hộ ông,
cần phải đầy đủ hổ thẹn biết ân mới được. Chớ
cô phụ lòng tốt của người. Khi bệnh nằm liệt trên giường,
lăn lộn dưới đất, nói là an lạc thì chẳng có, đều là
nhờ cơm cháo nuôi dưỡng. Ông đến khi thân hư hoại như
trái dưa gang chẳng khác, rồi đem chôn vùi dưới đất, nghiệp
thức mờ mờ không chỗ để nương. Sa-môn vì sao lại đến
thế ấy? Chỉ vì như côn trùng trên đất, tôi gọi là tạo
nghiệp ở trong địa ngục.
Hiện
nay nếu chẳng liễu ngộ, sáng sớm hôm nào sẽ thấy vào
trong thai lừa bụng ngựa, mang ách kéo cày hàm sắt dây yên,
cối đá xay nghiền nước lửa thiêu nấu, thật chẳng dễ
dàng, chịu những điều rất kinh sợ. Hoàn toàn tại ông tự
tạo khổ lụy, biết chăng?
Nếu
là liễu ngộ, liền đó muôn kiếp chẳng từng dạy ông có
những dấu hiệu ấy. Nếu chẳng liễu ngộ thì nhân duyên
phiền não ác nghiệp này, chưa phải là một kiếp hai kiếp
được hết. Hẳn là cùng với cái kim cang của ông đồng
tuổi thọ, hiểu chăng?
*
Sư
dạy chúng:
- Chân
tông cổ Phật thường tùy vật hiện ứng dụng rành rành
nơi nơi sáng rỡ, ẩn hiện thản nhiên, thấp cao đều chiếu.
Thế nên, Sa-môn Thượng sĩ duy đạo nhãn là trước, hợp
bản minh tâm mới là cứu kính. Vạn tượng sum la một thể
đồng nguồn, rỗng suốt không ngằn, ai luận có kẹt, việc
trong trần kiếp hiện ở trước mắt. Người đời cách xa
lâu đời, nên trái với thể thường, quên tâm nhận vật,
mà ngược với chân tông, chấp có kẹt không, chẳng gặp
thầy lành bạn tốt, chỉ tự nhận hiểu riêng mình. Dù họ
có bàn luận, lẫn lộn trong ý so tính. Cho đến, tìm đến
chỗ lý tột vẫn không phân biệ? chánh tà. Huống là bình
sanh chưa từng mò bắt.
Nếu
là bậc cổ đức tiên hiền, khi được biết liền khắc kỷ
thật hành công phu, ở am tranh hoặc thất đá trên chót núi.
Cổ đức nói: ?tình phàm lượng thánh vẫn rơi trong pháp trần,
kiến giải của mình chưa quên bèn thành rỉ chảy?. Không
thể nói: trì trai giữ giới, ngồi mãi chẳng nằm, dừng ý
quán không, kềm tâm vào định, là đã đúng. Thế ấy, vẫn
không có gì giao thiệp. Vì ngoại đạo ở Ấn Độ nhập định
được tám muôn kiếp, lắng thần lặng lẽ, nhắm mắt che
tròng, thân bặt trí dứt, sau khi số kiếp mãn vẫn không khỏi
luân hồi. Bởi vì đạo nhãn chẳng sáng, nguồn gốc sanh tử
không phá vậy.
Phàm
là kẻ xuất gia thì chẳng thế, không nên đồng với ngoại
đạo. Nếu là người chân thật minh đạt, đủ đại tri kiến,
hay cùng chư Phật cùng tột, tịch chiếu quên biết, rỗng
trùm vạn tượng. Như hiện nay, chỗ nào chẳng phải là ông?
chỗ nào chẳng rõ ràng? chỗ nào chẳng bày hiện? sao chẳng
cùng nó hội đi? Nếu khi không có thửa ruộng này thì đâu
khỏi các thứ rỉ chảy, thảy thành hư vọng, cái gì là chỗ
đắc lực lúc bình sanh?
Nếu
ông thật chưa phát minh, cần phải đặt trong thời gian cấp
thiết, quên ăn bỏ ngủ, dường như cứu lửa cháy đầu,
như thân mạng sắp chết, tâm thầm tự cứu, bỏ hết các
duyên rảnh rỗi, đuổi sạch tâm thức, mới có ít phần gần
gũi. Nếu không như thế, một hôm nào đó trọn bị thức
tình lôi đi, có được phần nào tự do??
*
Sư
lo đại pháp khó dạy, ít gặp bậc thượng căn, học giả
y lời sanh hiểu, theo chiếu mất tông, bèn dạy ba câu cương
tông:
Câu
thứ nhất. ? Hãy tự đảm nhận, hiện hành đầy đủ, tột
mười phương thế giới không có gì khác, chỉ là các ngươi,
lại dạy cái gì thấy, cái gì nghe? Toàn là tâm vương của
ông làm ra, trọn thành trí bất động. Chỉ thiết đảm nhận,
nên mới khai cửa phương tiện, khiến các ngươi tin có một
phần chân thường lưu trú. Cùng xưa tột nay chưa có chẳng
thị (phải), chưa có chẳng phi (sai). Song câu này thành pháp
bình đẳng. Tại sao? Chỉ vì dùng lời để dẹp lời, lấy
lý để đuổi lý, bình thường tánh tướng, tiếp vật lợi
sanh mà thôi. Chính nơi tông chỉ vẫn còn sáng phía trước
tối phía sau, gọi là một vị bình thật, là cái lượng chứng
từng phần pháp thân, chưa có câu xuất cách, chết tại câu
sau, chưa có phần tự do. Nếu biết cái lượng xuất cách,
chẳng bị tâm ma sai khiến, vào trong tay liền chuyển đổi
lăn trùng trục dưới đất, nói là thông đại đạo, chẳng
rơi vào kiến giải bình thường trong lòng.
Câu
thứ hai.- Xoay nhân về quả, chẳng mắc nơi lý bình thường
nhất như. Phương tiện gọi là vị chuyển, hợp cơ sanh sát,
tự tại buông thâu, tùy nghi vào sanh ra tử, rộng làm lợi
ích tất cả, ra khỏi sắc dục và cảnh ái kiến. Phương
tiện gọi là Phật tánh đốn siêu tam giới. Đây gọi là
hai lý cùng sáng, hai nghĩa đồng chiếu, không bị hai bên làm
động, diệu dụng hiện tiền.
Câu
thứ ba.- Biết có cái gốc tánh tướng đại trí, kiến giải
vượt bực, tối sáng rỗng suốt, thênh thang khắp sa giới,
một thể tánh chân thật, đại dụng hiện trước, ứng hóa
khôn ngằn, toàn dùng toàn chẳng dùng, toàn sanh toàn chẳng
sanh. Phương tiện gọi là cái cửa từ định.
*
Sư
có kệ:
Vạn lý thần quang đảnh hậu tướng
Một đảnh chi thời hà xứ vọng
Sự dĩ thành ý diệc hưu
Thử cá lai tung xúc xứ chu
Trí giả liêu trước tiện đề thủ
Mạc đãi tu du thất khước đầu.
Dịch:
Thần quang muôn dặm tướng sau đảnh
Khi chìm mất đảnh chỗ nào trông
Việc đã thành, ý cũng thôi
Cái ấy lâu nay chạm đến khắp
Người trí nắm được liền đưa lên
Chớ đợi phút giây quên mất đầu.
*
Huyền Sa du cảnh biệt
Thời nhân thiệt tu trì
Tam đông dương khí thạnh
Lục ngoạt giáng sương thì.
Hữu ngữ phi quan thiệt
Vô ngôn thiết yếu từ
Hội ngã tối hậu cú
Xuất thế thiểu nhân tri.
Dịch:
Huyền Sa đường tắt riêng
Người đời cần nên biết
Ba đông khí dương thạnh
Tháng sáu sương xuống nhiều.
Có lời không hệ lưỡi
Không nói rất cần câu
Hiểu ta câu rốt sau
Ra đời ít người biết.
*
Sư
ứng cơ tiếp vật ngót ba mươi năm, chúng thường có mặt
trong hội nghe không dưới tám trăm vị.
Đến
đời Lương niên hiệu Khai Bình năm thứ hai (908), ngày hai
mươi bảy tháng mười một năm Mậu Thìn, Sư có chút bệnh
rồi tịch. Sư thọ bảy mươi bốn tuổi, được bốn
mươi tuổi hạ.
30.
THIỀN SƯ HUỆ LĂNG
Ở
Trường Khánh - (854-932)
Sư
họ Tôn quê ở Diêm Quan Hàn Châu. Thuở nhỏ, Sư bẩm tánh
thuần đạm. Năm mười ba tuổi, Sư đến chùa Thông Huyền
ở Tô Châu xuất gia thọ giới. Sau đó, Sư đi tham vấn khắp
các thiền hội.
Niên
hiệu Càn Phù năm thứ năm (878), Sư vào xứ Mân yết kiến
Tây Viện, thưa hỏi Linh Vân. Nơi Linh Vân, Sư hỏi:
- Thế
nào là đại ý Phật pháp?
Linh
Vân đáp:- Việc lừa chưa đi, việc ngựa lại đến.
Sư
không khế hội.
*
Sư
đến Tuyết Phong cũng đề khởi câu hỏi trên. Tuyết Phong
đáp: Ông đâu chẳng phải người Tô Châu? Sư thưa: Con đâu
chẳng biết là người Tô Châu. Tuyết Phong dạy yết kiến
Huyền Sa. Đến Huyền Sa, Sư cũng hỏi câu ấy. Huyền Sa bảo:
Ông là Lăng đạo giả tại sao chẳng hội. Sư thưa: Chẳng
biết Linh Vân nói thế ấy là ý tại chỗ nào? Huyền Sa bảo:
Chỉ là Lăng đạo giả, không thể tìm bên ngoài?
Như
thế, nơi Tuyết Phong Sư qua lại thưa hỏi ngót hai mươi năm,
ngồi rách bảy cái bồ đoàn mà không sáng việc này.
*
Một
hôm, Sư cuốn rèm bỗng nhiên đại ngộ, bèn làm bài tụng:
Đại sai dã đại sai
Quyện khởi liêm lai kiến thiên hạ
Hữu nhân vấn ngã thị hà tông
Niêm khởi phất tử phách khẩu đả.
(Rất sai cũng rất sai
Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ
Có người hỏi ta là tông gì?
Cầm cây phất tử nhằm miệng đánh.)
*
Tuyết
Phong nói với Huyền Sa: Kẻ này đã triệt ngộ. Huyền Sa thưa:
Chưa được, đây là ý thức làm ra, đợi khám phá ra mới
tin chắc. Chiều đến, chúng tăng vào pháp đường thưa hỏi.
Tuyết Phong nói với Sư: Đầu-đà Bị chưa chấp nhận ông,
thật có chánh ngộ ở trước chúng nói ra xem.
Sư
liền nói bài tụng:
Vạn tượng chi trung độc lộ thân
Duy nhân tự khẳng nãi vi thân
Tích thời mậu hướng đồ trung mích
Kim nhật khán như hỏa lý băng.
Dịch:
Chính trong vạn tượng hiện toàn thân
Chỉ người tự nhận mới là gần
Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm
Ngày nay xem lại băng trong lò.
Tuyết
Phong nhìn Huyền Sa nói: Không thể là ý thức làm ra.
*
Sư
hỏi Tuyết Phong: Một đường từ trước chư thánh truyền
trao thỉnh Thầy chỉ dạy? Tuyết Phong lă?g thinh. Sư lễ bái
rồi lui. Tuyết Phong mỉm cười.
*
Sư
vào phương trượng tham vấn Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi:
Là cái gì? Sư thưa: Ngày nay trời trong phơi bắp là tốt.
*
Sư
xẩn bẩn ở Tuyết Phong hai mươi chín năm. Đến niên hiệu
Thiên Hựu năm thứ ba (906), Sư nhận lời thỉnh cầu của
Vương Diên Bân Thích sử Tuyền Châu đến trụ trì tại Chiêu
Khánh.
Sau,
Mân soái thỉnh Sư sang Tây Viện phủ Trường Lạc, để hiệu
là Trường Khánh.
*
Sư
thượng đường im lặng giây lâu, bảo chúng:
- Lại
có người biết nhau chăng? Nếu chẳng biết nhau là lừa dối
huynh đệ, hiện nay có việc gì? Chớ có bít lấp, lại là
việc trong nhà của ai? không chịu đảm nhận lại đợi đến
bao giờ? Nếu là kẻ lợi căn tham học chẳng cần đến trong
ấy, lại hiểu chăng? Hiện nay có một nhóm người hành khước,
lỗ tai chứa đầy dẫy, dù cho thâu thập được, lại có
phù hợp việc các người đi hành khước chăng?
Có
vị Tăng hỏi:- Việc hành khước làm sao học?
Sư
đáp:- Chỉ biết đến người đòi lấy.
- Thế
nào là một con đường riêng?
- Đâu
phiền đến hỏi.
- Về
danh ngôn diệu nghĩa trong kinh đã nói, chẳng mắc ba bực thỉnh
Thầy nói thẳng?
- Trân
trọng!
*
Sư
dạy chúng:
- Ca
ngâm rõ ràng, các ông còn chẳng hội, chợt gặp việc mờ
tối đến, các ông làm sao?
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là việc mờ tối đến?
Sư
bảo:- Uống trà đi.
Trung
Tháp thưa:- Xin thỉnh Hòa thượng cùng uống có bạn.
*
Sư
dạy chúng:
- Nếu
ta thuần nêu xướng tông thừa, nên đóng kín cửa pháp đường,
bởi do ?tột pháp thì không dân?.
Có
vị Tăng hỏi:- Chẳng sợ không dân, thỉnh Thầy tộ? pháp?
Sư
bảo:- Lại bỏ rơi chỗ nào?
*
Sư
khai pháp hai nơi đồ chúng có đến một ngàn năm trăm vị.
Sự giáo hóa của Sư trong hai xứ Mân Việt ngót hai mươi bảy
năm.
Đến
đời Hậu Đường niên hiệu Trường Hưng năm thứ ba (932),
ngày mười bảy tháng năm, Sư qui tịch. Sư thọ bảy mươi
chín tuổi, được sáu mươi tuổi hạ.
*
31.
THIỀN SƯ VĂN YỂN Ở VÂN MÔN
Khai
Tổ tông Vân Môn - (?-949)
Sư
họ Trương quê ở Gia Hưng Cô Tô. Thuở nhỏ, Sư theo Luật
sư Chí Trừng ở chùa Không Vương xuất gia, ý chí cao siêu
trí tuệ mẫn tiệp. Đến lớn, Sư thọ giới cụ túc tại
giới đàn Tỳ Lăng. Sư hầu thầy mấy năm, học thông luật
bộ, tự thấy việc mình chưa sáng, nên xin đi du phương hành
khước.
Trước
Sư đến Mục Châu tham vấn Trần Tôn Túc. Vừa thấy Sư đến,
Tôn Túc liền đóng cửa. Sư gõ cửa. Tôn Túc hỏi: Ai? Sư
thưa: Con. Tôn Túc hỏi: Làm gì? Sư thưa: Việc mình chưa sáng
xin Thầy chỉ dạy. Tôn Túc mở cửa, trông thấy Sư liền
đóng cửa lại. Như thế, liên tiếp đến ba ngày. Ngày thứ
ba, Tôn Túc mở cửa, Sư liền chen vào. Tôn Túc nắm đứng
bảo: nói! nói! Sư suy nghĩ. Tôn Túc liền xô ra, nói: ? Đời
Tần dùi xoay lăn.? Rồi đóng sầm cửa lại, kẹp nát bàn
chân Sư. Cái đau thấu xương ấy khiến Sư ngộ nhập. Tôn
Túc chỉ Sư đến yết kiến Tuyết Phong.
*
Sư
đến Trang sở của Tuyết Phong, thấy một vị Tăng, bèn hỏi:
Hôm nay Thượng tọa lên núi chăng? Tăng đáp: Lên. Sư nói:
Có một nhân duyên nhờ hỏi Hòa thượng Đường đầu mà
không được nói với ai, được chăng? Tăng bảo: Được.
Sư nói: Thượng tọa lên núi thấy Hòa thượng thượng đường,
chúng vừa nhóm họp, liền đi ra đứng nắm cổ tay, nói: ông
già! trên cổ mang gông sao chẳng cổi đi. Vị Tăng ấy làm
đúng như lời Sư dặn. Tuyết Phong bước xuống tòa, thộ?
ngực ông ta, bảo: Nói mau! nói mau! Vị Tăng nói không được.
Tuyết Phong buông ra, bảo: Chẳng phải lời của ngươi. Vị
Tăng thưa: Lời của con. Tuyết Phong gọi: Thị giả! đem dây
gậy lại đây. Vị Tăng thưa: Chẳng phải lời của con, là
lời của một Thượng tọa ở Chiết Trung đang ngụ tại Trang
sở dạy con nói như thế. Tuyết Phong bảo: Đại chúng! đến
Trang sở rước vị Thiện tri thức của năm trăm người lên.
Hôm
sau, Sư lên Tuyết Phong. Tuyết Phong vừa thấy liền hỏi: Nhân
sao được đến chỗ ấy? Sư bèn cúi đầu. Từ đây khế
hợp ôn nghiên tích lũy. Tuyết Phong thầm trao Tông ấn cho
Sư.
*
Có
vị Tăng hỏi Tuyết Phong: Thế nào là chạm mắt chẳng hội
đạo, dở chân đâu biết đường? Tuyết Phong nói: Trời xanh!
trời xanh! Vị Tăng ấy đến hỏi Sư: Trời xanh là ý chỉ
thế nào? Sư đáp: Ba cân gai một xấp vải. Tăng thưa: Chẳng
hội. Sư bảo: Lại dâng ba thước tre. Tuyết Phong nghe vui vẻ
nói với chúng: Ta thường nghi ông thầy này.
*
Sư
từ giã Tuyết Phong, đi hành khước khắp nơi.
Đến
Động Nham, Nham hỏi: Đến làm gì? Sư đáp: Đến thân cận.
Nham bảo: Chạy loạn làm gì? Sư đáp: Tạm thời chă?g còn.
Nham bảo: Biết lỗi là được. Sư đáp: Chạy loạn làm gì?
*
Đến
Sơ Sơn Thiền sư Nhơn, Nhơn hỏi: Chỗ đắc lực nói cho một
câu? Sư bảo: Mời hỏi to lên. Nhơn liền lớn tiếng hỏi.
Sư cười nói: Hôm nay ăn cơm cháo chưa? Nhơn nói: Ăn cơm cháo
rồi. Sư bảo: Kêu rùm để làm gì?
*
Đến
Ngọa Long, Sư hỏi: Người rõ được mình lại thấy có mình
chăng? Ngọa Long đáp: Chẳng thấy có mình mới rõ được
mình. Sư hỏi: Nằm dài trên giường mà học được là cơ
thứ mấy? Ngọa Long đáp: Cơ thứ hai. Sư hỏi: Thế nào là
cơ thứ nhất? Ngọa Long bảo: Mang giầy cỏ gấp.
*
Đến
Giang Châu gặp Trần thượng thơ thỉnh thọ trai. Vừa thấy
Sư, ông hỏi: Trong sách nho thì chẳng hỏi, ba thừa mười
hai phần giáo đã có những vị Pháp sư, thế nào là việc
của Nạp tăng (Thiền sư) hành khước? Sư bảo: Đã hỏi bao
nhiêu người rồi? Trần thưa: Hiện giờ hỏi Thượng tọa.
Sư bảo: Việc đó hãy gác qua, thế nào là ý kinh? Trần đáp:
Quyển vàng gáy đỏ. Sư bảo: Cái đó là văn tự ngữ ngôn,
thế nào là ý kinh? Trần thưa: Miệng muốn nói mà lời mất,
tâm muốn duyên mà lự quên. Sư bảo: Miệng muốn nói mà lời
mất, là đối có lời; tâm muốn duyên mà lự quên, là đối
vọng tưởng; thế nào là ý kinh? Trần không đáp được.
Sư hỏi: Nghe nói Thượng thơ xem kinh Pháp Hoa phải chăng? Trần
đáp: Phải. Sư bảo: Trong kinh nói: ?trị sanh sản nghiệp đều
cùng thật tướng không trái nhau?, hãy nói cõi trời Phi phi
tưởng có bao nhiêu người thoái vị? Trần không đáp được.
Sư bảo: Thượng thơ chớ thao thao ba kinh năm luận, sư tăng
ném hết đi vào tòng lâm mười năm hai mươi năm còn chẳng
xong thay, Thượng thơ làm sao hội được? Trần lễ bái thưa:
Tôi tội lỗi.
*
Sư
đến Linh Thọ, Thiền sư Tri Thánh (trụ trì Linh Thọ) dự
biết trước, sai chúng đánh ba hồi chuông trống ra trước
cửa rước Thủ tọa. Nơi đây, Sư sung chức Thủ tọa.
Quảng
chủ họ Lưu muốn cử binh, đích thân vào viện thỉnh Linh
Thọ tiên tri kiết hung thế nào? Linh Thọ biết trước, từ
giã chúng vui vẻ ngồi an nhiên thị tịch. Quảng chủ hỏi
Tri sự: Hòa thượng bệnh bao lâu? Tri sự đáp: Chẳng từng
có bệnh. Hòa thượng có để lại một phong thơ xin trình
Đại vương. Quảng chủ mở thơ ra xem, thấy nói: ?con mắt
của nhân thiên là Thủ tọa trong chùa này?. Ông hiểu ý chỉ
của Linh Thọ bèn dừng binh và thỉnh Sư trụ trì Linh Thọ.
Sư khai pháp ở đây không được bao lâu, lại dời đến chùa
Quang Thới tại Vân Môn.
*
Sư
nhân bàn chân mang tật nên thường chống gậy. Một hôm, chống
gậy đi thấy chúng làm công tác công cộng, Sư đưa gậy lên
bảo:
- Xem!
xem! người Uất Đơn Việt thấy các ông bửa củi khó khăn
ở giữa sân họ dọn đồ cúng dường các ông, lại vì các
ông tụng kinh Bát-nhã: ?Nhất thiết trí trí thanh tịnh, không
hai không hai phần, vì không khác không dứt?.
Chúng
vây quanh Sư khá lâu không giải tán, Sư lại bảo:
- Hết
thảy các ông vô cớ chạy đến trong đây để tìm cái gì?
Lão tăng chỉ biết ăn cơm, đi ỉa, hiểu riêng làm gì? Các
ông ở mọi nơi đi hành khước tham thiền hỏi đạo, tôi
hỏi các ông việc tham được thế nào? hãy nêu ra xem?
Khi
ấy, Sư bất đắc dĩ tụng bài kệ của Tam Bình rằng:
Tức thử kiến văn phi kiến văn
Tức thấy nghe này chẳng thấy nghe
Sư
xoay lại nhìn Tăng bảo: Gọi cái gì là thấy nghe? Sư lại
tiếp:
Vô dư thanh sắc khả trình quân
Không thừa thanh sắc đáng trình ngươi
Sư
bảo Tăng: Có bao nhiêu thanh sắc ở đầu môi? Sư tiếp:
Cá trung nhược liễu toàn vô sự
Trong đây nếu liễu toàn vô sự
Sư
bảo Tăng: Có sự gì? Sư tiếp:
Thể dụng hà phòng phân bất phân
Thể dụng ngại gì phân chă?g phân?
Sư
bảo: Nói là thể, thể là nói. Lại đưa gậy lên bảo: Gậy
là thể lồng bàn là dụng, là phân hay chă?g phân? Đâu chẳng
thấy nói Nhất thiết trí trí thanh tịnh.
*
Sư
nghe đánh trống thọ trai, nói với chúng: Tiếng trống nhai
nát ta bảy phần. Sư lại chỉ vị Tăng bảo: Ôm con mèo lại!
Giây lâu, Sư bảo: Hãy nói cái trống nhân gì được thành?
Chúng không đáp được. Sư tiếp: Nhân đa được thành. Bình
thường ta nói:
- Tất
cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật, tột
đại địa là pháp thân, luống tạo thành cái tri kiến Phật
pháp. Hiện nay cây gậy chỉ gọi là cây gậy, cái nhà chỉ
gọi là cái nhà.
*
Sư
đưa cây gậy lên bảo chúng:
- Phàm
phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không,
Viên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức
không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ
đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến.
*
Tăng
hỏi:
- Một
đời chứa ác chẳng biết thiện, một đời chứa thiện chẳng
biết ác, ý này thế nào?
Sư
đáp:- Đuốc!
*
Tăng
hỏi:
- Giết
cha giết mẹ đến trước Phật sám hối, giết Phật giết
Tổ, đến chỗ nào sám hối?
Sư
đáp:- Bày!
*
Tăng
hỏi:- Trong mười hai giờ làm sao được chẳng luống qua?
Sư
hỏi:- Nhằm chỗ nào hỏi câu này?
Tăng
thưa:- Con chẳng hội thỉnh Thầy dạy.
Sư
bảo:- Đem bút mực lại.
Tăng
đem bút mực đến. Sư làm bài tụng:
Cử bất cố
Nêu chẳng đoái
Tức sai hỗ
Liền sai lẫn,
Nghĩ tư lương
Toan nghĩ suy
Hà kiếp ngộ
Kiếp nào ngộ
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là lời nói siêu Phật vượt Tổ?
Sư
đáp:- Hồ bỉnh (bánh hồ)
*
Sư
nói:
- Từ
xưa nhẫn lại, các bậc lão túc đều vì lòng từ bi nên có
lối nói rơi trên cỏ, tùy lời nói biết được người. Nếu
lối nói vạch cỏ chun ra thì không cùng ấy. Cùng ấy là có
câu nói lặp lại rồi hội được lời. Đâu không thấy Hòa
thượng Ngưỡng Sơn hỏi vị Tăng: vừa rời ở đâu đến,
Tăng thưa: Lô Sơn, Ngài hỏi: từng dạo Ngũ Lão Phong
chăng, Tăng thưa: chẳng từng, Ngài bảo: Xà-lê chẳng từng
dạo núi. Đây là vì lòng từ bi có lối nói rơi trên cỏ.
*
Sư
bảo:
- Chẳng
dám mong các ông có khả năng sóng ngược nước, chỉ cần
có ý thuận dòng cũng khó được. Xưa Lương Toại đến tham
vấn với Ma Cốc. Ma Cốc thấy đến liền bỏ đi cuốc cỏ.
Lương Toại đến chỗ cuốc cỏ. Ma Cốc trọn chẳng thèm
nhìn, trở vào phương trượng đóng kín cửa lại. Lương Toại
liên tiếp ba ngày đến gõ cửa. Ngày thứ ba vừa gõ cửa,
Ma Cốc hỏi: ai, Lương Toại thưa: ?Hòa thượng chớ lừa Lương
Toại. Nếu chẳng đến lễ bái Hòa thượng sẽ bị kinh luận
gạt, qua mất một đời?. Đây là lối sóng ngược nước.
Hiện nay được vào đều là ý thuận dòng, cũng gọi là song
phong thời tiết.
*
Sư
thượng đường:
- Tôi
sự bất đắc dĩ nói với các ông ?liền đó vô sự?, ấy
đã chôn vùi nhau rồi. Các ông lại nghĩ tiến bộ, nhằm trước
tìm lời theo câu cầu mong được giải hội. Ngàn khôn muôn
khéo lập bày vấn nạn, chỉ là tạo được một trường
luận suông, cách đạo càng xa, có khi nào được thôi dứt.
Cái việc này, nếu ở trên ngôn ngữ thì, ba thừa mười hai
phần giáo không phải không ngôn ngữ, tại sao lại nói
giáo ngoại biệt truyền? Nếu từ học hiểu trí khéo mà được
thì, tại sao hàng thánh nhân Thập địa nói pháp như mây như
mưa, vẫn còn bị quở trách đối với thấy tánh như cách
một lớp lụa? Do đây nên biết, tất cả hữu tâm cách xa
như trời đất.
Tuy
nhiên như thế, nếu là người đắc, nói lửa không thể bị
cháy miệng, trọn ngày nói việc mà chẳng từng động môi
lưỡi, chưa từng nói đến một chữ, trọn ngày mặc áo ăn
cơm mà chưa từng chạm đến một hạt cơm, mang một mảnh
vải. Mặc dù như vậy, vẫn là lời nói trong môn đình, cần
phải thật đắc mới được thế ấy. Nếu nhằm dưới cửa
Nạp tăng (Thiền sinh) trong câu lộ bày chỗ khéo léo vẫn
luống nhọc suy nghĩ. Dù là dưới một câu đảm đang được,
vẫn là kẻ ngủ gật.
*
Sư
bảo chúng:
- Đề
ra một câu nói, dạy các ông thẳng đó đảm đang, là đã
tung phẩn trên đầu các ông, dầu cho nhổ một sợi lông mà
cả đại địa một lúc sáng rực, cũng là khoét thịt thành
thương tích. Tuy nhiên như thế, các ông cần phải thật đến
thửa ruộng ấy mới được. Nếu chưa được gần, chẳng
được ôm cái rỗng; phải trở lui nhằm dưới gót chân của
chính mình suy tầm xem, ấy là đạo lý gì? Thật không có
một mảnh tơ sợi tóc cho các ông giải hội, cho các ông nghi
ngờ. Tất cả mọi người các ông một phần việc đại dụng
hiện tiền, chẳng nhọc khí lực của các ông chừng bằng
sợi tóc, liền cùng Phật, Tổ không khác.
Tự
vì các ông gốc tin cạn mỏng nghiệp ác sâu dầy, đột nhiên
mọc quá nhiều sừng trên đầu, quảy đãy bát đi ngàn dặm
muôn dặm chịu khuất phục người. Vả lại các ông có chỗ
nào chẳng đủ? Kẻ trượng phu ai mà vô phần? Chạm mắt
đảm đang được vẫn là chẳng được tiện, huống
là chịu người lừa dối, nhận sự trừng phạt của người.
Vừa thấy Hòa thượng già mở miệng, liền khéo ôm đá lấp
miệng lại. Thế mà, như bầy lằng xanh giành nhau trên đống
phẩn, ba người năm người dụm đầu thương lượng. Khổ
thay!
Huynh
đệ! các bậc Cổ đức một thời vì các ông không phải
thế, sở dĩ phương tiện buông một lời nửa câu là khai
thông cho các ông thấy đường vào. Bao nhiêu việc bên nây
đều gom ném một bên, riêng tự đem hết khí lực chú mục
vào, thì đâu chẳng được ít phần tương thân. Thích thay!
thích thay! Thời giờ chẳng đợi người, hơi thở ra chẳng
bảo đảm hít vào, thử hỏi thân tâm còn dùng vào chỗ rảnh
rỗi nào khác? Cần phải chú ý! chú ý! trân trọng.
*
Tăng
hỏi: Thế nào là đạo? Sư đáp: Đi. Tăng thưa: Con chẳng
hội thỉnh Thầy nói? Sư bảo: Xà-lê công bằng phân minh đâu
được trùng phán.
*
Sư
thượng đường nói:
- Cho
biết thời vậ? xui xẻo sanh nhằm thời xui Tượng quí (cuối
thời Tượng pháp), Sư tăng bắc lễ Văn-thù, nam du Hành Nhạc.
Nếu đi hành khước như thế, là danh tự Tỳ-kheo ăn tiêu
của tín thí, khổ thay! khổ thay! Nếu có ai hỏi đến thì
đen tợ dầu hắc, chỉ cần giữ hình thức qua ngày. Giả
sử có hiểu hai cái ba cái, cũng luống học đa văn ghi nhớ
ngôn ngữ. Đến nơi chỉ tìm những lời nói tương tợ của
bậc lão túc ấn khả, quên lửng thượng lưu làm nghiệp bạc
phước. Hôm nào đó, vua Diêm-la bắt đóng đinh ông, chớ bảo
không người vì tôi nói.
Nếu
là kẻ sơ tâm hậu học phải cần đem hết tinh thần, chớ
ghi suông lời người nói, nhiều rỗng chẳng bằng ít thật,
về sau chỉ là tự gạt, có việc gì gần gũi.
*
Sư
thượng đường nói:
- Các
Hòa thượng con! dù ông nói có việc gì vẫn là trên đầu
thêm đầu, trên tuyết thêm sương, trong quan tài trợn mắt,
trên vết phỏng để bổi đốt, cái ấy một trường bừa
bãi chẳng phải việc nhỏ. Các ông phải làm sao mỗi người
tự tìm lấy chỗ thác sanh của mình; tốt nhất, chớ dạo
suông châu huyện nắm bắt những lời nói rỗng. Đợi Hòa
thượng già mở miệng liền hỏi Thiền, hỏi đạo, hướng
thượng hướng hạ, làm sao thế nào, ghi chép thành quyển
sách to nhét trong đãy da để suy gẫm. Đến bên lò lửa ba
người năm người dụm đầu, miệng đọc lẩm nhẩm, lại
nói: cái ấy là lời công tài, cái ấy là lời từ lý đạo
xuất, cái ấy là lời đến trên việc nói, cái ấy là nói
thể. Ông già bà già trong thất ông ăn cơm xong chỉ cần nói
mộng, nói ta hội Phật pháp xong. Sẽ biết rằng ông đi hành
khước đến năm lừa mới được thôi dứt.
Lại
có một bọn vừa nghe người nói chỗ thôi dứt, liền nhằm
trong ấm, giới khép mi nhắm mắt, ở trong hang chuột già tìm
kế sống, dưới hắc sơn ngồi trong cõi quỉ, thế mà liền
nói ?được con đường vào?. Mộng thấy chăng? Bọn như thế,
dù giết một muôn người có tội lỗi gì? Bảo là hạ thủ
công phu mà chẳng gặp bậc tác gia (minh sư), đến rốt chỉ
là kẻ ôm hư không.
Các
ông nếu thật có chỗ thấy, thử đem lại xem, sẽ cùng các
ông thương lượng. Chớ rỗng, không biết tốt xấu, ngơ ngáo,
dụm đầu nói những câu công án suông. Chẳng khéo lão già
này thấy được kéo lôi ra khám phá, chẳng tương đương
sẽ bị đánh bể ống chân. Chớ bảo rằng chẳng nói.
Trong
da các ông có máu chăng? Sư cầm gậy đồng thời đuổi hết.
*
Sư
mỗi khi nhìn thấy Tăng liền nói: giám (xét). Tăng muốn đáp
lại, Sư nói: di (chao).
*
Sư
có làm một bài kệ:
Vân Môn tủng tuấn bạch vân đê
Thủy cấp du ngư bất cảm thê
Nhập hộ dĩ tri lai kiến giải
Hà phiền tái cử lịch trung nê.
Dịch:
Vân Môn chót vót khỏi lùm mây
Cá lội không dừng nước chảy bay
Vào cửa đã rành trình kiến giải
Đâu phiền lại nói gạch trong lầy.
*
Đến
niên hiệu Càn Hòa năm thứ bảy (955) nhà Hán, ngày mùng mười
tháng tư, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch.
Sau
này, nhằm niên hiệu Càn Đức năm đầu (963) nhà Tống, Tống
triều cho mở cửa tháp thấy nhục thân Sư vẫn nguyên vẹn,
râu tóc vẫn ra dài. Quan quân thỉnh nhục thân Sư về kinh
đô cúng dường hơn một tháng, mới nghinh về nhập tháp.