ĐỜI THỨ
SÁU SAU LỤC TỔ
13.
Thiền sư Bổn Tịch ở Tào Sơn - Tổ thứ hai Tào Động.
14.
Thiền sư Đạo Ưng ở Vân Cư.
15.
Thiền sư Tồn Tương ở Hưng Hóa.
16.
Thiền sư Huệ Nhiên ở viện Tam Thánh.
17.
Hòa thượng Đại Giác.
18.
Thiền sư Văn Hỷ.
19.
Thiền sư Quang Dũng ở Nam Tháp.
20.
Thiền sư Toàn Khoát ở Nham Đầu.
21.
Thiền sư Nghĩa Tồn ở Tuyết Phong.
13.
TÀO SƠN BỔN TỊCH THIỀN SƯ
Tổ
thứ hai Tông Tào Động - (840-901)
Sư
họ Huỳnh hiệu Bổn Tịch, quê ở Bồ Điền Tuyền Châu (nay
là tỉnh Phước Kiến huyện Bồ Điền). Lúc nhỏ, Sư chuyên
học Nho. Năm mười chín tuổi, Sư lên núi Linh Thạch ở huyện
Phước Đường xuất gia, đến hai mươi lăm tuổi thọ giới
cụ túc. Khoảng niên hiệu Hàm Thông (860-874), Sư đi tham vấn
Thiền tông. Trước, Sư đến Động Sơn (nay là tỉnh Giang
Tây huyện Cao An) tham vấn Thiền sư Lương Giới.
*
Động
Sơn hỏi: ?Xà-lê tên gì? Sư thưa: ?Bổn Tịch.? Động Sơn
bảo: ?Lại nói lên trên? Sư thưa: -Chẳng nói.? Động Sơn
hỏi:-Vì sao chẳng nói? Sư thưa:-Chẳng tên Bổn Tịch. Động
Sơn gật đầu. Từ đây, Sư vào nhập chúng.
*
Sư
theo hầu Động Sơn mấy năm. Một hôm, Sư đến từ tạ đi
nơi khác. Động Sơn mật truyền Tông chỉ, lại hỏi: -Ngươi
đi đến chỗ nào? Sư thưa: -Đến chỗ không biến dị. Động
Sơn bảo: -Chỗ không biến dị lại có đến sao? Sư thưa:
-Đến cũng chẳng biến dị.
*
Sư
đi đến Tào Khê lễ tháp Tổ, trở về Cát Thủy. Chúng nghe
danh Sư tìm đến thỉnh khai pháp. Vì ngưỡng mộ Lục Tổ,
Sư đặt tên núi là Tào Sơn. Thời gian sau bị giặc loạn,
Sư dời về huyện Nghi Huỳnh. Có người cư sĩ cúng sở nhà
Hà Vương cho Sư trụ trì. Sư đổi tên Hà Vương ra Hà Ngọc.
Nơi đây giáo hóa hưng thạnh, học giả các nơi đua nhau kéo
đến, Tông chỉ Động Sơn được rực rỡ.
*
Sư
dạy chúng:
- Tình
phàm kiến Thánh là khóa kín đường huyền, hẳn phải hồi
hỗ.
Người
lấy chánh mạng thật phải đủ ba thứ đọa: Một là phi
mao đới giác. Hai là bất đoạn thanh sắc. Ba là bất thọ
thực.
Khi
ấy, Trù Bố Nạp hỏi:- Phi mao đới gác là cái gì đọa?
Sư
đáp:- Là loại đọa (bản xưa chép Sa-môn đọa).
- Bất
đoạn thanh sắc là cái gì đọa?
- Là
tùy đọa (tùy loại đọa).
- Bất
thọ thực là cái gì đọa?
- Là
tôn quí đọa.
*
Nhân
Tăng hỏi Ngũ vị quân thần chỉ quyết, Sư giải thích:
- Chánh
vị là không giới xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới
có hình vạn tượng. Chánh trung thiên là trái lý theo sự.
Thiên trung chánh là bỏ sự vào lý. Kiêm đới là thầm ứng
chánh duyên chẳng rơi vào các hữu, chẳng nhiễm chẳng tịnh,
chẳng chánh chẳng thiên. Cho nên nói: Đại đạo hư huyền
không mắc chân tông, Tiên đức từ trước suy xét một vị
này rất diệu rất huyền, phải xét kỹ biện rõ.
Quân
là chánh vị, Thần là thiên vị. Thần hướng quân là Thiên
trung chánh. Quân thị thần là Chánh trung thiên. Quân thần
đạo hiệp là Kiêm đới.
Tăng
hỏi:- Thế nào là quân?
Sư
đáp:
- Đức
diệu trên hoàn vũ, cao sáng khắp bầu trời (diệu đức tôn
hoàn vũ, cao minh lãng thái hư).
- Thế
nào là thần?
- Máy
linh hoằng đạo thánh, trí chân lợi quần sanh (linh cơ hoằng
thánh đạo, chân trí lợi quần sanh).
- Thế
nào là thần hướng quân?
- Không
rơi những đường khác, lắng tình nhìn mặt vua (bất đọa
chư dị thú, ngưng tình vọng thánh dung).
- Thế
nào là quân thị thần?
- Dáng
điệu tuy chẳng động, đuốc sáng vẫn không thiên (diệu
dung tuy bất động, quang chúc bản vô thiên).
- Thế
nào là quân thần đạo hiệp?
- Hồn
nhiên không trong ngoài, dung hòa trên dưới yên (hồn nhiên
vô nội ngoại, hòa dung thượng hạ bình).
Sư
lại bảo:
- Lấy
quân thần thiên chánh mà nói, chẳng cho phạm ở giữa. Cho
nên thần khen vua, không dám có lời chê bai ấy vậy. Đây
là Tông yếu pháp của ta. Kệ rằng:
Học giả tiên tu thức tự tông
Mạc tương chân tế tạp ngoan không
Diệu minh thể tận tri thương xúc
Lực tại phùng duyên bất tá trung.
Xuất ngữ trực giao thiêu bất trước
Tiềm hành tu dữ cổ nhân đồng
Vô thân hữu sự siêu kì lộ
Vô sự vô thân lạc thủy chung.
Dịch:
Học giả trước cần hiểu tự tông
Chớ đem chân tế lẫn ngoan không.
Tột thể diệu minh biết xúc chạm
Sức tại phùng duyên chẳng mượn trung.
Thốt lời cần phải thiêu chẳng đến
Thầm đi nên với cổ nhân đồng.
Không thân có việc siêu đường tẻ
Không việc không thân lạc thủy chung.
Vân
Môn hỏi:- Thế nào là hạnh Sa-môn?
Sư
đáp:- Ăn lúa mạ của thường trụ ấy vậy.
- Liền
khi ấy đi thì sao?
- Ngươi
lại chứa được chăng?
- Chứa
được.
- Ngươi
làm sao chứa?
- Mặc
y ăn cơm có cái gì khó.
- Sao
chẳng nói mang lông đội sừng?
Vân
Môn lễ bái.
*
Sư
bảo chúng:
- Các
ông trọn giữ cách thức, sao chẳng cùng y nói một chuyển
ngữ, khiến y chẳng nghi đi?
Vân
Môn ở trong chúng bước ra hỏi:
- Chỗ
mật mật (thầm kín) vì sao chẳng biết có?
Sư
đáp:- Chỉ vì mật mật nên chẳng biết có.
- Người
này làm sao thân cận?
- Chớ
nhằm chỗ mật mật thân cận.
- Khi
chẳng nhằm chỗ mật mật thì sao?
- Mới
giỏi thân cận.
Vân
Môn: dạ! dạ!
*
Tăng
Nhuệ thưa:- Con nghèo cùng xin Thầy cứu giúp.
Sư
bảo:- Xà-lê Nhuệ lại gần đây!
Thanh
Nhuệ lại gần.
Sư
bảo:
- Kẻ
nhà nghèo ở Tuyền Châu uống xong ba chén rượu, vẫn nói
chưa dính môi.
*
Chỉ
Y đạo giả đến tham vấn, Sư hỏi:
- Đâu
chẳng phải Chỉ Y đạo giả ư?
Đạo
giả thưa:- Chả dám.
- Thế
nào là việc của Chỉ Y?
- Chiếc
áo cừu vừa khoác vào thân, muôn pháp thảy đều như.
- Thế
nào là dụng của Chỉ Y?
Đạo
giả lại gần: dạ! liền đứng tịch.
Sư
bảo:- Ngươi chỉ giỏi đi thế ấy, sao chẳng giỏi đến
thế ấy?
Đạo
giả chợt mở mắt hỏi:
- Một
chân tánh linh khi chẳng nương bào thai thì thế nào?
Sư
bảo:- Chưa phải diệu.
- Thế
nào là diệu?
- Chẳng
mượn! mượn!
Đạo
giả trân trọng liền tịch.
Sư
dạy bài tụng:
Giác tánh viên minh vô tướng thân
Mạc tương tri kiến vọng sơ thân.
Niệm dị tiện ư huyền thể muội
Tâm sai bất dữ đạo vi lân.
Tình phân vạn pháp trầm tiền cảnh
Thức giám đa đoan tán bản chân.
Như thị cú trung toàn hiểu hội
Liễu nhiên vô sự tích thời nhân.
Dịch:
Tánh giác viên minh không tướng thân
Chớ đem thấy biết dối xa gần.
Niệm khác bèn lầm huyền thể ấy
Tâm sai sao được đạo chung thân.
Tình phân muôn pháp chìm cảnh trước
Thức biện lăng xăng mất bản chân.
Trong câu như thế toàn lãnh hội
Rõ ràng vô sự tích thời nhân.
*
Tăng
hỏi:- Sa-môn đâu không phải là người đủ lòng đại từ
bi?
Sư
đáp:- Phải.
- Chợt
gặp lục tặc đến phải làm thế nào?
- Cũng
phải đủ đại từ bi.
- Thế
nào là đủ đại từ bi?
- Dùng
một cây kiếm dẹp sạch.
- Sau
khi dẹp sạch thế nào?
- Mới
được hòa đồng.
*
Tăng
hỏi:- Mày với mắt cùng biết nhau chăng?
Sư
đáp:- Chẳng biết nhau.
- Vì
sao chẳng biết nhau?
- Vì
đồng tại một chỗ.
- Thế
ấy là chẳng phân?
- Mày
chẳng phải là mắt, mắt chẳng phải là mày.
- Thế
nào là mắt?
- Quả
nhiên rồi.
- Thế
nào là mày?
- Tào
Sơn lại nghi.
- Tại
sao Hòa thượng lại nghi?
- Nếu
chẳng nghi tức quả nhiên rồi.
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là kiếm không mũi?
Sư
đáp:- Chẳng do rèn luyện mà thành.
- Dụng
nó thế nào?
- Người
gặp đều chết.
- Người
chẳng gặp thì sao?
- Cũng
phải rơi đầu.
- Người
gặp đều chết là cố nhiên, người chẳng gặp vì sao lại
rơi đầu?
- Ông
chẳng thấy nói ?hay sạch tất cả? sao?
- Sau
khi sạch hết thế nào?
- Mới
biết có cây kiếm này.
*
Tăng
hỏi:- Huyễn vốn nào chân?
Sư
đáp:- Huyễn vốn nguyên chân.
- Chính
khi huyễn làm sao hiển bày?
- Tức
huyễn liền hiển.
- Thế
ấy thì trước sau chẳng lìa nơi huyễn?
- Tìm
huyễn tướng không thể được.
*
Sư
hỏi vị Tăng: -Làm gì? Tăng thưa:-Quét đất. Sư hỏi:-Trước
Phật quét hay sau Phật quét? Tăng thưa: -Trước sau đồng thời
quét. Sư bảo: -Đem đôi giày qua cho Tào Sơn.
*
Tăng
hỏi Hương Nghiêm: -Thế nào là đạo? Hương Nghiêm đáp: -Khô
mộc lý long ngâm.(trong cây khô có rồng ngâm) Tăng hỏi: -Thế
nào người trong đạo? Hương Nghiêm đáp: -Độc lâu lý nhãn
tình.(trong đầu lâu có tròng con mắt) Tăng không lãnh hội,
đến hỏi Thạch Sương: ?Thế nào là khô mộc lý long ngâm??
Thạch Sương đáp: -Vẫn còn đeo cái hỉ.? Tăng hỏi:-Thế
nào độc lâu lý nhãn tình? Thạch Sương đáp: -Vẫn còn đeo
thức.Tăng không lãnh hội đến trình với Sư. Sư bảo:
- Thạch
Sương ông già Thanh văn khởi cái kiến giải.
Sư
làm bài tụng:
Khô mộc long ngâm chân kiến đạo
Độc lâu vô thức nhãn sơ minh.
Hỉ thức tận thời tiêu tức tận
Đương nhân na biện trọc trung thanh.
Dịch:
Cây khô rồng ngâm thật thấy đạo
Đầu lâu không thức mắt rạng ngời.
Hỉ thức hết thời tin tức lặng
Người này đâu biện đục trong trong.
Tăng
lại hỏi Sư:- Thế nào khô mộc lý long ngâm?
Sư
đáp:- Huyết mạch chẳng đoạn.
- Thế
nào độc lâu lý nhãn tình?
- Khô
chẳng hết.
- Lại
có người được nghe chăng?
- Trọn
người trên đại địa chưa có một người chẳng nghe.
- Khô
mộc lý long ngâm là chương cú gì?
- Chẳng
biết chương cú gì, nguời nghe đều mất.
*
Sư
dạy chúng:
- Chư
Tăng ở đây cốt dưới y áo hội thông được việc hướng
thượng, chớ có rảnh rang qua ngày. Nếu chỗ thừa đương
đã rõ ràng, liền chuyển được chư thánh về sau lưng mình,
mới là tự do. Nếu chuyển chẳng đặng, hẳn phải học được
thập thành, lại cần đến sau lưng các ngài khoanh tay nói
đại thoại gì? Nếu chuyển được chính mình thì tất cả
cảnh thô trọng đến đều làm chủ được. Ví như đi trong
chỗ lầy trợt té cũng làm chủ được. Như có vị Tăng hỏi
ngài Dược Sơn: ?Trong giáo lý tam thừa lại có Tổ ý chăng??
Dược Sơn đáp: ?Có.? Tăng thưa: ?Đã có, Tổ Đạt-ma lại
đến làm gì?? Dược Sơn bảo: ?Chỉ vì có cho nên đến.?
Thế là đâu không phải làm chủ được chuyển được về
nơi mình sao?
Kinh
nói: ?Phật Đại Thông Trí Thắng, mười kiếp ngồi đạo
tràng, Phật pháp chẳng hiện trước, chẳng đặng thành Phật
đạo.? Nói kiếp là đới (kẹt) vậy, gọi đó là thập thành,
cũng gọi là đoạn sấm lậu (rỉ chảy). Chỉ là đầu mười
đường đã bặt, chẳng quên đại quả, nên nói thủ trụ
đam trước, gọi là thủ thứ thừa đương không phân quí
tiện.
Ta
thường thấy trong tùng lâm thích bàn một thứ hai thứ, lại
hay thành lập được sự chăng? Những cái ấy chỉ nhằm việc
đã qua hiển bày. Các ông chẳng thấy ngài Nam Tuyền nói:
?Cho ông thập thành, so với Vương lão sư vẫn còn một đường
tuyến.? Rất khó! việc đến đây cần phải chín chắn mới
được minh bạch tự tại. Bất luận thiên đường địa ngục
ngạ quỉ súc sanh, chỉ là tất cả chỗ chẳng dời đổi,
nguyên là người thuở xưa, cốt yếu chẳng đi con đường
xưa. Nếu có tâm vui mừng thành đới trước nếu thoát được
giản trạch là sao? Cổ đức nói: ?Chỉ e chẳng được luân
hồi.?
Các
ông nói phải làm sao? Như người hiện nay nói có chỗ tịnh
khiết, thích hướng về việc ấy. Đây là bệnh thật khó
trị. Nếu việc thô trọng ở thế gian lại là nhẹ, bệnh
tịnh khiết thật là nặng. Như pháp vị Phật, pháp vị Tổ
trọn là đới trước. Tiên sư nói: ?Tâm nghĩ là phạm giới,
nếu được Pháp vị là phá trai.? Hãy bảo thế nào là được
vị? Chỉ là pháp vị Phật, pháp vị Tổ, vừa có tâm vui
mừng là phạm giới. Như hiện nay nói phá trai phá giới là
khi làm phép ba phen yết-ma, ấy sớm đã phá rồi. Nếu là
bệnh tham sân si thô trọng, tuy khó dứt mà lại nhẹ, còn
bệnh vô vi vô sự tịnh khiết lại nặng không có gì thêm
được. Tổ sư ra đời cũng chỉ vì cái ấy, chẳng riêng
vì các ông. Hiện nay làm kẻ rảnh rang qua ngày, làm con chồn,
con trâu tu hành lại thích, chẳng phải có thiền có đạo.
Như các ông mỗi thứ tìm kiếm, tìm Phật tìm Tổ, cho đến
Bồ-đề Niết-bàn, đến bao giờ thôi dứt xong xuôi ư? Đều
là tâm sanh diệt. Do đó chẳng giống như con chồn, con trâu
ngơ ngơ không biết, chẳng biết Phật, chẳng biết Tổ, cho
đến Bồ-đề Niết-bàn và nhân quả thiện ác. Chỉ đói
đến là ăn cỏ, khát đến thì uống nước. Nếu được thế
ấy, chẳng lo chẳng xong xuôi. Đâu chẳng nghe nói: ?Tính toán
chẳng thành ấy là biết có (Tâm), mới hay mang lông đội
sừng kéo cày mang bừa.? Được cái tiện nghi này, mới là
đạm bạc. Đâu chẳng thấy đức Di-lặc, A-súc và những
thế giới Diệu Hỉ v.v? vẫn bị thượng nhân kia (Duy-ma-cật)
gọi là Bồ-tát giải đãi không hổ thẹn. Cũng nói là biến
dịch sanh tử, vẫn e còn phần nhỏ giải đãi.
Nơi
việc bổn phận phải nên làm sao? Cần phải chín chắn mới
được. Mỗi người đều có một chỗ để ngồi, dù Phật
ra đời xâm phạm chỗ ấy cũng không được. Thể hội cái
ấy tu hành chẳng là thích thú lắm ư! Muốn biết việc này,
chính nó khiến ta thành Phật thành Tổ, cũng chính nó khiến
ta rơi trong tam đồ lục đạo. Tuy nhiên như thế, vẫn không
có chỗ dụng, mà lìa y cũng chẳng được, cốt cùng y làm
chủ tể mới được. Nếu làm chủ tể được tức là không
còn biến dịch. Nếu làm chủ tể không được tức là biến
dịch. Ngài Vĩnh Gia nói: ?Phóng đãng lăng xăng chuốc họa
ương.?
Tăng
hỏi:- Thế nào là phóng đãng lăng xăng chuốc họa ương?
Sư
đáp:- Chỉ là cái ấy.
- Làm
sao khỏi được?
- Biết
có (Tâm) liền được, dùng khỏi làm gì? chỉ là Bồ-đề
Niết-bàn phiền não vô minh v.v? thảy đều chẳng cần khỏi,
cho đến việc thô trọng ở thế gian cũng thế. Miễn
biết có (Tâm) là được chẳng cần khỏi, khỏi tức đồng
biến dịch rồi. Cho đến thành Phật thành Tổ, Bồ-đề Niết-bàn,
những cái ấy đều họa ương chẳng nhỏ. Tại sao như vậy?
Bởi vì biến dịch. Nếu không biến dịch, cần phải chạm
việc tự do mới được.
Nam
Châu Soái Nam bình Chung Vương nghe danh Sư cho sứ đi thỉnh.
Sư chẳng đến, chỉ biên bài tụng của Đại Mai để đáp:
Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm
Tiều khách ngộ chi du bất cố
Dĩnh nhân na đắc khổ truy tầm.
Dịch:
Cây khô gãy mục tựa rừng xanh
Mấy độ xuân về tâm chẳng sanh
Lão tiều trông thấy nào đoái nghĩ
Dĩnh khách thôi thì chớ hỏi phanh.
*
Sư
dạy chúng kệ rằng:
Tùng duyên tiến đắc tương ưng tật
Tựu thể tiêu đình đắc lực trì
Miết khởi bản lai vô xứ sở
Ngô sư tạm thuyết bất tư nghì.
Dịch:
Từ duyên tiến được tương ưng nhanh
Đến thể lặng dừng đắc lực chậm
Chợt khởi từ xưa không chỗ nơi
Thầy ta tạm nói không nghĩ nghị.
*
Sư
thượng đường, có vị Tăng bước ra hỏi:
?Thế
nào là người đại xiển-đề?? Sư đáp: ?Chẳng sợ nghiệp.?
Tăng hỏi: ?Thế nào là người vô minh?? Sư đáp: ?Trước sau
chẳng giác ngộ.? Tăng hỏi: ?Hai người này ai ở trước??
Sư đáp: ?Người vô minh.? Tăng hỏi: ?Người xiển-đề vì
sao ở sau?? Sư đáp: ?Người hướng đi.? Tăng thưa: ?Thế ấy
thì người vô minh chẳng từ ngày nay đi.? Sư đáp: ?Phải.?
Tăng thưa: ?Đã chẳng từ ngày nay đi, vô minh từ chỗ nào
đến?? Sư đáp: ?Chỗ sáng chẳng dám vào.? Tăng thưa: ?Đâu
chẳ?g phải chẳng minh chẳng ám.? Sư bảo: ?Phải.? Tăng thưa:
?Chính khi ấy thế nào?? Sư bảo: ?Chẳng cho chạm.? Sư lại
bảo:
- Xiển-đề
có nhiều thứ: 1- Giết cha giết mẹ, làm thân Phật ra máu,
phá hòa hợp Tăng, hủy hoại già-lam, đây quyết định thật
báo chịu các thứ khổ. 2- Cũng làm như trước, nhưng mà giết
cha vô minh mẹ tham ái, chẳng tin có Phật Pháp Tăng có thể
phá, có già-lam có thể hoại, cho là nghiệp từ tâm mà thành,
nên đọa cũng chịu các thứ quả hư vọng. Hai loại này lên
xuống chẳng đồng. 3- Biết chính mình có việc bản lai, gọi
là cha mẹ, chẳng nhân bên ngoài mà được, không tu không
chứng, phi nhân phi quả, chẳng do thấy được, chẳng từ
chứ?g mà thành. Chỗ được, chẳng khởi chấp cha, gọi là
giết, chẳng khởi chấp mẹ, gọi là hại, tức là tất cả
việc bổn phận chẳng giữ chẳng còn, nên gọi là giết hại.
Vừa có mảy may kính trọng, được ý vị thì chẳng thành,
chỉ biết có việc chính mình, nên gọi là đại xiển-đề.
Do đây dấy lên diệu lực tức là thể hội tông thừa từ
trước, thừa kế việc nhà, cần cắt đường huyền, phá
các cong vạy, như Lão nhân Tân Phong khéo chỉ.
*
Đời
Đường niên hiệu Thiên Phục (901) mùa hạ năm Tân Sửu ban
đêm, Sư hỏi Tri sự:
- Hôm
nay là ngày mấy tháng mấy?
Tri
sự thưa:- Ngày rằm tháng sáu.
Sư
bảo:
- Tào
Sơn bình sanh đi hành khước đến nơi chỉ biết chín mươi
ngày là một hạ, sáng mai giờ thìn ta đi hành khước.
Hôm
sau, đúng giờ thìn thắp hương, Sư ngồi yên lặng mà hóa,
thọ sáu mươi hai tuổi, ba mươi bảy tuổi hạ. Vua ban thụy
là Nguyên Chứng Thiền sư, tháp hiệu Phước Viên.
*
14.
THIỀN SƯ ĐẠO ƯNG
Ở
Vân Cư - (?-902)
Sư
họ Vương người ở Ngọc Điền U Châu. Thuở bé, Sư đã
xuất gia theo thầy học đạo. Năm hai mươi lăm tuổi, Sư thọ
giới cụ túc tại chùa Diên Thọ ở Phạm Dương. Bổn sư
bắt Sư học kinh luật Thanh văn (Tiểu thừa). Sư than: ?Kẻ
đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói ư?? Sư
bèn đến núi Thúy Vi hỏi đạo và ở lại đây ba năm.
*
Một
hôm, có du Tăng từ Dự Chương đến khen ngợi pháp hội ở
Động Sơn, Sư liền từ tạ, đến Động Sơn.
Động
Sơn hỏi:- Từ đâu đến?
Sư
thưa:- Từ Thúy Vi đến.
- Thúy
Vi có lời gì dạy đồ chúng?
- Thúy
Vi cúng dường La-hán, con hỏi: ?cúng dường La-hán, La-hán
có đến chăng?, Thúy Vi hỏi con: ?mỗi ngày ông ăn cái gì?.
- Thật
có lời này chăng?
- Có.
- Chẳng
uổng tham kiến bậc tác gia (đạt đạo).
- Xà-lê
tên gì?
- Tên
Đạo Ưng.
- Lại
nói lên trên?
- Nói
lên trên tức chẳng tên Đạo Ưng.
- Ngươi
đáp tương tợ với ta lúc đến Vân Nham.
*
Sư
hỏi:- Thế nào là ý Tổ sư?
Động
Sơn đáp:
- Sau
này Xà-lê có nơi chốn ở yên, chợt có người đến hỏi
như thế, phải đáp làm sao?
- Đạo
Ưng tội lỗi.
*
Động
Sơn hỏi:
- Ta
nghe Hòa thượng Tư Đại sanh làm vua nước Nhật là thật
giả?
Sư
thưa:
- Nếu
là Tư Đại, Phật còn chẳng làm, huống là làm vua.
Động
Sơn gật đầu.
Một
hôm, Động Sơn hỏi:- Từ đâu đến?
Sư
thưa:- Đạp núi đến.
- Quả
núi nào nên ở?
- Có
quả núi nào chẳng nên ở.
- Thế
ấy là cả nước đều bị Xà-lê chiếm hết.
- Chẳng
phải.
- Thế
ấy là ngươi đã được đường vào?
- Không
đường.
- Nếu
không đường làm sao được cùng Lão tăng gặp nhau?
- Nếu
có đường thì cùng Hòa thượng cách núi vậy.
- Kẻ
này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng.
*
Sư
theo Động Sơn lội qua suối. Động Sơn hỏi: ?Nước cạn
sâu?? Sư thưa: ?Chẳng ướt.? Động Sơn bảo: ?Kẻ thô.? Sư
thưa: ?Thỉnh Thầy nói.? Động Sơn nói: ?Chẳng khô.?
*
Sư
làm tương, Động Sơn hỏi: ?Làm gì?? Sư thưa: ?Làm tương.?
Động Sơn hỏi: ?Dùng muối nhiều ít?? Sư thưa: ?Xoay vào.?
Động Sơn hỏi: ?Làm thành vị gì?? Sư thưa: ?Đắc.?
*
Động
Sơn hỏi Sư:
- Người
đại xiển-đề giết cha hại mẹ, làm thân Phật chảy máu,
phá hòa hợp Tăng, các việc như thế hiếu dưỡng đâu còn?
Sư
thưa:- Mới được hiếu dưỡng.
Từ
đây Động Sơn giao Sư làm lãnh tụ trong chúng.
*
Sư
cất thảo am nơi Tam Phong, trải qua tuần nhật không xuống
trai đường. Động Sơn thấy lạ hỏi:
- Mấy
ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?
Sư
thưa:- Mỗi ngày có thiên thần cúng dường.
Động
Sơn bảo:
- Ta
bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều
lại.
Chiều,
Sư đến. Động Sơn gọi:- Ưng am chủ!
Sư
ứng thanh: Dạ!
Động
Sơn bảo:- Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác là cái gì?
Sư
trở về am ngồi yên lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy,
trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
*
Sư
đến trụ ở núi Vân Cư, tứ?chúng đua nhau tìm đến, pháp
hội nơi đây rất thạnh hành.
Sư
dạy chúng:
- Phật
pháp đâu có nhiều việc, hành được là phải. Chỉ biết
tâm là Phật, chớ cho Phật chẳng biết nói. Muốn được
việc như thế phải là người như thế. Nếu là người như
thế thì còn lo cái gì? Nếu nói việc như thế là khó, thì
các bậc tiên đức từ xưa thuần phác chân thật, vốn không
khôn khéo. Giả sử có người đến hỏi ?thế nào là đạo?,
hoặc khi các ngài đáp ?ngói gạch gốc cây làm gì? đều chú
trọng việc căn bản ở dưới gót chân lâu nay đã sẵn có.
Nếu thật hữu lực, là người bất tư nghì, nắm đất biến
thành vàng. Nếu không có việc như thế, dù ông nói được
như hoa như gấm, nói ta phóng quang động địa thế gian không
ai hơn, nói tột hết, mà mọi người vẫn không tin nhận.
Bởi lâu nay việc dưới chân nhà mình vẫn rỗng không, chẳng
có một chút khí lực.
Các
ông! Ví như con chó săn chỉ biết đuổi theo dấu chân thôi.
Nếu khi gặp con linh dương mọc sừng thì chẳng những không
thấy dấu chân, mà hơi hám cũng không biết.
Tăng
hỏi:- Con linh dương khi mọc sừng thì sao?
Sư
đáp:- Sáu lần sáu là ba mươi sáu. Hội chăng?
Tăng
thưa:- Chẳng hội.
Sư
bảo:- Chẳng thấy nói ?không dấu chân? sao?
*
Có
một vị Tăng ở trong phòng tụng kinh. Sư ở ngoài cửa hỏi:
Xà-lê tụng đó là kinh gì? Tăng thưa: Kinh Duy-ma. Sư bảo:
Chẳng hỏi kinh Duy-ma người tụng là kinh gì? Vị Tăng này
nhân đó được ngộ.
*
Có
vị quan liêu đến cúng dường, hỏi: Thế Tôn có mật ngữ,
Ca-diếp chẳng phú tàng, thế nào là Thế Tôn mật ngữ? Sư
gọi: Thượng thơ! Vị quan ấy: dạ! Sư hỏi: Hội chăng? Vị
quan thưa: Chẳng hội. Sư bảo: Ông nếu chẳng hội thì Thế
Tôn có mật ngữ. Nếu ông hội thì Ca-diếp chẳng phú tàng.
*
Sư
dạy chúng:
- Các
ông dù học được việc bên Phật, vẫn là dụng tâm sai lầm
rồi. Các ông đâu không thấy cổ nhân giảng được chư thiên
rải hoa cúng dường, đá gật đầu, còn chẳng can hệ việc
chính mình, ngoài ra còn có nghĩa gì? Như hiện nay toan đem
thân tâm hữu hạn nhằm trong vô hạn mà dùng thì có giao thiệp
gì? Như đem khúc cây vuông tra vào lỗ tròn thì sự sai ngoa
nhiều ít? Nếu không hợp việc ấy, dù ông nói tươi như
hoa đẹp như gấm vẫn là vô dụng, vì chưa rời tình thức
vậy. Nếu tất cả việc đều hướng trong ấy đến sạch
hết mới được không lỗi, mới được xuất thân. Nếu một
sợi lông một mảy tóc đẹp chẳng hết liền bị trần lụy,
huống là quá nhiều, sai chừng hào ly phạm lỗi bằng quả
núi. Cổ nhân nói: Chỗ học chẳng sạch hết, ấy là kẻ
thế gian; việc trong khuê các bỏ chẳng đặng, đều là rỉ
chảy. Phải nhắm trong ấy nhận lấy, trong mọi hành động
đều dẹp sạch tất cả việc, mới được không lỗi. Như
người sự sự đều liễu, vật vật đều thông, chỉ gọi
là người liễu sự, chẳng gọi là tôn quí. Nên biết tôn
quí tự có đường riêng, là vật thế gian rất trọng rất
quý. Chẳng được sau này hướng bên tôn quí. Nên biết không
thể nghĩ bàn, chẳng xứng tâm mong muốn. Do đó cổ nhân nói:
?Ví như hai gương sáng, ánh sáng đối nhau, ánh sáng soi nhau,
không thiếu không dư.? Đâu chẳng phải là một loại, vậy
mà vẫn còn gọi việc bên ảnh tượng. Như khi mặt trời
mọc lên, ánh sáng soi khắp thế gian là một nửa, một nửa
này gọi là gì? Như hiện nay người chưa nhận được việc
thô thiển bóng sáng ở ngoài cửa, mà muốn làm việc trong
nhà thì làm sao làm được?
*
Sư
dạy:
- Người
được chẳng nhẹ nhỏ, người sáng chẳng dùng hèn, người
biết không than thở, người hiểu không chán xấu. Từ trời
rơi xuống là bần cùng, từ đất vọt lên là phú quí, trong
cửa ra thân là dễ, trong thân ra cửa là khó. Động thì chôn
thân ngàn thước, chẳng động thì liền đó mọc mầm. Một
câu nói siêu thoát cứu được người đương thời. Nói bàn
chă?g cần nhiều, nói nhiều ắt là vô dụng.
Tăng
hỏi:- Thế nào từ trời rơi xuống là bần cùng?
Sư
đáp:- Chẳng quí mà được.
- Thế
nào từ đất vọt lên là phú quí?
- Trong
không mà được có.
*
Sư
dạy:
- Liễu
không thật có, được thì không chỗ mong, nói không lẽ phải,
hành không chỗ nương, tâm không chỗ gá, đến tột mới được
không lỗi. Ở chỗ đông như không người, ở chỗ không người
như đông, nơi thân như không thân, ở thế như không thế,
đâu chẳng phải đức vô nhiễu, vượt hơn muôn loài, thoát
khỏi tất cả trói buộc. Ngàn người muôn người được,
còn nói chẳng bằng mình. Như hiện nay được cọng khởi
một loại bạn đầu, cổ nhân nói: ?thể hội được việc
bên nây, lại sang giẵm đạp bên kia?. Bên nây có việc gì?
Bên kia lại giẵm đạp gì? Sở dĩ nói có cũng chớ đem đến,
nói không cũng chớ đem đi, hiện tại đây là việc nhà ai?
*
Sư
dạy:
- Muốn
thể hội việc này phải như người thở ra không hít vào,
mới cùng người này tương ưng. Nếu thể hội được ý người
ấy mới cho ít phần nói bàn, mới có ít phần hành lý. Tạm
thời chẳng hiện như đồng người chết, huống là như nay
bàn năm luận tháng? Như người thường hiện thì lo gì việc
nhà chẳng xong, muốn biết việc lâu xa chỉ như việc hiện
nay, hiện nay nếu được lâu xa cũng được. Như người ở
viễn phương về nhà, đi đến là phải, phải thì tất cả
đều phải, chẳng phải thì tất cả đều chẳng phải. Cần
được lửa sáng trên đầu phát, cũng chẳng phải hay làm
tất cả, tất cả chẳng làm. Nên nói: trọn ngày tham việc
trước mặt, quên mất việc sau lưng. Nếu thấy việc sau lưng,
quên mất việc trước mặt. Như người chẳng trước sau thì
có việc gì?
*
Sư
dạy:
- Như
xem vật trong lòng bàn tay, quyết định quyết định, mới
có thể tùy duyên. Nếu một như thế thì ngàn muôn cũng vậy,
trong ngàn muôn khó làm một hai, một hai không thể được.
Đâu chẳng nghe nói: Người hiển chiếu là dễ được, người
hiển chiếu rồi thì khó được, chẳng nói hoàn toàn không,
mới là hi hữu. Nếu không được như thế chẳng cho gắng
làm, gắng làm tức sanh não, sanh não tức lui sụt đạo, lui
sụt đạo thì tột đến trên thân, là thấy chẳng được,
nói gì là đại thoại.
Các
ông xuất gia như kẻ tội ra khỏi khám đường, nên ít muốn
biết đủ, chớ tham danh lợi ở đời, nhịn đói nhịn khát
chí cầu vô vi, được ở trong Phật pháp mười phần sống
chín phần chết, chớ trái với Phật pháp nhổ đinh cắt sắt,
chớ mang nhiều việc Như Lai, nên phải ít. Mỗi người tự
liễu lấy, có việc thì lại gần đây, không việc hãy lui
đi.
*
Sư
trụ trì ba mươi năm tại Vân Cư đạo truyền khắp thiên
hạ. Chúng hiện có mặt đến một ngàn năm trăm vị. Nam Xương
vương tôn Sư làm thầy, nguyện kính làm thầy đời đời.
Đời
Đường niên hiệu Thiên Phục năm đầu (902) mùa Thu, Sư có
chút ít bệnh, đến ngày hai mươi tám tháng chạp, vì chúng
nói pháp lần chót. Sau đó, Sư từ biệt chúng, chúng đều
thương mến. Lưu lại đến ngày mùng ba tháng giêng năm sau,
Sư hỏi thị giả: Hôm nay ngày mấy? Thị giả thưa: mùng
ba. Sư bảo: ?ba mươi năm sau, chỉ nói là cái ấy?. Sư ngồi
ngay thẳng từ chúng tịch.
15.
HƯNG HÓA TỒN TƯƠNG THIỀN SƯ
(?-924)
Sư
làm thị giả Lâm Tế, Lạc Phổ đến tham vấn. Lâm Tế hỏi:
Ở đâu đến? Lạc Phổ thưa: Ở Loan Thành đến. Lâm Tế
bảo: Có việc đem hỏi được chăng? Lạc Phổ thưa: Mới
thọ giới chẳng hội. Lâm Tế bảo: Đập tan nước Đại
Đường tìm cái người chẳng hội cũng không, đến nhà tham
thiền đi. Sư đi theo sau Lâm Tế, thưa: Vị Tăng vừa mới
đến là thành phá y hay chẳng thành phá y? Lâm Tế bảo: Ta
nào có quản, ngươi thành phá hay chẳng thành phá? Sư thưa:
Hòa thượng chỉ giỏi đem con chim sẻ chết để dưới đất
bắn, mà chẳng giỏi đem chuyển ngữ che đậy người. Lâm
Tế hỏi: Ngươi lại làm sao? Sư thưa: Thỉnh Hòa thượng làm
Tăng mới đến. Lâm Tế bèn nói: Mới thọ giới chẳng hội.
Sư thưa: Lại là tội lỗi của Lão tăng. Lâm Tế bảo: Lời
của ngươi giấu kín mũi nhọn. Sư suy nghĩ, Lâm Tế liền
đánh.
Chiều
Lâm Tế lại hỏi: Hôm nay ta hỏi Tăng mới đến là đem chim
sẻ chết để dưới đất bắn, hay đến trong ổ đập? Đến
ngươi thốt được lời, lại hét khởi xong. Nhằm trong mây
xanh đập. Sư thưa: Giặc cỏ đại bại. Lâm Tế liền đánh.
*
Ở
hội của Tam Thánh Huệ Nhiên, Sư làm Thủ tọa, thường nói:
- Ta
nhắm phương nam đi hành khước, một phen gặp được đầu
gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp.
Tam
Thánh nghe được hỏi:
- Ngươi
đủ con mắt gì mà nói thế ấy?
Sư
liền hét. Tam Thánh nói: phải là ngươi mới được.
Sau,
Đại Giác nghe thuật lại, bèn nói: Làm sao được gió thổi
gã đến trong cửa Đại Giác này.
*
Sư
đến hội Đại Giác làm Viện chủ. Một hôm, Đại Giác gọi:
- Viện
chủ! Ta nghe ông nói: ?nhắm phương nam đi hành khước,
một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một
người hội Phật pháp?, ông cứ y vào đạo lý gì mà nói
như thế?
Sư
liền hét! Đại Giác liền đánh. Sư lại hét! Đại Giác lại
đánh.
Hôm
sau, Sư đi ngang qua pháp đường, Đại Giác gọi: Viện chủ!
Ta vẫn còn nghi hai tiếng hét của ông hôm qua. Sư lại hét!
Đại Giác lại đánh. Sư lại hét! Đại Giác lại đánh. Sư
nói:
- Tôi
ở chỗ Sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, nay bị
Sư huynh bẻ gãy rồi, xin cho tôi pháp môn an lạc.
Đại
Giác bảo:
- Cái
gã mù, đến trong ấy đã chịu thua, cổi áo nạp ra đánh
đòn một trận.
Ngay
lời nói này, Sư hiểu được đạo lý Tiên sư Lâm Tế ở
chỗ Tổ Hoàng Bá ăn gậy.
*
Sư
khai đường, niệm hương:
- Một
cây hương này vốn vì Sư huynh Tam Thánh, Tam Thánh đối với
ta rất ít oi; vốn vì Sư huynh Đại Giác, Đại Giác đối
với ta rất dư dật; chẳng bằng cúng dường Tiên sư Lâm
Tế.
*
Tăng
hỏi:- Khi bốn phương tám hướng đến làm sao?
Sư
bảo:- Đánh khoảng giữa.
Tăng
liền lễ bái.
Sư
bảo:
- Hôm
qua đi phó trai giữa đường gặp một trận gió lớn mưa to,
phải đến trong cổ miếu ẩn mình mới qua.
Sư
hỏi vị Tăng mới đến:- Ở chỗ nào đến?
Tăng
thưa:- Ở chỗ Thiền sư Thôi đến.
- Có
đem được cái hét của Thiền sư Thôi chăng?
- Chẳng
đem đến được.
- Thế
ấy chẳng phải ở chỗ Thiền sư Thôi đến. Tăng liền hét.
Sư bèn đánh.
*
Sư
dạy chúng:
- Ta
chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở giá sau cũng hét. Các ông chớ
có hét mù, hét loạn, dù cho hét được Hưng Hóa bay đến
trụ trong giữa trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi
Hưng Hóa tỉnh lại sẽ bảo ông ?chưa hiện tại?. Vì cớ
sao? Ta chưa từng nhằm trong màn lụa đỏ để chân châu, với
những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì?
*
Vua
Đường Trang Tông đi Hà Bắc trở về đến Ngụy Phủ dừng
lại Hành Cung, cho sứ mời Sư. Sư đến, Vua hỏi:
- Trẫm
thâu Trung Nguyên nhận được hòn ngọc quí, chưa từng có
người trả giá.
Sư
nói:- Xin Bệ hạ cho xem.
Vua
lấy hai tay vuốt từ đầu đến chân.
Sư
nói:- Ngọc quí của quân vương ai dám trả giá.
Trang
Tông rất vui, ban cho Sư tử y và hiệu, Sư đều từ chối
chă?g nhận. Vua bèn tă?g ngựa, Sư nhận.
*
Sư
cỡi ngựa, chợt bị ngựa quăng té gãy chân. Sư gọi: Viện
chủ! chuốt cho ta một cái chân cây. Viện chủ chuốt xong
đem đến cho Sư. Sư cặp vào đi khấp khểnh chung quanh viện,
hỏi Tăng chúng:
- Các
ngươi biết Lão tăng chăng?
Chúng
Tăng đáp:- Làm sao mà không biết Hòa thượng.
Sư
bảo:- Pháp sư què nói được đi chẳng được.
Sư
đi đến pháp đường sai Duy-na đánh chuông họp chúng. Chúng
tụ họp, Sư bảo:
- Lại
biết Lão tăng chăng?
Chúng
không đáp. Sư ném chân cây, ngồi ngay thẳng thị tịch.
*
16.
VIỆN TAM THÁNH - THIỀN SƯ HUỆ NHIÊN
Sau
khi được Lâm Tế truyền tâm pháp, Sư dạo khắp các tùng
lâm. Đến Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn hỏi:- Ngươi tên gì?
Sư
thưa:- Huệ Tịch.
Ngưỡng
Sơn bảo:- Huệ Tịch là tên của ta.
- Huệ
Nhiên.
Ngưỡng
Sơn cười to.
*
Nhân
có vị quan đến hỏi đạo, Ngưỡng Sơn hỏi: Quan ở vị
nào? Quan thưa: Thôi quan. Ngưỡng Sơn dựng đứng phất tử
hỏi: Lại Thôi được cái này chăng? Quan không đối được.
Ngưỡng Sơn dạy chúng đáp; nhiều người đáp mà không hợp.
Sư bệnh nằm tại nhà niết-bàn, Ngưỡng Sơn sai thị giả
đến thỉnh Sư đáp. Sư bảo thị giả: Chỉ nói với Hòa
thượng ngày nay có việc. Ngưỡng Sơn lại sai thị giả đến
hỏi: Chưa biết có việc gì? Sư đáp: Tái phạm chẳng tha.
*
Sư
đến Hương Nghiêm, Hương Nghiêm hỏi:- Ở đâu đến?
Sư
thưa:- Ở Lâm Tế đến.
- Đem
được thanh kiếm của Lâm Tế đến chăng?
Sư
lấy tọa cụ che miệng, đánh rồi đi.
*
Đến
Đức Sơn, Sư vừa trải tọa cụ, Đức Sơn bảo:
- Chớ
trải cái khăn phủi bụi, trong đây không có canh cặn cơm
thừa.
Sư
thưa:- Dù có cũng không có chỗ đổ.
Đức
Sơn liền đánh, Sư chụp gậy đẩy thẳng đến giường thiền.
Đức Sơn cười to. Sư khóc nói: trời xanh! rồi xuống nhà
tham thiền.
*
Sư
ở hội Tuyết Phong, Tuyết Phong nói:
- Mỗi
người tự có tấm gương xưa một mặt, con khỉ con vượn
cũng có tấm gương xưa một mặt.
Sư
ra hỏi:
- Bao
nhiêu kiếp không tên, tại sao Hòa thượng lập tên gương
xưa?
Tuyết
Phong nói:- Bị vết tích.
Sư
quở:- Lão Hòa thượng này câu thoại đầu cũng chẳng biết.
Tuyết
Phong nói:- Lão tăng tội lỗi, bởi trụ trì nhiều việc.
*
Gặp
Hòa thượng Bảo Thọ khai đường (mở hội tham thiền), Sư
đẩy một vị Tăng ra trước Bảo Thọ. Bảo Thọ liền đánh
vị Tăng ấy. Sư nói: Trưởng lão vì người thế ấy, làm
mù mắt hết nhân dân trong thành Trấn Châu.
*
Ở
Viện Tam Thánh, Sư thượng đường:
- Ta
gặp người liền ra, ra thì chẳng vì người.
Liền
xuống tòa.
*
17.
HÒA THƯỢNG ĐẠI GIÁC
Lời
Sư tham Lâm Tế và tiếp Hưng Hóa đã nói trong hai vị ấy.
Khi sắp lâm chung, Sư gọi chúng bảo:
- Ta
có một mũi tên cần trao cho ngươi.
Có
vị Tăng bước ra thưa:- Con xin mũi tên của Hoà thượng.
Sư
hỏi:- Ngươi nói thế nào là mũi tên?
Vị
Tăng ấy liền hét! Sư đánh mấy gậy, rồi lui về phương
trượng. Sư gọi vị Tăng ấy vào hỏi:- Ngươi hội chăng?
Tăng
đáp:- Chẳng hội.
Sư
lại đánh mấy gậy xong, ném gậy nói:
- Về
sau gặp người sáng mắt thuật lại rõ ràng.
Sư
liền từ giã chúng thị tịch.
*
18.
THIỀN SƯ VĂN HỶ
(820-899)
Sư
họ Chu quê ở Ngữ Khê Gia Hòa, xuất gia hồi bảy tuổi.
Niên
hiệu Khai Thành năm thứ hai (837), Sư đến Triệu Quận thọ
giới cụ túc, học tập luật Tứ phần. Đến niên hiệu Hội
Xương (841-846) phế giáo, Sư trở lại thế gian giấu
kín chí xuất trần. Sang niên hiệu Đại Trung (847) sùng tu
Tam Bảo, Sư đến chùa Tề Phong ở Diêm Quan tiếp tục tu hành.
Sau,
Sư đến yết kiến Thiền sư Tánh Không ở núi Đại Từ.
Tánh Không bảo: Ngươi sao không đi tham vấn các nơi?
Sư
đi thẳng lên núi Ngũ Đài ở chùa Hoa Nghiêm, sang lễ bái
hang Kim Cang, gặp một ông già dắt trâu đi, mời Sư vào chùa.
Đến chùa, ông gọi: Quân Đề! Có đồng tử: dạ! ra đón.
Ông già thả trâu, dẫn Sư vào trong, Sư nhìn thấy nhà cửa
đều hiện sắc vàng. Ông già ngồi trên giường, chỉ cái
đôn bảo Sư ngồi. Ông già hỏi:- Vừa ở đâu đến?
Sư
thưa:- Ở phương nam đến.
- Phương
nam Phật pháp trụ trì thế nào?
- Đời
mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới luật.
- Chúng
nhiều ít?
- Hoặc
ba trăm, hoặc năm trăm.
Sư
hỏi lại:- Ở đây Phật pháp trụ trì thế nào?
- Rắn
rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở.
- Chúng
nhiều ít?
- Trước
ba ba, sau ba ba. (Tiền tam tam, hậu tam tam.)
Đồng
tử dâng trà và tô lạc, Sư dùng vào cảm thấy tâm ý sảng
khoái.
Ông
già đưa chung pha lê lên hỏi Sư:- Phương nam lại có cái này
chăng?
Sư
thưa:- Không.
- Hằng
ngày lấy cái gì uống trà?
Sư
không đáp được. Thấy bóng mặt trời xế chiều, Sư hỏi:
- Tôi
xin nghỉ lại một đêm ở đây được chăng?
Ông
già bảo:- Ông còn chấp tâm chẳng được nghỉ.
- Tôi
đâu có chấp tâm.
- Ngươi
đã thọ giới chưa?
- Thọ
giới đã lâu.
- Ngươi
nếu không chấp tâm đâu cần thọ giới.
Sư
từ tạ trở xuống. Ông già sai đồng tử tiễn chân.
Sư
hỏi đồng tử:- Trước ba ba sau ba ba, là nhiều ít?
Đồng
tử gọi: Đại đức! Sư ứng thanh: Dạ! Đồng tử bảo: Ấy
nhiều ít?
Sư
lại hỏi:- Đây là chỗ gì?
Đồng
tử đáp:- Đây là chùa Bát-nhã trong hang Kim Cang.
Sư
buồn bã, biết ông già đó là Văn-thù mà không thế nào gặp
lại được.
Sư
đảnh lễ Đồng tử xin một câu khi từ biệt. Đồng tử
nói kệ:
Diện thượng vô sân cúng dường cụ
Khẩu lý vô sân thổ diệ? hương
Tâm lý vô sân thị trân bảo
Vô cấu vô nhiễm thị chân thường.
Dịch:
Trên mặt không sân đồ cúng dường
Trong miệng không sân xuất diệu hương
Trong tâm không sân là trân bảo
Không nhơ không nhiễm là chân thường.
Nói
xong, Quân Đề và chùa đều ẩn, chỉ thấy trong mây năm sắc
Văn-thù cỡi kim mao sư tử qua lại, chợt có cụm mây trắng
từ phương đông bay qua che lấp.
*
Niên
hiệu Hàm Thông năm thứ ba (862), Sư đến Hồng Châu lại viện
Quan Âm yết kiến Ngưỡng Sơn. Qua câu nói, Sư liền khế ngộ
bản tâm. Ngưỡng Sơn cử Sư xung chức Điển tọa.
*
Sư
nấu cháo, thường thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo. Sư lấy
cây giầm quậy cháo đập, nói:- Văn-thù tự Văn-thù, Văn
Hỷ tự Văn Hỷ.
Văn-thù
nói kệ:
Khổ hồ liên căn khổ
Điềm qua triệt đới điềm
Tu hành tam đại kiếp
Khước bị lão tăng hiềm.
(Dưa đắng gốc vẫn đắng
Dưa ngọt rễ cũng ngon
Tu hành ba đại kiếp
Lại bị lão tăng đòn.)
*
Một
hôm, có một vị Tăng lạ đến xin một bữa cơm, Sư bớt
phần ăn của mình cúng dường. Ngưỡng Sơn dự biết hỏi:
- Vừa
rồi có người đã vào quả vị đến, ngươi có cấp phần
ăn chăng?
Sư
thưa:- Bớt phần của con cúng dường.
Ngưỡng
Sơn bảo:- Ngươi được lợi ích lớn.
*
Niên
hiệu Quang Khải năm thứ ba (887), Tiền Vương thỉnh Sư trụ
Long Tuyền Giải thự (nay là viện Từ Quang).
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là tướng Niết-bàn?
Sư
đáp:- Chỗ khói hương hết, nghiệm.
- Thế
nào là đại ý Phật pháp?
Sư
gọi Viện chủ đến! ông thầy này bị bệnh điên.
- Thế
nào là tự mình?
Sư
lặng thinh.
Vị
Tăng ấy mờ mịt, lại hỏi câu trên.
Sư
bảo:- Trời trong bụi mù, chẳng nhằm bên mặt trăng bay.
*
Niên
hiệu Quang Hóa năm thứ hai (899), Sư có chút bệnh. Đến ngày
hai mươi bảy tháng mười vào lúc giờ tý giữa đêm, Sư bảo
chúng:
- Tâm
tam giới hết tức là Niết-bàn.
Nói
xong, Sư ngồi kiết già thị tịch, thọ tám mươi tuổi, sáu
mươi tuổi hạ.
*
19.
THIỀN SƯ QUANG DŨNG
Ở
Nam Tháp
Sư
họ Chương quê ở Phong Thành ? Dự Chương. Khi mẹ sanh Sư,
có thần quang soi sáng khắp sân, ngựa trong chuồng đều kinh
hoảng, nhân đó đặt tên Sư là Quang Dũng. Thuở nhỏ Sư rất
thông minh, theo Ngưỡng Sơn xuất gia.
Sư
sang miền Bắc yết kiến Lâm Tế, lại trở về hầu Ngưỡng
Sơn. Ngưỡng Sơn hỏi:- Ngươi đến làm gì?
Sư
thưa:- Đảnh lễ ra mắt Hòa thượng.
- Thấy
Hòa thượng chăng?
- Dạ
thấy.
- Hòa
thượng sao giống in lừa?
- Con
thấy Hòa thượng cũng chẳng giống Phật.
- Nếu
chẳng giống Phật thì giống cái gì?
- Nếu
có chỗ giống thì cùng lừa khác gì?
Ngưỡng
Sơn ngạc nhiên nói:
- Phàm
thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy
đây nghiệm xét người, hai mươi năm không ngờ vực. Con nên
gìn giữ đó.
Ngưỡng
Sơn thường chỉ Sư bảo với nguời:
- Kẻ
này là nhục thân Phật.
*
Sau,
Sư kế vị ở Ngưỡng Sơn tháp phía nam. Có vị Tăng hỏi:
- Văn-thù
là thầy bảy đức Phật, Văn-thù có thầy chăng?
Sư
đáp:- Gặp duyên liền có.
- Thế
nào là thầy Văn-thù?
Sư
dựng đứng cây phất tử chỉ đó.
Tăng
thưa:- Cái ấy là phải sao?
Sư
ném cây phất tử khoanh tay.
*
Tăng
hỏi:- Thế nào là diệu dụng một câu?
Sư
đáp:- Nước đến thành hồ.
- Chân
Phật ở tại chỗ nào?
- Nói
ra không tướng, cũng chẳng tại nơi khác.
Không
rõ Sư tịch lúc nào và ở đâu.
*
20.
THIỀN SƯ TOÀN KHOÁT
Ở
Nham Đầu - (828-887)
Sư
họ Kha quê ở Tuyền Châu. Thuở thiếu thời, Sư theo Nghị
Cộng ở Thanh Nguyên xuất gia. Sau Sư đến Trường An ở chùa
Bảo Thọ thọ giới cụ túc và học tập các bộ kinh luật.
Sư
dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa
Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, Lâm
Tế đã qui tịch, đến yết kiến Ngưỡng Sơn.
Vừa
vào cửa, Sư đưa cao tọa cụ, thưa: Hòa thượng. Ngưỡng
Sơn cầm phất tử toan giở lên. Sư thưa: Chẳng ngại tay khéo.
*
Đến
tham yết Đức Sơn, Sư cầm tọa cụ lên pháp đường nhìn
xem. Đức Sơn hỏi: Làm gì? Sư quát tháo. Đức Sơn hỏi: Lão
tăng có lỗi gì? Sư thưa: Lưỡng trùng công án. Sư trở xuống
nhà tham thiền. Đức Sơn nói: Cái ông thầy in tuồng người
hành khước.
Hôm
sau lên thưa hỏi, Đức Sơn hỏi: Xà-lê phải vị Tăng mới
đến hôm qua chăng? Sư thưa: Phải. Đức Sơn bảo: Ở đâu
học được cái rỗng ấy? Sư thưa: Toàn Khoát trọn chẳng
tự dối. Đức Sơn bảo: Về sau chẳng được cô phụ Lão
tăng.
Hôm
khác đến tham, Sư vào cửa phương trượng đứng nghiêng mình
hỏi: Là phàm là thánh? Đức Sơn hét! Sư lễ bái.
Có
người đem việc ấy thuật lại cho Động Sơn nghe. Động
Sơn nói: Nếu chẳng phải Thượng tọa Khoát rất khó thừa
đương. Sư nghe được lời này bèn nói: Ông già Động Sơn
chẳng biết tốt xấu lầm buông lời, ta đương thời một
tay đưa lên một tay bắt.
*
Tuyết
Phong ở Đức Sơn làm phạn đầu (trưởng ban trai phạn). Một
hôm cơm trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Tuyết Phong
phơi khăn lau, trông thấy Đức Sơn bèn nói: Ông già này, chuông
chưa kêu trống chưa đánh mà ôm bát đi đâu?
Đức
Sơn trở về phương trượng. Tuyết Phong thuật việc này cho
Sư nghe. Sư bảo: Cả thảy Đức Sơn chẳng hội câu rốt sau.
Đức
Sơn nghe, sai thị giả gọi Sư đến phương trượng, hỏi:
Ông chẳng chấp nhận Lão tăng sao? Sư thưa nhỏ ý ấy.
Đến
hôm sau, Đức Sơn thượng đường có vẻ khác thường. Sư
đến trước nhà tăng vỗ tay cười to, nói: Rất mừng! ô?g
già Đường đầu hội được câu rốt sau, người trong thiên
hạ không bì được ông, tuy nhiên cũng chỉ sống được ba
năm (quả nhiên ba năm sau Đức Sơn tịch).
*
Một
hôm, Sư cùng Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người họp nhau, bỗng
dưng Tuyết Phong chỉ một chén nước. Khâm Sơn nói: Nước
trong, trăng hiện. Tuyết Phong nói: Nước trong, trăng chẳng
hiện. Sư đá chén nước rồi đi.
Từ đó về sau, Khâm Sơn đến Động Sơn.
Sư và Tuyết Phong nối pháp Đức Sơn.
*
Sư
cùng Tuyết Phong đến từ Đức Sơn. Đức Sơn hỏi: Đi về
đâu? Sư thưa: Tạm từ Hòa thượng hạ sơn. Đức Sơn hỏi:
Con về sau làm gì? Sư thưa: Chẳng quên. Đức Sơn hỏi: Con
nương vào đâu nói lời này? Sư thưa: Đâu chẳng nghe ?trí
vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bă?g thầy kém
thầy nửa đức?. Đức Sơn bảo: Đúng thế! đúng thế! phải
khéo hộ trì. Hai vị lễ bái rồi lui.
Tuyết
Phong về Mân Xuyên ở gộp Tuyết Phong trên núi Tượng Cốt.
Sư cất am ở núi Ngọa Long Động Đình. Đồ chúng tấp nập
kéo đến.
*
Tăng
hỏi:- Không thầy lại có chỗ xuất thân chăng?
Sư
đáp:- Trước tiếng lông xưa nát.
- Kẻ
đường đường đến thì sao?
- Đâm
lủng con mắt.
- Thế
nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?
- Dời
ngọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông nói.
*
Sư
cùng La Sơn đi xem nền tháp. Đi giữa đường La Sơn gọi:
Hòa thượng! Sư xoay đầu hỏi: Làm gì? La Sơn đưa tay chỉ
nói: Trong ấy có miếng đất tốt. Sư quở: Kẻ bán dưa ở
Qua Châu. Lại đi khoảng ít dặm, La Sơn lễ bái hỏi: Hòa
thượng đâu chẳng phải ở Động Sơn ba mươi năm mà chẳng
chấp nhận Động Sơn ư? Sư đáp: Phải. La Sơn lại hỏi:
Hòa thượng đâu chẳng phải nối pháp Đức Sơn mà chẳng
chấp nhận Đức Sơn chăng? Sư đáp: Phải. La Sơn hỏi tiếp:
Chẳng chấp nhận Đức Sơn thì miễn hỏi, còn Động Sơn
có khuyết điểm gì? Sư làm thinh giây lâu đáp: Động Sơn
là ông Phật đẹp, chỉ là không hào quang.
*
Sư
hỏi vị Tăng mới đến:- Ở đâu đến?
Tăng
thưa:- Ở Tây Kinh đến.
- Sau
trận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng?
- Lượm
được.
Sư
đưa cổ làm thế nhận chặt. Tăng nói: Đầu thầy rơi. Sư
cười to.
*
Sư
dạy chúng:
- Phàm
việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng
biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trăm
việc chẳng suy nghĩ, gọi là chánh cú, cũng gọi là cư đảnh
(ở trên đảnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh,
là chắc thật, là khi Phật chưa sanh, là đắc địa, là cùng
khi ấy sẽ cùng khi ấy v.v? Phá tất cả thị phi mới cùng
tiện, chẳng cùng tiện lăn trùng trục dưới đất. Nếu nhìn
chẳng thấu liền bị người đâm đui mắt. Chỗ con mắt nhìn
lờ mờ in tuồng con dê bị giết mà chưa chết. Cổ nhân nói
?hôn trầm chă?g tốt, cần chuyển được mới nên?. Chạm
đến liền chuyển mới cùng tiện, chẳng cùng tiện. Thị
cú cũng chặt phi cú cũng chặt, tự nhiên lăn trùng trục,
tự nhiên trước mắt hiện rõ ràng, no tràn hông. Chẳng hiểu
chối bỏ, chẳng hiểu nhai nát. Đâu chẳng nghe nói ?chối
bỏ vật là trên, theo vật là duới?. Vừa khởi tí xíu tình
liền rơi xuống đất. Nếu là nhai nát thì heo chó mắt đỏ
ngầu.
Nếu
có người hỏi thế nào là thiền, nên đáp với y: ?bịt lỗ
đít lại, mới có ít phần hơi hám, mới biết cạn sâu lớp
lớp??
Huynh
đệ! thấy cùng chăng? nói thế hội chăng? Chớ có trọn ngày
rầm rĩ, sẽ không có ngày xong. Muốn được dễ hội cần
biết ở trước thanh sắc chẳng bị muôn cảnh làm hoặc loạn,
tự nhiên hiện rõ ràng, tự nhiên vô sự. Tiến tới trước
thanh sắc mà vẫn thản nhiên, in tuồng một đống lửa lớn,
chạm đến liền cháy, lại còn có việc gì? Đâu không nghe
nói ?chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, mà khi ta vô tâm
nó cháy?.
*
Sau
này có người hoặc hỏi Phật, hỏi pháp, hỏi đạo, hỏi
thiền, Sư đều hư lên một tiếng. Sư thường bảo chúng:
Khi Lão già này đi, sẽ rống lên một tiếng rồi đi.
*
Đời
Đường sau thời Quang Khải, Trung Nguyên giặc cướp dấy lên,
chú?g Tăng đều đi tránh nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở đây.
Một hôm giặc đến, chúng trách Sư không có gì dâng biếu,
bèn đâm Sư. Sư thần sắc không đổi, chỉ rống lên một
tiếng rồi chết. Tiếng ấy vang xa đến mười dặm.
Sư
tịch nhằm năm Quang Khải thứ ba (887) ngày mùng tám tháng
tư.
*
21.
THIỀN SƯ NGHĨA TỒN
Ở
Tuyết Phong - (822-908)
Sư
họ Tằng người Nam An Tuyền Châu. Sư sanh trong gia đình thờ
Phật, thuở nhỏ đã không chịu ăn thịt cá. Còn trong nôi
mà Sư nghe tiếng chuông, hoặc thấy tràng phan, hoa hương, tượng
Phật Bồ-tát liền cười.
Năm
mười hai tuổi. Sư theo cha đến chùa Ngọc Gián ở Bồ Điền,
thấy Luật sư Khánh Huyền bèn đảnh lễ nói: thầy con! rồi
ở lại đây luôn. Đến mười bảy tuổi, Sư được cạo
tóc. Sau, Sư đến chùa Bảo Sát ở U Khê thọ giới cụ túc.
Sư thường dạo qua các thiền họ?.
*
Tại
Động Sơn, Sư làm Phạn đầu (trưởng ban trai phạn) đang
đãi gạo. Khâm Sơn hỏi: Đãi cát bỏ gạo hay đãi gạo bỏ
cát? Sư đáp: Gạo cát đồng thời bỏ. Khâm Sơn hỏi: Đại
chúng lấy gì ăn? Sư bèn lật úp thau đãi gạo. Khâm Sơn nói:
Cứ theo nhân duyên này, huynh hợp ở Đức Sơn.
*
Một
hôm, Động Sơn hỏi: Làm gì đây? Sư thưa: Đẽo máng. Động
Sơn hỏi: Đẽo mấy búa được thành? Sư thưa: Một búa đẽo
thành. Động Sơn bảo: Vẫn là việc bên này, việc bên kia
thì sao? Sư thưa: Hẳn được không chỗ hạ thủ. Động Sơn
bảo: Vẫn là việc bên này, việc bên kia thì sao? Sư im lặng.
*
Sư
đến tạm biệt Động Sơn, Động Sơn hỏi: Ngươi đi đâu?
Sư thưa: Đi về trong đảnh núi. Động Sơn hỏi: Đương thời
từ đường nào ra? Sư thưa: Từ đường vượn bay đảnh núi
ra. Động Sơn hỏi: Nay quay lại đường mà đi? Sư thưa: Từ
đường vượn bay đảnh núi đi. Động Sơn bảo: Có người
chẳng từ đường vượn bay đảnh núi đi, ngươi biết chăng?
Sư thưa: Chẳng biết. Động Sơn hỏi: Tại sao chẳng biết?
Sư thưa: Y không mặt mày. Động Sơn bảo: Ngươi đã chẳng
biết, sao biết không mặt mày? Sư không đáp được.
*
Đến
Đứ? Sơn, Sư hỏi: Tông thừa từ trước, con có phần cùng
chăng?
Đức
Sơn đánh một gậy, bảo: Nói cái gì? Sư thưa: Chẳng hội.
Hôm
sau, giờ thưa hỏi, Đức Sơn bảo chúng: Tông của ta không
ngữ cú, thật không một pháp cho người. Sư nhân đó có tỉnh.
*
Sư
cùng Nham Đầu đi đến Ngao Sơn ở Lễ Châu gặp trở tuyết
(tuyết xuống quá nhiều) dừng lại, Nham Đầu mỗi ngày cứ
ngủ, Sư một bề ngồi thiền. Một hôm, Sư gọi: Sư huynh!
Sư huynh! hãy dậy.
Nham
Đầu hỏi:- Làm cái gì?
Sư
nói:
- Đời
nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thúy đi hành khước đến
nơi chốn, bị y chê cười, từ ngày đến đây sao chỉ lo
ngủ?
Nham
Đầu nạt:
- Ngủ
đi! mỗi ngày ngồi trên giường giống như thổ địa, ngày
sau bọn ma quỉ nam nữ vẫn còn.
Sư
chỉ trong ngực nói:- Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám
tự dối.
- Tôi
bảo ông sau này lên trên chót núi cất thảo am xiển dương
đại giáo, sẽ nói câu ấy.
- Tôi
thật còn chưa ổn.
- Nếu
ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông
qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải
tôi sẽ vì ông đuổi dẹp.
- Khi
tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc
không liền được chỗ vào.
- Từ
đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.
- Tôi
thấy bài kệ của Động Sơn qua sông: ?Thiết kỵ tùng tha
mít, điều điều dữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã, ngã kim
bất thị cừ.?
- Nếu
cùng ấy tự cứu cũng chưa tột.
Sau,
hỏi Đức Sơn: việc trong tông thừa từ trước con có phần
chăng, Đức Sơn đánh một gậy hỏi: nói cái gì, tôi khi đó
giống như thùng lủng đáy.
Nham
Đầu nạt:
- Ông
chẳng nghe nói ?từ cửa vào chă?g phải của báu trong nhà??
- Về
sau làm thế nào mới phải?
- Về
sau, nếu muốn xiển dương Đại giáo, mỗi mỗi từ trong hông
ngực mình lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi!
Sư
nhân câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn:
Sư huynh! ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn.
*
Tăng
hỏi:- Hòa thượng thấy Đức Sơn được cái gì liền thôi?
Sư
đáp:- Ta đi tay không, về tay không.
*
Có
hai vị Tăng đến, Sư lấy tay chặn cửa am, nhảy vọt ra,
nói: Ấy cái gì? Tăng cũng nói: Ấy cái gì? Sư cúi đầu vào
am. Tăng từ Sư đi nơi khác. Sư hỏi: Đi nơi nào? Tăng thưa:
Hồ nam. Sư bảo: Ta có người bạn đồng hành ở Nham Đầu,
gởi ông một lá thơ đưa hộ. Thơ viết: ?Tôi gởi thơ lên
Sư huynh, từ ngày tôi thành đạo ở Ngao Sơn về sau cho đến
ngày nay vẫn còn no chẳng đói.?
Tăng
đến Nham Đầu, Nham Đầu hỏi: Từ nơi nào đến? Tăng thưa:
Tuyết Phong đến, có thơ dâng lên Hòa thượng. Nham Đầu tiếp
th