ĐỜI THỨ
TƯ SAU LỤC TỔ
A Phái
Hành Tư.
29.
Thiền sư Ðàm Thạnh (Vân Nham)
30.
Thiền sư Viên Trí (Ðạo Ngô)
31.
Thiền sư Ðức Thành (Hoa Ðình Thuyền Tử)
32.
Sa-di Cao.
33.
Thiền sư Vô Học (Thúy Vi)
34.
Thiền sư Nghĩa Trung (Tam Bình)
B.
Phái Hoài Nhượng.
35.
Thiền sư Linh Hựu (Qui Sơn)
36.
Thiền sư Hy Vận (Hoàng Bá)
37.
Thiền sư Ðại An.
38.
Thiền sư Thần Tán.
39.
Thiền sư Vô Ngôn Thông.
40.
Thiền sư Hoằng Biện.
41.
Thiền sư Trí Chơn.
42.
Thiền sư Cảnh Sầm (Trường Sa)
43.
Thiền sư Tùng Thẩm (Triệu Châu)
44.
Thiền sư Sùng Tín (Long Ðàm)
29.
THIỀN SƯ ÐÀM THẠNH
Vân
Nham - (782 - 841)
Sư
họ Vương, quê ở Kiến Xương, Chung Lăng. Lúc nhỏ, Sư xuất
gia tại Thạch Môn. Ban đầu, Sư đến tham học với Bá Trượng
Hoài Hải ngót hai mươi năm mà chưa ngộ huyền chỉ. Bá Trượng
qui tịch, Sư đến tham học với Dược Sơn Duy Nghiễm.
Dược
Sơn hỏi:- Ở đâu đến?
Sư
thưa:- Ở Bá Trượng đến.
- Bá
Trượng có ngôn cú gì để chỉ dạy đồ chúng?
- Thường
ngày hay nói "ta có một câu đầy đủ trăm vị".
- Mặn
là vị mặn, lạt là vị lạt, không mặn không lạt là vị
thường, thế nào một câu đầy đủ trăm vị?
Sư
không đáp được.
*
Hôm
khác, Dược Sơn hỏi:- Bá Trượng nói pháp gì?
Sư
thưa:
- Có
khi Thầy thượng đường đại chúng ngồi yên, cầm gậy đồng
thời đuổi tan hết, lại gọi: "Ðại chúng!" Chúng xoay đầu
lại, Thầy bảo: "Ấy là gì?"
Dược
Sơn bảo:
- Sao
không sớm nói thế đó? Hôm nay nhân ngươi thuật lại, ta
được thấy Hải huynh.
Ngay
câu nói ấy Sư tỉnh ngộ, lễ bái.
*
Dược
Sơn hỏi:- Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?
Sư
thưa:- Con từng đến Quảng Nam.
- Ta
nghe nói ngoài cửa thành Ðông ở Quảng Châu có một hòn đá
bị Châu chủ dời đi chăng?
- Chẳng
những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng
chẳng động.
- Ta
nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?
- Phải.
- Múa
được mấy xuất?
- Múa
được sáu xuất.
- Ta
cũng múa được.
- Hòa
thượng múa được mấy xuất?
- Ta
múa được một xuất.
- Một
tức sáu, sáu tức một.
*
Sư
đến Qui Sơn Linh Hựu, Qui Sơn hỏi:
- Nghe
Trưởng lão ở Dược Sơn làm sư tử múa phải chăng?
Sư
đáp:- Phải.
- Thường
múa hay có khi nghỉ?
- Cần
múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ.
- Khi
nghỉ sư tử ở chỗ nào?
- Nghỉ,
nghỉ.
*
Sư
nấu trà, Ðạo Ngô hỏi:- Nấu trà cho ai?
Sư
đáp:- Có một người cần.
- Sao
không dạy y tự nấu?
- Nay
có tôi ở đây.
*
Thạch
Sương Khánh Chư đến.
Sư
hỏi:- Ở đâu đến?
Thạch
Sương thưa:- Qui Sơn đến.
- Ở
trong ấy bao lâu?
- Vừa
trải một Ðông một Hạ.
- Như
thế tức thành núi dài?
- Tuy
ở trong đó mà chẳng biết.
- Người
khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.
Thạch
Sương không đáp được.
*
Sau,
Sư trụ trì núi Vân Nham huyện Du, Ðàm Châu.
Một
hôm, Sư bảo chúng:- Có đứa trẻ nhà kia, hỏi đến không
có gì nói chẳng được.
Ðộng
Sơn Lương Giới hỏi: - Trong ấy có kinh sách nhiều ít?
- Một
chữ cũng không.
- Sao
được biết nhiều thế ấy?
- Ngày
đêm chưa từng ngủ.
- Làm
một việc được chăng?
- Nói
được lại chẳng nói.
*
Sư
hỏi vị Tăng:- Ở đâu đến?
Tăng
thưa:- Thêm hương rồi đến.
- Thấy
Phật chăng?
- Thấy.
- Thấy
ở đâu?
- Thấy
ở hạ giới.
- Phật
xưa! Phật xưa!
*
Ðạo
Ngô hỏi:- Ðại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?
Sư
bảo:- Như người ban đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.
- Tôi
hội rồi.
- Hội
thế nào?
- Khắp
thân là tay mắt.
- Nói
tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.
- Sư
huynh thế nào?
- Khắp
thân là tay mắt.
*
Sư
ngồi bện giày cỏ, Ðộng Sơn Lương Giới đến trước thưa:
- Xin
Thầy tròng mắt được chăng?
Sư
bảo:- Ngươi đi với ai?
- Lương
Giới không.
- Giả
sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?
Lương
Giới không đáp được.
Sư
bảo:- Xin tròng mắt là mắt chăng?
- Chẳng
phải mắt.
Sư
nạt đuổi ra.
*
Tăng
hỏi:- Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là
thế nào?
Sư
bảo:- Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?
Tăng
không đáp được.
Sư
hỏi:- Hội chăng?
- Chẳng
hội.
- Chớ
bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là
bên trái bên phải.
*
Ðời
Ðường niên hiệu Hội Xương năm đầu (841 T.L.), tháng mười
ngày hai mươi sáu, Sư có chút ít bệnh, tắm gội xong, kêu
chủ sự bảo: "Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng tọa đi."
Ðến tối đêm hai mươi bảy, Sư qui tịch, thọ sáu mươi
tuổi. Trà-tỳ được xá-lợi rất nhiều.
*
30.
THIỀN SƯ VIÊN TRÍ
Ðạo
Ngô - (768 - 835)
[Trong
Truyền Ðăng Lục thì để Viên Trí, trong Chỉ Nguyệt Lục
để Tông Trí.]
Sư
họ Trương, quê ở Hải Hôn, Dự Chương. Lúc nhỏ, Sư theo
Hòa thượng Bàn xuất gia và thọ giới. Sau, Sư đến pháp
hội Dược Sơn thầm được tâm ấn.
Một
hôm, Dược Sơn hỏi Sư:- Ngươi đi đâu về?
Sư
thưa:- Ði dạo núi về.
Dược
Sơn bảo:- Chẳng rời thất này, đem gì về, nói mau!
Sư
thưa:
- Trên núi chim con đầu tợ tuyết,
Ðáy khe cá lội lo chẳng cùng.
(Sơn thượng điểu nhi đầu tợ tuyết,
Gián để du ngư mang bất triệt.)
*
Sư
cùng Ðàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo:
- Chỗ
trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu
mọc sừng, Trí đầu-đà (chỉ Sư) hiểu thế nào?
Sư
liền đi ra.
Ðàm
Thạnh hỏi Dược Sơn:
- Sư
huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa thượng?
Dược
Sơn bảo:
- Hôm
nay ta đau lưng, y đã hội, ngươi hỏi lấy y.
Ðàm
Thạnh đến hỏi Sư:
- Vừa
rồi, sao sư huynh không đáp lời Hòa thượng?
Sư
bảo:- Huynh đến hỏi Hòa thượng đi.
*
Qui
Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Ðàm Thạnh:
- Bồ-đề
lấy gì làm tòa?
Ðàm
Thạnh đáp:- Lấy vô vi làm tòa.
Ðàm
Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy.
Linh
Hựu đáp:- Lấy các pháp không làm tòa.
Linh
Hựu lại đem câu ấy hỏi Sư.
Sư
đáp:
- Ngồi
thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi
chẳng nằm, hãy nói mau! nói mau!
*
Linh
Hựu hỏi Sư:- Ở đâu đến?
Sư
đáp:- Khán bệnh đến.
- Có
bao nhiêu người bệnh?
- Có
người bệnh có người chẳng bệnh.
- Có
người không bệnh đâu không phải Trí đầu-đà?
- Bệnh
cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc nó, nói mau! nói
mau!
*
Thấy
Ðàm Thạnh bệnh, Sư hỏi:
- Lìa
cái vỏ lủng này đến chỗ nào thấy nhau?
- Ðến
chỗ chẳng sanh chẳng diệt thấy nhau.
- Sao
không nói chỗ phi chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng cầu
thấy nhau.
*
Ðàm
Thạnh vá lại đôi giày cỏ, Sư thấy hỏi:
- Làm
gì?
- Ðem
bại hoại vá bại hoại.
- Sao
không nói tức bại hoại phi bại hoại.
*
Sau,
Sư đến núi Ðạo Ngô an trụ ở đây, Tăng chúng đến tham
vấn rất đông.
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là chỗ đắc lực hiện giờ?
Sư
đáp:
- Ngàn
muôn người gọi mà chẳng xoay đầu, mới có ít phần tương
ưng.
- Chợt
gặp lửa cháy thì sao?
- Ðốt
cả quả đất.
Sư
lại hỏi vị Tăng ấy:- Dẹp than và lửa, cái gì là lửa?
- Chẳng
phải lửa.
*
Thạch
Sương Khánh Chư hỏi:
- Trăm
năm sau có người hỏi việc pháp tắc cùng tột, làm sao nói
với họ?
Sư
gọi:- Sa-di!
Sa-di
đáp:- Dạ!
Sư
bảo:- Thêm nước trong tịnh bình.
Giây
lâu, Sư lại hỏi Khánh Chư:- Vừa rồi hỏi gì?
Khánh
Chư lặp lại câu trước.
Sư
đứng dậy đi.
*
Hôm
khác, Khánh Chư hỏi:
- Một
mảnh xương của Hòa thượng gõ in tiếng đồng, đi về chỗ
nào?
Sư
gọi:- Thị giả!
Thị
giả đáp:- Dạ!
Sư
bảo:- Năm lừa đi.
*
Sư
mắc bệnh, Tăng chúng đến thăm hỏi.
Sư
bảo:- Có nhận chẳng đến, các ngươi biết nó chăng?
Chúng
đều buồn thảm.
Sư
bảo:- Ta sẽ đi xa bên tây, lý không rời bên đông.
Ðến
ngày mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hòa năm thứ chín
(835 T.L.) đời Ðường, Sư qui tịch, thọ sáu mươi bảy tuổi.
Vua
sắc ban là Tu Nhất Ðại sư, tháp hiệu Bảo Tướng.
*
31.
THIỀN SƯ ÐỨC THÀNH
(Hoa
Ðình Thuyền Tử)
Sư
người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng. Nơi
Dược Sơn, Sư được tâm ấn, cùng Ðàm Thạnh, Viên Trí là
bạn đồng học thâm giao.
Khi
rời Dược Sơn, Sư bảo hai bạn:
- Hai
huynh mỗi người sẽ ở một nơi để dựng lập tông chỉ
Dược Sơn, riêng tôi tánh tình quê mùa, chỉ ưa sơn thủy
làm vui thú, không có tài năng. Ngày sau, hai huynh biết tôi
dừng ở đâu, có gặp vị tọa chủ nào lanh lợi mách cho
một người đến, nếu kham chỉ bảo tôi sẽ đem chỗ bình
sanh thọ nhận trao lại, gọi là đền đáp ơn của Tiên sư.
Chia
tay nhau, Sư đi đến Tú Châu nơi sông Ngô, bến Hoa Ðình, sắm
một chiếc thuyền nhỏ tiếp chúng bốn phương qua lại, tùy
duyên độ nhật. Người thời ấy không biết tung tích Sư,
bèn gọi Sư là Thuyền Tử Hòa thượng.
*
Một
hôm, thuyền đậu bên bờ, Sư ngồi rảnh rang, có vị quan
hỏi:
- Thế
nào là việc hằng ngày của Hòa thượng?
Sư
dựng đứng cây chèo, bảo:- Hội chăng?
Vị
quan thưa:- Không hội.
Sư
bảo:
- Chèo
tạt sóng xanh, cá vàng ít gặp. (Trạo bát thanh ba, kim lân
hãn ngộ.)
*
Sau
này, Thiền sư Viên Trí có dịp đi đến Kinh Khẩu, gặp lúc
Thiền sư Thiện Hội thượng đường. Có vị Tăng hỏi: "Thế
nào là pháp thân?" Thiện Hội đáp: "Pháp thân không tướng."
Tăng hỏi: "Thế nào là pháp nhãn?" Thiện Hội đáp: "Pháp
nhãn không vết." Viên Trí bất chợt phát cười.
Thiện
Hội xuống tòa, hỏi Viên Trí:
- Tôi
vừa đáp câu hỏi của Tăng, chắc có chỗ không đúng khiến
Thượng tọa phát cười, xin Thượng tọa từ bi chỉ dạy.
Viên
Trí bảo:
- Hòa
thượng nhất đẳng (bậc nhất) là đúng, về xuất thế thì
chưa có thầy.
Thiện
Hội thưa:
- Chỗ
nào tôi không đúng, mong Thượng tọa vì nói để phá.
- Tôi
hoàn toàn không nói, mời Hòa thượng đi đến chỗ Hoa Ðình
Thuyền Tử.
- Người
ấy như thế nào?
- Người
ấy trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hòa
thượng muốn đi xin đổi y phục mà đến.
Thiện
Hội bèn giải tán chúng, sửa sang hành lý, đi thẳng đến
Hoa Ðình Thuyền Tử.
*
Vừa
thấy Thiện Hội đến, Sư liền hỏi:
- Ðại
đức trụ trì chùa nào?
Thiện
Hội thưa:- Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.
- Chẳng
giống, giống cái gì?
- Chẳng
pháp trước mắt.
- Ở
đâu học được nó?
- Chẳng
phải chỗ mắt tai đến.
Sư
cười bảo:
- Một
câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước
tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! nói mau!
Thiện
Hội vừa mở miệng, bị Sư đánh một chèo té xuống nước.
Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc:
- Nói!
Nói!
Thiện
Hội vừa mở miệng, lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên
đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.
Sư
bảo:
- Sợi
nhợ đầu sào mặc ngươi đùa, chẳng chạm sóng xanh ý tự
khác. (Can đầu ty tuyến tùng quân lộng, bất phạm thanh ba
ý tự thù.)
Thiện
Hội bèn hỏi:
- Thả
nhợ buông câu ý Thầy thế nào?
- Nhợ
tơ nổi trên mặt nước biếc.
- Lời
kèm huyền mà không đường, đầu lưỡi nói mà không nói.
- Câu
khắp dòng sông mới gặp cá vàng.
Thiện
Hội bịt tai.
Sư
bảo:- Như thế! như thế!
Sư
phó chúc rằng:
- Ngươi
ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu
vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng
tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm
làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để
tìm lấy một cái, nửa cái tiếp tục không để đoạn dứt.
- Thiện
Hội liền từ giã Sư ra đi, thỉnh thoảng ngó lại.
Sư
bèn gọi:- Xà-lê!
Thiện
Hội quay đầu ngó lại.
Sư
liền dựng đứng cây chèo, bảo:
- Ngươi
sẽ bảo riêng có.
Nói
xong, Sư lật úp thuyền xuống nước mà tịch.
*
32.
SA-DI CAO
Không
biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi
Sư mới đến tham vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:
- Ở
đâu đến?
Sư
thưa:- Ở Nam Nhạc đến.
- Ði
lại đâu?
- Ði
Giang Lăng thọ giới.
- Thọ
giới mong làm gì?
- Mong
khỏi sanh tử.
- Có
một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ngươi biết
chăng?
- Thế
thì giới Phật dùng làm gì?
- Vẫn
còn quải môi lưỡi.
Sư
lễ bái lui ra.
Ðạo
Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:
- Vừa
rồi có một Sa-di mới đến, có chút khí tức này.
Ðạo
Ngô thưa:
- Chưa
nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.
Ðến
chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:
- Sa-di
mới đến ở đâu?
Sư
ra khỏi chúng đứng im.
Dược
Sơn hỏi:
- Ta
nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sư
thưa:
- Nước
con an ổn.
- Ngươi
do xem kinh được hay thưa hỏi được?
- Chẳng
do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.
- Có
lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?
- Chẳng
nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.
Dược
Sơn ngó Ðạo Ngô, Vân Nham, nói:
- Chẳng
tin ta nói.
*
Một
hôm, Sư từ giã Dược Sơn.
Dược
Sơn hỏi:- Ði ở đâu?
Sư
thưa:
- Con
ở trong chúng có ngại, nên đến bên đường cất một am
tranh để tiếp đãi nước trà cho khách qua lại.
- Sanh
tử là việc lớn, sao ngươi không thọ giới đi?
- Biết
thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?
- Như
thế chẳng được lìa xa ta, có khi ta cần gặp ngươi.
*
Sư
dầm mưa đến thăm Dược Sơn.
Dược
Sơn bảo:- Ngươi mới đến?
- Con
mới đến.
- Ướt
cả rồi.
- Không
đánh cái trống sáo ấy.
Vân
Nham nói:- Da cũng không đánh, cái gì là trống?
Ðạo
Ngô nói:- Trống cũng không đánh, cái gì là da?
Dược
Sơn bảo:- Hôm nay rất hay, một trường hòa nhạc.
*
Ðến
giờ thọ trai, Dược Sơn tự đánh trống, Sư ôm bát múa đi
vào trai đường.
Dược
Sơn bỏ dùi trống xuống hỏi:- Hòa thứ mấy?
- Hòa
thứ hai.
- Thế
nào là hòa thứ nhất?
Sư
đến thùng cơm lãnh một phần cơm rồi đi ra.
*
33.
THIỀN SƯ VÔ HỌC
(Thúy
Vi)
Sư
đến hỏi Ðơn Hà: - Thế nào là thầy chư Phật?
Ðơn
Hà quở:- Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau
làm gì?
Sư
lùi ba bước.
Ðơn
Hà bảo:- Lầm!
Sư
tiến tới ba bước.
Ðơn
Hà bảo:- Lầm! lầm!
Sư
dở một chân, xoay thân một vòng, đi ra.
Ðơn
Hà bảo:- Ðược tức được, cô phụ chư Phật khác.
Sư
do đây lãnh ngộ ý chỉ, về trụ Thúy Vi tại Chung Nam sơn.
*
Thiền
sư Ðại Ðồng đến hỏi Sư:
- Không
biết Nhị Tổ mới thấy Tổ Ðạt-ma có sở đắc gì?
Sư
bảo:- Nay ngươi thấy ta lại có sở đắc gì?
Ðại
Ðồng đốn ngộ huyền chỉ.
*
Một
hôm, Sư đi trong pháp đường, Ðại Ðồng tiến đến trước
lễ, thưa:
- Mật
chỉ từ Ấn Ðộ qua, Hòa thượng dạy người thế nào?
Sư
dừng bước một chút.
Ðại
Ðồng lại thưa:- Xin Thầy chỉ dạy.
Sư
bảo:- Lại cần cái bầu nước nhỏ thứ hai sao?
Ðại
Ðồng lễ tạ lui ra.
Sư
bảo:- Chớ lấp gốc.
Ðại
Ðồng thưa:- Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.
*
Nhân
Sư cúng dường La-hán, có vị Tăng hỏi:
- Ðơn
Hà thiêu tượng Phật gỗ, Hòa thượng vì sao cúng dường
La-hán?
Sư
bảo:
- Thiêu
cũng chẳng thiêu đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.
Tăng
lại hỏi:- Cúng dường La-hán có đến chăng?
Sư
bảo:- Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?
Tăng
không đáp được.
Sư
bảo:- Có chút lanh lợi.
*
34.
THIỀN SƯ NGHĨA TRUNG
(Tam
Bình)
Sư
họ Dương, quê ở Phước Châu. Ban sơ, Sư đến tham vấn Thạch
Củng (Huệ Tạng). Thạch Củng chuyên môn giương cung lắp
tên để giáo hóa đồ chúng. Sư vào pháp hội, Thạch Củng
bảo:
- Xem
mũi tên đây!
Sư
bèn vạch ngực thưa:
- Ðây
là mũi tên giết người, mũi tên cứu người lại làm sao?
Thạch
Củng gảy dây cung ba cái.
Sư
liền làm lễ.
Thạch
Củng bảo:
- Ba
mươi năm một phen giương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được
nửa người thánh.
*
Sư
đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên. Ðại Ðiên
bảo:
- Ðã
là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?
Sư
đáp không được.
Ðại
Ðiên bảo:
- Ba
mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.
Sư
hỏi:- Chẳng cần chỉ đông vẽ tây, thỉnh Thầy chỉ thẳng.
- Cửa
sông U Châu người đá ngồi xổm.
- Vẫn
là chỉ đông vẽ tây.
- Nếu
phụng hoàng con không đến bên này bàn.
Sư
làm lễ.
Ðại
Ðiên bảo:
- Nếu
chẳng đặng câu sau thì lời trước cũng khó tròn.
*
Về
sau, Sư đến Chương Châu ở núi Tam Bình tiếp độ hậu lai.
Sư
dạy chúng:
- Thời
nay người học chỉ biết rong ruổi tìm kiếm, tương đương
nhãn mục chính mình có chăng? Các ngươi muốn học cái tương
đương ấy chăng? Chẳng cầu các thứ khác, các ngươi mỗi
người có việc bổn phận sao chẳng nhận ngay? Tại sao tâm
bực tức, miệng lẩm bẩm có lợi ích gì? Nói thẳng rằng:
Nếu cần con đường tu hành và hóa môn do chư thánh dựng
lập thì có ba tạng kinh điển. Nếu là việc trong tông môn
(Thiền tông), ngươi cốt không lầm dụng tâm.
Có
vị Tăng ra thưa:- Lại có con đường học hay không?
Sư
bảo:- Có một con đường trơn như rêu.
- Học
nhân bước nhẹ theo được chăng?
- Tâm
chẳng nghĩ, ngươi tự xem.
*
Có
vị Tăng hỏi:- Ðậu đen khi chưa nảy mầm là thế nào?
Sư
đáp:- Phật cũng chẳng biết.
*
Có
vị Giảng sư đến hỏi:
- Ba
thừa và mười hai phần giáo tôi không nghi, thế nào là ý
Tổ sư từ Ấn Ðộ đến?
Sư
bảo:
- Phất
tử bằng lông rùa, cây gậy bằng sừng thỏ, Ðại đức núp
ở chỗ nào?
- Lông
rùa sừng thỏ lại là có sao?
- Thịt
nặng ngàn cân, trí không cân lượng.
*
Sư
dạy chúng:
- Các
ngươi! Nếu chưa gặp tri thức thì chẳng nên, nếu từng gặp
tri thức rồi, phải nhận ngay ý độ ấy, đến trên chót
núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương
ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê
hương muôn dặm xa vậy.
Trân
trọng!
35.
THIỀN SƯ LINH HỰU
Qui
Sơn - (771 - 853)
Sư
họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phước Châu. Năm mười lăm
tuổi, Sư từ thân xuất gia theo Luật sư Pháp Thường ở chùa
Kiến Thiện tại bản quận thế phát. Sau, Sư đến chùa Long
Hưng ở Hàng Châu thọ giới. Sư học kinh, luật Ðại thừa,
Tiểu thừa rất uyên thâm.
Năm
hai mươi ba tuổi, Sư đến Giang Tây tham học với Bá Trượng
Hoài Hải. Bá Trượng vừa thấy Sư liền nhận cho nhập chúng.
Trong chúng, Sư là người được cử đứng hàng đầu.
Một
hôm, Sư đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi:- Ai?
Sư
thưa:- Con. Linh Hựu!
Bá
Trượng bảo:- Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?
Sư
vạch ra, thưa:- Không lửa.
Bá
Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa,
đưa lên chỉ Sư, bảo:
- Ngươi
bảo không, cái này là cái gì?
Sư
do đây phát ngộ, lễ tạ trình bày chỗ giải ngộ của mình.
Bá
Trượng bảo:
- Ðây
là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói: "Muốn thấy Phật tánh
phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như
mê chợt ngộ, như quên được nhớ, mới tỉnh vật của mình
không từ bên ngoài được." Cho nên Tổ sư bảo: "Ngộ rồi
đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp." Chỉ là không
tâm hư vọng phàm thánh v.v..., xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy
đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.
*
Sư
theo Bá Trượng làm việc trong núi, Bá Trượng hỏi:
- Ðem
được lửa đến chăng?
- Ðem
được.
- Ở
chỗ nào?
Sư
cầm một cành cây thổi vài cái, đem trao cho Bá Trượng.
Bá
Trượng bảo:- Như trùng đục cây.
*
Tư
Mã Ðầu-đà [là một Thiền sư thông cả địa lý và tướng
số.] từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng, thưa:
- Qui
Sơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạn
pháp.
Bá
Trượng hỏi:- Lão tăng muốn đến Qui Sơn nên chăng?
- Qui
Sơn kỳ tuyệt có thể họp một ngàn năm trăm chúng, nhưng
chẳng phải chỗ Hòa thượng ở.
- Sao
vậy?
- Hòa
thượng là người xương, núi kia là núi thịt, dù có ở,
đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
- Trong
chúng ta có người ở được chăng?
- Ðợi
xem qua mới biết.
Bá
Trượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa đến, tức Thiền
sư Hoa Lâm, hỏi:
- Người
này thế nào?
Ðầu-đà
bảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng, đi vài bước, thưa:
- Người
này không được.
Bá
Trượng sai thị giả gọi Ðiển tọa đến, tức Sư Linh Hựu.
Ðầu-đà
thưa: - Ðây chính là chủ Qui Sơn.
Tối
lại, Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:
- Ta
hóa duyên tại đây, ngươi sẽ ở thắng cảnh Qui Sơn để
nối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.
*
Hoa
Lâm nghe tin này đến thưa:
- Con
là thượng thủ, tại sao Linh Hựu được trụ trì?
Bá
Trượng bảo:
- Nếu
ai hay ngay trong chúng này nói được một câu xuất cách, sẽ
cho trụ trì.
Bá
Trượng liền chỉ tịnh bình hỏi:
- Chẳng
được kêu là tịnh bình, ngươi kêu là gì?
Hoa
Lâm thưa:- Không thể kêu là cây lủng vậy.
Bá
Trượng lại hỏi Sư.
Sư
đạp nhào tịnh bình rồi đi ra.
Bá
Trượng cười bảo:- Ðệ nhất tọa thối lui núi này.
Bá
Trượng bèn sai Sư đến Qui Sơn.
*
Non
Qui cao vót không có bóng người lai vãng, là hang ổ của cọp
sói. Sư đến đây cất một am tranh, hằng ngày lượm trái
lật, trái dẻ làm thức ăn nuôi sống.
Ðã
bảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: Ðạo cốt tiếp vật lợi
sanh, ở một mình chẳng phải. Sư bèn đi lần xuống núi,
thấy cọp sói, Sư bảo: "Nếu ta có duyên với núi này, các
ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây
thì các ngươi cứ ăn thịt ta đi." Sư nói xong, các loài thú
dữ đều đi tứ tán, Sư trở về am yên ở như trước.
Không
bao lâu, dân cư dưới chân núi từ từ hay biết, họ rủ nhau
kéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này, Liên soái Lý
Cảnh Nhượng tâu vua xin ban hiệu chùa, vua ban hiệu là Ðồng
Khánh. Kế đến, có Thượng tọa Ðại An và một số chúng
từ Bá Trượng đến phụ tá Sư. Ðại An nói: "Tôi sẽ làm
điển tọa cho Hòa thượng." Số chúng lần lần lên đến
cả ngàn. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường tới lui thưa hỏi
chỗ huyền ảo.
*
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Phàm
tâm của người học đạo phải ngay thẳng chân thật không
dối gạt, không tâm hạnh sau lưng trước mặt, lừa phỉnh,
trong tất cả giờ thấy nghe bình thường không có chiều uốn,
cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai, chỉ lòng chẳng chạy
theo vật là được. Từ trước chư thánh chỉ nói: bên nhơ
bợn là lỗi lầm. Nếu không như thế, lòng nhiều nghĩ ác
là việc tình kiến tưởng tập. Ví như nước mùa thu lóng
đứng trong trẻo lặng lẽ không động không ngại, gọi người
này là Ðạo nhân, cũng gọi là người vô sự.
Khi
ấy, có vị Tăng hỏi:- Người được đốn ngộ có tu chăng?
Sư
bảo:
- Nếu
người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng
không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy
từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng
vẫn còn tập khí (thói quen) nhiều kiếp từ vô thủy chưa
có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo
nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp
riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lý,
nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm,
hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn
được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm
lại, "chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa
muôn hạnh chẳng bỏ một pháp" (thật tế lý địa bất thọ
nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếu
được như vậy, là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm
thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức
Phật như như.
*
Thiền
sư Huệ Tịch (Ngưỡng Sơn) hỏi:
- Trăm
ngàn muôn cảnh đồng thời đến, phải làm sao?
Sư
đáp:
- Xanh
chẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn, các pháp mỗi
pháp ở địa vị của nó, chẳng can hệ đến việc của ta.
- Thế
nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ đến?
Sư
chỉ lồng đèn bảo:- Lồng đèn rất tốt.
- Ðâu
chỉ cái ấy là phải sao?
- Cái
ấy là cái gì?
- Lồng
đèn rất tốt.
- Hẳn
là chẳng thấy.
*
Sư
cùng chúng đi hái trà. Sư bảo Huệ Tịch:
- Trọn
ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy
hiện bản hình cho ta thấy coi.
Huệ
Tịch liền đập cây trà.
Sư
bảo:- Con chỉ được cái dụng của nó, chẳng được cái
thể của nó.
Huệ
Tịch thưa:- Chưa biết Hòa thượng thế nào?
Sư
im lặng.
- Hòa
thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng
của nó.
- Cho
con hai chục gậy.
*
Sư
ngồi, Huệ Tịch đi vào, Sư bảo:
- Tịch
con! hãy nói mau chớ vào ấm giới.
Huệ
Tịch thưa:- Huệ Tịch tin cũng chẳng lập.
- Con
tin rồi chẳng lập hay chẳng tin chẳng lập?
- Chỉ
là Huệ Tịch lại tin cái gì?
- Nếu
thế ấy chỉ là định tánh Thanh văn.
- Huệ
Tịch Phật cũng chẳng lập.
*
Sư
ngủ vừa thức giấc. Huệ Tịch đến hỏi thăm. Sư liền
xây mặt vào vách. Huệ Tịch thưa:
- Hòa
thượng đâu được như vậy.
Sư
trỗi dậy bảo:
- Vừa
rồi ta nằm một điềm chiêm bao, con thử vì ta đem lại xem.
Huệ
Tịch lấy thau múc một thau nước đem lại cho Sư rửa mặt.
Sư rửa mặt xong, giây lát Trí Nhàn (Hương Nghiêm) đến hỏi
thăm, Sư bảo:
- Vừa
rồi ta nằm một điềm chiêm bao, Huệ Tịch vì ta đem lại
xem xong, ngươi lại đem cho ta xem.
Trí
Nhàn liền đi rót một chung trà bưng đến.
Sư
bảo:- Hai con thấy hiểu còn hơn Xá-lợi-phất.
*
Sư
hỏi Vân Nham (Ðàm Thạnh):
- Nghe
huynh ở Dược Sơn lâu lắm phải chăng?
- Phải.
- Tướng
Dược Sơn đại nhân thế nào?
- Sau
khi Niết-bàn mới có.
- Sau
khi Niết-bàn mới có thế nào?
- Nước
rưới chẳng dính.
Vân
Nham hỏi lại Sư:- Bá Trượng đại nhân tướng thế nào?
- Chững
chạc vòi vọi, sáng suốt rực rỡ, trước tiếng chẳng phải
tiếng, sau sắc chẳng phải sắc, con muỗi đậu trên trâu
sắt, không có chỗ huynh cắm mỏ.
*
Thấy
Trí Nhàn, Huệ Tịch làm bánh, Sư bảo:
- Bá
Trượng Tiên sư đương thời thân được đạo lý này.
Huệ
Tịch, Trí Nhàn nhìn nhau nói:
- Người
nào đáp được lời này?
Sư
bảo:- Có một người đáp được.
Huệ
Tịch thưa:- Người nào?
Sư
chỉ con trâu bảo:- Nói! nói!
Huệ
Tịch chạy lấy một bó cỏ đem lại. Trí Nhàn lấy thùng
múc một thùng nước đem lại để trước con trâu. Con trâu
đang ăn, Sư bảo:
- Cho
gì? cho gì? Chẳng cho gì? chẳng cho gì?
Huệ
Tịch, Trí Nhàn đồng lễ Sư. Sư bảo:
- Hoặc
khi sáng, hoặc khi tối.
*
Một
hôm, Sư thúc chúng trình ngữ, bảo:
- Ngoài
thanh sắc cho ta cùng thấy.
Thượng
tọa Giám Huyền trình ngữ:
- Chẳng
từ ra đây, người ấy không mắt.
Sư
chẳng nhận.
Huệ
Tịch ba phen trình ngữ:
Lần
đầu: - Thấy lấy, chẳng thấy lấy.
Sư
bảo:- Nhỏ như chót lông, lạnh tợ sương tuyết.
Lần
thứ hai: - Ngoài thanh sắc, ai cầu thấy nhau?
Sư
bảo:- Chỉ kẹt Thanh văn, bên ngoài giường hẹp.
Lần
thứ ba: - Như hai gương chiếu nhau, ở trong không hình tượng.
Sư
bảo:
- Ngữ
này chánh, ta phải ngươi chẳng phải, sớm lập hình tượng
rồi vậy.
Huệ
Tịch hỏi lại Sư:
- Con
tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về, chẳng biết Hòa thượng
hồi còn ở với Sư ông Bá Trượng trình ngữ thế nào?
Sư
bảo:
- Ta
hồi ở với Tiên sư Bá Trượng trình ngữ như vầy: "Như
trăm ngàn gương sáng soi sáng hình bóng, chiếu nhau cõi cõi
bụi bụi mỗi mỗi chẳng lầm lẫn."
Huệ
Tịch lễ bái.
*
Sư
thượng đường bảo chúng:
- Sau
khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên
trái viết năm chữ "Qui Sơn Tăng Linh Hựu". Khi ấy gọi
là Qui Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi
là Qui Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?
Sư
truyền bá Thiền giáo hơn bốn mươi năm, người đạt được
lý thú không thể kể hết, đệ tử được nhập thất (được
truyền tâm) được bốn mươi mốt người.
Ðời
Ðường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853 T.L.), ngày
mùng chín tháng giêng, Sư tắm gội xong, ngồi kiết già vui
vẻ thị tịch. Sư thọ tám mươi ba tuổi, sáu mươi bốn tuổi
hạ.
Vua
ban hiệu Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh.
Sư
có trước tác tập Qui Sơn Cảnh Sách rất được lưu hành
trong thiền môn.
*
36.
THIỀN SƯ HY VẬN
Hoàng
Bá - (? - 850)
Sư
người tỉnh Mân (tỉnh Phước Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏ
xuất gia trên núi Hoàng Bá tại bản châu. Trên trán Sư có
cục thịt nổi vun lên như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ý
chí đạm bạc.
Ði
dạo núi Thiên Thai, Sư gặp một vị Tăng nói chuyện với
nhau như đã quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người Mục quang
xạ. Hai người đồng hành, gặp một khe suối nước đầy
chảy mạnh, Sư lột mũ chống gậy đứng lại. Vị Tăng kia
thúc Sư đồng qua. Sư bảo:
- Huynh
cần qua thì tự qua.
Vị
Tăng kia liền vén y, bước trên sóng như đi trên đất bằng.
Qua đến bờ, vị Tăng kia xây lại hối:
- Qua
đây! qua đây!
Sư
bảo:
- Bậy!
Việc ấy tự biết. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi
huynh.
Vị
Tăng kia khen:
- Thật
là pháp khí Ðại thừa, tôi không bì kịp.
Nói
xong, không thấy vị Tăng ấy nữa.
*
Sư
đến kinh đô nhờ người mách đến tham vấn Mã Tổ, đến
nơi Mã Tổ đã tịch. Sư đến Thạch Môn lễ tháp, rồi tìm
đến Bá Trượng.
Bá
Trượng hỏi:- Chững chạc to lớn từ đâu đến?
Sư
thưa:- Chững chạc to lớn từ Lãnh Nam đến.
- Chững
chạc to lớn sẽ vì việc gì?
- Chững
chạc to lớn chẳng vì việc khác.
Sư
liền lễ bái hỏi:- Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?
Bá
Trượng lặng thinh.
Sư
thưa:- Không thể dạy người sau, dứt hẳn mất.
Bá
Trượng bảo:- Sẽ nói riêng với ngươi.
Bá
Trượng đứng dậy đi vào phương trượng. Sư đi theo sau,
thưa:
- Con
đến riêng một mình.
Bá
Trượng bảo:
- Nếu
vậy, ngươi sau sẽ không cô phụ ta.
*
Một
hôm, Bá Trượng hỏi:- Ở đâu đến?
Sư
thưa:- Nhổ nấm dưới núi Ðại Hùng đến.
- Lại
thấy đại trùng chăng?
Sư
làm tiếng cọp rống. Bá Trượng cầm búa thủ thế. Sư vỗ
vào chân Bá Trượng một cái. Bá Trượng cười to bỏ đi.
Bá
Trượng thượng đường bảo chúng:
- Dưới
núi Ðại Hùng có con đại trùng, các ngươi nên xem. Lão Bá
Trượng này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn một
cái.
*
Sư
ở chỗ Nam Tuyền. Một hôm, toàn chúng đi hái trà, Nam Tuyền
hỏi:
- Ði
đâu?
Sư
thưa:- Ði hái trà.
- Ðem
cái gì hái?
Sư
đưa con dao lên. Nam Tuyền bảo:- Tất cả đi hái trà đi.
*
Hôm
nọ, Nam Tuyền bảo Sư:
- Lão
Tăng ngẫu hứng làm bài ca "Chăn Trâu", mời Trưởng lão hòa.
Sư
thưa:- Tôi tự có thầy rồi.
*
Sư
từ giã đi nơi khác. Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếc
mũ của Sư đưa lên hỏi:
- Trưởng
lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy?
Sư
thưa:- Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trong
ấy.
Nam
Tuyền bảo:- Vương lão sư vậy.
Sư
đội mũ ra đi.
*
Sau,
Sư về trụ trì tại Hồng Châu chùa Ðại An. Ðồ chúng tìm
đến rất đông.
Có
lần, Sư tránh chúng đến chùa Khai Nguyên cũng ở Hồng Châu.
Tướng quốc Bùi Hưu vào chùa thấy hình vẽ trên vách, hỏi
thầy trụ trì:
- Vẽ
cái gì đây?
Thầy
trụ trì đáp:- Vẽ hình Cao tăng.
Bùi
Hưu hỏi:- Hình có thể thấy, Cao tăng ở đâu?
Thầy
trụ trì không đáp được.
Bùi
Hưu hỏi:
- Trong
đây có Thiền nhân chăng?
Thầy
trụ trì đáp:
- Vừa
có một vị Tăng vào chùa đang làm việc in tuồng Thiền giả.
Bùi
Hưu bèn xin cho gặp. Thấy Sư, Bùi Hưu nói:
- Hưu
vừa có một câu hỏi, chư đức tiếc lời, giờ thỉnh thượng
nhân đáp thế một câu.
Sư
bảo:- Mời Tướng công hỏi lại.
Bùi
Hưu lặp lại câu hỏi trước.
Sư
dùng tiếng trong thanh gọi:- Bùi Hưu!
Bùi
Hưu:- Dạ!
Sư
bảo:- Ở chỗ nào?
Bùi
Hưu ngay nơi đó ngộ được ý chỉ như được hạt châu trên
búi tóc, bèn thỉnh Sư vào phủ kính thờ làm thầy.
*
Có
hôm Bùi Hưu hỏi:- Thế nào là Phật?
Sư
đáp:
- Tức
tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có cái tâm khởi
tâm động niệm, có không, dài ngắn, ta người, năng sở...
Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm, tâm như hư không, sở
dĩ nói: "Chân Pháp thân của Phật ví như hư không." Không
nên cầu riêng, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếp
như cát sông Hằng tu hành lục độ vạn hạnh, được Phật
Bồ-đề, cũng không phải cứu kính. Vì cớ sao? Vì thuộc
về nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vô
thường. Sở dĩ nói: "Báo, Hóa không phải chân Phật, cũng
không phải nói pháp." Cốt biết tâm mình không ngã không nhân
xưa nay là Phật.
Bùi
Hưu hỏi:
- Tâm
đã xưa nay là Phật, lại cầu tu lục độ vạn hạnh chăng?
Sư
đáp:
- Ngộ
tại tâm, không quan hệ gì lục độ vạn hạnh. Lục độ
vạn hạnh đều là cửa hóa đạo, là việc bên tiếp vật
độ sanh. Giả sử Bồ-đề, chân như, thật tế, giải thoát,
pháp thân, thẳng đến thập địa, bốn quả vị thánh đều
là cửa hóa độ, không quan hệ Phật tâm. Tâm tức là Phật,
nên nói: "Tất cả trong cửa tiếp độ, Phật tâm là bậc
nhất." Chỉ không tâm sanh tử phiền não v.v... tức không cần
đến pháp Bồ-đề v.v... nên nói "Phật nói tất cả pháp
để độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu dùng tất
cả pháp" (Tổ Huệ Năng). Từ Phật đến Tổ không luận việc
gì khác, chỉ luận một tâm, cũng nói là "Nhất thừa", nên
nói "tìm kỹ mười phương lại không có thừa khác, chúng
sanh này không còn nhánh lá, chỉ toàn hạt chắc (kinh Pháp
Hoa). Bởi vì ý này khó tìm, nên Tổ Ðạt-ma sang xứ này đến
hai nước Lương, Ngụy mà chỉ có một mình Huệ Khả đại
sư thầm tin tâm mình, ngay một câu nói liền lãnh hội "tức
tâm là Phật". Thân tâm đều không, ấy là đại đạo. Ðại
đạo xưa nay bình đẳng, nên nói "tin sâu chúng hàm sanh đồng
một chân tánh". Tâm tánh không khác, tức tánh tức tâm, tâm
không khác tánh, gọi đó là Tổ. Lại có câu: "Khi nhận được
tâm tánh, nên nói không nghĩ bàn."
Sau
này, Tướng quốc Bùi Hưu đến trấn Uyển Lăng lập đại
Thiền uyển thỉnh Sư làm hóa chủ ở đó. Vì mến núi cũ
nên Sư vẫn để hiệu là Hoàng Bá [Phần truyền dạy của
Sư cho Bùi Hưu đầy đủ, nên đọc phần sưu tập "Tối Thượng
Thừa Luận"].
*
Một
hôm, Sư thượng đường, đại chúng vân tập, Sư bảo:
- Các
ngươi! các ngươi muốn cầu cái gì?
Sư
cầm trượng đuổi chúng. Ðại chúng không tan. Sư lại ngồi
xuống bảo:
- Các
ngươi toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành khước để
cho người chê cười.
Thà
cam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chớ không thể
chịu sự ồn náo. Ta khi đi hành khước hoặc gặp dưới rễ
cỏ có cái ấy, là đem hết tâm tư xem xét nó. Nếu biết
ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Trong
lúc đó, nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gì
có việc ngày nay. Các ngươi đã xưng là hành khước, cần
phải có chút ít tinh thần như thế, mới có thể biết đạo.
Trong nước Ðại Ðường không có Thiền sư sao?
Có
vị Tăng ra hỏi:
- Bậc
tôn túc ở các nơi hợp chúng chỉ dạy, tại sao nói không
Thiền sư?
Sư
bảo:
- Chẳng
nói không thiền, chỉ nói không Sư. Xà-lê chẳng thấy sao,
dưới Mã Tổ Ðại sư có tám mươi bốn người ngồi đạo
tràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người,
Hòa thượng Lô Sơn Qui Tông là một trong số ấy.
Phàm
người xuất gia phải biết sự phần từ trước lại mới
được. Vả như, dưới Tứ Tổ, Ðại sư Ngưu Ðầu Pháp Dung
nói dọc nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng.
Có con mắt này mới biện được tông đảng tà chánh. Người
hiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ
nhầm trong đãy da tức chỗ đến an ổn, xưng là ta hội thiền,
lại thay việc sanh tử cho ngươi được chăng? Khinh thường
bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Ta vừa thấy
ngươi vào cửa liền biết được rồi. Lại biết chăng? Cần
kíp nỗ lực chớ dung dị. Thọ nhận chén cơm manh áo của
người mà để một đời qua suông, người sáng mắt chê cười.
Ngươi thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi. Phải
tự xem xa gần cái gì là việc trên mặt? Nếu hội liền hội,
nếu không hội giải tán đi. Trân trọng!
*
Sư
Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi:- Thế nào là đại ý Phật
pháp?
Sư
liền đập một gậy. Ðến ba phen hỏi, mỗi lần đều bị
một gậy. Sau cùng, Sư Lâm Tế phải từ giã Sư đi nơi khác.
Sư dạy qua tham vấn Ðại Ngu. Sau này, Lâm Tế đắc ngộ ý
chỉ của Sư.
*
Chỗ
chỉ dạy của Sư đều nhằm vào bậc thượng căn, người
trung và hạ khó thấy được yếu chỉ.
Ðời
Ðường khoảng niên hiệu Ðại Trung (847-860 T.L.), Sư tịch
tại núi Hoàng Bá.
Nhà
vua sắc thụy là Ðoạn Tế Thiền sư, tháp hiệu Quảng Nghiệp.
Sư
có làm bài kệ khích lệ chúng:
Trần lao quýnh thoát sự phi thường,
Hệ bã thằng đầu tố nhất trường.
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.
Dịch:
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Ðầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
*
37.
THIỀN SƯ ÐẠI AN
(?
- 883)
Sư
họ Trần, quê ở Phước Châu, xuất gia lúc còn bé, ở núi
Hoàng Bá chuyên học Kinh Luật. Sư thường tự nghĩ: "Ta tuy
cố gắng nhọc nhằn mà chưa nghe được lý huyền cực." (lý
cao siêu tột cùng của đạo) Do đó, Sư bèn một mình du phương,
định sang Hồng Châu, đi Thượng Nguyên gặp một ông già
bảo Sư: "Thầy nên đến Nam Xương sẽ có sở đắc." Sư liền
đi đến ra mắt Bá Trượng.
Lễ
bái xong, Sư thưa:- Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?
Bá
Trượng bảo:- Thật là người cỡi trâu tìm trâu.
- Sau
khi biết thì thế nào?
- Như
người cỡi trâu về đến nhà.
- Chẳng
biết trước sau gìn giữ thế nào?
- Như
người chăn trâu cầm roi dòm chừng không cho nó ăn lúa mạ
của người.
Sư
nhân đây lãnh hội ý chỉ, chẳng đi tìm đâu nữa.
*
Nhân
Thiền sư Linh Hựu khai sáng tại Qui Sơn, Sư đích thân đến
đó phụ tá. Ðến khi Linh Hựu tịch, đại chúng thỉnh Sư
tiếp nối trụ trì.
Sư
thượng đường bảo chúng:
- Cả
thảy các ngươi đến Ðại An này tìm cầu cái gì? Nếu muốn
làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang
nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn? Ví như con nai khát
nước mà chạy theo ánh nắng (ánh nắng giống như nước,
con nai lầm tưởng là nước cắm đầu chạy tìm), biết bao
giờ được khế hợp.
Các
ngươi muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm: điên
đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu đục, chẳng sạch
của chúng sanh, tức các ngươi là Phật chánh giác mới phát
tâm, lại đến chỗ riêng nào luận bàn. Sở dĩ, Ðại An này
ở tại núi Qui ba mươi năm, ăn cơm núi Qui, đại tiện núi
Qui, mà không học thiền núi Qui, chỉ coi chừng con trâu. Nếu
nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu nó
ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó.
Ðáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi
thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ
sờ đuổi cũng chẳng đi.
Cả
thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ
cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa
lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành
dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng quang sáng, cũng gọi
là phóng quang tam-muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận
bóng trong thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ
không dám chinh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu
khỉ, không dám để sẩy chân. Hãy nói vật gì có thể gìn
giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ, một sợi tóc
có thể thấy. Ðâu chẳng nghe Hòa thượng Chí Công nói: "Trong
ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trên cảnh thi vi gồm tất cả."
Trân
trọng!
*
Có
vị Tăng hỏi Sư:
- Tất
cả thi vi là dụng của pháp thân, thế nào là pháp thân?
Sư
đáp:- Tất cả thi vi là dụng của pháp thân.
- Lìa
năm uẩn, thế nào là thân xưa nay?
- Ðất
nước gió lửa, thọ tưởng hành thức.
- Cái
ấy là năm uẩn?
- Cái
ấy là năm uẩn.
*
Tăng
hỏi:- Khi ấm này đã mất, ấm kia chưa sanh thì thế nào?
Sư
bảo:- Ấm này chưa mất, cái gì là Ðại đức?
- Chẳng
hội.
- Nếu
hội ấm này liền rõ ấm kia.
*
Hòa
thượng Tuyết Phong nhân vào núi lượm được một nhánh cây
hình giống con rắn, đề trên lưng một câu: "vốn tự thiên
nhiên chẳng nhờ bào gọt", gởi tặng Sư.
Sư
nhận, nói:- Người bản sắc ở núi, vẫn không vết dao búa.
*
Có
người hỏi Sư:- Phật ở chỗ nào?
Sư
đáp:- Chẳng lìa tâm.
- Người
trên hai ngọn có được cái gì?
- Pháp
không có chỗ được, dù có chỗ được, được vốn không
được.
*
Sư
giáo hóa ở thành Mân (tỉnh Phước Kiến) hơn hai mươi năm.
Ðời
Ðường niên hiệu Trung Hòa năm thứ ba (883 T.L.), ngày hai mươi
hai tháng mười, Sư trở về chùa Hoàng Bá, có chút bệnh rồi
tịch. Môn đồ xây tháp thờ Sư trên núi Lăng-già.
Vua
ban hiệu là Viên Trí Thiền sư, tháp hiệu Chứng Chơn.
*
38.
THIỀN SƯ THẦN TÁN
Sư
quê ở Phước Châu, xuất gia tại chùa Ðại Trung quận nhà.
Sau, Sư đi hành khước gặp Bá Trượng Hoài Hải chỉ dạy
được khai ngộ.
Sư
trở về quê, bổn sư hỏi:
- Ngươi
rời ta đi các nơi, đã được sự nghiệp gì?
Sư
thưa:- Hoàn toàn không có sự nghiệp.
Bổn
sư sai hầu hạ như trước.
*
Một
hôm, nhân bổn sư tắm, bảo Sư kỳ đất. Sư bèn vỗ vào
lưng bổn sư nói:
- Chỗ
điện Phật đẹp mà Phật chẳng thánh.
Bổn
sư xoay đầu ngó lại.
Sư
nói tiếp:
- Phật
tuy chẳng thánh vẫn hay phóng quang.
*
Lại
một hôm, bổn sư ngồi trong cửa sổ xem kinh, có con ong chui
đầu vào tấm giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra. Sư trông
thấy nói:
- Thế
giới thênh thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào
giấy cũ biết năm nào ra được?
Sư
liền nói bài kệ:
Không môn bất khẳn xuất
Ðầu song dã thái si
Bách niên tán cổ chỉ
Hà nhật xuất đầu thì?
Dịch:
Cửa không chẳng chịu ra
Quá ngu chui cửa sổ
Giấy cũ trăm năm dùi
Ngày nào dùi được phủng?
Bổn sư để kinh xuống hỏi:
- Ngươi
đi hành khước gặp người nào, ta trước sau nghe ngươi nói
lời dị thường?
Sư
thưa:
- Con
nhờ ơn Hòa thượng Bá Trượng chỉ dạy được chỗ thôi
dứt, nay muốn đáp lại đức từ bi.
Bổn
sư bèn bảo chúng đến giờ trai, thỉnh Sư thuyết pháp. Sư
lên tòa đề cao môn phong của Bá Trượng, nói:
- Linh
Hòa ngọc sáng quang riêng chiếu vượt khỏi căn trần, bày
hiện chân thường chẳng câu nệ văn tự. Tâm tánh không nhiễm
vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Bổn
sư nghe câu này liền cảm ngộ, bảo:
- Có
khi nào Lão tăng nghe được việc tột thế này!
*
Sau,
Sư đến trụ trì tại chùa Cổ Linh, giáo hóa đồ chúng được
mấy trăm. Sắp tịch, Sư cạo tóc tắm gội bảo đánh chuông,
gọi chúng dặn:
- Cả
thảy các ngươi có biết chánh định không tiếng tăm chăng?
Chúng
thưa:- Chẳng biết.
Sư
bảo:- Các ngươi lắng nghe chớ có suy nghĩ riêng.
Chúng
đều lắng nghe. Sư an nhiên thị tịch.
*
39.
THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG
(?
- 826)
Sư
họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm
xứ Vũ Châu. Tánh Sư điềm đạm ít nói mà thông minh, nên
thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.
Sư
lễ Phật, có một Thiền khách hỏi:- Tọa chủ lễ đó là
cái gì?
Sư
đáp:- Là Phật.
Thiền
khách bèn chỉ tượng Phật hỏi:- Cái này là Phật gì?
Sư
không đáp được.
Ðến
tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ Thiền khách, thưa:
- Hôm
nay Thầy hỏi, tôi chưa biết ý chỉ thế nào?
Thiền
khách hỏi:- Tọa chủ được mấy hạ?
Sư
thưa:- Mười hạ.
Thiền
khách bảo:- Ðã từng xuất gia chưa?
Sư
càng thêm mờ mịt.
Thiền
khách khuyên Sư đồng đến tham học với Mã Tổ. Ði đến
Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bá
Trượng Hoài Hải.
*
Một
hôm, trong giờ tham vấn, có vị Tăng hỏi Bá Trượng:
- Thế
nào là pháp môn đốn ngộ của Ðại thừa?
Bá
Trượng đáp:
- Ðất
tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu.
Nghe
câu này, Sư hoát nhiên đại ngộ.
*
Sau,
Sư về Quảng Châu trụ trì tại chùa Hòa An.
Có
người hỏi:- Thầy phải Thiền sư chăng?
Sư
đáp:- Bần đạo chẳng từng học thiền.
Sư
lặng thinh giây lâu, gọi người kia:
Người
kia đáp:- Dạ!
Sư
chỉ cây tông lư (cây móc).
*
Một
hôm, Sư bảo Huệ Tịch đem giườ