ĐỜI THỨ
BA SAU LỤC TỔ
A Phái
Hành Tư.
9.
Thiền sư Duy Nghiễm (Dược Sơn)
10.
Thiền sư Thiên Nhiên (Ðơn Hà)
11.
Thiền sư Ðạo Ngộ (Thiên Hoàng Tự)
12.
Thiền sư Bảo Thông (Ðại Ðiên)
B.
Phái Hoài Nhượng.
13.
Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)
14.
Thiền sư Phổ Nguyện (Nam Tuyền)
15.
Thiền sư Huệ Hải (Ðại Châu)
16.
Thiền sư Ẩn Phong (Ðặng Ẩn Phong)
17.
Thiền sư Huệ Tạng (Thạch Củng)
18.
Thiền sư Trí Tạng (Tây Ðường)
19.
Thiền sư Trí Thường (Qui Tông)
20.
Thiền sư Pháp Thường (Ðại Mai)
21.
Thiền sư Vô Nghiệp.
22.
Thiền sư Ðạo Ngộ (Thiên Vương Tự)
23.
Thiền sư Linh Mặc.
24.
Thiền sư Duy Khoan.
25.
Thiền sư Như Hội.
26.
Thiền sư Bảo Triệt (Ma Cốc)
27.
Thiền sư Tề An.
28.
Cư sĩ Long Uẩn.
9.
THIỀN SƯ DUY NGHIỄM
Dược
Sơn - (751-834)
Sư
họ Hàn, quê ở Ráng Châu. Năm mười bảy tuổi, Sư theo Thiền
sư Huệ Chiếu ở Tây Sơn Triều Dương xuất gia. Ðời Ðường
niên hiệu Ðại Lịch thứ tám (774 T.L.) Sư thọ đại giới
nơi Luật sư Hy Tháo ở Hoành Nhạc. Sư học thông kinh luận,
nghiêm trì giới luật. Một hôm, Sư tự than:
- Ðại
trượng phu phải rời pháp tự tịnh, đâu thể theo việc vụn
vặt, làm hạnh áo khăn này.
Sư
tìm đến Thiền sư Hy Thiên (Thạch Ðầu) hỏi:
- Ðối
Tam thừa mười hai phần giáo, con còn hiểu biết thô sơ, đến
như thường nghe phương Nam nói "chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật", thật con mù tịt. Cúi mong Hòa thượng từ
bi chỉ dạy.
Thiền
sư Hy Thiên bảo:
- Thế
ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được,
thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao?
Sư
mờ tịt không hiểu.
Thiền
sư Hy Thiên bảo:
- Nhân
duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến chỗ Mã Ðại
sư (Ðạo Nhất).
Sư
vâng lệnh đến yết kiến Thiền sư Ðạo Nhất (Mã Tổ).
Sư thưa lại câu đã thưa với Thiền sư Hy Thiên.
Thiền
sư Ðạo Nhất bảo:
- Ta
có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướng
mày chớp mắt; có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có
khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?
Ngay
câu nói này, Sư liền khế ngộ, bèn lễ bái.
Thiền
sư Ðạo Nhất hỏi:- Ngươi thấy đạo lý gì lễ bái?
Sư
thưa:- Con ở chỗ Thạch Ðầu như con muỗi đậu trên trâu
sắt.
Thiền
sư Ðạo Nhất bảo:- Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn
giữ.
Sư
ở đây hầu hạ ba năm.
Một
hôm Thiền sư Ðạo Nhất hỏi:- Ngày gần đây chỗ thấy của
ngươi thế nào?
Sư
thưa:- Da mỏng da dày đều rớt sạch, chỉ có một chân thật.
Thiền
sư Ðạo Nhất bảo:
- Sở
đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi.
Ðã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy
chỗ ở núi đi.
Sư
thưa:- Con là người gì dám nói ở núi?
Thiền
sư Ðạo Nhất bảo:
- Chẳng
phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường
đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn
làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây
lâu.
Sư
từ giã Mã Tổ trở về Thạch Ðầu.
*
Một
hôm Sư ngồi trên cục đá, Thạch Ðầu trông thấy hỏi:
- Ngươi
ở đây làm gì?
Sư
thưa:- Tất cả chẳng làm.
- Tại
sao ngồi yên?
- Nếu
ngồi yên tức làm.
- Ngươi
nói chẳng làm, chẳng làm cái gì?
- Ngàn
thánh cũng không biết.
Thạch
Ðầu dùng kệ khen:
Tùng lai cộng trụ bất tri danh
Nhậm vận tương tương chỉ ma hành
Tự cổ thượng hiền du bất thức
Tạo thứ phàm lưu khởi khả minh.
Dịch:
Chung ở từ lâu chẳng biết chi
Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi
Thượng hiền từ trước còn chẳng biết
Huống bọn phàm phu đâu dễ tri.
Thạch
Ðầu dạy:- Nói năng động dụng chớ giao thiệp.
Sư
thưa:- Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.
- Ta
trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.
- Con
trong ấy như trồng hoa trên đá.
Thạch
Ðầu ấn khả.
*
Sau
Sư đến ở Dược Sơn Lễ Châu, đồ chúng theo học rất đông.
Một hôm, Sư ngồi, Ðạo Ngô, Vân Nham đứng hầu. Sư chỉ
hai cây, một tươi, một khô đứng trên núi, hỏi Ðạo Ngô:
- Khô
là phải hay tươi là phải?
Ðạo
Ngô thưa:- Tươi là phải.
Sư
bảo:- Sáng tỏ tất cả chỗ, quang minh xán lạn.
Sư
lại hỏi Vân Nham:- Khô là phải hay tươi là phải?
Vân
Nham thưa:- Khô là phải.
Sư
bảo:- Sáng tỏ tất cả chỗ, thôi dạy khô lạt.
Chợt
Sa-di Cao đến. Sư hỏi:- Khô là phải hay tươi là phải?
Sa-di
Cao thưa:
- Khô
là từ nơi khác mà khô, tươi là từ nơi khác mà tươi. Sư
nhìn Ðạo Ngô, Vân Nham bảo:
- Chẳng
phải, chẳng phải.
*
Viện
chủ thưa:- Ðánh chuông rồi, thỉnh Hòa thượng thượng đường.
Sư
bảo:- Ông bưng giùm bát cho tôi.
- Hòa
thượng không tay từ bao giờ?
- Ông
chỉ là uổng mặc ca-sa.
- Con
chỉ là thế, Hòa thượng thì sao?
- Ta
không quyến thuộc ấy.
*
Thấy
thầy Tri viên trồng rau, Sư bảo:
- Trồng
thì không ngăn ngươi trồng, chớ cho nó mọc rễ.
Thầy
Tri viên thưa: - Không cho mọc rễ thì đại chúng lấy gì ăn?
Sư
bảo:- Ngươi có miệng sao?
Thầy
Tri viên không đáp được.
*
Có
vị Tăng hỏi:
- Tổ
sư chưa đến nước này (Trung Hoa), nước này có ý Tổ sư
chăng?
Sư
đáp:- Có.
- Ðã
có ý Tổ sư, lại đến làm gì?
- Bởi
có, cho nên đến.
*
Sư
xem kinh, có vị Tăng thấy, hỏi:
- Hòa
thượng bình thường không cho chúng con xem kinh, vì sao Hòa
thượng lại xem?
Sư
đáp:- Ta xem chỉ để che mắt.
- Chúng
con học theo Hòa thượng được chăng?
- Nếu
các ngươi xem thì da trâu cũng lủng.
*
Thích
sử Lý Tường ở Lãng Châu, nghe danh Sư, nhiều phen sai người
đến thỉnh mà Sư không đi. Ông đích thân lên núi yết kiến
Sư. Sư cầm quyển kinh xem không nhìn lại. Thị giả bạch:
- Thái
thú đến đây!
Lý
Tường tánh nóng nảy nói:- Thấy mặt không bằng nghe danh.
Sư
gọi:- Thái thú!
Lý
Tường:- Dạ!
Sư
bảo:- Sao lại quí lỗ tai mà khinh con mắt?
Lý
Tường chấp tay xin lỗi, rồi hỏi:- Thế nào là đạo?
Sư
lấy tay chỉ trên, chỉ dưới, hỏi:- Hội chăng?
Tường
thưa:- Chẳng hội.
Sư
bảo:- Mây ở trời xanh, nước trong bình. (Vân tại thanh thiên,
thủy tại bình.)
Lý
Tường vui mừng thỏa thích làm lễ, trình một bài kệ:
Luyện đắc thân hình tợ nhạn hình
Thiên châu tùng hạ lưỡng hàm kinh
Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết
Vân tại thanh thiên thủy tại bình.
Dịch:
Luyện được thân hình giống nhạn hình
Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh
Ta tìm hỏi đạo không lời khác
Mây ở trời xanh, nước trong bình.
Tường
lại hỏi:- Thế nào là giới định tuệ?
Sư
bảo:- Bần đạo trong ấy không có gia cụ nhàn này.
Lý
Tường không lường nổi huyền chỉ.
Sư
lại bảo:- Thái thú muốn gìn giữ được việc này, cần
phải tiến lên ngọn núi cao chót vót mà ngồi, xuống tận
đáy biển sâu mà đi, việc trong khuê các nếu bỏ chẳng được
bèn là lủng chảy.
*
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Tổ
sư chỉ dạy bảo hộ, nếu tham sân khởi lên cần phải phòng
ngự, chớ cho khởi dậy. Các ngươi muốn biết cây khô ở
Thạch Ðầu cần phải gánh vác, trọn không có cành lá. Tuy
nhiên như thế, lại phải tự xem, không được bặt ngôn ngữ.
Nay ta vì các ngươi nói ngôn ngữ ấy để hiển bày không
ngôn ngữ, cái này xưa nay không tướng mạo tai mắt...
*
Một
hôm Sư lên núi đi kinh hành, chợt mây tan thấy trăng sáng,
Sư cười to một tiếng, vang xa gần chín mươi dặm. Dân chúng
ở xa nghe tiếng, hôm sau tìm đến hỏi Tăng chúng. Tăng chúng
bảo:
- Ðó
là tiếng của Hòa thượng đêm qua ở trên núi cười.
Lý
Tường nghe việc này lại làm bài thơ tặng:
Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh
Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.
Dịch:
Chọn nơi xa vắng hợp lòng quê
Năm tròn mặc khách đến hay về
Có khi tiến thẳng lên đảnh núi
Mây tan trăng hiện tiếng cười hề!
*
Ðời
Ðường niên hiệu Thái Hòa, năm thứ tám (834 T.L.) tháng hai,
sắp thị tịch, Sư kêu to:
Pháp
đường ngã! Pháp đường ngã!
Ðại
chúng đều mang cột đến chống.
Sư
khoát tay bảo:- Các ngươi không hiểu ý ta.
Sư
bèn từ giã chúng thị tịch, thọ tám mươi bốn tuổi, sáu
mươi tuổi hạ.
Vua
sắc phong là Hoàng Ðạo Ðại sư, tháp hiệu là Hóa Thành.
*
10.
THIỀN SƯ THIÊN NHIÊN
Ðơn
Hà - (738 - 824)
Không
biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết Sư trước học Nho đi
vào Trường An ứng cử, dừng nghỉ ở nhà trọ, chợt mộng
thấy hào quang trắng đầy nhà. Người chiếm mộng đoán:
"điềm hiểu Không". Gặp một Thiền khách hỏi:
- Nhân
giả đi đâu?
Sư
đáp:- Ði thi làm quan.
- Thi
làm quan đâu bằng thi làm Phật?
- Thi
làm Phật phải đến chỗ nào?
- Hiện
nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư ra đời, là trường thi làm
Phật, nhân giả nên đến đó.
Sư
bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã Ðại sư (Ðạo Nhất).
Vừa thấy Mã Ðại sư, Sư bèn lấy tay giở chiếc khăn trên
đầu.
Mã
Ðại sư nhìn giây lâu bảo:- Nam Nhạc Thạch Ðầu là thầy
của ngươi.
Sư
từ giã Mã Ðại sư đi sang Thạch Ðầu.
Ðến
Thạch Ðầu, Sư cũng làm giống như ở Mã Ðại sư.
Thạch
Ðầu bảo:- Ra nhà đi.
Sư
lễ tạ xong, vào phòng cư sĩ, luân phiên làm bếp ngót ba năm.
*
Một
hôm Thạch Ðầu bảo chúng:- Ngày mai cắt cỏ ở trước điện
Phật.
Sáng
hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến
trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội
đầu, đến quì gối trước Hòa thượng. Thạch Ðầu thấy
thế cười, liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong Thạch Ðầu lại
vì Sư nói giới. Sư bịt tai ra đi.
Sư
trở lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư. Chưa lễ ra mắt,
Sư đi thẳng về tăng đường trèo lên cổ tượng Thánh tăng
ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Ðại sư hay. Mã
Ðại sư đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói:
- Con
ta, Thiên Nhiên.
Sư
bèn bước xuống đất lễ bái, thưa:- Cảm tạ Thầy ban cho
pháp hiệu.
Mã
Ðại sư hỏi:- Từ đâu đến?
Sư
thưa:- Từ Thạch Ðầu đến.
- Ðường
Thạch Ðầu trơn, ngươi có té chăng?
- Nếu
có trợt té thì chẳng đến đây.
*
Từ
biệt Mã Tổ, Sư đi dọc đường gặp một ông già dắt một
đứa bé.
Sư
hỏi:- Ông nhà ở đâu?
Ông
già đáp: - Trên là trời dưới là đất.
Sư
bảo:- Chợt gặp trời đổ đất sụp thì sao?
Ông
già đáp: - Trời xanh! Trời xanh!
Ðứa
bé: hư! một tiếng.
Sư
bảo:- Không phải cha này chẳng sanh được đứa con kia.
Ông
già dắt đứa bé vào núi mất.
*
Sư
đi du phương, đến núi Thiên Thai, chót Hoa Ðảnh dừng ở
ba năm, sau đó, Sư viếng những nơi như Cảnh Sơn yết kiến
Thiền sư Quốc Nhất. Ðời Ðường khoảng niên hiệu Nguyên
Hòa (806-821 T.L.) Sư đến Lạc Kinh Long Môn Hương Sơn làm bạn
với Hòa thượng Phục Ngưu. Sư lại đến chùa Huệ Lâm, gặp
lúc trời đại hàn, Sư bèn thỉnh tượng Phật gỗ đốt để
hơ, Viện chủ Hướng trông thấy quở:
- Sao
đốt tượng Phật của tôi?
Sư
lấy gậy bới tro nói:- Tôi thiêu để lấy xá-lợi.
Viện
chủ bảo:- Phật gỗ làm gì có xá-lợi.
Sư
nói:- Ðã không có xá-lợi thì thỉnh thêm hai vị nữa thiêu.
Viện
chủ nghe câu nói này tất cả chấp đều tan vỡ.
*
Một
hôm, Sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung, trước hỏi thị
giả:
- Quốc
sư có ở nhà chăng?
Thị
giả bảo:- Ở nhà thì ở mà không thấy khách.
Sư
bảo:- Rất sâu xa thay!
Thị
giả bảo:- Mắt Phật cũng nhìn chẳng thấy.
Sư
khen:- Rồng sanh rồng con, phụng sanh phụng con.
Quốc
sư ngủ dậy, thị giả thuật lại, Quốc sư đánh thị giả
hai chục gậy đuổi ra.
Sư
nghe việc ấy bèn nói:- Không lầm là Nam Dương Quốc sư.
*
Hôm
sau, Sư lại đến yết kiến Quốc sư, thấy Quốc sư, Sư bèn
trải tọa cụ. Quốc sư bảo:
- Chẳng
dùng, chẳng dùng.
Sư
bước lui.
Quốc
sư bảo:- Như thế, như thế.
Sư
tiến lại trước.
Quốc
sư bảo: - Chẳng phải, chẳng phải.
Sư
đi quanh Quốc sư một vòng rồi lui ra.
Quốc
sư bảo:- Cách Phật đã xa người nhiều lười biếng, ba mươi
năm sau tìm kẻ này lại khó được.
*
Sư
đến thăm cư sĩ Long Uẩn, thấy con gái Long Uẩn là Linh Chiếu
đang rửa rau, Sư hỏi:
- Cư
sĩ có nhà chăng?
Linh
Chiếu buông rổ rau xuống, đứng khoanh tay.
Sư
lại hỏi:- Cư sĩ có nhà chăng?
Linh
Chiếu bèn bưng rổ rau lên đi thẳng.
Sư
bèn trở về. Chốc lát sau, Long Uẩn về. Linh Chiếu đem việc
rồi thuật lại. Long Uẩn hỏi:
- Ðơn
Hà ở đâu?
Linh
Chiếu thưa:- Ðã về.
Long
Uẩn bảo:- Con lấy đất đỏ nặn trâu.
Lại
một hôm, Sư đến thăm Long Uẩn, vừa đến cửa gặp nhau.
Sư
hỏi:- Cư sĩ có nhà chăng?
Long
Uẩn đáp:- Ðói chẳng chọn thức ăn.
Sư
lại hỏi:- Ông Long có nhà chăng?
Long
Uẩn đáp:- Trời xanh! trời xanh!
Nói
xong Long Uẩn vào nhà.
Sư
nói:- Trời xanh! trời xanh!
Nói
xong Sư trở về.
Hôm
sau, Sư lại đến Long Uẩn, Sư bảo:
- Hôm
qua thấy nhau đâu giống ngày nay.
Long
Uẩn đáp:- Ðúng pháp nhắc lại việc hôm qua để làm con
mắt quí.
- Chỉ
như con mắt quí lại xem đến Long công chăng?
- Tôi
ở trong con mắt của Thầy.
- Con
mắt tôi chật hẹp chỗ nào an thân?
- Là
con mắt gì chật? là thân nào an?
Sư
thôi bỏ đi.
Long
Uẩn nói:- Lại nói lấy một câu là được tròn lời này.
Sư
vẫn không nói.
Long
Uẩn lại nói:- Tựu trung một câu cũng không người nói được.
*
Ðời
Ðường niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808 T.L.) một hôm, Sư
nằm ngang trên cầu Thiên Tân. Hội lưu thú là Trịnh Công
ra đuổi mà Sư không dậy. Trịnh Công gạn hỏi duyên do. Sư
chậm rãi đáp:
- Tăng
vô sự.
Trịnh
Công lấy làm lạ, phát tâm dâng hai bó lụa và hai áo ngắn.
Từ đây mỗi ngày, Trịnh Công thường dâng cúng gạo bún.
Dân chúng ở kinh đô Lạc Dương đồng qui kính Sư.
*
Ðến
niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm (820 T.L.) vào mùa Xuân,
Sư bảo đồ đệ:
- Ta
nhớ suối rừng chỗ gởi thân ngày già.
Môn
đệ sai Tề Tịnh Phương đến Nam Dương núi Ðơn Hà cất
am cúng dường. Sư về núi Ðơn Hà khoảng ba năm, những người
học đạo tìm đến tham học số thường đến ba trăm. Chúng
xây cất thành viện lớn.
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Tất
cả các ngươi đều phải bảo hộ một vật linh, chẳng phải
các ngươi tạo tác danh mạo, lại nói gì là tiến cùng chẳng
tiến. Ta ngày xưa yết kiến Hòa thượng Thạch Ðầu cũng
chỉ dạy cần phải tự bảo hộ. Việc này không phải tự
các ngươi nói bàn mà được. Tất cả mỗi người các ngươi
đều tự có một chỗ đất ngồi, lại nghi cái gì? Thiền
đâu phải là vật để các ngươi hiểu, đâu có Phật khá
thành. Một chữ Phật hằng không thích nghe. Các ngươi tự
xem, thiện xảo phương tiện từ bi hỉ xả chẳng phải từ
ngoài được, chẳng dính một tấc vuông, thiện xảo là Văn-thù,
phương tiện là Phổ Hiền. Các ngươi lại nghĩ tìm đuổi
vật gì? Chẳng cần hằng cầu, chẳng rơi vào không. Học
giả thời nay lăng xăng lộn xộn cho là tham thiền hỏi đạo.
Ta dạo này không đạo có thể tu, không pháp có thể chứng,
miếng ăn thức uống mỗi cái tự có phần, đâu cần phải
nghi ngờ. Mỗi nơi mỗi chỗ có cái gì? Nếu biết Thích-ca
tức là ông già phàm phu, các ngươi phải tự xem xét lấy.
Chớ để một người mù dẫn đám mù kéo nhau rơi vào hầm
lửa, đêm tối hai đường, màu sắc mập mờ. Vô sự trân
trọng!
*
Có
vị Tăng đến tham học, vừa tới chân núi gặp Sư. Tăng hỏi:
- Núi
Ðơn Hà phải đi đường nào?
Sư
chỉ núi bảo:- Chỗ xanh sâm sẩm.
Tăng
thưa:- Chớ chỉ cái ấy là phải sao?
Sư
bảo:- Thật sư tử con, một phen khêu động liền nhảy.
*
Sư
hỏi vị Tăng:- Nghỉ ở đâu?
Tăng
thưa:- Nghỉ dưới núi.
- Ăn
cơm chỗ nào? Người đem cơm cho Xà-lê ăn có đủ mắt không?
Tăng
không đáp được.
*
Niên
hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824 T.L.) ngày hai mươi ba tháng
sáu, Sư gọi đệ tử bảo:
- Lấy
nước nóng tắm, ta sắp đi đây.
Tắm
xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa
đến đất liền tịch, thọ tám mươi sáu tuổi. Vua sắc phong
là Trí Thông Thiền sư, tháp hiệu Diệu Giác.
*
Sư
có làm hai bài "Ngoạn Châu Ngâm", hiện còn lưu hành.
*
11.
THIỀN SƯ ÐẠO NGỘ
Thiên
Hoàng Tự - (747 - 806)
[Ðạo
Ngộ có hai vị đồng thời đồng xứ, một vị ở chùa Thiên
Hoàng đệ tử Thạch Ðầu, một vị ở chùa Thiên Vương đệ
tử Mã Tổ. Truyền Ðăng Lục chép một vị là sai.]
Sư
họ Trương, quê ở Ðông Dương, Vụ Châu. Lúc bé, Sư dung
nghi thù đặc, không học mà biết. Năm mười bốn tuổi, Sư
xin cha mẹ xuất gia, cha mẹ không cho, Sư thệ bớt ăn bớt
uống, mỗi ngày ăn một bữa, dần dần thân thể tiều tụy.
Cha mẹ bất đắc dĩ hứa cho Sư xuất gia.
Sư
xuất gia với Ðạo Ðức ở Minh Châu. Năm hai mươi lăm tuổi,
Sư đến chùa Trúc Lâm ở Hoàng Châu thọ giới cụ túc. Sư
tinh tấn tu hành giới luật trang nghiêm. Ban đêm, Sư thường
ra gò mả ngồi thiền, không kể gió mưa, chẳng chút sợ sệt.
Sau,
Sư đến Cảnh Sơn yết kiến Thiền sư Quốc Nhất, nhận được
tâm pháp, ở lại đây hầu năm năm. Niên hiệu Ðại Lịch
(766 T.L.), Sư đến Chung Lăng yết kiến Mã Tổ, chỉ được
ấn định lại những chỗ hiểu trước, không có pháp gì
khác. Sư dừng lại đây hai năm.
Sư
lại đến yết kiến Thạch Ðầu. Ðến Thạch Ðầu, Sư hỏi:
- Lìa
định tuệ lấy pháp gì dạy người?
Thạch
Ðầu đáp:- Ta trong ấy không có nô tỳ, lìa cái gì?
- Thế
nào rõ được?
- Ngươi
chụp được hư không chăng?
- Thế
ấy tức chẳng từ ngày nay đi.
- Chưa
biết bao giờ ngươi từ bên này đến?
- Ðạo
Ngộ chẳng phải người bên này.
- Ta
đã biết trước chỗ ngươi đến.
- Sao
Thầy lấy tang vật vu khống người?
- Thân
ngươi hiện tại.
- Tuy
nhiên như thế, cứu kính làm sao chỉ dạy người sau?
- Ngươi
nói ai là người sau?
Sư
nhân đây đốn ngộ, đối với lời dạy của hai vị thầy
trước tâm còn sở đắc, nơi đây sạch hết dấu vết.
*
Về
sau Sư đến Kinh Châu ở núi Sài Tử Ðương Dương, học chúng
theo học rất đông. Dân chúng trong đô thành nghe danh lũ lượt
kéo đến tham vấn. Trong đô thành có chùa Thiên Hoàng là nơi
danh lam, bị hỏa hoạn hư sập, thầy trụ trì là Linh Giám
tìm cách xây cất lại. Linh Giám ước rằng: "Nếu được
Thiền sư Ðạo Ngộ về làm Hóa chủ ở đây là phước lớn
của ta." Lúc nửa đêm, Linh Giám đến cầu thỉnh Sư, Sư hoan
hỉ nhận chịu. Từ đây về sau, Sư dựng trụ ở chùa Thiên
Hoàng.
Có
Bùi Công đến cúi đầu hỏi pháp, Sư trọn không đưa đón.
Bùi Công càng kính trọng. Ðối với khách, Sư không phân biệt
sang hèn đều ngồi chào họ.
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là nói huyền diệu?
Sư
đáp:- Chớ bảo ta hiểu Phật pháp.
- Nỡ
để học nhân đeo nghi mãi sao?
- Sao
chẳng hỏi Lão tăng?
- Hỏi
rồi.
- Ði!
Không phải chỗ ngươi ngụ.
Ðời
Ðường niên hiệu Nguyên Hòa (806 T.L.) tháng tư, Sư có chút
bệnh bảo đệ tử báo trước ngày tịch. Ðến ngày cuối
tháng, chúng họp nhau đến thăm bệnh Sư. Bỗng nhiên, Sư gọi:
Ðiển tọa! Ðiển tọa lại gần, Sư bảo:
- Hội
chăng?
Ðiển
tọa thưa:
- Chẳng
hội.
Sư
cầm chiếc gối ném xuống đất, rồi từ biệt chúng thị
tịch. Sư thọ sáu mươi tuổi, ba mươi lăm tuổi hạ.
*
12.
THIỀN SƯ BẢO THÔNG
(Ðại
Ðiên)
Không
biết quê quán và tên tộc của Sư. Chỉ biết buổi đầu
Sư đến tham vấn Thạch Ðầu. Thạch Ðầu hỏi:
- Cái
gì là tâm ngươi?
Sư
thưa:- Nói năng là tâm.
Bị
Thạch Ðầu nạt đuổi ra.
Hơn
một tuần, Sư lại đến hỏi:
- Trước
đó đã chẳng phải, ngoại trừ cái này, gì là tâm?
Thạch
Ðầu bảo:- Trừ bỏ nhướng mày chớp mắt, đem tâm lại!
- Không
tâm có thể đem lại.
- Nguyên
lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm trọn đồng với không.
Nghe
câu nói ấy, Sư đại ngộ.
*
Một
hôm Sư đứng hầu, Thạch Ðầu hỏi:
- Ngươi
là Tăng tham thiền hay là Tăng châu huyện?
Sư
thưa:- Tăng tham thiền.
- Sao
là thiền?
- Nhướng
mày chớp mắt.
- Trừ
ngoài nhướng mày chớp mắt, đem "bản lai diện mục" (bộ
mặt thật xưa nay) của ngươi ra trình xem?
- Trừ
ngoài nhướng mày chớp mắt, thỉnh Hòa thượng xem con!
- Ta
trừ xong.
- Con
trình Hòa thượng rồi.
- Ngươi
đã đem trình, tâm ta thế nào?
- Chẳng
khác Hòa thượng.
- Không
quan hệ việc ngươi.
- Vốn
không vật.
- Ngươi
cũng không vật.
- Ðã
không vật tức vật thật.
- Vật
thật không thể được. Tâm ngươi thấy lượng ý chỉ như
vậy phải khéo hộ trì.
*
Sau,
Sư từ biệt Thạch Ðầu đến Linh Sơn, Triều Châu, ở ẩn.
Học chúng bốn phương qui tụ về khá đông.
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Phàm người học đạo phải biết bản tâm nhà mình, đem
tâm chỉ nhau mới có thể thấy đạo. Thấy nhóm người hiện
thời phần nhiều chỉ nhận nhướng mày chớp mắt, một nói
một nín, chợt nhận ấn khả cho là tâm yếu, đây thật là
chưa rõ. Nay ta vì các ngươi nói trắng ra, mỗi người phải
lắng nghe nhận lấy: "Chỉ trừ bỏ tất cả vọng động tưởng
niệm xét lường, tức chân tâm của ngươi." Tâm này cùng
trần cảnh và khi kềm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính
dấp. Tức tâm là Phật không đợi tu sửa. Vì cớ sao? Vì
hợp cơ tùy chiếu, lặng lẽ tự dùng, tột chỗ dùng kia trọn
không thể được. Bảo là diệu dụng chính là bản tâm, cần
yếu hộ trì chớ nên dễ ngươi.
Có
vị Tăng hỏi:- Trong kia, khi người thấy nhau thì thế nào?
Sư
đáp:- Trước chẳng có trong kia.
- Trong
kia thế nào?
- Chẳng
hỏi câu ấy.
*
Hàn
Văn Công hỏi Sư:- Hòa thượng tuổi được bao nhiêu?
Sư
cầm xâu chuỗi giở lên bảo:- Hội chăng?
Văn
Công thưa:- Chẳng hội.
Sư
bảo:- Ngày đêm trăm lẻ tám.
Văn
Công không hiểu trở về.
Hôm
sau, Văn Công lại đến, vừa tới cửa gặp Thủ tọa, Văn
Công thuật câu nói hôm qua của Sư, hỏi ý kiến thế nào?
Thủ tọa vỗ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp Sư, hỏi
lại ý kiến hôm qua. Sư cũng vỗ răng ba cái.
Văn
Công thưa:- Nguyên lai Phật pháp không hai thứ.
Sư
hỏi:- Là đạo lý gì?
Văn
Công thưa:- Vừa đến hỏi Thủ tọa cũng như thế.
Sư
gọi Thủ tọa hỏi:- Phải ngươi đáp như thế chăng?
Thủ
tọa thưa:- Phải.
Sư
đánh đuổi ra.
Lại
một hôm Văn Công đến bạch Sư:
- Ðệ
tử ở quận châu nhiều việc, xin Thầy cho một câu tóm tắt
hết Phật pháp.
Sư
lặng thinh.
Văn
Công mờ mịt.
Lúc
ấy Tam Bình làm thị giả đứng hầu, bèn gõ giường thiền
ba cái.
Sư
hỏi:- Làm gì?
Tam
Bình thưa:- Trước lấy định động, sau lấy trí nhổ.
Văn
Công thưa:- Môn phong Hòa thượng cao vót, đệ tử từ bên
thị giả được chỗ vào.
*
Có
vị Tăng hỏi:- Biển khổ sóng to lấy gì làm thuyền bè?
Sư
bảo:- Lấy cây làm thuyền bè.
- Thế
nào được qua?
- Người
mù nương kẻ mù trước, người câm nương kẻ câm trước.
Không
biết Sư tịch lúc nào và nơi nào.
13.
THIỀN SƯ HOÀI HẢI
Bá
Trượng - (724 - 814)
Sư
họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phước Châu. Lúc bé theo mẹ
đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: Ðây là
gì? Mẹ bảo: Phật. Sư nói: Hình dung không khác với người,
con sau cũng sẽ làm Phật. Sư xuất gia lúc còn để chóp và
hằng chuyên cần tu học giới định tuệ.
Sau,
Sư đến tham học với Mã Tổ (Ðạo Nhất) làm thị giả.
Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Sư vừa giở lồng bàn
ra, Mã Tổ liền cầm nửa cái bánh chỉ chúng hỏi: "Ðây là
gì?" Như thế mãi đến ba năm.
Một
hôm, Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời
bay qua.
Mã
Tổ hỏi:- Ðó là cái gì?
Sư
thưa:- Con vịt trời.
- Bay
đi đâu?
- Bay
qua.
Mã
Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh.
Mã
Tổ bảo:- Lại nói bay qua đi.
Ngay
câu ấy, Sư tỉnh ngộ.
Trở
về phòng thị giả, Sư khóc lóc rất thống thiết. Những
người đồng phòng nghe, hỏi:
- Huynh
nhớ cha mẹ phải chăng?
Sư
đáp:- Không.
- Bị
người ta mắng chửi chăng?
- Không.
- Tại
sao khóc?
- Lỗ
mũi tôi bị Hòa thượng kéo đau thấu xương.
- Có
nhân duyên gì không khế hội?
- Huynh
hỏi Hòa thượng đi.
Những
vị ấy đến hỏi Mã Tổ:
- Thị
giả Hải có nhân duyên gì chẳng khế hội ở trong phòng khóc,
xin Hòa thượng vì chúng con nói.
Mã
Tổ bảo:
- Y
đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.
Các
vị ấy về phòng hỏi:
- Hòa
thượng nói huynh đã hội, bảo chúng tôi về hỏi huynh.
Sư
bèn cười hả! hả!
Các
vị ấy bảo:- Vừa rồi khóc, sao bây giờ cười?
Sư
đáp:- Vừa rồi khóc, bây giờ cười.
Các
vị ấy mờ mịt không hiểu.
Hôm
sau, Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước ra
cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương trượng.
Mã
Tổ hỏi:- Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?
Sư
thưa:- Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.
- Hôm
qua ngươi để tâm chỗ nào?
- Chót
mũi ngày nay lại chẳng đau.
- Ngươi
hiểu sâu việc hôm qua.
Sư
làm lễ, lui ra.
*
Ðứng
hầu Mã Tổ, Sư thấy phất tử (đồ quét bụi) ở góc giường,
bèn hỏi:
- Tức
đây dùng, lìa đây dùng?
Mã
Tổ bảo:- Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?
Sư
cầm phất tử dựng đứng.
Mã
Tổ hỏi:- Tức đây dùng, lìa đây dùng?
Sư
để phất tử lại chỗ cũ.
Mã
Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc
tai.
*
Sau,
Sư về núi Ðại Hùng tại Hồng Châu. Ngọn núi này cao vót
đến trăm trượng nên thời nhân gọi Sư là Bá Trượng. Bốn
phương học giả đua nhau đến tham học rất đông. Trong số
học chúng có Thiền sư Hy Vận và Linh Hựu là hàng đầu.
Một
hôm, Sư bảo chúng:
- Phật
pháp không phải là việc nhỏ, Lão tăng xưa bị Mã Tổ một
nạt đến ba ngày lỗ tai còn điếc.
Hy
Vận nghe nói bất giác le lưỡi.
Sư
bảo:- Con về sau thừa kế Mã Tổ chăng?
Hy
Vận thưa:
- Không.
Nay nhân Hòa thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đại
cơ, đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừa
kế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.
Sư
bảo:
- Ðúng
thế, đúng thế, thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức,
thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cái
thấy vượt hơn thầy.
Hy
Vận liền lễ bái.
*
Lại
một hôm, có vị Tăng vừa đi vừa khóc đi thẳng vào pháp
đường.
Sư
hỏi:- Làm gì?
Tăng
thưa:- Cha mẹ đồng thời chết, thỉnh Thầy chọn ngày.
Sư
bảo:- Ngày mai đồng thời chôn.
*
Sư
mỗi khi thượng đường dạy chúng có một ông già theo chúng
nghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi.
Sư hỏi:
- Ông
là người gì?
Ông
già
thưa:
- Con
chẳng phải người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp,
con làm Tăng ở núi này, nhân học trò hỏi: "người đại
tu hành lại rơi vào nhân quả chăng", con đáp: "không rơi vào
nhân quả". Do đó, đến năm trăm đời đọa làm thân chồn.
Nay thỉnh Hòa thượng chuyển một câu nói để con thoát khỏi
thân chồn.
Sư
bảo:- Ông hỏi đi.
Ông
già hỏi:- Người đại tu hành có rơi vào nhân quả chăng?
Sư
đáp:- Không lầm nhân quả.
Ngay
câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa:
- Con
đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy
theo lễ Tăng chết mà tống táng con.
Sư
vào trong kêu duy-na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa
đám một vị Tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán "đại chúng
đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại
sao có việc này?"
Sau
khi cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy
khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu
như vị Tăng.
*
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Linh
quang chói sáng vượt khỏi căn trần, thể bày chân thường
không cuộc văn tự, tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành,
chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Có
vị Tăng hỏi:- Thế nào là pháp yếu Ðại thừa đốn ngộ?
Sư
đáp:
- Các
ngươi trước dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, tất
cả các pháp thiện cùng chẳng thiện, thế gian và xuất thế
gian chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm, buông bỏ hết khiến tâm
tự tại. Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗ
đi. Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Như
mây tan thì trăng hiện. Chỉ dứt tất cả thứ vin theo, tình
cảm tham sân ái thủ nhơ sạch đều hết. Ðối với ngũ dục,
bát phong không bị thấy nghe hiểu biết ràng buộc, không bị
các cảnh làm mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệu
dụng, ấy là người giải thoát.
Ðối
với tất cả cảnh, tâm không yêu không loạn, không thu nhiếp
không phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại,
gọi là Ðạo nhân.
Thiện
ác phải quấy đều không dùng, không mến một pháp, cũng
không bỏ một pháp, gọi là người Ðại thừa.
Không
bị tất cả pháp thiện ác, không hữu, nhơ sạch, hữu vi,
vô vi, thế gian, xuất thế gian, phước đức trí tuệ ràng
buộc, gọi là Phật tuệ.
Phải
quấy, tốt xấu, đúng lý phi lý, các tình cảm thấy biết
hết sạch, không thể trói buộc, nơi nơi đều được tự
tại, gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.
Tăng
hỏi:- Ðối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?
Sư
đáp:
- Tất
cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng
nói phải quấy nhơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người,
chỉ tự người hư vọng tính chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu,
khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ.
Cần phải nhận rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm
vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết
tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải
thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó
là đạo tràng.
Lại,
tánh sẵn có không thể gọi tên, xưa nay không phải phàm không
phải thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải hữu không,
cũng chẳng phải thiện ác, cùng các pháp nhiễm hợp nhau,
gọi là người trời nhị thừa. Nếu tâm nhơ sạch hết, chẳng
trụ nơi ràng buộc chẳng trụ nơi giải thoát, không tất
cả tâm lượng hữu vi vô vi, phược thoát, ở nơi sanh tử
tâm vẫn tự tại. Hoàn toàn không hòa hợp với uẩn, giới,
sanh tử, các nhập, trần lao hư huyễn, siêu nhiên không nương
tựa, tất cả không ràng buộc, đi ở không ngại, qua lại
trong sanh tử như cửa mở.
Phàm
người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý
không vừa ý, tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh
dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợi
ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến
khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạng
sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh; ngơ ngơ như ngu như
điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học
rộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trong
sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu
biết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử.
Phật
là người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầu
này nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồng
có cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Cho nên kinh nói:
"Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp."
Lại nói: "Như Lai đã được pháp, pháp này không thật không
hư."
Nếu
người hay một lúc tâm giống như cây đá, không bị ấm,
giới, ngũ dục, bát phong thổi trôi giạt, liền đoạn được
nhân sanh tử, đi đứng tự do, chẳng bị tất cả hữu vi
nhân quả ràng buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc. Khi khác,
trở lại đem thân không phược làm lợi ích chúng sanh, lấy
tâm không phược ứng hợp tất cả tâm, dùng tuệ không phược
cổi tất cả phược, cũng nói "hợp bệnh cho thuốc".
Tăng
hỏi:
- Như
nay thọ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, lại làm đủ
các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?
Sư
đáp:
- Ðược
ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được
tất cả chỗ giải thoát.
Tăng
hỏi:
- Thế
nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?
Sư
đáp:
- Chẳng
cầu Phật, Pháp, Tăng, cho đến chẳng cầu phước trí tri
giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu
là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường
sợ địa ngục, trói buộc cổi mở không ngại, tức thân
tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát.
Ngươi
chớ cho có ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu
biết môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát
toàn chưa dính một mảy.
Cố
gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ
tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm
triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không một
nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Ðến khi ấy, muốn nghiêm
chỉnh tay chân cũng không thể kềm được, dù có phước trí,
danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa
mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng
thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác thảy
hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đạo năm uẩn thảy
bày hiện tiền. Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹp
đẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra, tất
cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tùy tâm
tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàn
toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định
được.
Tăng
hỏi:- Thế nào được phần tự do?
Sư
đáp:
- Hiện
nay đối với ngũ dục bát phong lòng không lấy bỏ, xan tham
tật đố tham ái ngã sở đều hết, nhơ sạch chẳng còn,
như mặt trời mặt trăng trong hư không, không duyên mà chiếu.
Tâm tâm như cây đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu,
cũng như con voi lớn qua sông vừa ùm xuống là đến bờ kia,
không bị ngăn ngại. Người này không nhiếp thuộc về thiên
đường hay địa ngục.
Phàm
học kinh xem giáo lý, mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay
về nơi mình, tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giác
hiện nay của mình. Chỉ không bị tất cả cảnh có, không...
lôi là Ðạo sư của người; hay chiếu phá tất cả cảnh
có, không... là tuệ Kim Cang, tức có phần tự do tự tại.
Nếu không như thế để hội đạo, dù có tụng được mười
hai phần giáo cũng chỉ thành Tăng thượng mạn, lại là người
chê bai Phật, không phải là người tu hành. Chỉ lìa tất
cả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi tri
giải, là người tu hành.
Ðọc
kinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếu
nhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc.
Người thập địa vượt ra, không đi vào vòng sanh tử, nhưng
giáo lý Tam thừa để trị bệnh tham, sân... như hiện nay niệm
niệm nếu có bệnh tham, sân... thì trước phải trị nó, chẳng
cần tìm cầu câu nghĩa hiểu biết. Hiểu biết thuộc về
tham, tham thì trở thành bệnh. Như hiện nay chỉ lìa tất cả
pháp có, không, cũng lìa cái lìa vượt ngoài ba câu (có, không,
chẳng phải có chẳng phải không) tự nhiên cùng Phật không
khác. Ðã tự là Phật, lo gì Phật không hiểu ngôn ngữ. Chỉ
e không phải là Phật, bị các pháp có, không trói buộc chẳng
được tự do. Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bị
phước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Không
bằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Nếu cần phước
trí thì tạm thời làm được, nắm đất biến thành vàng,
nắm vàng biến thành đất, biến nước biển thành tô-lạc,
đập núi Tu-di thành bụi nhỏ, hốt nước bốn biển dồn
vào một lỗ chân lông, nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa,
nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa.
*
Có
vị Tăng hỏi:
- Cuốc
cỏ chặt cây, khai mương đào đất, có tướng tội báo chăng?
Sư
đáp:
- Không
thể nói quyết định có tội, cũng không thể nói quyết định
không tội, có tội không tội việc tại người đương thời.
Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không... có tâm lấy bỏ,
còn chưa vượt khỏi ba câu, người này nhất định nói có
tội. Nếu vượt ngoài ba câu, tâm như hư không, cũng chẳng
tưởng hư không, người này nhất định nói không tội.
Lại
nữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thật
vô lý. Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý.
Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết,
còn không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền trao
nhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng không
có tướng hư không, thì đem tội để ở chỗ nào?
*
Có
vị Tăng hỏi:
- Thế
nào là "hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh"?
Sư
đáp:
- Từ
người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa
ngục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnh
phàm, thánh có tâm nhiễm ái gọi là "hữu tình không Phật
tánh". Hiện nay đối hai cảnh phàm, thánh và tất cả pháp
có, không... trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểu
biết không lấy bỏ, ấy là "vô tình có Phật tánh". Chỉ
không có tình ràng buộc, nên gọi vô tình. Không đồng với
loài vô tình như: cây, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc,
mà cho là có Phật tánh. Nếu nói loài vô tình ấy có Phật
tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký được thành Phật?
Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi,
dụ như trúc biếc, ứng cơ biết thời thiết dụ như hoa vàng.
Lại,
nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh,
chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh.
*
Hằng
ngày làm công tác, Sư đều dẫn đầu trong chúng. Một hôm,
chúng Tăng lén giấu dụng cụ không cho Sư làm, Sư tìm mãi
không được, bảo:
- Tôi
không có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người. Sư nhịn ăn
hôm ấy, nên có câu "một ngày không làm, một ngày không ăn"
(nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực).
Sư
có soạn bộ qui tắc trong nhà Thiền, lấy tên là "Bá Trượng
Thanh Qui". Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín
(814 T.L.) ngày mười bảy tháng giêng, Sư qui tịch, thọ chín
mươi lăm tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí Thiền sư, tháp hiệu
Ðại Bảo Thắng Luân.
*
14.
THIỀN SƯ PHỔ NGUYỆN
Nam
Tuyền - (749 - 834)
Sư
họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu. Ðời Ðường niên
hiệu Chí Ðức thứ hai (758 T.L.), Sư theo Thiền sư Ðại Huệ
ở núi Ðại Ngung xuất gia học đạo. Năm ba mươi tuổi, Sư
lên núi Cao Nhạc thọ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học tập
Tướng tông và Luật tông, kế tìm đến các nơi giảng Kinh
Luận thọ học. Sư đã học được kinh Lăng-già, Hoa Nghiêm,
Trung Luận, Bách Luận...
*
Sau,
Sư đến Mã Tổ bỗng nhiên "được cá quên nôm" (đạt lý
quên lời), được du hí tam-muội (chánh định ngao du tự tại).
Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi:
- Trong
thùng thông là cái gì?
Sư
thưa:- Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?
Mã
Tổ bèn thôi.
Từ
đây về sau, những bạn đồng tham học không ai dám gạn hỏi
Sư điều gì.
*
Niên
hiệu Trinh Nguyên thứ mười một (795 T.L.), Sư tạm biệt Mã
Tổ đi tìm nơi cất am. Sau khi rời Mã Tổ, Sư đồng đi với
Thiền sư Bảo Vân, Trí Thường, Trí Kiên cả thảy bốn người.
Ðến giữa đường, sắp từ biệt nhau, Sư cắm gậy xuống
đất bảo:
- Nói
được cũng bị cái ấy ngại, nói không được cũng bị cái
ấy ngại.
Trí
Thường liền nhổ gậy, đập Sư một gậy, rồi nói:
- Cũng
chỉ cái ấy, Vương lão sư (thầy già họ Vương) nói cái
gì ngại, chẳng ngại?
Bảo
Vân nói:- Chỉ một câu này truyền khắp thiên hạ.
Trí
Thường hỏi:- Lại có cái chẳng khắp chăng?
Bảo
Vân đáp:- Có.
Trí
Thường hỏi:- Thế nào là cái chẳng khắp?
Bảo
Vân ra bộ tát tai.
*
Bốn
vị ngồi uống trà. Bảo Vân đưa chung trà lên nói:
- Khi
thế giới chưa thành vẫn có cái ấy.
Sư
bảo:- Người nay chỉ biết cái ấy, chưa biết thế giới.
Trí
Thường nói:- Phải.
Sư
bảo:- Sư huynh đâu đồng cái thấy này.
Trí
Thường lại đưa cái chung trà lên bảo:
- Khi
thế giới chưa thành nói được chăng?
Sư
ra bộ tát tai, Trí Thường đưa mặt nhận tát tai.
*
Sư
đến núi Nam Tuyền cất am, ở mãi hơn ba mươi năm chưa từng
xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm đầu (827 T.L.), Liêm sứ
thành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong của Sư
bèn cùng Giám quân đồng đến thỉnh Sư xuống núi, với tư
cách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, Sư mở rộng đạo huyền,
số người tham học không khi nào dưới vài trăm. Các nơi
gọi Sư là "người mô phạm đất Dĩnh".
*
Dưới
núi Nam Tuyền có một Am chủ, có người nói: "Gần đây có
Hòa thượng Nam Tuyền ra đời, sao ông không đến yết kiến?"
Am chủ bảo: "Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dù có ngàn đức
Phật xuất thế, tôi cũng chẳng đến." Sư nghe lời này, bèn
sai Tùng Thẩm (Triệu Châu) đi khám phá. Tùng Thẩm đến làm
lễ, Am chủ chẳng thèm nhìn. Tùng Thẩm từ Ðông qua Tây,
lại từ Tây qua Ðông, Am chủ cũng chẳng nhìn. Tùng Thẩm
bảo: "giặc cỏ đại bại", bèn bỏ tấm mành xuống ra về.
Tùng Thẩm về thuật lại Sư nghe. Sư bảo:
- Ta
từ lâu nghi lão ấy.
Một
hôm, Sư đến Trang sở, Trang chủ dự bị đón tiếp. Sư hỏi:
- Lão
tăng ra vào thường không cho người biết, sao Trang chủ biết
trước mà bày biện như vậy?
Trang
chủ thưa:
- Ðêm
qua thổ địa mách ngày nay Hòa thượng đến.
Sư
bảo:- Vương lão sư tu hành vô lực bị quỉ thần xem thấy.
Thị
giả hỏi:- Hòa thượng đã là thiện tri thức, vì sao bị
quỉ thần xem thấy?
Sư
bảo:- Trước thổ địa để một phần cơm.
*
Tùng
Thẩm hỏi:
- Ðạo
chẳng ngoài vật, ngoài vật chẳng đạo, thế nào là đạo
ngoài vật?
Sư
liền đánh. Tùng Thẩm nắm gậy lại, nói:
- Từ
đây về sau chớ có đánh lầm người.
Sư
bảo:- Rồng rắn dễ phân biệt, nạp tử (tăng sĩ) khó lường.
*
Một
hôm, Sư đóng cửa phương trượng (nhà thầy trụ trì ở vuông
vức một trượng), lấy tro rắc ngoài cửa, bảo:
- Nếu
có người nói được liền mở cửa.
Có
nhiều vị Tăng nói, mà không hợp ý Sư.
Tùng
Thẩm nói:- Trời xanh.
Sư
liền mở cửa.
*
Sư
dạy chúng:
- Mã
Tổ ở Giang Tây nói "tức tâm tức Phật", Vương lão sư chẳng
nói thế ấy, mà nói "chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật", nói thế có lỗi chăng?
Tùng
Thẩm lễ bái đi ra.
Khi
ấy có vị Tăng theo hỏi Tùng Thẩm:
- Thượng
tọa lễ bái đi ra, ý thế nào?
Tùng
Thẩm bảo:- Thầy nên hỏi Hòa thượng.
Vị
Tăng ấy đến hỏi Sư:
- Hành
động vừa rồi của Thượng tọa Thẩm, ý thế nào?
Sư
bảo:- Ông ấy đã nhận được ý chỉ của Lão tăng.
*
Nhà
Ðông, nhà Tây tranh nhau con mèo. Sư trông thấy, liền bảo
chúng:
- Nói
được là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.
Chúng
Tăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo.
Tùng Thẩm ở ngoài đi vào, Sư dùng câu nói trước hỏi. Tùng
Thẩm liền cổi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo:
- Giá
khi nãy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.
*
Lục
đại phu hỏi Sư:
- Trong
nhà đệ tử có một phiến đá, hoặc khi ngồi, hoặc khi nằm,
nay tính đem làm tượng Phật được chăng?
Sư
đáp:- Ðược.
Ðại
phu hỏi:- Chẳng được chăng?
Sư
đáp:- Chẳng được.
Ðại
phu hỏi:- Ðại Bi Bồ-tát dùng nhiều mắt tay như thế để
làm gì?
Sư
hỏi lại:- Quốc gia dùng Ðại phu để làm gì?
*
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Vương
lão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khe
Ðông sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, tính
thả ăn ở khe Tây cũng sợ e không khỏi phạm nước cỏ của
quốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳng
thấy được.
*
Sư
thượng đường bảo:
- Phật
Nhiên Ðăng nói "nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp
là hư giả chẳng thật". Vì cớ sao? Vì tâm còn không có,
lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, như
người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới muốn
được đầy hơi. Cho nên Lão túc bảo "chẳng phải tâm, chẳng
phải Phật, chẳng phải vật". Nói thế là dạy các huynh đệ
chỗ đi vững chắc. Nói: "Bồ-tát Thập địa trụ chánh định
Thủ Lăng Nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật,
tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông
diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân,
hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe đại pháp, vào
Niết-bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chân lông, nói một
câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô
lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi
là sở tri ngu vi tế." Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rất
khó! rất khó! trân trọng.
*
Sư
thượng đường dạy chúng:
- Các
ngươi! Lão tăng lúc mười tám tuổi đã biết kế sống, có
ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng ngươi thương lượng,
người ấy mới đáng ở núi.
Sư
lặng thinh giây lâu, nhìn đại chúng chấp tay, nói:
- Vô
sự! Trân trọng! Mỗi người tự tu hành.
Ðại
chúng vẫn ngồi yên.
Sư
bảo:
- Huynh
đệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lão
tăng nói: "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", bèn
hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy
nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được,
Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.
Có
vị Tăng ra hỏi:
- Từ
Thượng Tổ cho đến Ðại sư ở Giang Tây đều nói: "tức
tâm là Phật", "tâm bình thường là đạo". Nay Hòa thượng
nói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", học nhân
chắc sanh nghi ngờ, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Sư
đáp:
- Ngươi
nếu là Phật thì đâu còn phải nghi, lại hỏi Lão tăng chỗ
gì? Có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đến, Lão tăng chẳng
phải Phật cũng chẳng từng thấy Tổ sư, ngươi nói như thế,
tự tìm Tổ sư đi!
Tăng
thưa:- Hòa thượng nói như thế, dạy học nhân làm sao phù
trì được?
Sư
bảo:- Ngươi mau lấy tay bắt hư không đi!
Tăng
thưa:- Hư không không tướng không động, làm sao mà bắt?
Sư
bảo:
- Ngươi
nói không tướng không động tức là động vậy. Hư không
đâu biết nói "ta không tướng không động". Ðây đều là
tình kiến của ngươi.
Tăng
thưa:
- Hư
không không tướng không động còn là tình kiến, trước Hòa
thượng dạy con bắt hư không là còn vật gì?
Sư
bảo:
- Ngươi
đã biết không nên nói bắt, mà lại nghĩ làm sao phù trì?
Tăng
thưa:
- Tức
tâm là Phật đã chẳng được, thị tâm tức Phật được
chăng?
Sư
bảo:
- Thị
tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, do tình chấp mà có, đều
bởi tưởng mà thành. Phật là người trí, tâm là chủ nhóm
phân biệt, khi đối vật phát ra diệu dụng. Ðại đức chớ
nhận tâm, nhận Phật, dù nhận được cảnh ấy vẫn còn
bị người gọi là Sở tri ngu. Cho nên Ðại sư ở Giang Tây
bảo: "Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật."
Vả lại đã dạy người sau các ngươi chỗ đi như thế. Người
học thời nay mặc y phục nhà bên cạnh nghi như thế, muốn
được rảnh việc có được chăng?
- Ðã
chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, nay Hòa
thượng lại nói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo",
chưa biết thế nào?
- Ngươi
chẳng nhận tâm là Phật, trí là đạo, Lão tăng chợt được
tâm lại để chỗ nào?
- Ðã
hoàn toàn chẳng được thì đâu khác hư không?
- Ðã
chẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gì
là khác chẳng khác?
- Chẳng
lẽ không cái chẳng phải tâm chẳng phải Phật, chẳng phải
vật?
- Ngươi
nếu nhận cái ấy, lại thành tâm Phật rồi.
- Thỉnh
Hòa thượng nói.
- Lão
tăng tự chẳng biết.
- Tại
sao chẳng biết?
- Bảo
ta nói làm sao?
- Ðành
chẳng cho học nhân hội đạo sao?
- Hội
đạo gì? Lại làm sao hội?
- Con
không biết.
- Không
biết lại tốt. Nếu lấy lời Lão tăng cho là người nương
tựa thông suốt, dù thấy Phật Di-lặc ra đời vẫn bị Ngài
nhổ hết lông đầu.
- Dạy
người sau thế nào?
- Ngươi
tự xem, chớ lo những người sau.
- Trước
Hòa thượng chẳng cho con hội thông, giờ lại bảo con tự
xem, chưa biết thế nào?
- Thầm
hội, diệu hội, làm sao cho ngươi hội?
- Thế
nào là diệu hội?
- Lại
muốn học ngữ của Lão tăng, dù có nói, là Lão tăng nói,
Ðại đức thế nào?
- Con
nếu tự hội thì đâu phiền xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy?
- Không
thể chỉ Ðông chỉ Tây lừa người, ngươi khi còn khóc tu
oa! tu oa! Sao chẳng đến hỏi Lão tăng? Bây giờ khôn ngoan
mới nói con chẳng hội, mong cái gì? Nếu người đời này
lọt lòng mẹ bèn nói ta xuất gia làm Thiền sư, vậy khi chưa
xuất gia từng làm việc gì, hãy nói xem, ta sẽ cùng ngươi
thương lượng?
- Khi
ấy con chẳng biết.
- Ðã
chẳng biết thì hiện nay nhận được, có thể phải sao?
- Nhận
được đã chẳng phải, không nhận được phải chăng?
- Nhận,
chẳng nhận là lời nói gì?
- Ðến
trong ấy con càng chẳng hội.
- Ngươi
nếu chẳng hội, ta cũng chẳng hội.
- Con
là học nhân tức chẳng hội, Hòa thượng là thiện tri thức
phải hội.
- Chỉ
nói với ngươi chẳng hội, ai luận thiện tri thức.
Chớ
khôn xảo, xem như Mã Tổ lúc còn tại tiền, có một học
sĩ đến hỏi: "Như nước không gân xương, hay thắng thuyền
muôn đấu, lý này thế nào?" Mã Tổ bảo: "Trong ấy không
nước cũng không thuyền, luận gì gân xương." Huynh đệ! học
sĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Sở dĩ thường thường
nói với các ngươi Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùng
biết để làm gì?
- Thế
nào là tu hành?
- Không
thể nghĩ lường, đâu thể nói với ngươi tu thế này, hành
thế này, đại nạn!
- Lại
cho học nhân tu hành chăng?
- Lão
tăng không thể ngăn ngươi.
- Con
làm sao tu hành?
- Cần
hành thì hành, không nên chuyên tầm bọn khác.
- Nếu
không nhờ thiện tri thức chỉ dạy thì không do đâu được
hội? Như Hòa thượng mọi khi nói "tu hành phải hiểu mới
được, nếu không hiểu thì rơi vào nhân quả, không có phần
tự do", chưa biết tu hành thế nào khỏi vào nhân quả?
- Lại
chẳng cần thương lượng. Nếu luận tu hành thì chỗ nào
chẳng hành được?
- Thế
nào hành được?
- Ngươi
không thể theo bọn kia tìm được.
- Hòa
thượng chưa nói dạy, con làm sao tìm?
- Giả
sử nói chỗ tìm đó, vả như ngươi từ sáng đến tối chợt
đi Ðông, đi Tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi được
chẳng được, người khác không thể biết được ngươi.
- Ngay
khi đi Ðông đi Tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng?
- Khi
ấy, ai nói là phải chẳng phải?
*
Có
vị Tăng hỏi:
- Trong
hư không có một hạt châu làm sao lấy được?
Sư
bảo:
- Chặt
tre làm thang bắc trong hư không lấy.
- Trong
hư không làm sao bắc thang?
- Ngươi
nghĩ thế nào lấy?
*
Sư
dạy chúng:
- Chỉ
hội được tánh từ vô lượng kiếp đến giờ không biến
đổi tức tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ tức là hạnh
Bồ-tát. Ðạt các pháp không, diệu dụng tự tại, sắc thân
tam-muội rõ ràng. Hành lục ba-la-mật không, thì nơi nơi không
ngại, dạo trong địa ngục như xem vườn đẹp, không thể
nói y chẳng được tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếp
đến giờ quên bản tánh, chẳng tự liễu ngộ chân thể,
bị mây trần che lấp, đắm mê sắc dục, như mây bay thấy
trăng chạy, thuyền đi thấy bờ dời, tạm thời chia đường,
chẳng được tự tại, thọ các thứ khổ chẳng tự hiểu
biết. Ðến hôm nay hội được tánh bản lai, tánh ấy cùng
hiện giờ không khác.
*