Nước
ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào
trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng
cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc,
lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà
sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Tuy
nhiên, chế độ cầm quyền dù có khác nhau mà lòng dân vẫn
là một. Dân Đàng Trong hay dân Đàng ngoài vẫn coi nước Việt
Nam là một, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng vẫn
giống nhau. Dân Đàng Ngoài tin Phật giáo, dân Đàng Trong cũng
tin Phật giáo, mặc dù Phật giáo lúc này đã suy vi rất nhiều
so với Phật giáo thời Lý Trần. Song do có lòng tin đó, mà
Đàng Trong hay Đàng Ngoài vẫn có các vị Thiền sư kể cả
các vị Thiền sư Trung Quốc qua tiếp tục truyền bá đạo
Thiền thuộc phái Lâm Tế và Tào Động.
Gặp
lúc ở Tàu nhà Mãn Thanh lên thay nhà Minh, những Tăng sĩ Tàu
không thần phục nhà Thanh mới bỏ sang Việt Nam. Người vào
đất Bắc như Chuyết Công Hòa thượng, Minh Lương Hòa thượng,
người vào đất Nam như Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong Lão
tổ, Thọ Tôn Nguyên Thiều, Minh Hoằng Tử Dung, Thạch Liêm
Đại Sán v.v... sang ở vùng Thuận Hóa và Bình Định. Trong
khoảng thời gian này, ở Đàng Trong có một vị Thiền sư
Việt Nam, đạo đức cao siêu, tâm quang sáng rực, được tôn
làm Tổ, đó là Hòa thượng Liễu Quán mà cuộc đời của
Ngài thật là một tấm gương tốt chói lọi của một trong
những vị Sư thông thái nhất xứ này.
Tổ
Liễu Quán mở pháp môn ở núi Thiên Thai thuộc Thuận Hóa.
Ngài đặt bài kệ: "Thật Tế Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng
v.v..." để làm pháp hệ truyền thừa mãi đến này vẫn còn
tiếp nối. Hầu hết các chùa ở vùng Trung và Nam Việt đều
thuộc phái Thiền Lâm Tế này, trong khi việc truyền bá của
các vị Thiền sư Trung Quốc không mấy rộng rãi và liên tục
cho bằng. Tổ Liễu Quán thật đã có một vị trí sáng chói
trong lịch sử Phật giáo cuối đời Hậu Lê. Vậy ở đây
ta hãy tìm hiểu rõ hơn về ngài.
Ở
khoảng ba cây số về phía Nam đàn Nam giao có một ngôi tháp
đến nay còn được giữ gìn hoàn hảo đẹp đẽ ở trên
một thửa đất có tường thành bao quanh, có tam cấp và hồ
sen. Đó là ngôi tháp của Tổ Liễu Quán. Có thể nói đây
là ngôi tháp hùng vĩ, cổ kính, uy nghiêm nhất từ xưa còn
lại ở miền Trung và Nam Việt.
Khuôn
viên thấp gồm có kiến trúc Pháp tường thành, nền hồ vôi,
rộng vào khoảng 70 mét vuông, nếu kể toàn diện tích đất
chung quanh thì có thể gần một héc-ta, trong đó có phần trồng
thông và xoài.
Tháp
có hai lớp tường thành bằng đá bao quanh. Lớp trong hình
bát giác cao độ 0m60 ở gần tháp. Lớp ngoài hình tứ giác
cao độ 1m80, dày 1m. trước tháp có tam cấp danh dự ngang 4
mét gồm 10 bậc. Ở ngoài nhìn trên cổng tường vào tháp
có biển đề chữ: "Đàm hoa lạc khứ hữu du hương" (Hoa Đàm
rụng hương thơm vẫn còn). Hai bên có hai câu đối: "Bửu
đạt trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy; Pháp
thân độc lộ y nhiên tạo lý khán thanh sơn" (Tiếng linh báu
ngân dài cùng dòng nước lục trước cửa chảy hoài không
dứt; Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh).
Phía
trong tường thành là ngôi tháp dựng ở chính giữa, hình bát
giác hồ vôi, cao 7 tầng độ 6 mét, mặt trước có bia đá
áp sát vào và mang các dòng chữ: bên trên: "Vô lượng quang",
dòng giữa bia: "Sắc tú Chánh giác Viên ngộ Liễu Quán lão
Hòa thượng chi tháp". Hai bên có hai câu đối: "Bỗng át chân
phong gia kế thuật; Tân lương mỹ hóa quốc bao sùng" (Chân
phong của phép Thiền đánh hét được ngài kế thừa truyền
thuật; Đức hòa tốt đẹp của bậc Thầy hướng đạo được
cả nước khen ngợi tôn sùng).
Áp
sát mặt trong tường thành bên trái của tháp có tấm bia đá
sa thạch cao 1m, rộng 0m60, văn bia gồm gần 1.500 chữ Hán,
do người cháu trong đạo của Tổ Liễu Quán, bấy giờ đang
làm Sư ở chùa Tang Liên bên Trung Quốc soạn và dựng năm
thứ 9 niên hiệu Cảnh Hưng (1748, vua Lê Hiển Tôn), đúng 6
năm sau ngày Tổ Liễu Quán viên tịch.
Chính
nội dung tấm bia này là một tài liệu đầy đủ nhất còn
lại cho ta biết rõ công hạnh tu chứng và hóa đạo của Tổ
Liễu Quán.
Dưới
đây là bản dịch các điểm chính tấm bia ấy: "Đặc điểm
căn bản của Phật giáo chúng ta là gì? - Theo Phật giáo, con
người không phải từ cửa tử sanh ra, cũng phải chết đi
là đi vào cửa tử. Thế nên người xưa sống trong rừng sâu
hang động, chỉ ăn ngủ sơ sài, chẳng có gì quan trọng đáng
lo nghĩ hơn là vấn đề sống và chết.
Tìm
được một người chấp nhận hy sinh cho đạo pháp, nhất
là lúc Phật giáo đang suy đồi như Hòa thượng Liễu Quán
của chúng ta thật là điều hy hữu.
Ngài
Quán làng Bạc Mã, huyện Đồng xuân phủ Phú Yên, họ Lê,
pháp danh Thiệt Diệu, hiệu Liễu Quán. Tu học từ thuở nhỏ,
ngài tỏ ra thông minh khí tiết hơn các bạn đồng học. Mất
mẹ năm lên sáu, theo ý nguyện của ngài, thân phụ ngài đã
gởi ngài đến chùa Hội Tôn thụ giáo với Tế Viên Hòa thượng.
Bảy năm sau Tế Viên Hòa thượng tịch, Ngài ra Huế vào chùa
Hàm Long (tức chùa Bảo Quốc ngày nay) thụ học với Giác
Phong lão tổ.
Năm
Tân tị (1691), sau khi xuống tóc được một năm, ngài được
gọi về làng cũ để giúp đỡ phụ thân trong lúc già yếu.
Nhà nghèo ngài phải đi hái củi bán lấy tiền lo thuốc thang.
Bốn năm sau phụ thân qua đời vào năm Ất hợi (1695) ngài
lại trở ra Huế chính thức thụ giới Sa-di với Thạch Liêm
Đại Sán Hòa thượng. Năm Đinh sửu (1697) ngài tiếp tục
thụ giới Cụ túc với Từ Lâm lão Hòa thượng.
Năm
Kỹ mão (1699) ngài đi khắp Tòng Lâm thăm viếng nhiều chùa
để học hỏi đạo lý, và quyết định hiến thân cho đời
sống đạo, chẳng quản đạm bạc gian lao. Từ đó ngài tinh
chuyên tu tập.
Năm
Nhâm ngọ (1702) ngài đến Long Sơn đầu sư với Tử Dung Hòa
thượng (người sáng lập Ấn Tôn Từ Đàm hiện nay), một
vị Hòa thượng có tiếng thông thái khéo dạy người niệm
Phật tham Thiền của thời này.
Trước
khi chấp nhận ngài làm học trò, Hòa thượng Tử Dung đã
thử nhiều lần và bắt ngài giải thích câu sau đây: "Muôn
pháp quy về một, một về đâu?". Ngài đã tìm kiếm 8, 9 năm
không ra câu giải đáp và đã thất vọng.
Một
hôm nhân đọc Truyền Đăng Lục, ngài gặp câu: "Chỉ vật
truyền tâm, nhân bất hội xứ" (Chỉ vật truyền tâm, chỗ
mà người ngoại cuộc không hiểu được), bỗng nhiên ngài
thấy đã tìm ra câu giải đáp mà thầy mình đã đặt ra,
nhưng vì đường sá xa cách, không thể đến trình chỗ ngộ
với thầy ngay được.
Năm
Mậu tý (1708) ngài đến Long Sơn (Huế) để đệ trình kết
quả với câu: "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ".
Hòa thượng Tử Dung lại dạy câu: "Đứng ở mé bờ cao vút
buông tay, tự mình chịu lấy, chết rồi sống lại, bấy giờ
không ai có thể dối người" (Huyền nhai tán thủ, tự khẳng
thừa đương, tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc). Ngài
vỗ tay cười lớn tiếng. Hòa thượng nói: "Không phải vậy
đâu". Ngài liền đọc: "Xứng chùy nguyên thị thiết". (Cái
dùi nguyên là sắt). Hòa thượng đáp: "Cũng không phải vậy
đâu".
Hôm
sau Hòa thượng lại tiếp tục thử ngài bằng câu: "Công án
ngày qua chưa giải đáp xong, hãy nói lại xem?". Ngài liền
đọc hai câu: Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi.
Hòa thượng tán thán.
Năm
Nhâm thìn (1712) khi Hòa thượng Tử Dung vào Quảng Nam để
làm lễ Toàn Viện (?) ngài Liễu Quán trình Hòa thượng bài
kệ dục Phật (tắm Phật). Xem bài kệ, Hòa thượng đặt
cho ngài câu hỏi sau đây: "Tổ Tổ truyền cho nhau, Phật Phật
trao cho nhau, chưa rõ truyền trao cái gì ấy?". Ngài Liễu Quán
đáp: "Măng đá mọc chồi dài một trượng, phủ phất lông
rùa nặng ba cân". Hòa thượng Tử Dung tiếp hỏi: "Thuyền
trượt trên núi cao, ngựa chạy dưới đáy biển" nghĩa là
gì? Ngài đáp: "Trâu đất gãy sừng rống thâu đêm, đàn cầm
không giây gảy suốt ngày".
Rồi
ngài chép lại tất cả những câu đối đáp trình ngay lên
Hòa thượng Tử Dung và được Hòa thượng hoàn toàn thừa
nhận.
Ngài
là người có trí thông minh phi thường, chí nguyện siêu việt.
Năm
Nhâm dần (1722) ngài về trụ ở Tổ đình Thiền Tôn - Huế.
Trong các năm Quý sửu. Giáp dần, Ất mão (1733, 1734, 1735) ngài
mở bốn đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của các hàng
cư sĩ, xuất gia và các quan viên hộ pháp. Năm Canh thân (1740)
sau khi truyền giới đàn Long Hoa, ngài trở lại tổ đình.
Đương
thời Hiếu Minh vương Nguyễn Phúc Chu cảm phục đạo đức
và danh tiếng của ngài, triệu ngài vào cung, nhưng ngài muốn
giữ sự tự tại ở chốn lâm tuyền nên đã từ tạ lời
thỉnh mà không đến.
Mùa
xuân năm Nhâm tuất (1742) ngài lại mở giới đàn tại chùa
Viên Thông. Vào cuối thu, tháng 9 năm ấy (tháng 10 năm 1742)
ngài lâm bịnh nhưng không có dấu hiệu gì trầm trọng. Tháng
10 năm ấy, ngài họp các đệ tử nói: "Tôi sẽ ra đi, sứ
mạng của tôi ở đời này đã xong". Các đệ tử khóc òa.
Ngài khuyên bảo: "Tại sao các vị khóc? Chư Phật còn nhập
Niết-bàn. Tôi cũng vậy, tôi đến đi rõ ràng, về có nơi
chốn. Xin đừng buồn rầu, hãy cố gắng tinh tấn hơn lên".
Tháng
11 âm lịch năm ấy, mấy ngày trước khi mất, ngài ngồi dậy
tự tay viết bốn câu:
"Ngoài
bảy mươi năm trong thế giới
Không
không sắc sắc thấy dung thông
Ngày
nay nguyện mãn về nơi cũ
Nào
phải ân cần hỏi tổ tông".
Viết
xong, ngài bảo các đệ tử: "Các vị xem này, tôi đến với
cõi đời này giản dị biết bao nhiêu. Tôi sẽ ra đi trọn
vẹn. Mai sau các vị hãy áp dụng thực hành Thánh hạnh. Xin
hãy cố gắng chớ quên lời dạy bảo của tôi".
Ngày
22 tháng 11 năm Nhâm tuất (tháng 12 năm 1742) sau khi dùng trà,
hành lễ buổi sáng, ngài hỏi đệ tử mấy giờ. Các đệ
tử đáp bây giờ là giờ mùi (khoảng 1 đến 3 giờ chiều),
ngài thở hơi cuối cùng.
Chúa
Minh vương Nguyễn Phúc Chu ban thụy hiệu là Chánh Giác Viên
Ngộ Hòa thượng để khắc bia.
Di
thể được chuyển mai táng ngày 19 tháng 2 năm Quý hợi (1743)
ở ngôi tháp mới nằm phía Nam núi Thiên Thai, trên thửa đất
làng An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (cũ).
Ngài
Liễu Quán sinh giờ Thìn (khoảng 7 đến 9 giờ sáng) ngày 13
tháng 11 năm Đinh vị (1667), viên tịch ngày 22 tháng 11 năm
Nhâm tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ III (1742), 43 tuổi hạ,
76 tuổi đời, độ 49 đệ tử xuất gia danh tiếng và rất
đông đệ tử tại gia.
Người
thế tục cho rằng thế gian có sanh tử khứ lai, nhưng đối
với Ngài Liễu Quán thì không như vậy. Thương kính Ngài,
vị Thiền sư khả kính của chúng ta không còn nữa, Ngài đã
nhập Niết-bàn. Vậy không phải nói gì cho Ngài nữa, nhưng
những công nghiệp phục vụ đạo pháp của Ngài được ghi
lại đây là để làm tỏ rạng đạo giáo cho tương lai chúng
ta.
Xin
thú nhận rằng, nhân duyên nhập đạo, sự nghiệp truyền
đăng của ngài quá đặc biệt lớn lao, tôi không sao rõ hết
được, nên nơi đây chỉ thuật lại được đôi phần, như
kẻ mù rờ voi vậy.
Pháp
hiệu Thiện Kế kính soạn.
(Sư
Thiện Kế sau về Trung Quốc và mất luôn bên ấy).
Hiện
nay cách phía sau tháp độ 800 mét có chùa Thiền Tôn do Ngài
sáng lập và các đệ tử tiếp tục thừa kế trùng tu còn
được đẹp đẽ khang trang, trong đó có quả đại hồng chung
đúc năm Cảnh Hưng thứ 8 (1747) là di vật quý nhất.
15.11.1986
TỔ
LIỄU QUÁN
Thích
Tín Nghĩa (sưu lục)
Căn
cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong
cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa
Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói
chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh
mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo
nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy
nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ
Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt
đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất
tung. Và, Phật giáo đã mất đi nhiều vốn liếng quý giá
của mình. Và cũng từ đó, nền sử liệu có vài phần phiến
diện.
Và,
nếu ở đàng Ngoài, thiền sư Chân Nguyên được xem như là
nhân vật then chốt cho cuộc phục hưng Chánh pháp ở đàng
Ngoài ; thì ở đàng Trong, Tỗ Liễu Quán cũng là nhân
vật quan trọng đặc biệt về vấn đề lãnh đạo Phong trào
Phục hưng Phật giáo ở đàng Trong vậy.
Vậy,
chúng ta hãy đi vào một vài nét đơn thuần về cuộc đời
tu học, hành hóa của Tổ Liễu Quán như thế nào.
Thân
thế :
Ngài
thọ sanh năm 1670, tại làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh
Phú Yên, miền Trung nước Việt, trong một gia đình không mấy
được khá giả. Mồ côi mẹ khi ngài vừa lên sáu tuổi.
Năm
1682, được 12 tuổi, theo cha đi chùa Hội Tôn lễ Phật, gặp
thiền sư Tế Viên, ngài cảm mến và xin phụ thân xuất gia
tại đây. Ngài rất được thiền sư Tế Viên thương mến
và hết lòng dạy dỗ. Những năm hành điệu tại chùa Hội
Viên, ngài chỉ làm những công việc nhỏ nhặt như gánh nước
cũng như hai thời khóa công phu và luật tiểu Sa di, ... Tu tập
ở đây được chín năm thì thiền sư Tế Viên viên tịch,
ngài tròn 19 tuổi. Sau khi chu tất tang lễ của thầy, ngài
từ giả quý huynh đệ đồng tu ở đây rồi một mình lên
đường tìm thầy học đạo tiếp tục.
Năm
1690, vượt Trường sơn ra đất Thuận Hóa, đầu sư với Giác
Phong lão tổ ở chùa Thiên Thọ, núi Hàm Long (tức Phật học
đường Báo Quốc bây giờ). Được một năm thì phụ thân
thọ bệnh, ngài xin phép được trở về nhà để săn sóc.
Hằng ngày vào rừng lo đốn củi đổi gạo và thuốc men để
chăm sóc cho phụ thân. Bốn năm sau, phụ thân mãn phần, lo
tang chay và giao hết nhà cửa hương hỏa cho bà con quyến thuộc
xong xuôi, ngài tiếp tục lên đường học đạo.
Sự
nghiệp tu học :
Năm
1695, nghe thiền sư Thạch Liêm tổ chức giới đàn ở chùa
Thiền Lâm, cố đô Huế, ngài xin cầu thọ Sa di thập giới
với đạo hiệu thượng Liễu hạ Quán húy Thiệt Diệu, thuộc
dòng Lâm tế chánh tông đời thứ 35.
Năm
1697, thiền sư Từ Lâm làm Đàn đầu Hòa thượng, ngài tròn
27 tuổi được tấn đàn Tỳ kheo giới. Đắc giới xong, ngài
ở lại đây hai năm để cầu học những giới pháp đã tho
chọ được thông suốt rồi lại tiếp tục tham cầu Phật
pháp với các bậc tôn sư khắp nơi.
Năm
1672, ngài gặp thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn (tức tổ
đình Từ Đàm bây giờ), ở núi Long sơn, cố đô Huế, tổ
Tử Dung dạy cho ngài tham cứu câu thoại đầu :
-
“Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ ?”.
Nghĩa
là :
Muôn
pháp về một, một ấy đi về đâu ?
Từ
câu thoại đầu nầy, làm cho ngài ngày đêm suy nghĩ miên mang.
Cuối cùng, ngài lại phải trở về chốn cũ Phú Yên để
tịnh tu và tham cứu cho được câu mà tổ đã trao. Suốt năm
năm liền mà vẫn chưa làm bung vỡ được thâm ý của câu
thoại đầu, lòng tự hổ thẹn. Một hôm, nhân đọc cuốn
Truyền Đăng Lục, khi đọc đến câu :
“Chỉ
vật truyền tâm, nhân bất hồi xứ”
Nghĩa
là : Chỉ vật mà truyền tâm, chính vì vậy mà người
ta không hiểu nổi ; thoạt nhiên ngài tỏ ngộ và buông
sách xuống với một tâm niệm an lạc.
Năm
1708, ngài tìm ra núi Long Sơn để gặp tổ Tử Dung và trình
bày ý của ngài cho Tổ rõ về công phu đã tu tập trong mấy
năm qua.
Tổ
bảo :
-
“Hố thẳm buông tay,
Một
mình cam chịụ,
Chết
đi sống lại,
Ai
dám chê mình ?”.
Ngài
vỗ tay cười ha hả, Tổ liền nghiêm nét mặt, nói :
-
“Chưa được”.
Ngài
nói :
-
“Bình thùy nguyên thị thiết”
Nghĩa
là :
Trái
cân vốn là sắt,
Tổ
lắc đầu : Sáng hôm sau, tổ thấy ngài đi ngang, liền gọi
vào và bảo :
-
“Chuyện ngày hôm qua chưa xong, hôm nay hãy nói lại xem sao”
Ngài
đọc :
-“
Sớm biết đèn là lửa,
Cơm
chín đã lâu rồi !”.
Tổ
nghe xong lấy làm đẹp ý và hết lời khen ngợi.
Năm
1712, khi Tổ và ngài gặp nhau lần thứ ba nhân cùng đi dự
đại lễ Toàn Viện ở tỉnh Quảng Nam, ngài đem trình lên
tổ Tử Dung bài kệ Tắm Phật. Tổ hỏi :
-
“Tổ tổ tương truyền,
Phật
Phật thọ thọ,
Vị
thẩm truyền thọ cá thập ma ?”
Nghĩa
là :
Tổ
truyền cho Tổ,
Phật
truyền cho Phật,
Chẳng
hay các ngài truyền cho nhau cái gì ?
Ngài
liền đáp :
-
“Thạch duẫn trừu điều trường nhất trượng
Quy
mao phủ phất trọng tam cân”.
Nghĩa
là :
Búp
măng trên đá dài một trượng
Cây
chổi lông gà nặng ba cân.
Tổ
dạy tiếp :
-
“Cao cao sơn thượng hành thuyền,
Thâm
thâm hải đề tẩu mã”.
Nghĩa
là :
Chèo
thuyền trên núi cao,
Cởi
ngựa dưới đáy biển.
Ngài
đáp :
-
“Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống,
Một
huyền cầm tử tận nhật đàn”.
Nghĩa
là :
Gãy
sừng trâu đất rống thâu đêm,
Dây
dứt đàn tranh chơi suốt sáng.
Đến
đây thì tổ Tử Dung rất bằng lòng về sự tu tập của ngài.
Hoằng
hóa độ sanh :
Ngài
đắc pháp và được truyền tâm pháp vào lúc ngài vừa 42
tuổi. Nếu thiền sư Chân Nguyên được xem là nhân vật chủ
chốt để phục hoạt Phật giáo ở đàng Ngoài (Chúa Trịnh),
thì tổ Liễu Quán là nhân vật quan trọng tiêu biểu cho công
nghiệp phục hưng, xiển dương và trực tiếp lãnh đạo Phật
giáo ở đàng Trong (Chúa Nguyễn).
Trước
sau, ngài đã gặp và tham khảo cũng như được tổ Tử Dung
ấn chứng diệu pháp là ba lần :
-
Lần thứ nhất năm 1702,
-
Lần thứ hai năm 1708, lần nầy tổ Tử Dung ấn chứng cho
ngài về sự đạt ngộ chánh pháp của Phật và cũng là năm
mà ngài khai sáng tổ đình Thuyền Tôn.
-
Lần thứ ba vào năm 1712 tại đất Quảng Nam khi tổ Tử Dung
và ngài cùng dự lễ Toàn Viện, lần nầy ngài đã trình bài
kệ Tắm Phật với tổ.
Ngài
đã lập nhiều đạo tràng để truyền giáo như :
- Tổ
đình Thuyền Tôn ở núi Thiên Thai, xóm Ngũ Tây, huyện Hương
Thủy vào năm 1708, nhưng mãi đến năm 1747, chúa Nguyễn Phúc
Khoát mới ban biển sắc tứ cho chùa nầy; đồng thời, Đại
Hồng Chung đang được thờ tại đây cũng được đúc cùng
năm nầy, tức là năm Cảnh Hưng thứ tám.
- Tổ
đình Viên Thông sau lưng núi Ngự Bình (Chúa Nguyễn Phúc Khoát
rất sùng kính uy đức và đạo hạnh của ngài, nhiều lần
thỉnh ngài vào kinh để tham vấn giáo lý, ngài đều từ chối,
vì không muốn dính líu sự lui tới ra vào với triều đình;
do đó, chúa và quần thần hay vào tổ đình Viên Thông để
hỏi đạo, nên núi nầy có tên là núi Ngự).
- Tổ
đình Hội Tôn, Tổ đình Cổ Lâm và Tổ đình Bảo Tịnh ở
Phú Yên.
- Từ
năm 1733 đến năm 1735, ngài đã mở liên tiếp ba Đại giới
đàn để truyền trao giới pháp cho hàng xuất gia và tại gia.
Trong những đại giới đàn nầy, ngài cung thỉnh các bậc
Cao Tăng và tể quan cư sĩ ở Đế đô để chứng minh và ngoại
hộ cho Phật pháp.
- Năm
1740, ngài làm Đàn đầu Hòa thượng cho Đại giới đàn Long
Hoa ở tổ đình Thuyền Tôn.
- Năm
1742, lúc nầy ngài đã 72 tuổi, vì sự nghiệp Phật pháp,
ngài lại phải làm Đàn đầu Hòa thượng cho Đại giới đàn
tại tổ đình Viên Thông và có đến gần bốn ngàn người
tại gia cũng như xuất gia phát nguyện thọ giới.
Một
buổi sáng đẹp trời mùa đông năm 1742, nhằm ngày 21 tháng
11 âm lịch, tại tổ đình Viên Thông, ngài dạy đồ chúng
đem bút mực ra để viết bài kệ như sau:
Thất thập dư niên thế giới trung,
Không không sắc sắc diệc dung thông,
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà tất bôn mang vấn tổ tông ?
Nghĩa
là :
Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,
Không không, sắc sắc đã dung thông,
Hôm nay nguyện mãn về chốn cũ,
Nào phải ân cần hỏi tổ tông?
Sau
khi, ngài làm bài kệ xong, dùng trà thì Đại chúng đảnh lễ
và đứng hầu quanh ngài. Trong chúng có vị khóc thành tiếng,
ngài dạy :
-
“Quý vị đừng khóc. Chư Phật thị hiện còn nhập niết
bàn, còn tôi (tức là ngài Liễu Quán) thì đường đi nẻo
về đã rõ ràng, không việc gì mà phải khóc ...”
Mọi
người đều im lặng. Ngài căn dặn và tâm sự cùng đồ chúng
một hồi lâu, ngài hỏi :
-
“Đã đến giờ Mùi chưa ?”.
Chúng
đáp :
- Dạ, vừa đúng.
Ngài
dạy :
- “Sau khi tôi đã đi rồi, quý vị phải nghỉ đến sự vô
thường nhanh chóng của cuộc đời mà siêng năng tu tập trí
huệ, chớ nên quên lời dặn của tôi.”.
Ngài
dặn dò xong, thân ngồi kiết già và nhắm mắt thị tịch.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc làm bia ký và dựng tháp phụng
thờ ngài trên núi Thiên Thai cạnh tổ đình Thuyền Tôn, xóm
Ngũ Tây với thụy hiệu : Đạo Hạnh Thụy Chánh Giác
Viên Ngộ Hòa Thượng.
Tháp
của ngài được xây gần Tổ đình Thuyền Tôn, trên núi Thiên
Thai. Trước khi ngài viên tịch, ngài phú pháp cho hàng đệ
tử và truyền kệ như sau:
Thiệt
Tế Đại Đạo,
Tánh
Hải Thanh Trừng,
Tâm
Nguyên Quảng Nhuận,
Đức
Bổn Từ Phong,
Giới
Định Phước Tuệ,
Thể
Dụng Viên Thông,
Vĩnh
Siêu Trí Quả,
Mật
Khế Thành Công,
Truyền
Trì Diệu Lý,
Diễn
Xướng Chánh Tông,
Hành
Giải Tương Ưng,
Đạt
Ngộ Chơn Không.
Tổ
Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một tông
phái đặc thù và linh động, có một nền móng vững chắc
ở đàng trong (tức là từ Thanh hóa trở vào). Trước khi tổ
Liễu Quán xuất hiện, thiền phái Lâm Tế ảnh hưởng của
Trung quốc (vì có ngài Nguyên Thiều, ngài Thạch Liêm, ngài
Tử Dung, v.v..). Chính tổ Liễu Quán đã Việt hóa tất cả
từ văn hóa, kiến trúc và nghi lễ, v. v..
Ngài
có bốn vị đệ tử lớn: Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và
Từ Chiếu. Bốn ngài nầy đã tạo lập bốn trung tâm hoằng
dương chánh pháp lớn lao khắp đó đậy ở đàng Trong. Và,
từ thế kỷ thứ 18 trở về sau nầy nghiễm nhiên với danh
xưng Thiền Phái Liễu Quán
Khi
chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, Thiền Phái Liễu
Quán cũng đi dần theo quần chúng ở các vùng đất mới
Và
từ đó, Thiền Phái Liễu Quán cứ phát triển và lớn dần
lên mãi. Những năm đầu chấn hưng Phật giáo qua các thập
niên ba mươi, bốn mươí và cận đại, thiền phái Liễu Quán
đã đóng một vai trò trọng yếu của Giáo hội.
Hằng
năm, tùy theo hoàn cảnh và thời tiết, chúng ta là hậu
duệ, đều có tổ chức ngày Giổ Tổ để kỷ niệm ân đức
cao dày của Ngài, nhưng, cũng là mục đích nhắc nhở cho đàn
hậu tấn xuất gia cũng như tại gia biết về sự diễn tiến
chánh pháp từ sơ khởi cho đến lúc huy hoàng về Thiền Phái
Liễu Quán. Ngày giổ đầu tiên được tổ chức tại Tổ
Đình Từ Đàm Hải Ngoại tháng Mười ta năm Canh thìn – 2000
và suy tôn Hòa Thượng Thích Đức Niệm là Trưởng Môn phái
tại Hoa Kỳ. Năm Tân tỵ - 2001, là ngày Giổ Tổ thứ
hai. Và cứ như thế, luân phiên nhau mãi mãi. Quý Ngài cũng
như quý Phật tử nên thông tin cho nhau biết thêm về ngày
Giổ Tổ nầy để trong tương lai được đông đúc và khắn
khít với nhau về tình đạo nhiều hơn.