Phần
4
Một
Cái Nhìn Sáng Tỏ:
Tuệ
Giác và Từ Bi
Tự
Tánh Của Tâm
Khi
người ta nghe nhà Phật nói về sự trống không, khi họ nghe
tâm ta được diễn tả như là một khoảng không gian thênh
thang rộng lớn, họ lại tưởng tượng đến tâm tĩnh lặng
cũng giống như là một điểm đen (black hole) trong vũ trụ
vậy. Và từ đó họ có thể đâm ra sợ hãi và nói, "Tôi
càng lúc càng trở nên thoải mái trong khi ngồi thiền, nhưng
rồi tôi hoảng sợ là tôi sẽ quên đi mình là ai," hoặc "Tôi
sợ là mình lạc đi đâu đó và rồi không còn biết đường
mà trở về nữa."
Nói
chung thì chuyện ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Chúng ta lúc
nào cũng vẫn nhớ mình là ai. Và thường thì tác dụng của
thiền quán là để giúp chúng ta có mặt trong hiện tại hơn,
bây giờ và ở đây, chứ không phải đưa ta đến một nơi
chốn xa xôi, lạ kỳ nào khác. Một tâm rộng lớn và không
xao động, không có nghĩa là tâm ta sẽ trống vắng không còn
một ý nghĩ hoặc ý niệm hoặc cảm thọ nào nữa. Nó chỉ
có nghĩa là tâm ta không còn xao động, thế thôi!
Khi
tôi còn bé, thành phố nhỏ nơi tôi ở có thông qua một sắc
lệnh là cấm làm "ồn ào nơi công cộng." Tôi thường thắc
mắc không biết thế nào là làm ồn ào nơi công cộng. La
hét ở chỗ đông người chăng? Hay là ca hát trên đường
phố? Ngày nay, giữa đời sống phức tạp ở thành phố, ý
niệm về việc giữ cho một nơi chốn nào đó được thinh
lặng thật là một việc hết sức kỳ diệu.
Tự
tánh của tâm ta là tĩnh lặng. Đối với tôi thì khám phá
ấy, ít nhất trong thời gian đầu, vừa đem lại một tin vui
mà cũng vừa mang một tin buồn. Tin buồn là vì một tâm thư
thái, một tâm không bị động loạn, trạng thái ấy thì không
có gì là kỳ diệu hoặc phiêu diêu, biến hóa như tôi đã
từng mơ tưởng hết. Còn tin vui là vì sự tĩnh lặng ấy
lại chính là một trạng thái nhiệm mầu nhất của tâm ta,
và nó không bao giờ nhàm chán hoặc buồn tẻ hết. Chúng ta
có thể kinh nghiệm được nó mãi mãi. Và sở dĩ chúng ta
có thể kinh nghiệm được nó mãi mãi bởi vì nó chính là
tự tánh của ta.
-ooOoo-
Không
Có Một Cây Tùng Rực Lửa
*
Annie
Dillard đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với tôi vào
những năm tôi mới bắt đầu bước chân vào con đường tu
tập. Tôi đã đọc quyển Người Hành Hương tại Con Suối
Tinker của bà rất nhiều lần. Trong quyển ấy có một đoạn
đã làm tôi xúc động thật mạnh. Bà ghi lại, có một lần
trong khi bà đi xuyên qua rừng, trên đường trở về căn nhà
gỗ của mình tại Con Suối Tinker, nơi đây bà sống suốt
một năm trời trong rừng vắng để tiếp xúc với thiên nhiên.
Rõ ràng là lúc ấy tâm bà rất tĩnh lặng, sự chú ý của
bà rất cao, và bà đang sống trong một trạng thái như tiếp
xúc được hết với mọi sinh vật có mặt chung quanh bà. Lẽ
dĩ nhiên, đây là một trạng thái tâm thức mà từ đó người
ta có thể có được những tuệ giác rất khác thường.
Ngày
hôm ấy trên đường trở về căn nhà nhỏ, bà chợt thấy
một cây tùng bên đường bốc rực lửa. Tôi biết, khi đọc
những dòng ấy, không phải bà muốn nói là cây tùng ấy đang
bốc cháy thật sự. Tôi nghĩ có lẽ bà muốn diễn tả cây
tùng ấy có tỏa ra một hào quang hoặc một ánh sáng chói
chang nào đó. Sự kiện ấy, tự chính nó, tôi nghĩ không có
gì là lạ thường hết, nhưng vì bà đã nhìn nó bằng một
con mắt khác thường. Bà diễn tả lại giây phút ấy như
có một năng lượng chuyển hóa rất lớn, và viết rằng bà
sống cho những ảnh tượng như vậy.
Và
tôi cũng muốn mình sẽ có được một cây tùng rực lửa
giống như thế. Tôi nghĩ rằng nếu tâm ta tĩnh lặng đủ,
nó sẽ bùng sáng lên như một ngày lễ lớn, có pháo bông
rực sáng trong nội tâm, không cần biết bên ngoài là đêm
hay ngày. Tôi nghĩ có lẽ tôi cũng ít nhiều đã bị ảnh hưởng
vì cuốn phim Yellow Submarine của ban nhạc the Beatles, trong màn
đầu mọi vật đang trắng đen đột nhiên trở nên đầy màu
sắc. Tôi muốn thế giới của tôi được bừng sáng, rực
rở màu sắc.
Khi
tiếp tục thiền tập, đôi khi tôi cũng có lúc kinh nghiệm
được những giây phút có những sự kiện thú vị xảy ra
trong thân và tâm. Có lúc tôi cảm thấy cơ thể mình lâng
lâng vui sướng, thân tôi rung động mạnh vì một niềm hoan
lạc, màu sắc chung quanh tôi dường như sắc sảo hơn, đường
viền của những chiếc lá chừng như rõ nét hơn. Thực phẩm
trong khóa tu có những hương vị thơm ngon hơn bình thường.
Nhưng nó không có nghĩa là một trái táo khô sẽ trở nên
mọng nước hơn. Một trái táo khô sẽ vẫn là một trái táo
khô, tôi biết vậy. Và hương vị ngọt ngào sẽ vẫn là hương
vị ngọt ngào, và tôi cũng biết vậy. Nhưng không có gì bốc
lửa, không có gì tỏa hào quang, và cũng không có một trời
hoa pháo nào xảy ra trong tâm tôi. Một hôm, sau nhiều năm tu
tập, trong một khóa tu thiền, tôi đi dạo ra bên ngoài tu viện
và ngồi xuống trên một chiếc băng gỗ cạnh cửa sau, chờ
vài phút cho đến giờ ăn trưa. Ngày hôm ấy trời có nhiều
sương mù và mây xám. Tu viện là một tòa nhà cũ kỹ nằm
yên trong một khung cảnh buồn tẻ. Trời tháng hai California
u ám và tẻ nhạt. Chiếc băng ghế ngồi lạnh lẽo. Phía trước
mặt tôi là một thân cây, vẫn còn trơ trọi vì những nụ
lá xanh chưa nở. Tôi tự nghĩ, "Không biết đây có phải là
cây tùng của mình không!"
Tôi
nhắm mắt lại và chú ý đến hơi hở của mình. Tôi cảm
thọ được thân mình đang ngồi trên chiếc băng ghế lạnh.
Tôi cảm thọ được không khí ẩm ướt chung quanh. Tôi cảm
thấy rất thư thái. Tôi bắt đầu thấy thích chiếc băng
ghế lạnh, tôi thích sự cứng chắc của nó, tôi thích hơi
sương lành lạnh chung quanh tôi. Tôi ý thức là mình đang có
hạnh phúc. Tôi thấy hơi đói nhưng vẫn thấy là hạnh phúc.
Rồi chuông báo hiệu giờ ăn trưa vang lên. Tôi nghe tiếng
chuông, tôi thích âm thanh ấm áp ấy, nhưng tôi không cảm
thấy một sự thúc đẩy nào bảo tôi phải đứng dậy để
đi vào trong nhà sắp hàng. Tôi vẫn ngồi yên đó. Đột nhiên,
tôi ý thức được đây là một kinh nghiệm khá đặc biệt,
và sự kiện là không có một sự thúc đẩy nào khởi lên
trong tôi bắt tôi đi làm một chuyện khác, là phi thường
lắm. Đây là một tiếng chuông kêu gọi tôi đi vào nhà làm
một công việc thú vị hơn, trong một khung cảnh ấm cúng
hơn, và dù vậy trong tâm tôi không hề có một ý muốn nào
khởi lên bảo tôi phải thay đổi hoàn cảnh hiện tại của
mình. Tôi hoàn toàn mãn nguyện. Tôi tự nghĩ, "Hay thật! Mãn
nguyện là một trạng thái tâm thức kỳ diệu nhất. Nó khác
thường vô cùng." Tôi lại nghĩ tiếp, "Có lẽ đây là giây
phút giác ngộ của tôi. Có lẽ nếu tôi mở mắt ra, thân
cây trước mặt tôi sẽ ngời sáng và tỏa chiếu hào quang."
Tôi rụt rè nhút nhát, từ từ mở mắt ra. Thân cây trước
mặt tôi vẫn không có một chút gì thay đổi, nó vẫn thật
tầm thường. Nhưng tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.
Thỉnh
thoảng trong tôi cũng vẫn còn có một ước vọng về một
cây tùng rực lửa. Thường thường, những lúc nào tôi cảm
thấy thật tĩnh lặng và an lạc, tôi lại có một ý nghĩ,
"Cảm giác này thật kỳ diệu, có lẽ bây giờ là lúc cây
tùng bốc lửa của mình xuất hiện đây!" Nhưng chuyện ấy
chưa bao giờ xảy ra! Mà thật ra tôi nghĩ đó cũng là một
điều may mắn cho tôi. Nếu tôi có thấy được một lần,
nó chắc chắn sẽ không kéo dài lâu và rồi cũng qua đi, nhưng
tôi lại bắt đầu tìm kiếm để mong được thấy thêm một
cây tùng khác nữa. Nó sẽ thành một chướng ngại lớn.
Những
cây tùng rực lửa ấy hiếm hoi và khó mà xảy ra lắm. Nhưng
những giây phút an lạc thì có thể có mặt trong mỗi giây
mỗi phút trong cuộc đời. Thật ra, mỗi giây phút của ta
đều có tàng chứa sự an lạc. Sở dĩ ta không tiếp xúc được
với chúng, cũng bởi vì tâm ta vẫn chưa dừng lại đó thôi.
-ooOoo-
Ba
Con Dấu Của Thực Tại
*
Đức
Phật có nói đến ba sự thật về những kinh nghiệm trong
cuộc sống, về tất cả những kinh nghiệm trong cuộc sống
của ta. Chúng bảo đảm sẽ đem lại cho ta hạnh phúc và an
lạc nếu ta có thể thật sự hiểu được chúng. Thật ra
thì ba sự thật ấy rất là hiển nhiên, mỗi khi tôi đem ra
dạy, người ta thường hay nói, "Chỉ có vậy thôi sao? Ai mà
lại không biết việc đó!" Đúng vậy, chúng là những sự
thật hết sức bình thường, và mọi người có lẽ ai cũng
đều biết chút ít về chúng. Nhưng tôi tin rằng điều quan
trọng trên phương diện tu tập là ta phải hiểu cho thật
thẳm thấu, làm thế nào để chúng có thể giúp ta bớt sợ
hãi hơn và có hành động từ ái hơn.
Ba
sự thật ấy còn được gọi là ba con dấu, trong kinh điển
gọi là Tam Pháp Ấn, là ba đặc tính của mọi kinh nghiệm
trong cuộc sống của ta: anicca, dukkha và anatta. Anicca có nghĩa
là vô thường, tất cả mọi việc đều biến đổi không
ngừng. Không có gì trên đời này là có thể tồn tại mãi
được. Sự việc hiện lên từ một chân trời giả tưởng
mà ta gọi là "tương lai," chúng đi qua như những kinh nghiệm,
và biến mất vào trong một khoảng trống không mà ta gọi
là "quá khứ." Và ngày hôm qua của ta cũng nằm trong cùng với
một khoảng trống không như cuộc Thế Chiến vừa qua. Dukkha
có nghĩa là sự không vừa lòng, bất toại nguyện. Vì chung
quanh ta không có gì là bền vững, không một nơi nào cho ta
an nghỉ, nên cuộc sống là một chuỗi dài của những sự
điều chỉnh liên tục để đi tìm hạnh phúc. Và con dấu
thứ ba, Anatta, có nghĩa là vô ngã, không có một thực thể
riêng biệt. Nó có nghĩa là tất cả những kinh nghiệm của
ta chỉ là một dòng sông trôi chảy không ngừng nghỉ, nó
khởi lên, hiển lộ ra, và rồi biến mất đi. Và chỉ là
vậy! Ý niệm cho rằng có một người nào đó riêng biệt
đứng bên ngoài nhìn dòng sông ấy, chỉ là một ảo tưởng
mà thôi.
Nếu
những sự thật ấy quá đơn giản và ai cũng biết, thì tại
sao chúng ta phải cần đến sự tu tập làm gì? Nói cho cùng,
trong chúng ta có những người có tuệ giác một cách tự nhiên.
Nhưng còn đa số chúng ta, một cái biết kiến thức dường
như vẫn là chưa đủ. Sự tu tập vì vậy rất cần thiết,
vì nó có thể đem lại cho chúng ta một cái thấy sáng suốt
và sâu sắc, và nó còn có một tác dụng chuyển hóa nữa.
Trong kinh điển, sự chuyển hóa này còn được gọi là một
sự phát triển tuệ giác. Bạn không thể nhìn thấy được
tuệ giác, nhưng bạn có thể thấy được những phản ảnh
của chúng. Những phản ảnh của chúng chính là sự an lạc,
không sợ hãi và lòng từ ái của bạn.
-ooOoo-
Như
Bọt Nước, Sương Mai
*
Trên
một chuyến xe buổi sáng ở Massachusetts, tôi một mình với
chú tài xế trên đường đến phi trường Logan. Chú trông
cũng trạc tuổi tôi nên tôi đoán có lẽ chú cũng đã có
con, cháu. Chỉ trong vài phút, chúng tôi đã thăm hỏi nhau hết
về những chi tiết cần thiết - có bao nhiêu con cháu, trai
hay gái, mấy tuổi. Và rồi chúng tôi lại bàn tiếp đến
sự kỳ diệu của tính chất di truyền, như là màu tóc đỏ
của ông nội và tánh nhút nhát ghê gớm của dì nó đã biểu
hiện thật rõ ràng nơi đứa cháu trai bốn tuổi.
Vui
miệng, câu chuyện tự nhiên từ đó bắt sang những niềm
hạnh phúc: đứa cháu trai của chú là một diễn viên, cháu
trai tôi biết nói tiếng Thụy Điễn, gia đình của chú ai
cũng biết thương và lo lắng cho nhau, gia đình tôi cũng thế.
Và sau một hồi, chúng tôi lại sang đến những khó khăn:
đứa nào có những vấn đề về sức khỏe, về công ăn việc
làm, về chuyện vợ chồng...
Tôi
để ý thấy rằng cuộc đời của chúng ta ai cũng giống như
nhau, có những niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau tương xứng,
chỉ duy có tên tuổi nhân vật là thay đổi mà thôi. Chú gật
gù đồng ý và mỉm cười, khi nhớ lại một kỷ niệm xưa.
"Chúng tôi vui lắm," chú kể, "diện quần áo thật kẻng cho
mấy đứa con nít để đi lễ. Đứa lớn nhất được mười
chín tuổi khi em nó mới sanh, cả gia đình tôi cùng bước
vào một lượt trông thật đẹp mắt, tất cả là tám người.
"Ngày
lễ Giáng Sinh," chú tiếp tục, "đó mới thật là nhộn nhịp.
Vào lúc ấy cái gì thấy cũng là quan trọng vô cùng, và bây
giờ nhìn lại thì như là chưa từng xảy ra. Tôi đã làm việc
cho sở bưu điện hơn ba mươi bốn năm trời, trước khi về
hưu và bắt đầu lái xe, mà bây giờ nhìn lại cũng thấy
dường như chuyện sở bưu điện ấy cũng chưa xảy ra bao
giờ!"
Kinh
Kim Cang đã diễn tả sự thật ấy rất hào hùng, khuyên ta
nên nghĩ đến "cuộc sống vô thường" này như là "mộng huyễn,
như bọt nước, như sương mai, như ánh chớp" (Nhất thiết
hữu vi pháp, như mộng huyễn, bào ảnh, như lộ, diệc như
điển, ưng tác như thị quán.) Những học trò của tôi, đôi
khi cũng gặp khó khăn với những ý niệm như là sự trống
không hoặc là không có một thực thể riêng biệt. Vì trong
giây phút này mọi vật thấy dường như là rất thực, rất
quan trọng và rất vững chắc. Tôi nghĩ, có lẽ vì sự dũng
mạnh của ý kinh hoặc những hình ảnh ví dụ đã làm cho
họ bị rắc rối. Chỉ cần chiêm nghiệm lại kinh nghiệm
của chính cuộc đời mình, ta sẽ biết rằng những điều
kinh nói là sự thật.
-ooOoo-
Anicca:
Vô Thường
*
Anicca
là chân lý về vô thường, về cái tự tánh thay đổi và
biến chuyển liên tục của mọi kinh nghiệm. Lẽ dĩ nhiên,
chúng ta ai mà lại không biết rằng sự vật sẽ thay đổi,
rằng không có gì là tồn tại mãi mãi. Tôi không biết một
người nào mà lại thích đi gặp nha sĩ, nhưng chúng ta ai cũng
đã phải đi, và ít nhiều gì cũng tương đối cảm thấy
thoải mái, cho dù có vấn đề gì đi chăng nữa. Và tôi dám
chắc là sẽ không ai dám đi gặp nha sĩ nếu mỗi buổi hẹn
đều kéo dài vô tận, không biết khi nào ta mới được bước
ra khỏi phòng thuốc. Chúng ta biết là việc gì rồi cũng sẽ
đổi khác, cái gì rồi cũng sẽ qua, những khi mình đi gặp
nha sĩ. Nhưng trong cuộc sống, đôi khi ta lại quên việc ấy,
nhất là khi mình bị bối rối. Buồn rầu làm ta bối rối,
mất mát và muộn phiền làm cho ta sợ hãi. Nếu chúng ta có
thể giữ cho tâm mình được trong sáng một chút thôi, và
ý thức được rằng cái gì cũng chỉ là tạm thời, chúng
ta sẽ có thể đối diện với những hoàn cảnh phức tạp,
khó khăn bằng một sự ung dung.
-ooOoo-
Cái
Này Rồi Cũng Sẽ Qua
*
Đứa
con thứ tư của tôi chào đời khi đứa đầu tiên được
năm tuổi. Tôi rất vui mừng với hoàn cảnh của mình, và
niềm hân hoan ấy tràn ngập tâm tôi. Tôi vẽ hàng chữ "Cái
này rồi cũng sẽ qua," trên khung cửa nhà bếp. Và ngày ấy
cũng đã trôi qua. Bây giờ hồi tưởng lại những ngày tháng
đó tôi cảm thấy thật nhiều thương nhớ. Khi tôi hiểu được
thời gian lướt qua rất nhanh và những việc trong đời tôi
đã trôi ngang như một bóng mờ, tôi chợt ý thức rằng ngày
mai đây khi thức dậy, nhìn lại mình tôi sẽ thấy đã già
tám mươi tuổi. Khi mẹ chồng tôi đã lớn tuổi, bà ta thường
hay thở dài và nói, "Mới quay lưng một chốc mà rồi xong
hết!" Tôi thường nghĩ đó chỉ là kinh nghiệm cá nhân của
bà về cuộc đời. Bây giờ thì tôi biết đó là sự thật.
-ooOoo-
Không
Có Sự Dễ Chịu Nào là Lâu Dài
*
Căn
nhà tôi đang ở cũng đã được một trăm tuổi. Khi chúng
tôi mới dọn vào, ở trước cửa chánh có một hàng rào để
vịn tay dọc theo những bậc thang dẫn lên nhà. Những người
chủ trước, các cụ đã lớn tuổi, dọn đến một căn nhà
khác dễ dàng cho sự ra vào của họ hơn. Vì hàng rào vịn
tay ấy trông không được đẹp mắt cho lắm, và chúng tôi
vẫn còn trẻ trung, khoẻ mạnh, lúc vừa mới dọn vào chúng
tôi đã cho người tháo gỡ nó xuống.
Mới
đây, chúng tôi đã cho dựng gắn chiếc hàn rào vịn tay ấy
lên lại. Chúng tôi chưa cần đến nó nhưng đa số bạn bè
chúng tôi cần. Điều thật lạ lùng là tôi có cảm tưởng
như là mình mới tháo gỡ nó xuống ngày hôm qua đây thôi!
Nếu tôi kể lại một câu chuyện về cuộc đời vô thường,
bắt đầu bằng, "Cuộc đời tôi trôi qua như bóng mây..."
thì tôi có thể trở thành bi quan. Lòng thương cảm phải được
sử dụng để giúp ta trân quý giây phút hiện tại này hơn
thì mới có ích lợi. Còn nếu ta chỉ biết thương nhớ, tiếc
nuối về những gì mình đã bỏ lỡ, chúng sẽ chỉ trì kéo
ta xuống thêm mà thôi.
Phyllis
là một trong những người mà tôi biết ngày nay phải cần
đến chiếc hàng rào vịn tay ấy. Mười năm trước khi mới
gặp chị, chị có thể lên xuống những bậc thang trước
nhà tôi hết sức dễ dàng. Bây giờ cơ thể chị quá mỏng
mảnh, chị phải cần đến một chiếc ghế đặc biệt mới
có thể ngồi thoải mái. Tuần rồi, trong khi sắp xếp lại
mấy chiếc gối dựa lưng cho chị, tôi hỏi, "Chị có cảm
thấy dễ chịu hơn không?"
"Đở
lắm," chị trả lời một cách nuối tiếc, "nhưng không có
sự dễ chịu nào là được lâu hết!"
-ooOoo-
Dukkha:
Bất Toại Nguyện
*
Khi
ta nói, "Cuộc đời này không toại nguyện," việc ấy có vẻ
hơi thiếu lịch sự, như là chúng ta đang phàn nàn về một
cái gì. Tôi nhớ khi lên lớp Ba, tôi bị cô giáo phê "Không
vừa ý" trong mục "Làm việc và chơi đùa với bạn." Bây giờ
mỗi lần nghĩ lại tôi vẫn còn cảm thấy hơi bất mãn. Tôi
nghĩ, có lẽ tôi bị điểm xấu vì khi so sánh với những
người khác, họ đã làm việc và chơi với nhau hay hơn tôi.
Nhưng làm sao mà cuộc sống lại có thể là "không toại nguyện"
được? Ta so sánh nó với cái gì đây?
Con
dấu thứ hai của những kinh nghiệm trong cuộc sống là sự
bất toại nguyện, tức dukkha. Đức Phật dạy rằng sự bất
toại nguyện cơ bản nhất của ta phát sinh từ một ý thức
về sự vô thường. Đáng lẽ điều ấy phải khai phóng ta
mới phải! Vì khi ta "hiểu" được tính cách tạm bợ của
mọi vật, ta cũng sẽ "hiểu" là nếu mình bám víu vào bất
cứ một cái gì, chẳng những hành động ấy hoàn toàn vô
ích mà còn sẽ mang lại cho ta nhiều khổ đau nữa.
Không
một việc gì mà có thể tồn tại mãi được. Có lần tôi
hướng dẫn một khóa tu dài một tuần cho toàn những thiền
sinh mới. Đa số những phương pháp thiền tập, kể cả phương
pháp thiền quán mà tôi hướng dẫn, đều bắt đầu bằng
cách yêu cầu mỗi người chú ý đến cảm thọ của hơi thở.
Lý do là vì chúng ta ai cũng thở, hơi thở rất bình dị và
ai cũng có thể cảm nhận được nó rất dễ dàng. Biết chú
ý vào kinh nghiệm của hơi thở sẽ đem lại cho ta sự tĩnh
lặng và một khả năng tập trung sáng tỏ.
Tôi
cố diễn đạt những lời hướng dẫn của tôi sao cho mọi
người có thể chú ý và kinh nghiệm được sự biến đổi
liên tục đang xảy ra trong họ và chung quanh họ. Tôi cố ý
làm việc ấy. Vì hy vọng của tôi khi hướng dẫn mọi người
là không những họ sẽ được trở nên tĩnh lặng, mà còn
phát sinh được tuệ giác, và sẽ tự chứng nghiệm được
những chân lý giải thoát mà đức Phật đã dạy. Tôi nói
những lời như, "Khi bạn đặt sự chú ý của mình vào kinh
nghiệm của hơi thở, bạn hãy nhớ ghi nhận sự sinh lên và
diệt đi của chúng. Hể cái gì có sinh thì sẽ có diệt."
Mỗi
ngày qua trong khóa tu, và tôi tiếp tục đưa ra những lời
hướng dẫn tương tự, với hy vọng sẽ giúp mọi người
chú ý đến cái tính cách tạm bợ của mọi hiện tượng.
"Khi đi, hãy ghi nhận mỗi bước chân đặt xuống của ta sanh
lên và diệt đi như thế nào." "Khi ăn trưa, hãy ghi nhận đến
cơn đói bụng của ta lúc ban đầu, nó dần mất đi khi ta
tiếp tục ăn."
Cuối
cùng, một buổi chiều, như là không còn chịu đựng được
nữa, một thiền sinh cắt ngang lời tôi: "Sao bà cứ lại nói
như thế hoài vậy?" anh ta kêu lên. "Tôi không chịu nổi khi
bà cứ nói như vậy."
"Tôi
nói như vậy," tôi đáp, "vì đó là sự thật."
Tôi
rất cảm thông với sự bất mãn của anh. Tôi có thể chia
xẻ được điều ấy vì tôi cũng đã từng trải qua một
thời gian dài tương tự. Trên con đường tu tập, tôi cũng
đã từng có những lúc mà tôi chỉ ý thức được duy có
mỗi sự sanh diệt của các hiện tượng mà thôi. Cuộc sống
đối với tôi dường như chỉ là những bài toán khó khăn,
đau đớn, và vô lý trên con đường đi đến cái chết. Trong
một buổi trình pháp, tôi kể cho vị thầy tôi nghe là tôi
cảm thấy mọi chuyện bây giờ đối với tôi dường như
rất là trống vắng và vô nghĩa.
"Cẩn
thận nhé Sylvia," ông bảo, "đừng để cho cái tuệ giác về
tính chất bất toại nguyện này làm khổ đến kinh nghiệm
sống của chị."
"Cám
ơn thầy nhiều lắm," tôi lịch sự trả lời, như học trò
đối với một vị thầy mình kính mến, tin là ông hiểu rõ
những gì ông nói, và tôi chào ông bước ra ngoài. Khi cánh
cửa khép lại phía sau lưng, tôi nghĩ, "Nhưng phải LÀM SAO
đây?"
Không
lâu sao đó, vẫn còn bị dính mắc với quan niệm rằng đời-vô-nghĩa-vì-bất-toại-nguyện,
tôi cùng với nhà tôi đi nghỉ mát ở Hạ Uy Di vào một ngày
lễ. Kinh nghiệm lần ấy mới thật là kỳ cục! Hạ Uy Di
phải là một nơi của tình yêu và thơ mộng. Hai vợ chồng
tôi cùng ngồi với nhau ngoài vỉa hè của một nhà hàng, ngắm
mặt trời hoàng hôn lặn cuối chân trời. Chung quanh tôi là
những cặp tình nhân nắm tay nhau, nhìn hoàng hôn mỉm cười,
chắc chắn là họ đang thì thầm với nhau những lời tình
tứ, trong khi chỉ có mình tôi là đang khóc thầm trong lòng!
"Lại một buổi chiều tàn, một ngày lại trôi qua! Mọi việc
đang đi qua! Cuộc đời sao thấy trống vắng và vô nghĩa quá!"
Tôi đoán có lẽ lần ấy tôi đã không là một người bạn
đồng hành vui tươi lắm đối với nhà tôi.
Nhưng
tôi nghĩ chúng ta vẫn có thể ý thức được tính chất bất
toại nguyện của cuộc sống mà không cần phải chán bỏ
hết tất cả. Khi ta ý thức được sự mỏng manh và tạm
bợ của mọi hiện tượng, sự thật là sớm muộn gì chúng
ta rồi cũng sẽ mất nhau, ta sẽ cảm thấy mình cần phải
biết luôn thương yêu nhau, hiểu biết nhau hơn. Đối với
một người bị bệnh nan y chúng ta thường nói, "Bà ấy không
còn được bao nhiêu ngày nữa." Thật ra thì tất cả chúng
ta cũng sẽ còn có được bao nhiêu ngày nữa? Nào ai có thể
biết chắc được con số ấy là bao nhiêu. Chúng ta không có
một giây phút nào để lãng phí cả!
-ooOoo-
Dẫu
Đời Có Là Vô Nghĩa, Món Nấm Vẫn Quan Trọng
*
Cuộc
đời của người bạn tôi, Alta, là một bài học cho tôi,
mà cái chết của bà cũng là một bài học nữa. Suốt bảy
mươi chín năm trời, bà có một cuộc sống dồi dào sức
khỏe, đùng một cái bà ngã bệnh nặng, và mọi người ai
cũng biết là bà khó có thể nào qua khỏi. Bà đã chấp nhận
số phần ấy với một thái độ khoan dung thường ngày của
bà. Nhưng đó chỉ là phân nửa bài học mà bà đã dạy tôi.
Phân
nửa bài học còn lại, là về cái gì là thật sự có ý nghĩa.
Lần cuối cùng bà còn có thể nói chuyện với tôi, hai ngày
trước khi bà nhắm mắt, chúng tôi bàn về ý nghĩa của cuộc
đời.
"Tôi
đã suy nghĩ nhiều về ý nghĩa của cuộc đời này," bà nói,
"và nó dường như không có gì là quan trọng lắm! Em nghĩ
sao?"
"Có
lẽ thật ra nó chẳng có gì cả, nhưng người ta lại cứ
làm loạn cả lên." Tôi đáp.
"Ừ
chắc là vậy," bà trả lời và tiếp, "Em đã đọc một bài
điếu văn thật hay lúc bác trai ở nhà mất."
"Em
sẽ viết một bài cho chị."
"Nhưng
tôi không muốn làm phiền gì đâu..."
"Ồ
có gì đâu mà chị lại nói vậy, Alta! Chị muốn em nói gì
về chị?"
"Cái
gì cũng được. Em nói bất cứ điều gì em muốn."
"Em
biết rồi, nếu em đọc cái công thức về món nấm ngâm sốt
đặc biệt của chị, có được không?"
"Ý
đó hay lắm! Món đó thì tuyệt. Tôi biết có nhiều người
thích nó lắm!"
"Mà
chị còn nhớ công thức không? Chị đọc lại cho em nghe đi!"
"Tôi
không nhớ hết. Em tìm trong hộp đựng giấy tờ đồ ăn để
trong nhà bếp. Em nhớ nhắc kỹ là không nên nấu lâu hơn
bốn tiếng đồng hồ trước khi dùng. Nấm sẽ khô héo đi!"
Tôi
nghĩ, nấm cũng có ý nghĩa quan trọng như bất cứ một việc
gì khác trên cuộc đời này.
-ooOoo-
Anatta:
Vô Ngã
*
Sự
hiểu biết có năng lực giải thoát thứ ba mà đức Phật
dạy là vô ngã, tức anatta. Thật ra đó cũng chỉ là một
hình thái khác của luật biến đổi mà thôi. Vì mọi vật
đều luôn luôn thay đổi, nên không có ai có thể làm chủ
của sự thay đổi được, và cũng không thể có một ai để
cho sự thay đổi ấy xảy đến. Chúng ta là động từ chứ
không phải danh từ, là những kinh nghiệm đang xảy ra, là
những câu chuyện mà tự chúng tự kể lấy và rồi tiếp
nối nhau. Một câu chuyện này đều có liên hệ đến tất
cả những câu chuyện khác. Trong kinh điển đức Phật dùng
chữ duyên khởi để diễn tả rằng mọi việc nhờ nương
nhau mà có, tất cả mọi hiện tượng đều có liên quan mật
thiết với nhau, hoàn toàn không có một cái gì có thể đứng
riêng rẽ, cá biệt, một mình được hết.
-ooOoo-
Cái
Nhìn Xa Rộng, Cái Nhìn Nhỏ Gần
*
Tôi
nhớ có đọc đâu đó là những phi hành gia đã từng đặt
chân lên mặt trăng, hoặc có lẽ tất cả những phi hành gia
nào đã đi xa đủ để có thể nhìn lại và thấy được
toàn thể trái đất một lần thôi, họ đều cùng chia xẻ
chung với nhau một kinh nghiệm. Họ cảm nhận được sự nhiệm
mầu của những gì đang xảy ra trên mặt điạ cầu mà không
hề cộng thêm vào đó một sự phê phán tốt xấu, như khi
bắt đầu trở về gần lại trái đất. Tôi cũng có một
kinh nghiệm tương tợ khi tôi có dịp đi đâu cách xa gia đình
mình. Chỉ sự hiện hữu của những người tôi thương thôi,
cũng đủ quan trọng hơn bất cứ một sự bất mãn hoặc ưa
thích nào của tôi có về họ khi chúng tôi ở gần nhau. Sự
thực nghiệm tâm linh sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn rộng
lớn và bao dung, cho dù chúng ta có đang rất thân thiết và
gần kề bên nhau.
Tấm
ảnh mà tôi thích nhất là hình trái đất mọc khi nhìn từ
mặt trăng. Nó tuyệt đẹp. Một trái banh lớn màu xanh dương
và lá cây lơ lững giữa không gian mênh mông đen thẳm, nằm
yên trên quỷ đạo của nó. Từ điểm nhìn ấy, quang cảnh
trên trái đất kỳ diệu vô ngần! Có loài sinh vật sinh ra,
có loài chết đi, cây cỏ một bên đang nở rộ, một bên
đang tàn héo, có tuyết rơi, mưa đổ, gió thổi, núi lửa
phun, động đất rung chuyển, tiếng người ta nói chuyện,
âm thanh ca nhạc hát vang. Từ mặt trăng nhìn về, đó là một
vở tuồng vũ trụ lạ kỳ. Và từ ở chỗ chúng ta đứng,
bên trong vở tuồng ấy, nhìn lên mặt trăng, thì đó lại
là một câu chuyện khác. Nó biến từ một vở tuồng của
chung thành một vở tuồng của riêng tôi, và từ đó trở
thành một vấn đề. Nếu bạn đứng xa đủ để nhìn lại,
thì nó không phải là câu chuyện riêng của bạn đâu - nó
là một trong những năm tỷ rưởi câu chuyện trên quả đất
này.
Làm
cách nào để giữ cho ta có được hai cái nhìn như thế cùng
một lúc là một thử thách lớn. Có một lần, cách đây hai
mươi năm, người bạn của tôi, Zalman, có đưa ra một ví
dụ mà tôi đã kể lại cho các thiền sinh của tôi nghe rất
nhiều lần. Nó cho ta thấy muốn giữ cho mình có được hai
quan điểm ấy cùng một lúc đòi hỏi một sự tinh tế vô
cùng. Ông ta bảo chúng ta hãy tưởng tượng mình đang ở trong
một rạp hát, bắt đầu chiếu đoạn mở đầu cho cuốn phim
kinh dị Psycho của Alfred Hitchcock. Nữ tài tử Janet Leigh bị
đâm nhiều nhát dao trong phòng tắm. Chúng ta cảm thấy sợ
hãi và định đứng lên bỏ về, nhưng người bạn ngồi cạnh
bên cản lại và nói, "Có gì đâu, người ta chỉ đóng phim
thôi mà!" Ông Zalman bảo ta hãy tưởng tượng tiếp, là mình
lại ngồi xuống và tiếp tục theo dõi truyện phim, bắt đầu
thấy nó hấp dẫn, và rồi cũng người bạn ấy, cứ mỗi
hai phút lại khều ta và nói, "Nhớ nhé, đây chỉ là đóng
phim thôi!" Ta sẽ bực mình và bảo, "Để yên cho tôi một
chút có được không, tôi đang thưởng thức truyện phim mà!"
Dẫu
biết rằng cuộc đời này cũng giống như một cuốn phim mà
mỗi người chúng ta được giao phó cho một vai tuồng, điều
ấy không có nghĩa là ta có thể có một thái độ bất cần
hoặc dững dưng với nó được. Thật ra những diễn viên
giỏi bao giờ cũng cảm nhận được vai tuồng của họ, và
hài lòng khi được người khác phê bình là nhân vật của
họ rất sống động. Tôi muốn cảm nhận được sự sống
của tôi một cách trọn vẹn, đóng vai trò của mình như nó
là thật, và vui vẻ cởi bỏ áo mão sau khi màn đã buông xuống.
Muốn được như vậy, tôi cần phải giữ cho mình một cái
nhìn bao dung và rộng lớn.
Khi
ba tôi sắp mất, tôi đã có mặt bên cạnh ông suốt những
ngày chót của cuộc đời. Những ngày cuối ấy, ba tôi bị
chìm trong một cơn hôn mê, thỉnh thoảng ông tỉnh dậy. Chúng
tôi biết ba không còn được bao lâu nữa, cố giúp cho ông
được dễ chịu chừng nào tốt chừng ấy, chờ hơi thở
chót. Rồi có lúc ba tôi dường như đang trút một hơi thở
cuối: thân ông rung động mạnh, hơi thở đứt quảng, tất
cả những triệu chứng của một người sắp chết. Tôi siết
chặt tay ông và nói một bài đã sửa soạn trước: "Hãy đi
vào nơi có ánh sáng" và "Bây giờ là cơ hội để ba rời
bỏ thân xác này." Tôi rất hài lòng là mình đã nói những
lời ấy, vì đó là những lời mà người hấp hối cần được
nghe! Nào là "Ba đã làm hết những gì ba cần làm trong kiếp
sống này rồi." "Mọi người đều thương và quý ba." "Đã
đến lúc ba phải tiếp tục hành trình của mình rồi." "Ba
đâu cần gì cái thân hư hao này nữa..." Mỗi lần thấy ba
tôi vất vả với hơi thở của ông, là tôi lập lại bài
diễn thuyết ấy. Có lúc ông trở nên thoải mái hơn và ngủ
thiếp đi, tôi lại chờ đợi. Vào lúc cuối, hơi thở của
ông trở nên đứt quảng liên tục, tôi nhỏm dậy và lại
bắt đầu nói về "Hãy đi vào ánh sáng..." Ông mở mắt ra
nhìn tôi và nói một cách thật rành mạch, "Con biết không,
chẳng có gì đâu con, đừng làm cho to chuyện!"
-ooOoo-
Bác
Thợ Sửa Máy May: Quên Đi Câu Truyện Của Mình
*
Tuệ
giác của Vô Ngã, một ý thức rằng câu truyện này là không
có chủ, điều ấy có lẽ khó hiểu nhất. Ví dụ, khi ta nói
"Tôi buồn quá," thì ta thật sự cảm thấy như có một người
nào đó trong ta là chủ của nỗi buồn ấy. Có một lần,
tôi gặp được một người mà ông ta có thể nhìn thấu suốt
qua được câu truyện của ông, và hoàn toàn tự tại.
Chiếc
máy may của tôi bị hư, cần được sửa. Vì vừa dọn đến
một thành phố mới nên tôi giở quyển sách điện thoại
niên giám ra để tìm một đại lý sửa máy may. Khi lái xe
đến tiệm, tôi chú ý đến một tấm bảng để bên ngoài
cửa sổ ghi: "Công việc tốt đẹp. Mọi người thật tuyệt.
Cuộc đời kỳ diệu!" Tấm bảng ấy hơi khác thường đối
với một cửa tiệm sửa máy may. Mà thật ra nó cũng bất
thường đối với bất cứ một cửa hiệu nào khác.
Bước
vào bên trong, tôi nhận thấy trên những vách tường và trên
mặt quầy hàng có trưng bày những khẩu hiệu lạc quan, như
là: "Khi cuộc đời trao cho bạn một trái chanh, hãy pha cho
mình một ly chanh đá!" "Ngày hôm nay là của bạn, muốn nó
sẽ ra sao là tùy ở nơi bạn." Người chủ tiệm ra dấu chào
tôi, và rồi tiếp tục chú ý hoàn toàn đến người khách
hàng đang ở trước mặt ông. Ông ta chẳng có gì là vội
vã, thế nên tôi cũng vậy.
Khi
đến phiên tôi, ông ta tiếp đãi thật chu đáo. Sau khi đã
hoàn tất thủ tục bỏ sửa chiếc máy may, tôi mạo hiểm
hỏi một câu tâm lý hơi có tính cách cá nhân: "Bác trông
có vẻ là một người vui tính," tôi nói. "Chắc Mẹ bác cũng
vui tính và yêu đời như bác?"
"Không,"
ông trả lời. "Mẹ tôi nghiện rượu và rất chán đời."
"Tôi
đoán," tôi tiếp tục, "chắc là Ba của bác phải là một
người gương mẫu cho bác noi theo."
"Không
Ba của tôi ưa nổi nóng bất thường lắm, và ông hay đánh
đập chúng tôi."
"Thế
nhưng bác lại trở thành một người thành công như vầy thì
thật là hay quá!" Tôi buột miệng khen.
"Tôi
không thành công lắm đâu! Tôi cũng đã có lúc tệ hại lắm!"
Ông mỉm cười, hơi có một nét gì hối tiếc. "Tôi học hành
không ra gì. Không bao giờ thật sự biết đọc. Tôi ra Trung
học vì mình cứ lớn dần và lớn dần, đến một lúc nhà
trường bắt buộc phải cho tôi lên lớp vậy!"
Ông
kể lại câu truyện của đời ông không chút ngại ngùng.
Và tôi tiếp tục hỏi. Trường hợp của ông hình như rất
ngoại lệ, nó bất chấp hết mọi sự khôn ngoan thường tình.
"Sau
khi ra Trung học mọi việc lại càng tệ bạc hơn. Tôi vướng
vào nghiện ngập. Tôi bị lôi thôi đủ chuyện này nọ. Cuối
cùng, không biết làm gì hơn, nên tôi xin gia nhập vào thủy
quân lục chiến. Ngày đầu tiên, họ phát cho tất cả chúng
tôi đồng phục, tóc hớt ngắn y như nhau. Họ bảo chúng tôi
ngồi quay mặt vào trong tường, và xởn hết tóc mọi người.
Rồi họ xoay người bọn tôi lại, sáu đứa tất cả, cùng
một lúc đối diện trước một tấm gương lớn. Tôi giật
mình hơi kinh hoảng một chút. Tôi không tìm được ra mình
trong ấy. Không có một người nào trong đó mà tôi biết được
câu truyện đời của anh ta!"
Đối
với tôi, đó là câu quan trọng nhất trong bài tự thuật của
ông. " Không có một người nào trong đó mà tôi biết được
câu truyện đời của anh ta!" Ông ta kể tiếp, sau khi thấy
rằng tất cả vấn đề chỉ nằm ở chỗ câu truyện nào
là "của" ta, ông quyết định tìm cho mình một câu truyện
mới. Câu truyện cũ, ông nghĩ, đã không giúp ích gì cho ông
lắm.
Sau
khi giải ngũ, nhờ đã học về máy móc, ông được huấn
luyện thêm về ngành sửa máy may, lập gia đình, có con, và
làm chủ một cửa tiệm nhỏ nhưng khá đông khách. Ông cười
to và nói với tôi là chưa bao giờ ông đọc hơn trọn một
quyển sách trong suốt đời mình. Nhưng người ta cứ thích
đổ xô kéo đến tiệm ông. Tôi nghĩ một phần có lẽ vì
ông sửa máy may giỏi. Còn phần lớn có lẽ vì họ thích
cái không gian chung quanh ông. Tôi đoán chắc là không phải
khác hàng nào cũng nhiều chuyện như tôi. Tôi nghĩ họ chỉ
linh cảm rằng ông ta có biết một cái gì đó rất đặc biệt.
-ooOoo-
Thiên
Trú
*
Trong
kinh Phật, tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ và xả còn được
gọi là thiên trú, tức những nơi cư ngụ của các bậc Phạm
Thiên. Tự tánh của tâm, khi không bị vô minh che lấp, rộng
lớn tột cùng. Tâm ta tự nó vô cùng tĩnh lặng, ôm trọn
hết tất cả mọi sự và giữ gìn chúng trong một sự quân
bình rất tự tại.
Và
từ chính nơi chốn an tĩnh này mà những phản ứng trong tâm
ta phát khởi lên để đáp ứng lại những biến cố của
cuộc đời. Tâm Từ phát sinh lên như một phản ứng tự nhiên
đối với mọi người và mọi loài. Tâm Bi phát khởi khi ta
tiếp xúc được với nỗi khổ của người khác. Tâm Hỷ
là một niềm vui sinh lên từ sự chia xẻ với hạnh phúc và
sự may mắn của kẻ khác, khi ý thức được nó. Và tất
cả ba trạng thái ấy của tâm, từ, bi và hỷ, là những phản
ảnh khác nhau của một tâm buông xả, trầm tĩnh cơ bản,
trong ta.
Sự
trầm tĩnh ấy không có nghĩa là trống không. Sự trầm tĩnh
của tâm xả tàng chứa hết tất cả.
-ooOoo-
Tâm
Từ
*
Từ
trong tiếng Pali gọi là metta, có nghĩa là một tình thân toàn
vẹn và không hạn chế. Đức Phật dạy, khi tâm ta an ổn,
nó sẽ có những đặc tính như là thân thiết, tương đắc
và đầy thiện ý. Một tâm an ổn sẽ thương mến, hầu như,
hết tất cả mọi người. Ngay đối với những kẻ, dầu
cho cá nhân hoặc hành động của họ có khó ưa đến đâu,
tâm an ổn của ta cũng sẽ thích nghi được bằng tình thương.
Có
nhiều phương cách khác nhau để giúp ta nuôi dưỡng và phát
huy tâm từ. Có những phương cách sử dụng thiền quán. Có
những phương cách áp dụng sự thực tập vào đời sống
hằng ngày, như là mỉm cười với người bán hàng ở tiệm
siêu thị, giúp người khác khuân những món đồ nặng, giữ
cửa thang máy cho người cuối cùng bước vào. Nếu chỉ nhìn
phớt qua, ta sẽ có cảm tưởng như sự thực tập tâm từ,
metta, là để giúp cho kẻ khác. Nhưng thật ra nó cũng là cho
chính ta.
Tình
thân ái không có gì là khó. Chúng ta không cần phải học
cách thân ái. Chúng ta chỉ cần phải nhớ để bày tỏ sự
thân ái mà thôi. Các em bé, trừ những khi sợ hãi, bao giờ
cũng thân thiện. Những chú chó con cũng thân thiện. Một anh
bạn của tôi, mới đây khám phá ra rằng những con chim cánh
cụt (penguin) ở Galapagos, cũng rất là thân thiện, vì chúng
không cảm thấy sợ hãi.
"Tôi
đang sợ sệt một vấn đề gì đây?" là một câu tôi tự
hỏi mỗi khi cảm thấy mình không thích thân thiện với một
người nào đó. Luôn luôn phải có một cái gì! Khi mới bắt
đầu thực tập thiền quán về tâm từ, trong khi ngồi thiền
tôi tập phóng những tư tưởng, mong ước tốt lành của tôi
đến tất cả những người tôi biết. Tôi giật mình khi khám
phá ra là mình đã cất giữ trong tâm một danh sách thật dài
về những người mà tôi ghét. Thật ra nó cũng chẳng có gì
là quan trọng, bực mình người này một chút, không ưa gì
người kia lắm, hơi bất mãn về một người nọ... những
chuyện lặt vặt đâu đâu nhưng chúng đã khéo léo và bí
mật dẫn tôi đến việc sắp xếp họ vào trong một nhóm
người mà "Tôi không ưa thích gì mấy."
Nhưng
không phải là tôi cố ý ghét bỏ gì những người đó mà
xếp họ vào một danh sách riêng. Thật ra, tôi rất ngạc nhiên
về những ký ức ấy, và cũng rất bất mãn về những ảnh
hưởng của chúng có đối với tôi. Nghĩ thật là kỳ cục,
vì chuyện cũng đã biết mấy năm qua rồi! Nó cũng làm xấu
đi cái hình ảnh mà tôi có về chính mình. Tôi đã từng rất
hảnh diện rằng tôi là một người rất cởi mở và rộng
lượng, nhưng khi thấy được chân tướng của mình, tôi thất
vọng vô cùng.
Cũng
vì cảm thấy thất vọng và không muốn âm thầm mang cái danh
sách thù ghét ấy trong tâm mãi, tôi quyết định thực tập
ban rãi tâm từ, tình thương đến những ai đã từng gây thương
tích cho tôi.
Dần
dần cái danh sách của những người "khó ưa" ấy cũng bắt
đầu thay đổi. Những người tôi không ưa không còn là một
đe dọa đối với tôi nữa. Sau một thời gian, tuy vẫn còn
nhớ tên những người trên danh sách ấy, nhưng cái năng lượng
tiêu cực của nó đã biến mất. Ngày hôm nay, tôi khám phá
ra là mình không còn nhớ một tên nào nữa!
Dễ
thương cũng là một danh từ kỳ cục khác, nhưng nó đi đôi
với lại thân ái. Không phải tôi bắt đầu tu tập vì muốn
mình được là một người dễ thương. Tôi nghĩ mình bao giờ
cũng đã là dễ thương rồi. Tôi tu tập vì muốn được bớt
sợ hãi. Nhưng dầu sao thì tôi cũng đã trở nên dễ thương
hơn, và lại còn được bớt sợ hãi nữa.
-ooOoo-
Biết
Thương Yêu là Biết Hạnh Phúc
*
Phóng
rãi tâm từ, gởi những ý nghĩ tốt lành, đến người ta
thương mến thường thường thì bao giờ cũng dễ. Ban rãi
ý nghĩ tốt lành của ta đến những người nằm trong danh
sách "khó thương", cái đó mới là khó. Điều mà giúp ta có
thể thực hiện được việc ấy là nhớ lại ít nhất một
việc gì tích cực mà người ấy đã làm, kỷ niệm đó có
thể sẽ giúp mở rộng trái tim ta. Chìa khóa ở đây là sự
tha thứ. Không làm được điều ấy ta chỉ sẽ gặp đớn
đau thôi.
Ngày
sinh nhật thứ mười chín của tôi, một tháng sau khi tôi làm
đám cưới, bà cố dì của tôi, Sarah, mất trong bệnh viện
Bellevue, sau một cơn bệnh dai dẳng và suy nhược. Ba tôi, thân
nhân duy nhất của bà, không có mặt trong nước, còn lại
chỉ có mình tôi là phải đứng ra để lo việc mai táng. Những
người thân thích của bà gọi điện thoại lại cho tôi, bảo
đảm là sẽ không có một vấn đề gì hết, bà cố tôi là
một thành viên trong hội mai táng và những chi phí đã được
trang trải xong xuôi hết rồi. Tôi chỉ cứ việc có mặt vào
sáng mai tại nhà quàng. Tôi lo sợ chết đi được, tôi không
hề có một kinh nghiệm gì với chuyện chôn cất hết. Ba chồng
tôi bảo, "Ngày mai Ba sẽ đi với con!"
Khung
cảnh của nhà quàng tối tăm và ảm đạm, tôi cảm thấy
kỳ quặc. Tôi là người đàn bà duy nhất có mặt ở đó.
Có những nhóm ông cụ già, không có họ hàng gì với chúng
tôi, tụm lại với nhau, họ là những người trong ban tụng
niệm minyan, gồm có mười người mỗi nhóm. Có hai người
đàn bà lớn tuổi bước ra từ căn phòng phía sau và ra về.
Ông chủ nhà quàng bước đến gần bên tôi và nói, "Đó là
những bác đã đến để tắm rửa, sửa soạn cho người chết
trước khi chôn. Bây giờ, cần một phụ nữ trong gia đình
vào nhà trong để kiểm soát lại thân thể người chết."
Chắc là gương mặt của tôi lúc ấy phải là tái ngắt. Ba
chồng tôi nói, "Để Ba vào coi cho!"
Ba
chồng của tôi, Harry Boorstein, sống thêm mười lăm năm nữa,
những kỷ niệm tôi có về ông thì rất là chung chung, lờ
mờ, không có gì rõ rệt, chỉ nhớ ông là một người tốt.
Nhưng mỗi lần tôi nghĩ đến ông trong giây phút ấy tại
nhà quàng, tôi cảm thấy một sự biết ơn vô cùng và trái
tim tôi mở rộng. Mỗi khi tôi nhớ lại bất cứ một lời
nói vu vơ nào, một hành động vô ý nào của ông, tôi chỉ
có thể nhớ lại câu nói ấy của ông tại nhà quàng - "Để
Ba vào coi cho" - và tôi thấy thương ông. Tôi rất trân quý
giây phút đó, vì nó là cây chìa khóa kỳ diệu để thương
ông mãi mãi, và khi tôi biết thương yêu, tôi hạnh phúc.
-ooOoo-
Thương
Yêu Mọi Người là Chuyện Dễ Nhất
*
Nửa
giờ sau khi cất cánh trên chuyến bay từ Chicago, viên phi công
thông báo, "Không có gì đáng lo cả, thưa quý vị, nhưng chúng
ta bị hư mất một hệ thống thủy lực của phi cơ, chúng
ta sẽ quay trở lại Chicago để sửa, thay vì băng ngang qua
rặng núi Rocky mà không có hệ thống ấy." Trong khi viên phi
công báo tin, chiếc phi cơ đánh một vòng tròn lớn quay trở
lại. "Chừng ba mươi phút nữa chúng ta sẽ đáp xuống đất,
xin quý vị hãy ngồi nghỉ cho thoải mái."
"Thoải
mái?!" Tôi đang đọc quyển sách mới của bạn tôi Joseph "Kinh
Nghiệm Thiền Quán", viết về chánh niệm và thiền quán, khi
nghe lời thông báo ấy. Chánh niệm tức là ý thức được
rõ ràng kinh nghiệm của mình trong giờ phút hiện tại, và
tôi ý thức rõ ràng là mình đang lo sợ. Tôi lại cầm cuốn
sách lên đọc, hy vọng rằng nó sẽ làm cho tôi quên đi một
chút. "Khi có những cảm thọ khó khăn khởi lên," Joseph viết,
"đừng nên làm ngơ, hoặc đánh lãng sự chú ý của mình."
"Được rồi, Joseph," Tôi nói thầm, và đóng sách lại.
Tôi
nghĩ đến những gì mình cần nên làm. Tôi chợt ý thức là
mình có thể chết, và tôi hoàn toàn không hề có một sự
chọn lựa nào về việc ấy hết. Tôi quyết định là mình
sẽ thực hành từ bi quán, đem tâm từ ban rãi đến những
người thân thuộc trong gia đình, mà đây cũng là một sự
thực tập hằng ngày của tôi. "Cầu xin cho Grace được an
vui... Cầu xin cho Nathan được an vui... Cầu xin cho Erik được
an vui... Cầu xin cho Leah... Cầu xin cho Collin..." Tất cả là
mười ba tên. Làm xong suôi, chiếc phi cơ của chúng tôi vẫn
còn bay lướt nhẹ nhàng trong không trung. Thế là tôi lập
lại một lần nữa. Tôi cảm thấy mình trầm tĩnh hơn trước.
Chiếc
phi cơ bắt đầu hạ thấp xuống, và mặc dù mọi việc có
vẻ bình thường, chúng tôi được hướng dẫn cởi mắt kiếng
và giày, và bỏ hết những đồ nhọn như là viết ra khỏi
túi. Tôi bắt đầu nghĩ đến những người quen khác, nằm
ngoài cái danh sách mười ba người thân trong gia đình của
tôi, tôi cũng muốn cầu xin cho họ được an lạc và hạnh
phúc. Thế là tôi bắt đầu lập thêm một danh sách mới,
"Cầu xin cho Miriam được an vui... Cầu xin cho Aaron... Eugenia...
Henry..." Đầu óc tôi đầy tên tuổi của những người mà
tôi biết câu truyện đời của họ, và tôi bắt đầu niệm
mỗi lúc một nhanh hơn, muốn chắc rằng sẽ nhắc được
hết tên của mọi người.
Bên
ngoài cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy mặt đất mỗi lúc
đang một dâng lên gần hơn. Những cô tiếp viên hàng không
hướng dẫn cho chúng tôi cái tư thế tự ôm choàng lấy mình,
và chúng tôi ngả người tới phía trước hai tay choàng ôm
chặt hai đầu gối. Tôi tự nghĩ, "Trong vòng một phút nữa,
tôi hoặc sẽ chết hoặc không chết. Tôi có nên lập lại
cái danh sách mười ba người thân thuộc của mình một lần
nữa không? Tôi có bỏ sót một ai mà tôi thương mến không?
Cầu xin cho tất cả mọi loài được an vui! Cầu xin cho tất
cả mọi loài được hạnh phúc! Cầu xin cho tất cả mọi
loài được an vui!"
Chúng
tôi chạm bánh xuống đất, hệ thống thắng vẫn hoạt động
tốt đẹp, chiếc phi cơ từ từ dừng lại. Dọc theo phi đạo
đậu một hàng dài những chiếc xe cứu cấp, đèn đỏ nhấp
nhóa sáng rực, và may mắn là chúng tôi không phải cần đến
họ. Tôi học được hai điều: Yêu thương tất cả mọi người
dễ hơn là chỉ yêu thương một nhóm người đặc biệt nào
đó. Nó không đòi hỏi ta phải nhớ ai là có tên trong danh
sách, ai không có tên, ai là trên bảng danh sách chánh và ai
trên bảng phụ. Và ta cũng không cần phải lo sợ là mình
sẽ bỏ sót một người nào.
Tôi
cũng học được rằng, lòng thương yêu chân thật hướng
về kẻ khác sẽ xóa bỏ hết những nỗi sợ hãi trong ta.
Tôi đã không hề đánh lãng hướng sự chú ý của mình; tôi
biết rất rõ ràng cái gì đang xảy ra, và tôi cũng biết là
tôi có một phương thức hữu hiệu để đối phó với hoàn
cảnh ấy. Một thời gian sau kinh nghiệm đó, tôi nghĩ, "Tôi
muốn dạy phương pháp này cho người khác để họ có thể
sử dụng trong giờ phút trước khi lâm chung." Về sau này tôi
hiểu là, "Tôi muốn dạy phương pháp này để họ thực tập
cho từng mỗi giây phút của cuộc sống." Tất cả những giờ
phút của ta đều là những giây phút trước cái chết của
mình, và sự cầu mong an vui là một phương pháp sống vô úy
nhất. Đôi khi tôi nghĩ chỉ có mỗi một việc đáng để
nói mà thôi, đó là "Tôi thương yêu bạn."
-ooOoo-
Tâm
Bi
*
Tâm
bi là một phản ứng tự nhiên của con tim khi nó không bị
che mờ bởi cái vọng tưởng chúng ta là những cá thể độc
lập, cách biệt nhau. Trong kinh điển, Bi có nghĩa là "sự rung
động của con tim" khi ta ý thức được nỗi khổ của kẻ
khác. Tôi nghĩ chúng ta cảm thấy nó như là một sự rung động
của chính con tim mình theo cùng với nhịp điệu của kẻ khác.
Nó đòi hỏi một trạng thái tĩnh lặng trong tâm. Một sự
rung động rất tinh tế.
Có
một lần tôi đi trên chuyến bay sớm tại thành phố Laramie,
Wyoming, sau khi vừa hướng dẫn xong một khóa tu ba ngày. Đó
là một khóa tu thinh lặng cho khoảng ba mươi thiền sinh. Trong
suốt khóa tu, tôi đã cố gắng để tâm chú ý đến từng
kinh nghiệm của mỗi thiền sinh, và bây giờ tôi cảm thấy
rất thoải mái và hài lòng vì nghĩ rằng khóa tu đã thành
công.
Có
một cặp vợ chồng lớn tuổi đến ngồi cạnh ghế của
tôi. Khi phi cơ vừa cất cánh, các cô tiếp viên cũng bắt
đầu dọn buổi ăn sáng.
"Chúng
tôi có xin trước đồ ăn chay," ông lão nói với cô tiếp
viên hàng không.
"Để
cháu coi lại," cô trả lời, một lúc sau cô trở lại với
lời xin lỗi, "Xin lỗi bác, họ đã quên không để thực phẩm
của bác trên chuyến bay này. Thôi, bác để cháu dọn đồ
ăn thường ra, rồi bác cứ coi xem có món nào ăn được thì
bác cứ việc dùng?" Cô mời mọc.
"Thôi,
chắc không được đâu," ông lão đáp. "Chúng tôi không làm
vậy được!"
Tự
nhiên tôi bật khóc và rất lấy làm ngạc nhiên. Chuyện ấy
chẳng có gì là quan trọng và chuyến bay cũng chỉ ngắn thôi.
Có lẽ tôi cảm thấy xúc động vì hai vợ chồng bác gợi
cho tôi nhớ đến hình ảnh ông bà Nội của tôi, và tôi cảm
thông được hoàn cảnh khó xử của họ. Đối với người
ngoài thì trường hợp của hai ông bà rất là đặc biệt
và kỳ cục. Nhưng đối với họ thì đó là một sự thất
vọng không thể trả giá được. Vì tâm tôi tĩnh lặng, tôi
có thể cảm nhận được nỗi đau của họ.
Bất
cứ một nỗi đau nào cũng là quan trọng đối với người
cảm thọ nó. Khi tôi còn nhỏ, người ta thường hay nói với
những đứa trẻ nào không ăn hết đĩa của mình, "Người
ta chết đói ở các xứ nghèo đó, nhớ vậy đi." Tôi rất
cám ơn là đã không có ai nói với tôi những lời ấy. Tôi,
bẩm sinh là một đứa trẻ khó ăn uống, nếu lại đi cộng
thêm cái mặc cảm tội lỗi, hỗ thẹn vào một tình trạng
đã khó khăn, thì chỉ làm tăng thêm nỗi khổ của tôi mà
thôi. Những người nói những lời ấy, có lẽ họ quên rằng,
đói là đau đớn, nhưng ăn khi ta không đói cũng là đau đớn
nữa. Mà đau đớn là đau đớn. Phân chia, xếp hạng nó là
một chuyện dư thừa.
Chúng
ta đánh giá mỗi nỗi đau bằng cách đưa nó qua cái hệ thống
phán xét của mình, mà thật ra hệ thống đó lại được
làm bằng những ý kiến của chính ta. "Đây là một nỗi đau
lớn," hoặc "Đây là một nỗi đau nhỏ không đáng kể." Mỗi
khi tôi cảm thấy xa cách đối với nỗi đau của một người
nào, thường thì bao giờ cũng bởi vì tôi đã có một thành
kiến về nó. Cũng có thể tôi nghĩ hoàn cảnh của người
ấy khốn cùng quá, không thể chịu đựng nổi, và tôi tự
bảo vệ mình bằng cách che tai bịt mắt mình lại. Lúc còn
nhỏ chúng ta cũng làm như vậy khi xem phim, ta thường che mắt
lại mỗi khi đến những cảnh rùng rợn và nói "Chừng nào
hết đoạn ghê gớm này nói cho tôi biết nha!" Bây giờ đôi
khi tôi vẫn còn có hành động ấy, một phản xạ tự nhiên,
khi xem những đoạn phim nào quá hãi hùng.
Cũng
có lúc tôi cảm thấy xa cách với nỗi đau của người khác
vì tôi không chịu được lối phán xét của họ. "Tại sao
anh lại đi lo âu về ba chuyện nhỏ nhặt này?" Tôi tự nghĩ.
"Cái mà đáng lo là cái kia kìa, nó mới quan trọng hơn!" Đi
quyết định dùm người khác việc nào mới "đáng" để cho
họ lo, điều ấy thật tức cười. Mỗi người có một sự
dính mắc khác nhau và không ai giống ai hết. Có lúc tôi cũng
hổ thẹn chịu nhận rằng, có những nỗi khổ đối với
tôi rất lớn vì mình bị dính mắc, mà tôi biết rằng so
với người khác nó chẳng ra gì cả. Không cần gì đến sự
phê bình của người ngoài, tánh tôi cũng đã hay khắt khe
với chính mình. "Mình thật là một người ích kỷ hết sức!"
Tôi thường tự trách. "Thế giới này đầy dẫy những khổ
đau, mà mình lại cứ lo âu vì ba chuyện lặt vặt này hay
sao?"
Chúng
ta khó có thể nào nhận diện trực tiếp được nỗi đau,
vì chúng nhiều quá. Có lẽ đức Phật đã nói đúng, cuộc
đời này có quá nhiều khổ đau, nên đôi khi chúng ta thường
hay cố gắng làm cho chúng nhỏ đi. "Sự việc có thể còn
tệ hơn như vầy nữa," bằng một thiện ý chúng ta thường
nói thế với một người bạn đang gặp chuyện buồn, hy vọng
lời khuyên ấy sẽ làm họ bớt khổ. "Của đi thay người."
"Dầu sao thì công việc anh cũng còn vững." Hoặc là một sự
so sánh cao xa như là, "Trong cái vũ trụ mênh mông này thì chuyện
ấy có nghĩa lý gì?" Tất cả những lời đó đều là một
hình thái khác của câu "Người ta chết đói ở các xứ nghèo
đó, nhớ vậy đi", nhưng dành cho người lớn. Theo tôi nghĩ,
những lời ấy chỉ cộng thêm một sự khinh miệt vào nỗi
đau của họ mà thôi, chứ thật ra chẳng giúp ích gì thêm.
Lẽ
dĩ nhiên, sự thật là so với cái mênh mông vô cùng của vũ
trụ này thì nỗi đau của ta rất là nhỏ nhoi và không đáng
kể. Nhìn qua lăng kính của một bầu vũ trụ mênh mông thì
tất cả mọi việc đều không đáng kể như nhau. Nhưng việc
ấy không đúng với cái cảm xúc thực tế của ta. Có những
người và những vấn đề đối với ta rất là quan trọng.
Và ta đâu có sống trong một bầu vũ trụ mênh mông. Chúng
ta đang sống ở nơi này đây!
Nhớ
đến quan điểm về một bầu vũ trụ bao la, nhớ đến hình
ảnh trái đất mọc khi nhìn từ mặt trăng, nhớ đến tính
cách tương duyên của mọi hiện tượng - tất cả những điều
ấy sẽ giúp cho ta tiếp xúc trực tiếp hơn với nỗi đau
của mình. Chúng cần thiết để giúp ta có thể thấy rõ ràng
và chịu đựng được nỗi đau của mình. Và, cũng nhờ nhớ
được cái tính chất cá biệt của ta, nhớ được những
thương tâm trong câu truyện đời của ta, mà dường như rất
thực và quan trọng, việc ấy sẽ giữ cho hai chân ta đứng
trong thế giới này với một lòng thương yêu sâu xa và hành
động từ ái, chứ không phải lơ lửng trên mâỵ.
-ooOoo-
Rộng
Lượng là Một Hành Động Tự Nhiên
*
Tôi
cảm thấy khiếp phục mỗi khi được chứng kiến những hành
động nhân ái không tự kỷ. Chúng là những ví dụ cụ thể
nhất cho ý niệm về Vô Ngã của đức Phật. Lẽ dĩ nhiên,
thân ta, nói về mặt vật lý, nó tách biệt với lại những
thân thể khác, vào ra thế giới này ở những thời điểm
khác nhau và không gian khác nhau. Nhưng cái bản chất tâm thức
có mặt trong những thân ấy thì chỉ là một mà thôi. Ý thức
được việc ấy, các nỗi sợ hãi của ta sẽ tan biến và
thái độ chia xẻ sẽ là một hành động hoàn toàn tự nhiên.
Một
người đàn bà trẻ hơn tôi nhiều đang thay đổi y phục cạnh
tôi trong phòng thay đồ của một nhà tập thể dục. Chúng
tôi đang bàn về những ích lợi của việc tập thể dục
đều đặn, giữ cho thân thể được thon và khoẻ. Cô ta nói
thêm, "Em mới vừa bị mổ vài tháng trước, và bác sĩ của
em rất ngạc nhiên về sự phục hồi sức khoẻ nhanh chóng
của em."
"Cô
bị mổ về cái gì?" Tôi hỏi.
"Em
cho em gái của em một cái thận. Nó bị bệnh tiểu đường,
và cần phải thay thận."
Cô
nói bằng một giọng hết sức bình thường như là cô nói,
"Em có một chiếc xe đạp không dùng đến..." Đối với cô
ta chuyện ấy hoàn toàn như không có gì là đặc biệt. Một
chuyện cần làm phải làm, thế thôi.
Tôi
đã có nhiều năm đặc biệt suy nghĩ về một câu chuyện
của đức Phật. Trong một tiền kiếp của ngài, đức Phật
đi trên một con đường núi, chợt ngài nghe có tiếng khóc
phía bên dưới vực thẳm vọng lên. Nhìn xuống dưới vực
sâu, ngài thấy có một bầy cọp con đang bị đói khát, và
một cọp mẹ quá yếu đuối không còn đủ sức để nuôi
chúng. Đức Phật tương lai không chút do dự, tự lao mình
xuống vực thẳm để hiến thân nuôi những bầy cọp con đói
khát.
Câu
truyện ấy được kể để làm thí dụ về sự bố thí. Nhưng
nó làm cho tôi hơi lo, vì tôi không thể nào tưởng tượng
được một thái độ vô ngã tự nhiên đến vậy.
Nhưng
bây giờ thì tôi đã có thể. Tôi có năm đứa cháu. Đối
với chúng, tôi không hề có một chút do dự nào về hành
động vực thẳm. Và tôi cũng sẽ không hảnh diện về việc
ấy, vì thật ra đó chẳng có gì là to tát cả. Tôi không
thể không làm được. Cái to tát là bước kế tiếp, là làm
sao luôn nhớ rằng bất cứ một đứa cháu nào, của bất
cứ ai, cũng đều là của ta. Và đứa cháu nào của ta cũng
là cháu của tất cả mọi người.
Nhưng
bạn không cần phải có con hoặc cháu mới có thể hiểu được
việc ấy. Chân lý về không có một cái tôi riêng biệt này
tự nó sẽ hiển lộ ra khi tâm ta được định. Tôi thấy
rõ điều ấy những khi có một tai họa nào đó xảy ra. Một
chiếc phi cơ chở đầy hành khách rớt trên sông Potomac, những
người qua đường liều mình nhảy xuống dòng sông đông đá
lạnh cóng để cứu người khác - không phải vì đó là những
người họ biết, mà vì những người ấy đang cần sự cứu
giúp. Lửa cháy trên tòa nhà chọc trời World Trade Center, người
ta phụ khiêng một người bạn ngồi trên xe lăn xuống sáu
mươi bảy tầng thang lầu, không kể gì đến hiểm nguy của
chính họ. Không một ai nghĩ, "Tôi sẽ ra tay nghĩa hiệp," hoặc
"Tôi sẽ làm chuyện nhân ái." Khi tâm ý ta tĩnh lặng, ta nhận
thức được chúng ta đều là một phần tử của nhau. Thật
ra tôi nghĩ, chữ rộng lượng cũng chưa được chính xác lắm
vì ta vẫn còn nghĩ đến có người ban cho và người thọ
nhận. Khi sự chia xẻ là một việc làm tự nhiên và tự động,
chúng ta gọi đó là Bi.
Tôi
thường nghĩ rằng nếu tôi xem mọi người khác như là thân
thuộc của tôi, nó sẽ trở thành một gánh nặng. Nhưng sự
thật là ngược lại như thế! Khi một người nào tôi biết
làm một việc gì đó đáng ca ngợi, tôi không cảm thấy tôi
cần phải làm việc ấy. Vì các vị ấy đang thay mặt cho
tôi, hoặc cũng chính là tôi, đang gánh vác công việc ấy.
Mẹ Theresa giúp những người khốn khổ dùm tôi, Beethoven sáng
tác nhạc dùm tôi, thánh Gandhi tranh đấu dùm tôi... và bạn
cũng chính là tôi nữa.
-ooOoo-
Tâm
Hỷ: Niềm Vui Vị Tha
*
Jerry
Rice, vị cầu thủ bắt banh nổi tiếng của đội banh bầu
dục San Franciso, trong một cuộc phỏng vấn nói về những
thành tích của anh trong quá khứ. Người phóng viên hỏi, "Anh
còn muốn đạt thêm một thành tích mới nào nữa không?" Jerry
mỉm cười đáp, "Tôi muốn đạt được hết tất cả!" Người
phóng viên hỏi tiếp, "Trong số tất cả những kinh nghiệm
vui nhất trong sự nghiệp chơi banh của anh, thì anh có thể
kể lại một kinh nghiệm nào mà đã đem lại cho anh một niềm
vui to tát nhất không?"
"Tôi
còn nhớ trong trận đá chung kết Super Bowl XXIII," Jerry đáp,
"Đó là lần đầu tiên tôi được chơi trong một trận chung
kết, vào hai phút cuối trước khi cuộc chơi chấm dứt, Joe
Montana chọi banh cho cầu thủ John Taylor, anh ta đang đứng trong
vùng đất cấm của đối phương, khi Taylor bắt được quả
banh ấy, tôi cảm thấy một nỗi vui thật lớn như chính mình
đã bắt được banh vậy."
Đó
là một niềm vui của tâm hỷ, của lòng vị tha, vui với niềm
vui của kẻ khác - một niềm vui trong giây phút hiện tại
mà đối tượng của nó hoàn toàn không quan trọng. Niềm vui
của tất cả mọi người đều được chia xẻ đồng đều.
Có
một lần tôi được nghe đức Đạt Lai Lạt Ma dạy về sự
khôn ngoan của việc đặt hạnh phúc người khác lên, ít nhất,
là cũng ngang hàng với của mình. Ngài giải thích, số người
chung quanh ta rất nhiều, thành thử cơ hội có hạnh phúc của
ta sẽ tăng lên vô cùng tận, nếu ta biết kinh nghiệm hạnh
phúc của người khác như là của chính ta. Trên hành tinh này,
cơ hội để cảm thấy hạnh phúc của tôi sẽ được tăng
lên gấp 5.5 tỷ lần nếu tôi biết thực hiện việc ấy.
Đó là một lợi thế rất lớn!
Vì
bản chất của niềm vui vị tha, của tâm hỷ, là hạnh phúc
chứ không phải khổ đau, ta cứ tưởng là nó sẽ dễ thực
hiện lắm. Nhưng thật ra nó lại phức tạp và rắc rối vô
cùng. Tôi nghĩ, thường thường chúng ta hầu hết ai cũng đã
có lần cảm được niềm vui của tâm hỷ. Có việc gì may
mắn xảy ra cho một người khác, ta cảm thấy vui thành thật.
Nhưng rồi, từ cái tâm chưa được hài lòng hoàn toàn của
ta, lại có một ý nghĩ khởi lên, "Ước gì phải chi mình
cũng được chút may mắn như người kia!"
Tôi
nhận thấy việc ấy xảy ra mỗi khi tôi xem những chương
trình quảng cáo trên ti-vi về những người vừa trúng một
giải xổ số. Nó chiếu một người vừa ra mở cửa nhà của
anh hoặc chị ta, thì được trao cho một tấm chi phiếu 10
triệu đồng. Tôi cảm thấy vui mừng thật sự khi thấy người
vừa được trúng giải bàng hoàng sung sướng, cười rồi
khóc. Rồi tôi lại nghĩ tiếp, "Không biết nếu chuyện ấy
xảy ra cho mình, mình sẽ làm gì đây!"
"Dĩ
nhiên," tôi lập tức tự nhắc nhở mình, "Tôi sẽ tặng đi
hết một phần lớn của số tiền cho các hội từ thiện.
Ít nhất là 75 phần trăm. Hay có lẽ là 50 phần trăm. Phần
còn lại tôi sẽ cho hết mấy đứa con. Để cho chúng nó trang
trải tiền nhà mỗi tháng." Rồi tôi lại nhớ, "Chúng nó cũng
đâu có khó khăn gì về tài chánh đâu. Hay là tôi sẽ bỏ
vào một trương mục ủy thác để dành cho mấy đứa cháu
lên đại học." Rồi tôi lại nghĩ tiếp, "Nhưng mà cũng còn
ít nhất là mười năm nữa chúng nó mới lên đại học, mà
có ai biết được chừng đó chúng sẽ ra sao, hay là đại
học sẽ như thế nào. Hay là mình và anh Seymour có thể làm
một chuyến du hành ba tháng trên biển vòng quanh thế giới.
Nhưng mà cũng không được, anh ấy hay bị say sóng!" Chỉ trong
chừng vài giây đồng hồ, một tâm đang tràn ngập niềm vui
với cái vui của kẻ khác, đã trở thành một tâm đầy những
dự định, toan tính ích kỷ cho lợi lạc của chính mình,
mà chẳng biết phát xuất từ đâu! Trước khi người trúng
giải xổ số xuất hiện trên ti-vi với tấm ngân phiếu, tôi
cảm thấy rất hài lòng với những gì mình đang có! Nhưng
dường như là tâm ta, nếu không được soi sáng bởi chánh
niệm và tĩnh lặng, nó sẽ dễ bị hấp dẫn bởi cái ý nghĩ
muốn được thỏa mãn thêm một chút nữa!
Tôi
nghĩ, chúng ta chấp nhận mỗi khi người khác nghe những tin
vui, sự may mắn của ta, khi họ chúc mừng ta, là họ ước
mong rồi một ngày họ cũng sẽ được như thế. Và có lẽ
khi ta cầu chúc lại cho họ, là chúng ta công nhận niềm vui
của mình, và giúp cho người kia cất bỏ đi cái mặc cảm
tội lỗi về một nỗi ghen tức mà họ có thể có trong tâm.
Tôi học được điều này khi tôi còn nhỏ, lắng nghe những
lời người ta chúc mừng nhau trong các lễ đám cưới. Mẹ
của một cô gái chưa chồng, ôm mẹ của cô dâu và nói, "Chúc
cho chị sẽ giữ được hạnh phúc của ngày hôm nay mãi mãi."
Mẹ của cô dâu đáp lại, "Chúc cho con gái của chị cũng
sẽ có một ngày như thế này." Người mẹ kia lại nói, "Hy
vọng trời sẽ nghe lời cầu chúc của chị!"
Tôi
cũng đã từng cảm thấy hổ thẹn, có khi là tội lỗi, vì
mỗi khi nghe có ai được một sự may mắn nào, dính dáng đến
việc tôi đang mơ ước, là tôi cảm thấy ghen tức ngay. Tôi
thường hay tự trách, "Sao lại vậy Sylvia? Mình đã có quá
đầy đủ rồi. Sao mình lại còn có thể suy nghĩ như vậy
được?"
Nhưng
vấn đề không phải là ta có đầy đủ hay là không đầy
đủ. Cuộc sống này tràn ngập những điều kỳ diệu mà
có thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc, ta muốn nhận lãnh
bao nhiêu mà chẳng được! Vấn đề là ta có đủ sáng suốt
để ý thức được việc ấy không! Dưới ánh mắt của chánh
niệm tất cả những người nhận thật ra chỉ là một mà
thôi.
Trong
trận banh chung kết Super Bowl XXIII, khi Joe Montana chọi quả
banh định mệnh ấy, John Taylor đã có mặt ở đúng nơi, đúng
lúc, và tâm của Jerry Rice cũng vậy nữa.
-ooOoo-
Tâm
Xả: Trong Tĩnh Lặng Có Hết Tất Cả
*
Người
ta thường thắc mắc không biết là mình có thể vừa có an
lạc mà lại vừa có thể có nhiệt tình không! Tôi tin là
nó có thể được. Tôi muốn thực hiện việc đó trong sự
tu tập của tôi. Tôi nghĩ, người ta đặt câu hỏi ấy vì
họ đã lẩn lộn giữa sự vắng lặng với lại an lạc hoặc
bình thản. An lạc (peaceful) có nghĩa là "không sân hận." Bình
thản (equanimous) có nghĩa là "quân bình" Chúng không hề có
nghĩa là "lạnh lùng," hoặc "lãnh đạm."
Những
bước đầu trên con đường tu tập theo Phật của tôi, tôi
thường lo sợ mình sẽ trở thành một người lạnh lùng,
không tình cảm. Tôi nghĩ rồi mình sẽ giống như người có
một trái tim bằng phẳng, như là vừa bị chiếc xe hủ-lô
cán qua vậy, không phản ứng trong bất cứ một hoàn cảnh
nào. Tôi nghĩ tôi cũng đã có một quan niệm sai lầm như những
người khác - tin rằng thực nghiệm tâm linh có nghĩa là đạt
đến một sự "tĩnh lặng bất lay chuyển." Ý nghĩ ấy dường
như lại được xác nhận qua những mẩu chuyện mà thầy tôi
kể, về những người hành thiền tinh chuyên đến nổi "sự
ham muốn về tình dục không còn nữa, và vợ chồng sống
với nhau như anh chị em." Tôi hơi lo ngại, vì mặc dù muốn
được giác ngộ, nhưng tôi không muốn chuyện đó xảy đến
cho tôi.
Sự
tĩnh lặng và an bình là những trạng thái tâm rất đẹp,
và thật ra chúng có chung một tính chất phẳng lặng và êm
ái. Yếu tố tĩnh lặng này là một tâm hành rất quan trọng
trong tâm, nó làm quân bình những hăng hái, những ước vọng,
và vui sướng trong ta, và từ đó cái thấy sáng tỏ và sự
hiểu biết của ta có thể hiển lộ ra. Nhưng tĩnh lặng và
an bình không phải là những mục tiêu của sự tu tập, ít
ra là đối với tôi. Tôi muốn mình vẫn còn có thể có một
nhiệt tình. Khi tôi càng hiểu rằng, mọi vật đều trống
rỗng và vô nghĩa trừ khi chúng ta cho phép chúng là quan trọng,
tôi lại càng muốn mình có được khả năng "cho phép" ấy.
Tôi đang có mặt trong một cuộc đời. Tôi vẫn muốn nhớ
nó chỉ là một cuốn phim mà thôi, nhưng tôi cũng muốn sống
như là nó có thật nữa.
Tám
năm về trước, trong buổi tối đầu tiên của một khóa tu
nhiều ngày nhất trong năm, do tôi hướng dẫn ở California,
con gái tôi, Emily, bất ngờ ghé qua thăm.
"Má
với ba có muốn dẫn Johan và con đi ăn tối hôm nay không?"
Nó hỏi.
"Muốn
chứ, nhưng tối nay thì không được, vì khóa tu bắt đầu
tối nay, Má cần phải có mặt để hướng dẫn." Tôi giải
thích.
"Má
có chắc là Má không muốn đi ăn tối với con không?"
"Không
phải vậy, Má muốn đi với con chớ, nhưng không được vì
Má có lớp phải dạy."
"Má
không thể đi ra một chút để ăn mừng Má sắp sửa được
làm bà ngoại lần đầu tiên sao?"
Tôi
hét to vì vui sướng. Tôi không phải là mình nữa. Tôi nhảy
tưng tưng lên. Ngay khi ấy thì chuông điện thoại reng, tôi
nhắc lên. Đó là chị bạn thân của tôi. "Em nói chuyện không
được," tôi trả lời, "em bị kích động quá đi!"
Sau
đó, Emily cười và nói, "Con tiếc quá, con đã không đem theo
máy quay phim." Bốn người chúng tôi dẫn nhau đi ăn tối hôm
ấy. Xong xuôi tôi trở lại khoá tu và dạy lớp đầu tiên.
Sự
tu tập đã giúp tôi trở nên nồng nhiệt hơn, chứ không hề
làm giảm nó đi. Những khi tôi vui sướng, mà chuyện đó rất
thường, tôi lại mê say, ngây ngất. Khi buồn, tôi khóc rất
dễ dàng. Và không có gì là lớn chuyện hết. Nó là sao thì
nó là vậy, và rồi kế tiếp sẽ là một chuyện khác.
-ooOoo-
Xong
là Xong
*
Một
trong những vị thầy của tôi thường dùng câu này mỗi khi
ông muốn tôi trở về chú ý đến giây phút hiện tại. "Xong
là xong," ông ta nói. Giờ đã đến đoạn cuối của quyển
sách này, tôi thắc mắc không hiểu làm sao tôi biết được
khi nào là xong. Tôi rất thích kể chuyện, và mỗi ngày là
một câu chuyện mới.
Tôi
còn nhớ một lần nói chuyện với Jack, một người thầy
và cũng là một người bạn tốt của tôi.
"Tôi
lo là tôi đã dần dần mất đi cái nhiệt tâm của mình trên
con đường tu tập," tôi nói với Jack, "Tôi nghĩ là tôi hiểu
cái phương thức của hạnh phúc rồi. Tôi tin chắc là mình
sẽ phải thực tập nó suốt cuộc đời, nhưng tôi không còn
cảm thấy thắc mắc, cần thiết để hỏi thêm gì nữa hết."
"Chị
nói vậy cũng đúng," Jack đáp. "Khi chị đã nhận lãnh xong
thông điệp rồi, thì chị cúp máy điện thoại."
Tôi
có hai thông điệp muốn trao cho bạn trong quyển sách này.
Thông điệp thứ nhất là về một đời sống tâm linh. Tôi
thấy nó đơn giản lắm. Người thường cũng thực hành việc
ấy, mặc dù họ không biết là họ đang làm việc ấy. Giữa
những cuộc sống tầm thường, với những niềm vui và nỗi
muộn phiền quen thuộc, họ sống với lòng từ ái, biết ơn,
và họ hạnh phúc.
Thông
điệp thứ hai là về những vị thầy minh triết. Họ có mặt
ở khắp mọi nơi. Tôi để ý là trong quyển sách này, nhiều
vị thầy của tôi là những người trên phi cơ. Tôi cũng có
nghĩ đến sự kiện ấy như là tượng trưng cho một cái gì
hơi huyền bí, như là "phi cơ đưa ta đến những nơi chốn
mới lạ" hoặc "phi cơ đưa ta lên cao," tôi biết những ý
tưởng ấy chỉ là sự thêu dệt thêm của tâm ý ta mà thôi.
Tôi gặp nhiều vị thầy trên phi cơ là vì tôi phải đi phi
cơ rất nhiều. Mọi người ai cũng đều là một vị thầy.
"Hãy luôn luôn chú ý đến tất cả mọi người," tôi nghĩ,
"vì mọi người ai cũng đều có thể là một vị Phật."
Lời
khuyên của Jack cũng có thể nói ngược lại, "Khi bạn đã
trao thông điệp xong rồi, thì bạn cúp máy điện thoại."
Tôi nghĩ tôi đã làm xong việc ấy.