Phần
2
Con
Đường Hạnh Phúc
Giáo
Lý Căn Bản của Phật
Tuệ
Giác Căn Bản: Bác Ba và Ông Ngoại Tôi
Bản
đồ của đức Phật trình bày về hành trình đi đến tuệ
giác và hạnh phúc hấp dẫn được nhiều người, vì chúng
rất là đơn giản. Chủ yếu, đức Phật dạy rằng khi ta
đi buồn bực về những chuyện mà mình không thể kiểm soát
được, việc ấy chẳng có ích lợi gì. Chúng ta không hề
có một sự chọn lựa nào về những tay bài mà ta được
chia cho trong cuộc sống. Sự chọn lựa duy nhất mà ta có,
là thái độ của mình về những lá bài trên tay và sự khéo
léo trong việc chơi ván bài ấy.
Hơn
hai ngàn năm trăm năm trước đây, khi đức Phật truyền dạy
những tư tưởng của ngài, có rất nhiều người lảnh hội
được ngay, họ hiểu đức Phật thông suốt đến độ khi
vừa nghe ngài nói xong, họ lập tức đạt được một sự
an lạc đời đời. Và những người chưa hiểu đức Phật
ngay lúc ấy, họ về thực tập thiền quán và rồi họ cũng
hiểu.
Giáo
lý của đức Phật bao gồm một vũ trụ quan mênh mông, nhưng
thông điệp chánh của ngài về một lối sống lành mạnh
và an vui, đối với tôi, nó cũng giống như bác Ba sống ở
cuối phố cùng dãy với tôi, và của ông Ngoại tôi mất cách
đây mười năm.
Bác
Ba đã chín mươi tuổi, và ông vẫn còn rất thích trồng trọt.
Bác Ba và vợ bác, một người bạn đời trên gần bảy mươi
năm trời, đã chính tay chăm sóc một mảnh vườn rộng bảy
mẫu tây, và hai ông bà thường bày bán trái cây ngoài nhà
xe của họ. Một buổi đẹp trời mùa hè năm ngoái, tôi lái
xe xuống nhà bác Ba để mua vài trái củ hành, tôi thấy cánh
cửa nhà xe rộng mở. "Ồ!" Tôi tự nghĩ. "Xem kìa, bác Ba đã
tự tạc cho mình một bức tượng của bác ngồi trước nhà
xe, trông cứ như là người thật vậy!"
Nhưng
nhìn kỹ lại thì tôi nhận thấy đó chính là bác Ba trước
nhà xe, ngồi yên như một pho tượng, chờ đợi. Ông không
đọc, cũng không viết, không sắp soạn những món hàng của
mình, cũng không gọt chuốt một vật gì, ông không làm một
việc gì hết chỉ ngồi yên chờ đợi. Mà chẳng phải là
gian hàng của bác Ba nằm trên một con đường chánh nào hết,
để ông có thể ngồi nhìn xe cộ qua lại. Nhà xe nằm ở
phía sau căn nhà của bác, và ngôi nhà lại nằm trên một
con đường nhỏ vắng vẻ. Không có gì qua lại hết. Chỉ
vì bác Ba không có một việc nào cần phải làm, nên bác không
làm gì cả. Tôi chưa bao giờ luận bàn triết học với bác,
nhưng tôi đoán rằng có lẽ bác sẽ nói, "Nếu nó không hư,
thì đừng có sửa," và "nếu nó có hư, và ta sửa không được,
thì đừng thèm lo gì thêm cho mệt."
Tôi
đậu xe lại, bước xuống, đi lại nhà xe trước khi bác Ba
cử động. Tôi chợt nhớ là mình có để máy chụp hình trong
xe, tôi nói, "Bác Ba, cháu muốn chụp một tấm hình của bác
được không?" "Được," bác trả lời. Bác không hề hỏi
"Tại sao?"
Tấm
hình ấy đẹp lắm, bác Ba ngồi yên cạnh thùng cà tô-mách
và những trái zuchini. Tôi phóng lớn tấm ảnh, đóng khung
và treo trong văn phòng của mình, cạnh bức hình của đạo
sư Meher Baba, người mà tôi rất ngưởng mộ. Tôi rọi lớn
một tấm nữa, đóng khung và đem tặng cho bác Ba. Bác nói,
"Cám ơn."
Ông
Ngoại tôi thọ chín mươi tám tuổi, ông mất vì tuổi già.
Tim của ông cuối cùng ngừng hoạt động, nhưng đầu óc của
ông thì vẫn tỉnh táo cho đến giây phút cuối. Ông sống
lâu hơn má tôi, đứa con gái trưởng, và lâu hơn cả ba người
vợ của ông. Ông đã sống qua những giai đoạn đen tối nhất
của nền kinh tế Hoa kỳ. Ông ngoại tôi đến Hoa kỳ từ
Âu châu khi còn là một thanh niên, bỏ lại sau lưng ba má,
anh, chị, em ở Áo, và không bao giờ có dịp gặp lại. Ông
đã tìm làm những công việc lao động tay chân, vì ông không
biết đọc cũng không biết viết. Tôi nhớ ngày còn bé, hay
nhìn ông Ngoại dùng một loại xà phòng vụn đặc biệt để
rửa tay cho sạch. Ông là một người nhiệt tình và dễ xúc
động. Khi ba má tôi làm cho tôi một buổi tiệc sinh nhật,
ông Ngoại chảy nước mắt khi nghe mọi người hát bài "Mừng
sinh nhật".
Khi
má tôi mất năm bà bốn mươi bảy tuổi, ông Ngoại tôi lúc
ấy cũng đã bảy mươi bảy. Cái chết của má tôi là một
đòn thật nặng giáng xuống cho ông. Lúc đưa đám tang má
tôi ông buồn thảm vô cùng, tôi lo không biết ông có qua được
khỏi ngày hôm đó không. Ông Ngoại tôi không hề che dấu
nỗi đau của mình với chính ông hoặc với bất cứ một
ai.
Má
tôi mất vào tháng tám. Mùa hè những năm ấy ông Ngoại đang
còn làm nhân viên trưởng trông coi việc bảo trì cho những
dãy nhà nghỉ mát ở Maine. Vài ngày sau đám tang má tôi, ông
Ngoại lấy lại sự quân bình, về tinh thần lẫn thể chất,
và trở lại đi làm. Ông lập lại câu nhân sinh quan của ông,
mà tôi đã nghe biết bao nhiêu lần: "Thôi thì làm gì được
bây giờ? Đời là vậy!" Lúc ấy tôi thấy ông giống như
là một nhà đại triết gia vậy. Ông tiếp tục làm việc
thêm nhiều năm nữa, tục huyền và vui thú với đám cháu
chắt nội ngoại. Ông Ngoại lúc nào cũng là một người bạn
thân tình đối với Ba tôi, cũng như đối với người vợ
mới của ba tôi khi ông tái giá. Ông không bao giờ trở lại
căn nhà ngày xưa mà má tôi đã từng sống. Trở về nơi ấy
gợi cho ông quá nhiều thương nhớ.
Tôi
thường hay ghé qua thăm ông Ngoại khi ông đã già, già lắm,
sống trong một cộng đồng dành cho những vị cao niên ở
niền nam Florida. Mỗi ngày hai lần, sau buổi điểm tâm và
ăn trưa, ông hay rủ tôi đi dạo với ông. Chuyến đi thật
dài vì ông bước rất chậm. Ông giải thích rằng đây là
chuyến đi thưởng ngoạn của ông, một cuộc tập thể dục
hằng ngày. Tôi hỏi, "Ông Ngoại nghĩ gì khi ông Ngoại đi
dạo?" Ông nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. "Con nói nghĩ gì có
nghĩa là sao?" ông hỏi lại. "Khi đi thì mình chỉ có đi, vậy
thôi!" Lúc ấy tôi nhìn ông Ngoại tôi và nghĩ rằng ông chính
là đức Phật.
Bác
Ba cũng như ông Ngoại, chưa bao giờ được nghe ai nói gì về
thiền. Tôi nghĩ là họ biết chú ý đến đời sống của
họ và trở nên minh triết. Đối với đa số chúng ta, những
người không có được tuệ giác một cách tự nhiên, thiền
tập là một phương tiện giúp ta đạt được việc ấy.
Chân
Đế Thứ Nhất:
Nỗi
Đau, Không Tránh Được,
Nỗi
Khổ, Không Cần Thiết.
Bản
đồ chánh đức Phật sử dụng để trình bày hành trình đi
đến hạnh phúc và giải thoát được gọi là Tứ Diệu Đế,
hay là Bốn Sự Thật Mầu Nhiệm.
Trong
Chân Đế Thứ Nhất đức Phật giải thích rằng "ta không
thể nào trốn tránh được nỗi đau đớn của cuộc đời,
nhưng khổ não thì tùy thuộc vào sự chọn lựa của ta." Thật
ra đức Phật không nói hẵn như vậy, ngài nói bằng tiếng
thổ ngữ của thời ấy. Lối giải thích của tôi bằng ngôn
ngữ của thời nay, cố gắng chuyên chở cái ý nghĩa mà đức
Phật muốn truyền đạt, và tôi hy vọng làm như vậy tôi
không bị mang tiếng là bất kính đối với ngài.
Cuộc
đời là khó khăn. Ông Scott Peck viết câu ấy mở đầu cho
quyển The Road Less Traveled, và đã bán được hơn mấy trăm
ngàn bản. Đôi khi tôi nghĩ có lẽ khi người ta đọc câu
đầu tiên ấy, họ cảm thấy hứng khởi vì thấy có người
đã nói lên một sự thật về kinh nghiệm của cuộc sống,
và vì thế họ mua quyển sách ấy. Cuộc đời cũng rất là
bí mật. Dầu ta có chuẩn bị, dự định kỹ lưỡng bao nhiêu,
bản chất của đời sống bao giờ cũng là không thể đoán
trước được. Mấy năm nay, tôi có dán trên tấm kiếng trong
phòng tắm một tờ giấy để nhắc nhở mỗi ngày, "Cuộc
đời là những gì xảy đến với ta trong khi ta bận rộn dự
định cho những việc khác." Nhưng cũng vậy thôi, tôi lúc
nào cũng bỏ thì giờ ra cố gắng sửa chữa hiện tại, để
hy vọng rằng mình sẽ được an vui hơn trong một tương lai
huyền thoại nào đó.
Vào
giữa tuổi ba mươi mấy, tôi chợt ý thức, với một nỗi
hốt hoảng lớn, là tôi hoàn toàn không trang bị đủ để
đối phó với sự to tát và cái đáng sợ của sự sống.
Tôi đã luôn phải xoay xở để tự dối mình về một sự
quân bình tế nhị mà chúng ta cần phải có, để duy trì một
hạnh phúc đang treo mong manh trong mỗi giây, mỗi phút. Tôi
lớn lên và thành đạt hết những gì người ta cho là sẽ
bảo đảm cho mình một hạnh phúc. Tôi đã theo đuổi, học
hỏi một ngành chuyên môn mà tôi đã có thể sinh sống bằng
nghề ấy, và cảm thấy rất mãn nguyện. Tôi lập gia đình,
có được bốn đứa con tuyệt trần và tôi thương yêu chúng
vô cùng. Nhưng vì chưa bao giờ nghĩ đến sự mong manh của
chúng, nên tôi cũng không hề nghĩ ngợi hay thắc mắc gì về
ý nghĩa của cuộc sống.
Một
hôm, ở cuối dãy phố nơi tôi ở, hai đứa bé gái trên đường
đi đến trường bị một xe hơi lạc tay lái đụng tử thương.
Đó là hai chị em, đứa lên sáu và đứa lên bảy. Tôi không
quen biết chúng nhưng nghe kể, vì chúng là bạn học với con
gái tôi. Đột nhiên, tôi tỉnh dậy và ý thức được sự
thật là ta đang sống giữa những hiểm nguy, và mỗi giây
phút của cuộc sống quý giá vô ngần. Nếu sự thật ấy
đã đánh thức tôi dậy trong quân bình, hoặc ít nhất là
nếu tôi chín mùi hơn một chút, có lẽ tôi đã kinh nghiệm
được sự chuyển hóa mà ta thường nghe nói trong kinh điển,
và sau đó cuộc đời tôi sẽ thay đổi hoàn toàn và được
sống trong sự trong sáng vĩnh viễn. Nhưng chuyện ấy đã không
xảy đến với tôi. Thay vì vậy, tôi lại bị lao đầu xuống
hố sâu của ảm đạm và thất vọng. Tôi không tưởng tượng
được vì sao người ta vẫn có thể tiếp tục sống trong
một cuộc đời mà cuối cùng chỉ có sự chết chóc, và lúc
nào cũng đầy dẫy những bất ngờ. Tôi ý thức rằng tất
cả những mối liên hệ trên đời này đều chấm dứt bằng
một sự mất mát, và sự mất mát nào cũng đau đớn. Tôi
không hiểu vì sao chúng ta lại có thể chịu đựng được!
Sự
thật là bây giờ tôi có thể nhắc lại giai đoạn này của
đời mình một cách nhẹ nhàng, điều ấy không có nghĩa là
tôi đã không đau khổ trong thời gian ấy. Có chứ! Tôi đã
đọc về những triết gia theo trường phái hiện sinh như là
Camus và Sartre, và tự hỏi làm sao tôi đã có thể xoay xở
để che dấu sự thật khủng khiếp này với chính mình trong
những năm qua. Tôi tự hỏi, sao những người khác lại không
có một ai nhận thấy nó hết! Làm sao mọi người lại có
thể sống như là mọi việc đều tốt đẹp, trong khi tôi
chắc chắn rằng nó không phải là vậy? Tôi còn nhớ khi dạy
những sinh viên trường tâm lý học về "mặc cảm hiện sinh",
tôi thường hay kể cho họ nghe câu chuyện vui về Kierkegaard.
Có người nói với Kierkegaard, "Tôi sẽ gặp lại ông thứ
ba tuần tới nhé," và ông ta trả lời, "À, tôi sẽ gặp lại
anh thứ ba tới nếu, khi anh ra khỏi nhà không có miếng ngói
nào rơi trúng đầu anh, và khi băng qua đường, anh không bị
chiếc xe ngựa nào đụng phải hết," và ông còn tiếp thêm
nhiều cái "nếu" khác nữa. Thật ra thì câu chuyện vui ấy
không có gì đáng cười hết. Tôi không thể nào nói "Má gặp
lại con chiều nay" với những đứa con mình trước khi chúng
đến trường, hoặc là "Anh đi chơi vui vẻ nha" với bất cứ
một ai, mà không nghe thấy trong đó có những điềm xấu xa
vang vọng bên tai.
Một
phần tôi cảm thấy tuyệt vọng vì tôi nghĩ rằng, hình như
chỉ duy có mình là thấy như vậy. Chung quanh tôi, dường như
ai cũng cảm thấy cuộc đời này là tốt đẹp, chẳng có
gì đáng lo cả. Thật là một niềm vui lớn khi lần đầu
tiên tôi đi tham dự một khóa tu thiền, và nghe người ta nói
lên sự thật hết sức rõ ràng - Sự Thật Mầu Nhiệm Thứ
Nhất là sự sống thì khó khăn và đau đớn, tự tánh của
chính nó là vậy, chứ không phải vì chúng ta đã làm một
cái gì sai trật hết. Tôi cảm thấy vô cùng thoải mái và
vui sướng khi được gặp những người dám chấp nhận rằng
cuộc đời này là khó khăn, thường khi là đau đớn, mà vẫn
có vẻ bình an trong khi họ công nhận sự thật ấy. Điều
quan trọng là họ trông có vẻ rất an lạc. Sự kiện ấy
làm an tâm tôi vô cùng. Tôi tự nghĩ, "Đây là những người
giống như tôi, có một đời sống y như tôi, họ biết được
sự thật và dám gọi tên nó mà vẫn cảm thấy an ổn."
Chân
Đế Thứ Hai: Dính Mắc là Khổ Đau
Chân
đế, tức sự thật mầu nhiệm, thứ nhất đã không ngần
ngại gì và tuyên bố thẳng thừng rằng, đau đớn là tự
tánh cố hữu của sự sống vì tất cả mọi vật đều biến
đổi không ngừng. Chân đế thứ hai giải thích, khổ đau
có mặt khi ta chống cự với những kinh nghiệm của cuộc
sống, thay vì biết cởi mở và chấp nhận chúng với một
thái độ thông minh và từ ái. Hiểu được chỗ này, ta sẽ
thấy rằng giữa đau đớn (pain) và khổ não (suffering) có
một sự khác biệt rất lớn. Đau đớn thì không thể tránh
né được, sự sống đi kèm với đau đớn. Nhưng khổ thì
không bắt buộc. Nếu khổ là những gì xảy ra khi ta vùng
vẫy chống cự lại những kinh nghiệm của mình, vì thiếu
khả năng chấp nhận, thì khổ là một điều dư thừa, không
cần thiết.
Tôi
đã từng hiểu lầm điểm này, khi mới bắt đầu tu tập
tôi cứ đinh ninh rằng nếu tôi công phu thiền tập cho đúng
mức, mọi đớn đau của tôi sẽ biến mất. Đó là một lầm
lẫn lớn. Tôi rất thất vọng khi khám phá ra sự sai lầm
ấy và cũng hơi xấu hổ vì sự ngây thơ của mình. Rõ ràng
là ta sẽ không bao giờ có thể nào chấm dứt được hết
những đớn đau trong cuộc đời này.
Đức
Phật có dạy, "Những gì ta yêu quý sẽ đem lại cho ta đớn
đau." Tôi nghĩ đó là sự thật. Thường thì ít khi nào tôi
nhắc đến lời ấy với những thiền sinh mới bắt đầu,
tôi không muốn họ hiểu lầm là đạo Phật bi quan. Nhưng
sự thật là vậy. Vì mọi việc đều biến đổi luôn, những
mối liên hệ của ta đối với những gì ta yêu quý, hoặc
mối liên hệ của chúng đối với ta, rồi cũng sẽ thay đổi.
Và rồi ta sẽ chịu nỗi đau của sự mất mát, chia lìa. Chúng
ta đã chọn cuộc sống tương giao ấy, vì ta chấp nhận sẵn
sàng trả giá bằng sự đau đớn.
Đối
với tôi, thấy được sự khác biệt giữa một thái độ
dững dưng đối với kinh nghiệm của sự sống và một thái
độ vui vẻ, nhiệt tình đối với kinh nghiệm của sự sống
mà không bị dính mắc, luôn luôn là một thử thách lớn (trong
nhà thiền có lẽ họ gọi đó là một công án.) Theo tôi thì
chuyện ấy có thể thực hiện được. Nhưng vì trong mỗi
giây, mỗi phút của cuộc sống bao giờ cũng có một sự chọn
lựa giữa sự "dễ chịu" và "khó chịu", khó có thể nào
ta lại không muốn sự "dễ chịu". Thật ra thì rất khó để
mà không muốn gì hết.
Người
ta kể thánh John of the Cross có lời cầu nguyện rằng, "Thượng
đế, xin hãy ban cho con được thấy ảnh tượng của ngài!"
Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi cũng muốn được thấy
hình ảnh này nọ. Thời ấy là vào cuối thập niên sáu mươi,
ban nhạc trẻ the Beatles và đạo sư Maharishi Mahesh đang phổ
cập hóa pháp môn định tâm, và nền văn hóa lúc ấy đang
có một tính chất "ảo hóa." Và tôi cũng mong muốn có một
việc kỳ lạ nào đó xảy đến cho mình.
Vài
năm sau đó cũng đã có những chuyện "kỳ lạ" xảy đến
cho tôi. Trong một thời gian nỗ lực tích cực hành thiền,
tôi kinh nghiệm được con người của tôi tràn ngập ánh sáng,
và tỏa chiếu nữa. Thật là kỳ diệu vô cùng. Trong lãnh
vực của sự hành thiền nghiêm túc thì kinh nghiệm ấy chẳng
có gì là to tát hết, nhưng đối với tôi thì nó huyền diệu
vô cùng. Và sau một thời gian, tôi bắt đầu cho rằng nó
cũng chưa kỳ diệu đủ. Tôi nhớ lại câu chuyện của thánh
Paul, bị mù lòa vì ánh sáng chói rực trên đường đi đến
Damacus, và vì tôi chưa bị mù, tôi bắt đầu mong ước được
thấy thêm ánh sáng nữa. Nhưng tôi không bao giờ dám thú nhận
điều ấy với bất cứ một ai, vì trong giới tu hành, mong
muốn được thêm lạc thú thì chẳng có vẻ thiền một chút
nào hết - mặc dù tôi là thế!
Chân
Đế thứ hai của đức Phật là tham muốn bất cứ một việc
gì cũng đều là khổ đau hết. Thường thường thì người
ta hay diễn dịch rằng "nguyên nhân của khổ đau là lòng tham
muốn," nhưng theo tôi nghĩ thì điều đó cũng không thật chính
xác. Nguyên nhân thì có vẻ như là cái này xảy ra trước
và rồi nó sẽ sinh ra một kết quả đặc biệt nào đó. Như
ta hay nói, "Mong muốn bây giờ, đau khổ sau này." Nhưng tôi
tin là "Mong muốn bây giờ, đau khổ bây giờ."
Có
lần tôi nghe một người nào đó nói, dấu hiệu của sự
giác ngộ là khi ta lúc nào cũng đều có thể nói, và thật
sự tin nữa, "Tôi đâu có muốn đâu, nhưng đó là những gì
tôi có, thì cũng là tốt vậy!"
Má
vợ của đứa con trai tôi không những có một thái độ khoan
dung đối với những sự khó chịu, mà bà còn biết tán thưởng
nó nữa. Bà ta là người duy nhất mà tôi đi xe chung trên xa
lộ ở Los Angeles, với hằng trăm chiếc xe phóng ào ào, xuyên
qua lại ngang ngược, trong một không khí đầy bụi bậm, khói
xăng, kẹt cứng, bực bội, mà vẫn nói với một giọng ngạc
nhiên chân thành, "Chà! Coi kìa người ta đi đâu đông quá!"
Lẽ
dĩ nhiên, từ chuyện xa lộ cho đến những nạn đói kém,
cho đến chiến tranh, khoảng cách ấy xa vời lắm, nhưng khi
ta nhận thấy được rằng thái độ chấp nhận khoan dung của
con người là có thể được, việc ấy sẽ khích lệ ta nhiều
lắm. Sự thực nghiệm tâm linh có lẽ là để khám phá ra
tiềm năng ấy trong ta và khai mở nó ra. Và chân đế thứ
ba cho ta biết việc đó chắc chắn có thể thực hiện được.
Chân
Đế Thứ Ba: Một Tin Vui Tuyệt Vời
Một
yếu tố chủ yếu trong sự tu tập của đạo Phật được
gọi là Chánh Kiến (Right View). Chánh Kiến có nghĩa là thấy
biết và hiểu một cách chân chánh. Một khía cạnh của Chánh
Kiến là ý thức được rõ rệt mục đích của con đường
tu tập chánh niệm. Nhưng bước chân của tôi vào con đường
tu tập chánh niệm đã được hoàn toàn thúc đẩy bởi Tà
Kiến (Wrong View), tức một cái thấy sai lầm. Tôi đã tưởng
rằng nếu mình công phu tu tập đúng mức, tôi sẽ không còn
kinh nghiệm những đớn đau nữa. Lẽ dĩ nhiên cái thấy biết
đó rất là sai lầm. Không thể nào khi ta vẫn còn mang thân
này, sống trong cuộc đời, mà lại tránh khỏi được sự
đau đớn.
Sau
khi khám phá ra được sự sai lầm ấy, tôi đã tự an ủi
bằng niềm tin là dầu sao đi nữa tôi vẫn có thể chấm dứt
được nỗi khổ của mình. Và đó chính là Chân Đế Thứ
Ba. Chân Đế Thứ Ba nói rằng giải thoát, an lạc và hạnh
phúc là những chuyện ta có thể thực hiện được - ngay trong
chính cuộc đời này. Đó quả thật là một ý tưởng hết
sức tuyệt diệu!
Trong
vài năm trước, tôi có dạy về môn tôn giáo Đông phương
cho một trường đại học Thiên Chúa giáo. Sinh viên đa số
là những thiếu niên, thiếu nữ vừa học xong cấp trung học
của một trường trung học Thiên Chúa giáo gần đó. Các em
lớn lên, phần đông, có một đời sống gia đình thoải mái,
đầy đủ và rất sùng đạo, giữa một kỷ nguyên hòa bình.
Các em có vẻ cảm thấy rất hoang mang khi tôi bắt đầu dạy
về đạo Phật, và giới thiệu ngay đến khái niệm về khổ.
Nhưng làm sao tôi có thể tránh được việc ấy. Ý niệm về
khổ và sự chấm dứt khổ đau là giáo lý chủ yếu của
đạo Phật. Ngày xưa đức Phật có lần đã tuyên bố như
thế với một người đệ tử của ngài. Theo truyền thuyết
thì người đệ tử ấy đến bắt bẻ đức Phật. Anh ta trách
đức Phật đã không hề dạy gì cho anh về vũ trụ quan và
triết học như anh đã hy vọng. Truyện kể đức Phật trả
lời, "Ta chỉ dạy có một điều và mỗi một điều mà thôi
- Khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau."
Những
em sinh viên trẻ của tôi lộ vẻ lo âu khi nghe tôi nói, mặc
dù mọi việc dường như có vẻ là vui thú đó, nhưng cuối
cùng rồi tất cả sẽ làm cho ta thất vọng, vì không có gì
là trường tồn mãi mãi. Khi tôi cố gắng giải thích và cho
thí dụ "Cũng giống như nhiều khi các em muốn một việc gì
đó mà không được," thì chúng không đồng ý. Đa số các
em có hết những gì mà chúng muốn. Theo ý kiến của các em
thì đạo Phật dường như hơi bi quan, và các em hỏi tôi,
"Những người Phật tử có tổ chức tiệc ăn mừng sinh nhật
không cô?"
Tôi
hết sức cố gắng để tìm những trường hợp khổ đau nào
mà các em sinh viên của tôi có thể liên tưởng đến được.
"Có bao giờ các em bị một người bạn trai hoặc bạn gái
nào đó bỏ em không? Lúc đó em có cảm thấy đau khổ không?"
"Ồ,"
họ trả lời, "nếu khổ đau là vậy thì em có thể liên tưởng
đến được!" Dù vậy, tôi cũng cảm thấy chút gì bất mãn
khi thấy mình phải là một người mang tin buồn đến cho những
người trẻ ấy.
Nhiều
khi tôi thấy mình lướt qua hai Chân Đế đầu tiên để giảng
ngay đến Chân Đế Thứ Ba, để tôi có thể nói đến cái
tin vui. Chúng ta có thể sống hạnh phúc được. Mỗi người
chúng ta có một khả năng phát triển một tâm rộng lớn đủ
để có thể thương yêu, tỉnh thức, đáp ứng, quan tâm đến
mọi việc, và không cần phải tranh đấu. Đó không phải
chỉ là một tin vui thôi, mà là một tin vui tuyệt vời.
Tam
Tổ của Thiền Tông và Nhất Tổ của Berkeley
Tăng
Xán, vị tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa sống vào thế
kỷ thứ sáu, viết, "Chí đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch,"
có nghĩa là Đạo lớn không khó chỉ hiềm vì ta có sự lựa
chọn mà thôi. Khi đọc những lời ấy, tôi nghĩ, "Chắc mình
sẽ không bao giờ đạt đạo nổi!" Dường như mỗi kinh nghiệm
trong đời đều mang lại cho tôi một cơ hội để có sự
ưa ghét, và tôi lúc nào cũng thiên vị.
Lúc
đầu tiên khi được nghe giáo lý ấy, đứa con gái nhỏ của
tôi đang theo học môn vũ ba-lê rất chuyên cần, và vị giáo
sư của nó cho rằng nó rất có khiếu. Vào mỗi mùa giáng
sinh, nó được vũ trong vở tuồng Nutcracker của đoàn, và
mỗi năm được giao cho đóng một vai quan trọng hơn. Mặc
dầu đứa con gái của tôi chỉ là một cô bé, tôi vẫn tưởng
tượng đến rồi một ngày nào đó, nó sẽ được đóng vai
chánh Snow Queen, và tôi không tin rằng đến lúc ấy, tôi sẽ
có một thái độ dững dưng về việc con mình sẽ được
thủ vai chánh ấy hay là một cô bé nào khác. Tôi có một
sự thiên vị.
Tôi
có thể hiểu được giáo lý vô phân biệt này trên một lãnh
vực bình thường. Tôi biết mình sẽ không bao giờ bước
vào một tiệm kem và nói "Bán cho tôi loại kem nào cũng được,"
nhưng tôi cũng biết chắc là mình sẽ không khổ tâm lắm
nếu họ đã bán hết kem sô-cô-la. Bởi vì còn biết bao nhiêu
loại kem khác cũng thơm ngon như vậy. Đây là một bình diện
phân biệt, chọn lựa được biểu hiện qua bằng sở thích
và thị hiếu bình thường cá nhân.
Điều
mà tôi đã không thể hiểu tới là làm sao việc ấy cũng
có thể đúng đối với những ý thích sâu xa của ta nữa!
Thật ra, tôi đã không tưởng tượng nổi vì sao người ta
lại muốn mình không còn có một sự phân biệt nào hết.
Đối với tôi thì dường như chính sự chọn lựa ấy mới
làm cho cuộc đời hào hứng và lý thú. Lúc ấy, quan điểm
của tôi hoàn toàn đi ngược lại với giáo lý của kinh Kim
Cang: "Tâm vô sở trụ", có nghĩa là một tâm không bị dính
mắc vào đâu hết. Nhưng rõ ràng, điều tôi không hiểu là
sự sống này vẫn có thể được hào hứng và lý thú, và
ta vẫn có thể có những dự án, hy vọng và đeo đuổi chúng
hết lòng, mà vẫn sẵn sàng buông bỏ nếu chuyện không thành.
Tôi
học bài học lớn ấy từ Bill, một người bạn của tôi
đã qua đời cách đây hơn hai thập niên. Tôi thường nghĩ
đến anh như là vị Tổ Thứ Nhất của vùng Berkeley. Bill bị
bệnh ung thư vào năm anh ta còn rất trẻ, mới bốn mươi tuổi.
Anh có vợ, một sự nghiệp đang lên và những đứa con thật
dễ thương. Khi biết rằng cái chết gần kề, anh viết một
lá thư để gửi đến bạn bè sau khi anh qua đời. Trong thư,
anh viết về cuộc đời của mình, "Tôi còn muốn nhiều chuyện
muốn làm nữa, nhưng không bao giờ tôi muốn nó sẽ là gì
khác hơn!" Tôi nghĩ, nếu tôi có thể sống cuộc đời mình
được như vậy thì kỳ diệu vô cùng, muốn thêm nhiều nữa
là một sự tán thưởng đối với cuộc đời, nhưng tôi sẽ
không bao giờ muốn nó là gì "khác hơn."
Tôi
có một người bạn là một vị thầy dạy Zen, anh ta kể cho
tôi nghe về một bài tử thơ. Có một tập sách sưu tầm về
các bài tử thơ này để lại bởi những thiền sư - mà cho
là được các ngài nói lại bằng hơi thở cuối trước khi
viên tịch, theo truyền thống Zen. Anh bạn kể cho tôi nghe về
một bài tử thơ viết, "Tử thơ là chuyện láo lếu. Chết
chỉ là chết."
Vị
thiền sư ấy nhắc tôi nhớ đến một người bạn khác là
Pat, cũng qua đời vì chứng bệnh ung thư vào năm bốn mươi
mấy tuổi, để lại bốn đứa con, nhiều bạn hữu và một
sự nghiệp luật sư lý thú. Tôi học được từ cô là chúng
ta vẫn có thể có sự thiên vị, một sự thiên vị sâu sắc,
không bao giờ thối chí, và cũng không hề đắng cay về nó.
Pat sống được thêm vài tháng, sau khi biết là cuộc chiến
đấu với cơn bệnh của cô đã hết còn hy vọng. Cô ta dùng
thời gian còn lại để hàn gắn mối liên hệ với người
chồng củ, hoàn tất hết những công việc luật còn dở dang,
tâm sự với bạn bè và bộc lộ hết với họ những gì cô
hằng muốn nói. Có những chuyện cô muốn giải quyết, và
tuy chúng rất rắc rối về tình cảm, nhưng cô vẫn cứ làm.
Lúc gần cuối, cô nói với tôi, bằng một giọng hết sức
bình thường và thực tế, "Chị biết không, tôi đã trưởng
thành rất nhiều về mặt tình cảm nhờ chứng bệnh ung thư
này. Tôi đã làm những chuyện mà tôi không bao giờ dám làm
giá như tôi không có bệnh. Nhưng thành thật mà nói, tôi vẫn
ước gì mình không mắc bệnh và không phải trưởng thành."
Một
sự thật rất đơn sơ. Trưởng thành cũng không hay ho gì.
Sống thì vẫn thú vị hơn. Được trao cho những gì không
thể thay đổi được, cô ta đã sống những ngày cuối của
đời mình bằng một thái độ vui vẻ và sẵn sàng. Một ngày
trước khi mất, tôi bắt gặp cô ngồi trên giường đọc
báo. "Tôi đã làm hết mọi chuyện rồi," cô nói, "bây giờ
thì chỉ còn chờ đợi thôi." Tôi nghĩ việc ấy đủ cho cô
xứng đáng làm vị Tổ Thứ Nhất của vùng San Anselmo.
Đứa
con gái của tôi không bao giờ được đóng vai chánh Snow Queen.
Nó đã không trở thành một vũ công, và thái độ chấp nhận
của nó cho phép tôi buông bỏ những kỳ vọng của chính tôi.
Tôi vẫn còn thích xem tuồng Nutcracker, và tôi rất vui thú
tưởng tượng đến cái cảm xúc của má của cô bé đang
thủ vai Snow Queen. Tôi cũng cảm thấy nỗi vui ấy khi xem những
trận đấu banh trên ti-vi, khi nhìn thấy má của một cầu
thủ đứng reo hò trên khán đài, ngay sau khi con mình vừa thắng
điểm. Tôi cảm động vô cùng, đôi khi đến chảy nước
mắt. Tôi cũng khóc khi thấy những chuyện bất hạnh xảy
đến cho người ta. Không có một vị thuốc nào có thể chữa
được tiếng khóc. Và tôi rất mừng về sự bất lực ấy.
Chân
Đế Thứ Ba Rưỡi
Đức
Phật dạy rằng, chấm dứt khổ đau là chuyện có thể được.
Ngài dạy, chúng ta có thể điều kiện tâm mình, giữ cho nó
được trong sáng và rộng lớn, để mọi kinh nghiệm của
ta đến và đi trong một đại dương bao la của tuệ giác.
Khổ đau và an lạc sẽ đến rồi đi, thỏa mãn và thất vọng
sẽ đến rồi đi, và tâm ta vẫn giữ được sự tĩnh lặng
muôn thuở của nó. Ý thức được rằng ta không cần phải
được thỏa mãn mới có hạnh phúc, là một tự do rất lớn.
Nhưng
dù sao thì tôi vẫn chưa chấm dứt được khổ đau, tôi biết
không phải vì tôi chưa khao khát đủ. Tôi khao khát lắm chứ!
Cũng không phải vì tôi không hiểu. Trong thâm tâm tôi tin giải
thoát là chuyện có thể được. Tôi biết, chúng ta tranh đấu
vất vả vì ta chấp và cho những câu chuyện xảy ra là của
riêng mình, thay vì thấy chúng là một phần của một vở
tuồng vũ trụ to lớn đang khai mở. Tôi biết chắc là mọi
việc đều do duyên khởi và ít nhiều tôi tin vào karma, tức
luật nhân quả. Tuy nhiên, tôi vẫn vất vả tranh đấu và
tôi đau khổ. Nhưng dù sao thì bây giờ tôi cũng ít khổ đau
hơn, và tôi cũng không còn bị tuyệt vọng vì những nỗi
khổ, như trong quá khứ.
Vì
vậy, tôi cộng thêm một nửa Chân Đế nữa. Nửa chân đế
ấy là "Khổ đau có thể chăm sóc được (manageable)." Còn
thiếu một chút nữa là chấm dứt được khổ đau, mà tôi
hoàn toàn tin là có thể được, nhưng tôi hài lòng với việc
mình có thể đối trị được khổ đau một cách tốt đẹp
hơn. Vì biết rằng tôi có thể săn sóc được khổ đau của
mình, tôi không còn sợ hãi những đau đớn như khi trước.
Ngày nay, tôi thường nói thẳng với học trò của mình, mặc
dù đức Phật có dạy là ta có thể chấm dứt được khổ
đau, nhưng chính tôi chưa đạt đến trình độ ấy. Học trò
của tôi không thất vọng. Và tôi cũng không hề mất đi một
điểm nào. Nghe được rằng ta có thể săn sóc được những
khổ đau của mình, đối với họ đã là một tin vui lắm
rồi.
Một
nửa Chân Đế phụ thêm đó, còn giúp cho tôi có lòng từ
bi đối với chính mình và người khác hơn. Tôi có thể thấy
được tôi đã bị dính mắc ra sao, tôi đã vất vả, khổ
đau như thế nào, tôi đã mong muốn những gì, và cuối cùng
rồi thì mọi việc cũng đã thay đổi và giải quyết ra sao.
Tôi thương mình hơn, khi hiểu tôi đã tạo nên biết bao nhiêu
đau đớn trong tâm cũng vì những bám víu bị điều kiện
của mình. Ý thức được nỗi khổ của mình, mặc dù đã
nhiều năm tu tập và dù đã có một hiểu biết nào đó, tôi
vẫn rất nhạy cảm đối với một nỗi đau chắc phải là
rất to tát của tất cả mọi người đang cùng với tôi chia
xẻ trái đất này.
Tim
Tôi Vẫn Còn Níu Kéo
Trong
một bài nhạc tình, câu "Tim em gắn bó với anh" là một lời
yêu thương rất nồng nàn tha thiết. Chúng ta muốn trái tim
và ý nghĩ của người mình yêu gắn chặt với mình. Nhưng
theo sự hiểu biết của nhà Phật thì chính sự bám víu, dính
mắc này là nguyên nhân của khổ đau. Mặc dù vậy, trái tim
của tôi vẫn còn rất dính mắc. Vào những ngày tốt trời
thì nó ít bị dính mắc hơn một chút.
Lúc
mới bắt đầu tu tập, một trong những việc mà tôi thích
nhất là được nghe kể chuyện về đức Phật và Phật pháp.
Trước khi tôi ý thức được là ta cũng có khả năng tĩnh
tâm và cảm nhận được giải thoát là gì, tôi rất thích
được nghe kể những câu chuyện về giải thoát.
Những
câu truyện về đức Phật bao giờ cũng rất là kỳ diệu.
Thường thì câu truyện được bắt đầu bằng sự diễn tả
về nơi chốn đức Phật thuyết pháp, tên của những nhân
vật chánh đến thính pháp. Thường thì câu truyện kể lại
có một vị nào đó "từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng,
đứng dậy, đảnh lễ đức Phật, xong ngồi xuống và nghe
pháp." Và tiếp theo "Đức Như Lai nói như vầy," rồi truyện
trình bày một bài pháp trong đó đức Phật giải thích về
chân tánh của mọi vật. Câu truyện thường được chấm
dứt bằng "Sau khi nghe Phật nói xong, các vị ... đều được
giác ngộ hoàn toàn" hoặc là "Nghe xong, tất cả đại chúng
đều được hoàn toàn giác ngộ." Lời kết ấy thường được
viết như vầy: "Và tâm các ngài, nhờ không còn bị dính mắc,
được giải thoát khỏi những sự ô nhiễm." Tôi yêu những
lời ấy vô cùng. Trải qua biết bao nhiêu năm tu tập cho đến
ngày hôm nay, mỗi khi có dịp được nghe ai thuyết pháp, tôi
đều tưởng tượng rằng có thể đây là lúc mình sẽ đạt
được sự giác ngộ hoàn toàn và cuối cùng, như những vị
ấy. Sự kiện là nó đã xảy ra trong thời đức Phật, đã
để lại cho ta một tiền lệ rất tốt. Có điều là nó chỉ
chưa xảy đến cho tôi mà thôi!
Tôi
nghĩ việc ấy đã không xảy đến dễ dàng cho chúng ta, là
vì tâm ta đã bị điều kiện bởi những phản ứng theo thói
quen quá nặng nề. Thói quen của tâm rất khó thay đổi. Tôi
thường hay bị nhức đầu mỗi khi bị tức giận, vì tôi
không biết cách nào để biểu lộ sự bất mãn của mình
ra cho được tự nhiên. Bây giờ tôi có thể bày tỏ cảm
xúc tức giận của mình thoải mái hơn, nhưng đôi khi tôi
cũng cần một cơn nhức đầu để nhắc nhở là mình đang
giận. Và tôi cũng hoàn toàn tin rằng khổ đau phát sinh mỗi
khi tôi gắng chống cự lại với những biến cố nào trong
đời mà tôi không thay đổi được. Dù biết vậy, đôi lúc,
tôi vẫn cứ khăng khăng chống cự. Thói quen thì rất khó
mà chuyển đổi.
Tôi
có một giả thuyết về vì sao thói quen của tâm lý và tâm
linh lại khó có thể mà xóa bỏ hoàn toàn được. Tôi gọi
đó là giả thuyết chiếc-áo-thun-của-sự-thay-đổi trong tâm.
Đã lâu rồi, trên ti vi trong một tiết mục quảng cáo, có
chiếu một bà mẹ đưa lên một chiếc áo thun của đứa con
trai mình, cho thấy những nơi bị dính dơ bởi bơ đậu phụng,
mứt, chỗ cậu ta làm rớt kem sô-cô-la, và những nơi cậu
ta lăn lộn chơi banh trên đất bùn. Bà ta bỏ chiếc áo thun
dính bẩn ấy vào máy giặt và cộng thêm với loại xà bông
mà họ muốn quảng cáo với khán giả. Sau đó khi bà lấy
ra khỏi máy giặt, chiếc áo trở nên trắng tinh như mới,
không còn một tì vết nào. Trong đời kinh nghiệm giặt đồ
của tôi, tôi chưa bao giờ từng thấy một chiếc áo nào lấy
ra khỏi máy giặt mà trông hoàn toàn như mới. Lúc nào cũng
còn một vài chỗ bị phai màu, và ngay cả những trường hợp
hiếm hoi khi mọi chỗ dính bẩn đều được giặt sạch, chiếc
áo vẫn không bao giờ có thể thẳng thớm như khi còn mới.
Những dấu vết cho thấy chiếc áo đã được mặc rồi, dính
vào nó mãi mãi. Tôi nghĩ đối với tâm ta cũng vậy, và tôi
nghĩ việc ấy cũng bình thường thôi. Nếu chúng ta biết bên
nào của chiếc áo bị ngắn hơn, ta có thể nhét bên ấy vào
cho chặt hơn một chút, và rồi thì nó cũng xem rất chỉnh
tề.
Nếu
như tâm tôi không bị dính mắc, tôi sẽ hoàn toàn vô úy.
Không có gì đe dọa tôi được, vì không có một vật gì
tôi sợ phải đánh mất, và cũng không có một vật gì tôi
cần cho hạnh phúc của mình. Nhưng tâm tôi vẫn còn dính mắc,
nên đôi khi tôi vẫn sợ rằng không có được những gì mình
nghĩ là cần thiết, hoặc sẽ đánh mất những gì tôi nghĩ
là mình muốn. Nhưng dầu sao đó cũng không còn là một vấn
đề lớn nữa, vì sự sợ hãi không còn làm tôi kinh khiếp
như xưa. Tôi biết nó có mặt là do sự dính mắc của mình,
và tôi biết nó rồi sẽ đi qua. Tôi có thể tự nhủ, "Tôi
đang sợ hãi, bởi vì mặc dù tôi biết cái gì là chân thật,
nhưng ngay lúc này tôi đã quên mất. Nhưng tôi biết khả năng
ấy hiện hữu." Và khả năng ấy, niềm tin tưởng ấy, đã
đem lại cho tôi thật nhiều hy vọng, giữa những cơn dông
tố hãi hùng trong cuộc đời.
Chân
Đế Thứ Tư: Vòng Tròn Bát Chánh
Giả
sử như chúng ta dùng hình ảnh về một cuộc hành trình để
biểu thị cho sự tầm đạo của mình. Một tấm bản đồ
chánh mà đức Phật đã để lại cho chúng ta, cho hành trình
đi đến hạnh phúc và an lạc, được gọi là Bát Chánh Đạo,
tức Con Đường của Tám Nguyên Tắc Hành Động Chân Chánh.
Nhưng tôi thường nghĩ ta gọi là Vòng Tròn Bát Chánh thì đúng
hơn. Một con đường thì phải đi từ một nơi này đến một
nơi kia, và khi ta đến gần nơi kia hơn, ta sẽ cách xa nơi
này hơn. Và con đường thì có tính cách tiến triển từng
bước một. Cũng như một chiếc thang, ta không thể nào đột
nhiên nhảy ngang vào nấc thứ năm rồi bắt đầu leo lên được.
Trên một con đường thật sự cũng thế, ta phải bắt đầu
từ điểm khởi đầu và tiến bước đều đặn có thứ tự
cho đến điểm cuối cùng. Nhưng với một vòng tròn thì ta
có thể bắt đầu ở bất cứ một điểm nào, và nó cũng
vẫn là nằm trên cùng một vòng tròn.
Khi
giảng về con đường Bát Chánh của ngài, đức Phật dạy
rằng nó có một số những thành tố đặc biệt. Người ta
có thể vững tin là mình đang đi đúng đường nếu họ thấy
một trong những tám bảng hiệu đặc biệt ấy. Tám bảng
đánh dấu đường đó là: thấy biết chân chánh (chánh kiến),
suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy), nói năng chân chánh (chánh
ngữ), hành động chân chánh (chánh nghiệp), mưu sinh chân chánh
(chánh mạng), siêng năng chân chánh (chánh tinh tấn), thiền
định chân chánh (chánh định), và nhớ nghĩ chân chánh (chánh
niệm). Người khách du hành nhìn thấy một trong những bảng
chỉ đường này sẽ biết là mình đang đi về hướng của
an lạc và hạnh phúc.
Thứ
tự mà người du hành nhìn thấy những bảng hiệu ấy trên
đường nó không quan trọng. Vì nếu nhìn cho sâu sắc, ta sẽ
thấy rõ: trong một cái có tàng chứa hết tất cả những
cái khác. Chỉ cần một chút của sự thấy biết chân chánh
thôi, ví dụ như một ý nghĩ cho rằng ta có thể có an lạc
cho dù không được thoả mãn, sẽ khơi dậy sự suy nghĩ chân
chánh thúc đẩy ta cố gắng siêng năng chân chánh để phát
triển thêm sự thấy biết chân chánh ấy. Và bất cứ một
ai muốn tu tập nói năng chân chánh, muốn mỗi lời mình nói
ra đều hữu ích và đúng với sự thật, sẽ khám phá rằng
ta không thể nào không có sự nhớ nghĩ chân chánh. Nhớ nghĩ
chân chánh có nghĩa là biết chú ý trong mỗi giây mỗi phút,
và những ai thực tập điều đó đều biết rằng nó cần
phải có sự thiền định chân chánh. Ta không thể nào nói
rằng, "Bát Chánh Đạo sao phức tạp quá. Tôi chỉ muốn tu
Nhất Chánh Đạo thôi!" Việc ấy không thể nào có được.
Tất cả đều có liên hệ mật thiết với nhau.
Vì
vậy, trên hành trình đi đến an lạc và hạnh phúc, bạn có
thể bắt đầu ở bất cứ một điểm nào. Tôi cũng hơi do
dự về việc gọi sự tu tập ấy là một vòng tròn. Vì một
vòng tròn, cho dù là nhỏ bé, cũng choáng một khoảng không
gian. Và không gian sẽ tạo nên một ý niệm về nơi này và
nơi kia. Thật ra chẳng có một nơi kia nào hết. Khi chúng ta
tỉnh thức và an lạc, chúng ta đang thật sự sống ở nơi
này hơn bao giờ hết. Nhưng vì sự tỉnh thức ấy có xảy
ra và sự tu tập có hiệu quả, nên chúng ta cần phải gọi
đó là gì. Tôi nghĩ có lẽ ta nên gọi đó là Bát Chánh Điểm.
Chánh
Kiến: Bạn Tôi Alta và Vô Thường
Khi
người ta nói đến phương thức tạo hạnh phúc của đức
Phật, người ta thường bắt đầu bằng sự thấy biết chân
chánh, tức chánh kiến. Thấy biết chân chánh có nghĩa là
tin rằng, ít nhất cũng đôi chút, là tuy cuộc sống có nhiều
sự thất vọng không tránh được, nhưng ta vẫn có thể có
hạnh phúc. Khi nghe vậy, có nhiều người chú ý ngay đến
sự kiện là có một phương thuốc chữa trị cho nỗi khổ
trong cuộc đời, nhưng lại miễn cưỡng không muốn nghĩ đến
cái phần không tránh được kia. Nhưng chính cái phần không
tránh được ấy mới thật sự có một công năng khai phóng,
vì không có nó chúng ta sẽ nghĩ rằng mọi việc có thể tốt
đẹp mãi mãi, nếu ta biết khôn khéo hoặc biết cố gắng
đúng mức. Nhưng không có gì sẽ hoàn hảo mãi mãi, vì không
có gì trên đời này là thường hằng cả.
Ý
thức về vô thường là một thành phần chủ yếu của tuệ
giác. Và mặc dù đức Phật đã giảng dạy rất nhiều việc,
nhưng chính ra đức Phật đã dạy về lý vô thường trong
hơi thở cuối của ngài. Truyền thuyết kể rằng, đó là
lời nói trước câu tuyên bố cuối cùng mà đức Phật để
lại trước khi ngài nhập diệt: "Tất cả các pháp hữu vi
đều vô thường." Có nghĩa là, "Mọi vật đều thay đổi."
Bác
bạn của tôi, Alta, mất khi bà được bảy mươi chín tuổi.
Tôi gặp bác khoảng hai mươi lăm năm trước đó, khi bác ghi
tên học lớp yoga do tôi hướng dẫn. Bác bảo tôi, "Ông nhà
của tôi vừa mới mất sau một thời gian dài bệnh hoạn,
và bây giờ thì tôi bắt đầu xây dựng đời mình lại từ
đầu." Bác ta trở nên ham thích học những lớp về tâm linh
và theo học hết những khóa do tôi hướng dẫn. Có lẽ bác
cho rằng tôi là thầy của bác, nhưng thật ra, bác mới chính
là thầy của tôi.
Câu
truyện về bác Alta bắt đầu biến đổi khoảng mười năm
trước đây. Bác bị trặc lưng, có lẽ trong một chuyến chạy
bộ ba dặm Anh thường ngày của bác, và vì cơn đau khá dữ
dội, bạn của bác thuyết phục bác nên đi khám bác sĩ.
"Lần
cuối bác đi khám sức khoẻ là lần nào?" Bác sĩ hỏi.
"Chắc
cũng đã ba mươi lăm năm rồi," bác Alta đáp.
Đôi
lông mày của vị bác sĩ hơi nhướng cao. "Ba mươi lăm năm?
Thế còn bác khám ngực và thử mammograms thì sao?"
"Tôi
chưa thử bao giờ."
"Còn
những 'thay đổi khác' thì như thế nào?"
"Tôi
đã trải qua hết," bác trả lời.
Trải
qua những biến cố đổi thay trong cuộc đời là việc mà
bác Alta sành sỏi nhất, và với khả năng ấy, bác là một
gương mẫu cho tôi. Chúng tôi đã trở thành bạn thân, bỏ
ra nhiều ngày mưa mùa đông trong phòng khâu vá của bác, thường
là để may quần áo cho tôi. Tôi kể cho bác nghe về gia đình
của tôi, và bác kể chuyện của bác - những câu chuyện mà
phụ nữ thường hay tâm sự với nhau trong khi may vá. Tôi thường
cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy những chuyện tôi cho là một
vấn đề, đối với bác lại chẳng đáng gì hết. Và tôi
để ý thấy bác có thể kể cho tôi nghe về những khó khăn
trong gia đình bác, mà tôi thấy thật to lớn, trong khi bác
vẫn điềm đạm may vá không trật một đường kim. Tôi biết
bác buồn, nhưng bác vẫn có vẽ thoải mái. "Bác không bất
mãn sao?" Tôi hay hỏi. "Mình đã làm hết những gì có thể
làm rồi," bác trả lời, "thì bực mình cũng chẳng có ích
lợi gì."
Khi
chúng ta thật sự hiểu rằng bất cứ một việc gì rồi cũng
thay đổi, ta sẽ có được một cái nhìn sáng suốt hơn đối
với những biến cố xảy ra trong đời mình. Giả sử như
khi gặp một hoàn cảnh khổ đau nào ta không thể thay đổi
được, ít nhất, ta cũng có một niềm tin là nỗi đau ấy
sẽ không kéo dài mãi mãi. Nhiều khi, chính cái ý nghĩ cho
rằng nỗi đau sẽ không bao giờ chấm dứt đã khiến ta không
thể chịu đựng nổi. Khi an ủi những ai đang chịu tang, người
ta thường nói, "Thời gian sẽ chữa lành hết tất cả," nhưng
người nghe khó có thể tin được việc ấy. Trong cơn đau,
chuyện ấy thấy mơ hồ quá. Chánh kiến có nghĩa là ta cảm
thấy khổ đau, nhưng vẫn nhớ rằng nỗi đau nào cũng có
một giới hạn, và từ đó ta tìm được an ủi. Và, khi mọi
việc là hạnh phúc, ngay cả cực kỳ hạnh phúc, ý thức về
vô thường sẽ không làm giảm bớt niềm vui của ta, mà còn
làm tăng trưởng nó thêm nữa.
Chánh
Tư Duy: Thực Tập Sự Khác Biệt
Nhiều
năm trước đây, khi tôi mới được hơn hai mươi tuổi, đi
phi cơ đối với tôi vẫn còn là một cái gì mới lạ lắm,
tôi bay đến thành phố Newyork từ Atlanta, Georgia. Hôm ấy trời
mưa to, và chiếc phi cơ chong chóng của tôi không bay cao hơn
mây, nên chúng tôi bị dằn vật dữ lắm. Tôi ngồi bám cứng
lấy chỗ gác tay trên ghế, nghiến chặt răng, cứ thỉnh thoảng
lại đếm nhịp tim của mình, và mong từng phút cho đến khi
phi cơ đáp. Một "bà đứng tuổi" trong chiếc ghế cạnh bên
(có lẽ cũng khoảng tuổi tôi mà thôi) ngồi bất động, nhận
đĩa ăn trưa từ cô tiếp viên hàng không, và múc ăn. "Sao
cô ta chẳng sợ gì hết vậy?" tôi tự hỏi. Sau khi phi cơ
vừa chạm bánh xuống phi đạo của phi trường Newyork, tôi
thở phào nhẹ nhõm, "Cám ơn thượng đế!" Cô ta quay sang tôi
và mỉm cười. "Đúng vậy!" cô đáp. Đó là một bài học
thật đáng để tôi nhớ mãi. Cô ta có sợ đó chứ, nhưng
cô vẫn thưởng thức được bửa ăn trưa của mình.
Bạn
của tôi Elizabeth bị giải phẩu ung thư ngực mười năm trước
đây, và trong khi tôi và Jim, chồng chị, đứng chờ ngoài
phòng hồi sức, mấy cô y tá ghé qua báo cho chúng tôi nghe
tin tức về chị và kể lại là thấy chị rất vui tươi khi
họ đẩy vào phòng mổ. Họ tỏ vẽ khâm phục sự thoải
mái và thái độ không sợ sệt của chị. Sau này tôi nói
lại cho Elizabeth nghe về chuyện của mấy cô y tá kể. "Có
thật là chị không sợ hãi một chút nào không?" tôi hỏi.
Chị cười to và nói, "Tôi sợ khiếp đi đó chứ, nhưng tôi
nghĩ làm người khác bất an chẳng có ích lợi gì."
Cô
bạn ngồi trên phi cơ cũng như chị Elizabeth, cả hai đã không
hề chối bỏ cảm xúc của mình. Cả hai nào có ưa thích gì
về chuyện xảy đến cho họ, nhưng họ cũng không có một
sự chọn lựa nào khác. Sự chọn lựa duy nhất mà họ có
là cái thái độ trong việc sử dụng thời gian ấy. Có được
khả năng để chọn lựa một thái độ, một phong cách, đối
với tôi, dường như là một tự do lớn. Có lẽ đó là ý
nghĩa sâu sắc nhất của câu "tự do chọn lựa."
Suy
nghĩ chân chánh, tức chánh tư duy, là những gì phát huy trong
tâm thức khi chúng ta hiểu rằng mình có sự tự do chọn lựa.
Sự sống lúc nào cũng sẽ khai mở theo đường lối của nó:
dễ chịu hoặc khó khăn, thất vọng hoặc vui tươi, biết
trước được hoặc bất ngờ... hoặc tất cả những cái
vừa kể! Hạnh phúc biết bao khi biết rằng, bất cứ một
làn sóng nào từ biển khơi xô đến, ta cũng có thể vui vẻ
cởi lên nó được. Nếu thiện nghệ hơn một chút, ta có
thể như những người cởi ván lướt sóng (surfer) chuyên môn,
mừng vui mỗi khi được gặp những cơn sóng to.
Áp
dụng sự suy nghĩ chân chánh vào đời sống hằng ngày, có
nghĩa là ta cương quyết hành xử sao để nới rộng cái giới
hạn của những phản ứng bị điều kiện của ta. Nếu tôi
muốn có những bắp thịt nở nang, tôi cần phải lợi dụng
hết mọi cơ hội để tập thể dục. Nếu tôi muốn có một
lối sống thương yêu, rộng lượng và không sợ hãi, tôi
cần phải thực tập khắc phục những khuynh hướng giận
dữ, tham lam hoặc mê lầm trong tôi. Cuộc đời là một phòng
tập thể dục tuyệt diệu. Mỗi hoàn cảnh là một cơ hội
tu tập. Trong thuật ngữ của nhà Phật, đó còn được gọi
là phát triển sự vô tham, vô sân và vô si.
Tha
Thứ
Bà
ngoại của Ronna đã thực tập sân hận. Trong suốt ba mươi
năm cuối của đời bà, bà mang trong lòng một nỗi hận câm
lặng đối với má của Ronna. Sự căm hận ấy vẫn tiếp
tục mặc dù ký ức của bà đã phai mờ. Một hôm, lúc gần
kề với cái chết, bà cụ hỏi Ronna, "Con có nhớ ta giận
má con về việc gì không?" Ronna nhớ, nhưng cô ta thấy nhắc
lại cũng chẳng ích lợi gì. "Không," cô đáp, "Con cũng không
nhớ nữa!" "Ta cũng quên mất tiêu rồi," bà ngoại cô nói,
"nhưng ta nhớ là ta giận nó lắm!"
Tập
dượt "bắp thịt" sân hận nhiều đến độ nó tự hoạt
động một mình, chuyện ấy tôi thấy tội nghiệp quá! Tôi
bất mãn nhất là mỗi khi nghe ai nói, "Ngày nào mà tôi vẫn
còn sống tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho người đó!" Tôi
tự nghĩ, "Thật tội nghiệp cho cô ta. Cô đã bị người kia
làm đau khổ, và bây giờ cô còn lại định ôm giữ nỗi
đau ấy mãi bằng cách tôn thờ nó trong ký ức." Việc ấy
gợi tôi nhớ đến những cảnh trong phim cao bồi được quay
vào thập niên 40, có vị cảnh sát trưởng bắt một tội
phạm nhốt vào xà-lim và đóng cửa lại, nhưng không khóa.
Điều khôi hài là người tù la lối và khua những chấn song
sắt ầm ĩ, trong khi khán giả đều biết rằng anh ta chỉ
cần đưa tay mở cửa là có thể bước ra.
Nhưng
đôi khi tôi thấy người ta còn làm những chuyện tệ hơn
là chỉ khua những chấn song. Thay vì tự giải cứu, chúng
ta lại khư khư ôm giữ lấy cơn giận mà ta cho là chính đáng,
bằng cách cứ nhắc đi, nhắc lại những đau buồn của mình.
Việc đó cũng giống như là ta đang cầm cây chìa khóa trong
tay, vói tay tự khóa nhốt mình lại, rồi quăng chiếc chìa
khóa ra ngoài xa.
Trong
một bài pháp đức Phật giảng tại vườn Jetavana, ngài dạy,
những ai cứ tiếp tục nghĩ về những lúc mình bị lạm dụng
hoặc bị làm xấu hổ, sẽ không bao giờ có thể giải thoát
ra khỏi sự sân hận. Và những ai có thể buông bỏ những
tư tưởng ấy, ngài dạy tiếp, sẽ có thể biết thương yêu
được. Có lần tôi đang giải thích điều này cho một lớp
của tôi, thì có một cậu học trò nói to, "Lẽ dĩ nhiên,
thưa cô. Tha thứ là cái giá mà ta phải trả cho sự tự do."
"Tom," tôi nói, "câu ấy hay lắm. Tôi có thể dùng nó để
đi dạy được không?" Cậu ta đáp, "Được chứ, nhưng cô
phải nhớ nhắc là "Tom nói câu đó' " Và lúc nào tôi cũng
nhắc điều ấy.
Những
Củ Hành Tây
Không
phải bao giờ bạn cũng có thể biết được lúc nào, hoặc
vì lý do gì, lòng tham lam của mình lại nổi dậy. Chánh Tư
Duy, tức suy nghĩ chân chánh là một sự cố gắng để đối
trị lại sự nổi dậy ấy. Mùa thu năm ngoái, tôi và chị
bạn thân Mary Kay trồng hành tây vào đúng ngày trăng rằm
tháng mười. Quyển lịch niên giám nói rằng trăng tròn sẽ
bảo đảm cho việc được mùa to. Công việc gieo trồng rất
là chậm chạp, vì mỗi cọng hành non mỏng manh cần phải
được trồng riêng rẽ, nhưng cũng rất là thích thú vì thời
tiết rất mát và chúng tôi có dịp tâm sự với nhau.
Chúng
tôi chúc mừng lẫn nhau về việc đã chọn được một ngày
lành tháng tốt để khởi công. Tôi nói, "Nếu chúng ta thật
sự thu hoạch được một mùa thật to thì sao? Chị có nghĩ
là tụi mình có thể cất chúng trong nhà hết không? Hay là
phải phơi khô? Ta có phải thái nhỏ ra, bỏ vào bao và giữ
trong tủ lạnh không?" "Tụi mình có thể đem biếu bớt cho
những tiệm ăn dành cho người nghèo," Mary Kay nói, "hoặc là
cho những nơi nuôi những người không nhà." Mary Kay là giám
đốc của một nhà tạm trú dành cho những người vô gia cư,
và tôi cũng thường hay mang đồ đến đó cho. Dù vậy, dẫu
biết rằng tôi có thể ra chợ mua một xe củ hành đem tặng
họ, nhưng tôi muốn là những cây hành từ khu vườn này phải
đi vào bụng của tôi. Một cây hành là một cây hành, và
tôi trồng là vì tôi thích trồng, không phải vì tôi không
thể mua được, mặc dù vậy tôi cũng cảm thấy rất khó
chịu về một sự mất mát giả tưởng trong tương lai. Đó
là một nỗi đau thật sự, một tâm dính mắc vào một cái
gì nó nghĩ là nó cần, cho dù đó chỉ là một cọng hành.
Tôi không muốn phải thú tội về sự tham lam của mình, tránh
lãnh thêm khổ đau, nên tôi vượt qua nó. "Lẽ dĩ nhiên tụi
mình sẽ đem cho," Tôi nói thật lòng. Và tôi cảm thấy vô
cùng sảng khoái.
Thành
phố Alexander Valley tại California nơi tôi cư ngụ, ở một
tiệm hàng có một bảng hiệu ghi, "Tự do không phải là quyền
cho phép bạn làm bất cứ việc gì bạn muốn, mà là để
làm những gì bạn cần nên làm."
Cháu
Ngoại Tôi và Tu Viện
Mấy
năm trước đây, tôi có tự nguyện rằng khi đối diện với
bất cứ một việc gì mà tôi sợ hãi, và nếu tôi nghĩ là
mình có thể làm được, tôi sẽ làm. Châm ngôn của tôi là,
"Nếu người khác làm được, thì tôi cũng có thể làm được."
Nguyên tắc ấy đã thúc đẩy tôi làm những việc mà bình
thường có lẽ tôi đã chịu khuất phục. Nó cho phép tôi
dám lặn xuống đáy sâu để thấy được một thế giới
kỳ diệu dưới lòng đại dương, và nó cũng đã nâng đở
tôi qua những kinh nghiệm mãnh liệt và dị thường trong thiền
tập, để tôi có thể nhìn được tận mặt một thế giới
kỳ diệu của nội tâm.
Sợ
hãi là một thói quen của tâm thức. Có người có thói quen
ấy nhiều hơn kẻ khác. Nhưng nó bao giờ cũng là dư thừa
và không cần thiết. Bị giam hãm bởi sự sợ hãi là một
hình tướng của si mê. Ta chỉ có thể hoặc là làm được
một việc gì, hoặc là không làm được, thế thôi. Nếu tôi
thật sự không thể làm được - ví dụ như tôi rất vụng
về về máy móc, lái máy bay là chuyện không khôn ngoan chút
nào hết - tôi sẽ không làm. Và nếu tôi thật sự có khả
năng, và nếu đó là một công việc lành mạnh, tôi sẽ bắt
buộc mình phải cố gắng. Có một hôm tôi khám phá ra rằng,
sự sợ hãi thật ra chỉ là một chuỗi tác động của tế
bào thần kinh trong bộ óc mà thôi! Thấy được điều ấy,
tôi rất bất mãn là sao mình lại chịu giam cầm bởi những
dòng điện đơn sơ chạy ngoằn ngoèo trong đầu ấy!
Các
bà nội, bà ngoại thường đóng vai trò của một vị thầy
tâm linh. Bà ngoại tôi là vị thầy đầu tiên của tôi, và
tôi hy vọng sẽ tiếp tục được nhận lãnh vai trò ấy của
bà cho các thế hệ về sau. Bài học mà tôi lãnh hội nhiều
nhất từ bà là phải biết cương quyết chịu đựng khi đối
diện với những hoàn cảnh khó khăn. "- đâu nói rằng," bà
sẽ hỏi, "là ta lúc nào cũng phải vui vẻ?"
Có
một lần tôi dẫn đứa cháu tôi, Collin, đến thăm chị bạn
Mary, lúc nó mới lên ba tuổi. Mary là một tu sĩ thuộc dòng
Nữ Tu Dominican ở San Rafael. Lúc chúng tôi đến viếng thăm,
chị đang sống tại một tu viện thật đẹp và đồ sộ,
đã được sử dụng làm trung ương cho dòng tu của chị trong
nhiều năm qua. Tu viện có những cánh cửa to lớn, nặng nề
và hùng vĩ, với những chiếc cầu thang rất dài dẫn lên
chúng. Mary kể cho tôi nghe những cánh cửa ấy đối với chị
dễ sợ như thế nào lần đầu chị đến đây, cách đây
đã hơn ba mươi năm, khi chị mới bước vào dòng tu. Thằng
Collin cũng chẳng thích chút nào.
"Cháu
không thích mấy nấc cầu thang này, bà ngoại. Mình đi về
đi!"
"Bây
giờ không phải là thời gian đi-về. Bây giờ là thời gian
thăm-viếng-bác-Mary."
"Cháu
thật là không thích mấy nấc thang này, ngoại."
"Cháu
đâu cần phải thích chúng, Collin. Cháu chỉ cần leo lên chúng
mà thôi. Nắm tay ngoại đi, hai bà cháu mình cùng đi với nhau."
Chúng
tôi đã ở lại thăm Mary, và dĩ nhiên, Collin cũng thích thú
lắm. Nó dám leo lên cả chiếc cầu thang chánh và dài nhất
của tu viện. "Coi kìa bà ngoại, nhìn những nấc thang ấy
kìa!" Nó cảm thấy hảnh diện về chiến thắng của nó, và
tôi thì cảm thấy rất vui về những bước đầu trên con
đường tu tập tâm linh của nó. Tôi thường kể truyện của
Collin lại cho các học trò của tôi, đặc biệt cho những
ai đang thực tập thiền quán trong một khóa tu. Tôi kể câu
chuyện ấy những khi nghe một thiền sinh nào nói, "Tôi đang
kinh nghiệm thân và tâm tôi một cách rất mới lạ, tôi cảm
thấy sợ hãi quá!" Tôi muốn họ biết rằng cái gì mới lạ
và khác thường bao giờ cũng có thể gây nên một cảm giác
sợ hãi hết, nhưng cái sợ ấy không cần thiết. Nếu có
một ai đó nắm tay ta, "sợ hãi" sẽ đổi thành "thú vị",
và "thú vị" là một trong những yếu tố của sự giác ngộ.
Chánh
Nghiệp: Hành Động Chân Chánh
Những
giới luật đạo đức đa số đều thường có dính dáng đến
những sự cấm đoán: không được làm cái này, không được
làm cái kia. Tất cả các truyền thống tâm linh mà tôi biết,
ít nhiều gì thì cũng thường có chung một bảng danh sách
liệt kê những điều ngăn cấm. Chuyện đó cũng dễ hiểu,
vì tất cả những điều cấm ấy đều được phát triển
từ ý thức rằng, nếu chúng ta không sáng suốt, sự thúc
đẩy tự nhiên của tâm tham lam và sân hận trong ta sẽ khiến
ta làm những việc lạm dụng hoặc có hại cho kẻ khác. Điều
luật cơ bản nhất là, "Đừng gây thêm khổ đau."
Trong
kinh điển Phật giáo, khi nói đến chánh nghiệp, người ta
dùng chữ hiri và ottappa, thường được dịch là "biết hổ
thẹn" và "biết khiếp sợ." Hổ thẹn và khiếp sợ có mang
một ngụ ý hơi tiêu cực, nhưng tôi thích những chữ ấy.
Tôi tôn trọng cái ý niệm về một trách nhiệm to tát mà
những danh từ ấy muốn chuyển đạt. Nói chung lại, chúng
có nghĩa là mỗi một hành động nào của ta cũng đều có
một khả năng gây nên khổ đau, và mỗi một việc làm nào
của ta cũng đều có những hậu quả lan rộng, mà ta không
bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Nhưng việc ấy không
có nghĩa là ta không nên làm gì hết. Nó có nghĩa là ta nên
hành động cho thật cẩn trọng. Tất cả mọi hành động
đều quan trọng.
Ông
Ngoại Tôi và Những Trái Cam
Tôi
không nhớ rằng có lúc nào mình lại không biết chuyện ông
ngoại và những trái cam không! Tôi đoán có lẽ tôi đã nghe
ông kể khi tôi mới lên chín hoặc mười gì đó. Chắc tôi
đã thắc mắc hỏi ông, vì thấy ông làm việc tại một cây
xăng, mà ông không hề biết lái xe.
"Khi
Ngoại mới đến xứ Hoa-kỳ," ông Ngoại tôi kể, "Ngoại mới
được hai mươi lăm tuổi, và có người tập cho Ngoại lái
xe đạp. Ngoại chạy chưa được vững lắm, và một hôm ông
Ngoại vô ý đụng nhầm một bà đang ôm những giỏ giấy
đi chợ. Một chiếc giỏ rơi xuống đất, và những trái cam
đổ ra lăn lóc khắp nơi trên mặt đường. Ngoại hối hận
về hậu quả mình gây ra quá, và rồi từ đó trở đi quyết
định là mình sẽ không bao giờ lái một cái gì nữa hết!"
"Nhưng
đó chỉ mới có một lần thôi mà," tôi phản đối.
"Việc
đó không thành vấn đề," ông Ngoại nói. "Sau khi Ngoại biết
được cảm giác đụng phải người khác như thế nào rồi,
Ngoại không bao giờ muốn đâm vào ai một lần nữa."
Có
lẽ đó là một mức độ hơi cực đoan của hiri và ottappa,
nhưng tôi cảm thấy kính phục ông Ngoại tôi rất nhiều.
Và trong suốt đời ông, tôi đã nghe ông lặp đi lặp lại
câu chuyện ấy rất nhiều lần, tôi có cảm tưởng là Ngoại
tôi rất hài lòng với quyết định của mình. Ông sống với
một ước vọng là sẽ không làm đau khổ ai hết. Như ông
đã nói, "Tôi không bao giờ muốn gây thêm phiền phức gì
cho bất cứ ai."
Chánh
Nghiệp Tích Cực: Cứu Cấp Trên Phi Cơ
Thật
ra, những hành động cấm đoán chỉ mới là một nửa phần
của chánh nghiệp mà thôi. Một nửa phần còn lại là biết
sử dụng hết mọi cơ hội của mình để làm vơi bớt khổ
đau. Nhận lãnh trọn thế giới này không phải chỉ là một
hành động cao thượng đối với kẻ khác mà thôi, nó còn
to tát hơn thế nhiều, nó là một việc làm rất tốt lành
cho chính ta.
Đôi
khi hồi tưởng lại quá khứ, tôi cảm thấy rất buồn vì
đã bỏ lở những cơ hội mà tôi có thể hành động để
làm vơi chút phần nào khổ đau cho người khác. Năm năm trước
đây, tôi đã lở một cơ hội trên một chuyến bay, tôi vẫn
còn nhớ mãi và học được rất nhiều từ đó. Tuần vừa
qua, suýt chút nữa là tôi lại đánh mất thêm một cơ hội
nữa, nhưng tôi ý thức kịp thời. Sau đó, tôi tự hỏi, không
biết lỗi lầm đầu tiên của tôi có được bôi xóa nhờ
sự sửa sai lần sau này không. Và tôi ý thức rằng, việc
ấy không ăn chung gì hết! Hành động chân chánh, tức chánh
nghiệp, là một đòi hỏi thường xuyên trong suốt cuộc đời.
Không có một thời điểm nào để ta có thể dừng lại và
cân bằng số điểm, xem mình thắng bại ra sao. Nếu có một
hành động nào là cần thiết và hành động ấy tốt lành,
thì nó cần phải được thực hiện. Việc ấy nghe như là
một sứ mạng rất to tát, như một lời nguyện của vị bồ
tát, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, muốn đoạn dứt
hết mọi phiền não, mà sự thật là vậy. Nhưng thật ra,
việc ấy cũng không khó như ta nghĩ đâu. Những quyết định
của ta sẽ trở nên dễ dàng hơn. Vì trốn tránh không phải
là một sự chọn lựa, nên công việc chỉ là ý thức được
những việc nào là tốt lành và thực hành chúng mà thôi.
Cứu
Cấp Trên Phi Cơ: I. Sự Sai Lầm
Tôi
ngồi yên trong ghế của mình, cột dây an toàn xong xuôi, trong
khi những người hành khách cuối cùng bước lên phi cơ từ
Boston đi San Francisco. Bổng có giọng nói cáu kỉnh của một
bà mẹ gây sự chú ý cho tôi. Tôi ngước nhìn lên và thấy
gương mặt của bà ta đỏ bừng và căng thẳng. Đứa con trai
nhỏ mặt trông tái mét và sợ sệt. Bà ta loay hoay với mấy
chiếc giỏ xách tay, đẩy đứa bé đi tới trước đến chỗ
ngồi của bà, mắng nhiếc nó từng bước một. Tôi nhíu mặt
và nhìn sang chỗ khác, tôi có những ý nghĩ không tốt về
bà ta.
Chuyến
bay dài sáu giờ đồng hồ. Hai mẹ con ngồi phía sau tôi cách
chừng vài dãy ghế, đều đặn, tôi có thể nghe tiếng gay
gắt của bà. Mỗi lần nghe tiếng bà là tôi cảm thấy bực
mình. Tôi ước gì mình đã đi trên một chuyến bay khác. Tôi
cảm thấy khó chịu vì bà ta đã làm hỏng cái hy vọng rằng
đây sẽ là một dịp cho tôi nghỉ ngơi. Tôi lo lắng cho đứa
bé trai, và tưởng tượng ra những hình ảnh đen tối cho tương
lai và cuộc đời của nó. Tôi nghĩ rồi sẽ có một ngày
nào đó, những hành động của người đàn bà này sẽ trở
lại ám ảnh bà ta. Tôi ngồi yên trong ghế, suy nghĩ đủ hết
tất cả mọi chuyện, trừ việc giúp đở họ.
Trong
lúc đó, tôi không có một giải pháp can thiệp nào hết. Có
lẽ tôi quá bực mình, tôi nghĩ tôi sẽ lại thốt ra những
lời bất nhã. "Mình nói gì," tôi tự hỏi, "mà lại có thể
giúp ích được cho họ?"
Phi
cơ đáp xuống, người đàn bà và đứa con trai mất dạng
vào trong đám đông. Khi ấy, có lẽ vì cơn nước lũ lụt
phê phán đã dừng, tôi biết được việc gì mình đã có
thể làm. Tôi đã có thể dừng lại bên chỗ dãy ghế của
bà ta, mỉm cười và nói, "Đi xa với lại một đứa bé như
vầy chắc chắn là cực lắm, phải không? Tôi cũng có lần
làm như vậy, lâu lắm rồi, và tôi vẫn còn nhớ mãi. Bà
đi như vầy lâu chưa? Bà có phải chờ đợi ở phi trường
lâu không? Bà đi về đâu? Có ai ra đón không?" Dĩ nhiên là
tôi không cần phải hỏi tất cả những câu ấy. Chừng một
hoặc hai câu cũng đủ tỏ cho bà ta biết rằng tôi thấy được
nỗi cực nhọc của bà và lưu tâm đến. Việc đó chắc chắn
sẽ giúp được phần nào.
Nào
ai biết được việc gì đã có thể xảy ra nếu tôi và bà
nói chuyện với nhau? Có lẽ tôi đã có thể nói cho bà ta
nghe một vài điều hữu ích về vấn đề nuôi dạy con. Có
lẽ tôi đã có thể khiến cho bà cố gắng thay đổi một
phần nào. Có lẽ cuộc đời của đứa bé trai ấy đã thay
đổi.
Những
việc đáng lẽ tôi đã phải làm trở nên rất rõ ràng sau
đó, khi nó đã là quá trể. Tôi cảm thấy hối hận. Nhà
Phật có dạy rằng hành động này sẽ "làm điều kiện" cho
hành động khác, và sự không-hành-động của tôi đã điều
kiện cho một quyết định là mình sẽ hành động tốt hơn
về sau.
Cứu
Cấp Trên Phi Cơ: II. Sửa Sai.
Năm
năm sau, một lần nữa, tôi ngồi yên trong ghế trên chuyến
bay United 33, từ Boston đến San Francisco, tôi hy vọng sẽ được
sáu giờ rảnh rang để viết lách, vì chỉ còn vài tuần nữa
là đến kỳ hạn cho bản thảo của quyển sách này. Người
đàn bà ngồi cạnh tôi có vẻ bất an, bồn chồn trong ghế
ngồi, háo hức muốn nói chuyện. Bà kể tôi nghe, gần đây
bà bị té và đầu xương cụt của bà bị bầm tím, bây giờ
mỗi khi ngồi nó đau đớn lắm. Bà giải thích là bà hơi
lo và không vui, vì chuyến bay này khá dài mà lại không được
phép hút thuốc.
Tôi
bỏ một thời gian để nói chuyện, hy vọng rồi bà ta sẽ
ổn định xuống để tôi có thể trở lại viết lách mà
không tỏ ra mất lịch sự. Tôi lào xào sắp xếp lại mớ
giấy tờ của mình, cố ý cho bà thấy là tôi muốn được
yên để làm việc. Mỗi lần chúng tôi kết thúc một chủ
đề và tôi bắt đầu quay sang chỗ khác, bà ta lại bắt đầu
một đề tài mới.
Giờ
ăn trưa đến và đi. Tôi hy vọng là dịp nói chuyện trong
giờ ăn sẽ cho phép tôi được yên sau đó, để có thể nghiêm
chỉnh tiếp tục sự viết lách của mình, nhưng việc ấy
đã không xảy ra. Chuyến bay càng kéo dài, bà ta lại càng
trở nên bất an. Lưng của bà đau và bà thèm thuốc lá.
Thật
ra chính là bà, chứ không phải tôi, đã đánh thức tôi dậy
trước khi tôi lại phạm lỗi một lần nữa. Chúng tôi kể
cho nhau nghe về việc làm của mình, và bà thắc mắc, hỏi
một chuỗi câu hỏi về công việc của một người đi hướng
dẫn thiền tập. Tôi dạy cho những ai? Những gì tôi dạy
có ích lợi cho những người bị căng thẳng không? Nó có
khó không? Nếu bà muốn học thì sao? Bà hăm hở nhờ tôi
ghi xuống tên của những quyển sách bà có thể đọc, những
cuộn băng bà có thể mua, những nơi bà có thể tìm đến
học.
Cuối
cùng, tôi hiểu. Tôi nói, "Bà có muốn tôi chỉ cho bà phương
pháp thiền tập ngay bây giờ không? Nó có thể sẽ làm bà
cảm thấy dễ chịu hơn."
"Vâng,
tôi muốn chứ," bà đáp. "Tôi rất là muốn lắm."
Tôi
bỏ viết xuống. Tôi giảng cho bà nghe vài lời hướng dẫn
về thiền tập. Bà ta ngồi yên trong một thời gian. Và sau
đó chúng tôi bàn về kinh nghiệm của bà.
Bà
nói bà cảm thấy được thoải mái hơn. Tôi giải thích, một
cảm giác thoải mái hơn một chút sẽ làm cho bà ta cảm thấy
thoải mái hơn thật nhiều, bởi vì bây giờ bà có thể tin
chắc là mình có khả năng vượt qua được chuyến bay này.
Chúng tôi nói về việc tâm của ta có thể nắm lấy một
sự khó chịu nho nhỏ thôi và thổi phòng nó lên thật to.
Tôi
bắt đầu nhận ra là mình đang có những giờ phút rất vui.
Tôi chợt thấy, thật là rất buồn cười khi ta bận rộn
viết về niềm vui của những hành động vô kỷ và từ ái,
về việc đem tình thương ra ban rải mỗi khi có dịp, trong
khi ta lại cố chối bỏ một người đang khổ đau ngồi ngay
sát cạnh bên ta. Trong nửa giờ cuối của chuyến bay bà ta
ngủ say, và tôi đã viết một bài thật hay.
Chánh
Ngữ: Một Lời Đã Nói Ra, Bốn Ngựa Không Theo Kịp
Một
tấm bảng trong một cửa tiệm cạnh nhà tôi ghi:
Cẩn
thận trong việc chọn lời của bạn
Giữ
cho chúng ngắn gọn và ngọt ngào
Bạn
không bao giờ biết sẽ có một ngày
Những
lời nào rồi bạn sẽ phải lãnh.
Tôi
đã suy nghĩ rất nhiều về sự kiện là đức Phật đã dành
riêng một chi phần đặc biệt trong Bát Chánh Đạo cho sự
nói năng chân chánh, tức Chánh Ngữ. Ngài có thể đơn giản
hóa bằng cách nhập nó vào chung với Chánh Nghiệp, tức hành
động chân chánh, cũng được vậy! Vì nói năng cũng là một
hình thái của hành động. Có thời gian tôi nghĩ có lẽ đức
Phật để nó riêng ra là vì chúng ta nói nhiều quá. Nhưng
rồi sau đó tôi đã đổi ý - vì biết có một số người
không nói gì nhiều hết. Bây giờ, tôi nghĩ nó được phân
loại riêng là vì lời nói của ta có một quyền năng rất
lớn.
Vài
năm trước đây, tôi có đọc được một câu trên một trang
báo. Nó được in ở cuối trang như một câu châm ngôn chêm
vào cho đầy hết trang báo, vì bài viết vẫn còn dư một
khoảng trống. Tôi không còn nhớ bài viết về đề tài gì,
cũng như trên tờ báo nào, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ câu
ấy. Nó ghi, "Gậy và đá đôi khi có thể làm gẫy xương ta,
nhưng lời nói thì lúc nào cũng có thể gây thương tích cho
ta."
Đôi
khi trong lớp, tôi thường hỏi, "Em nào đã từng bị gẫy
xương giơ tay lên." Sau khi các em đưa tay lên, tôi nói, "Em
nào bây giờ vẫn còn đau vì gẫy xương thì cứ để tay cho
tôi xem." Thường thường thì tất cả những bàn tay đều
bỏ xuống. Sau đó tôi hỏi tiếp, "Giơ tay lên nếu có em nào
vẫn còn cảm thấy đau đớn về một chuyện gì đó mà ai
nói với em trong một năm vừa qua." Rất nhiều bàn tay đưa
lên. "Giữ tay ở đó nếu em nào vẫn còn cảm thấy khổ đau
vì một lời phê bình của ai về mình trong năm năm qua." Những
bàn tay vẫn còn đưa cao. "Mười năm qua... hai mươi năm qua...
ba mươi năm qua... lời nói của ai khi em mới được năm tuổi."
Nhiều bàn tay vẫn còn giơ cao. Họ quay chung quanh nhìn nhau
và mỉm cười, ngượng ngùng, nhưng tôi không nghĩ là có ai
vui vẻ gì. Đó là một giây phút thật dễ thương của sự
chia xẻ lòng từ ái, của việc làm chứng nhân cho một gánh
nặng mà tất cả chúng ta đang mang trên vai, một nỗi đau
của những lời phê bình gây thương tích. Có lẽ chúng ta
nghĩ nếu mình là người lớn, ta phải bỏ qua được những
lời chê trách trẻ con của người khác. Tôi tự hỏi, nếu
ta có bao giờ thật sự quên bỏ được chúng không! Tôi nghĩ
tất cả chúng ta đều rất dễ bị thương tích, như một
cái bánh kem-su, bên ngoài tuy dòn nhưng bên trong rất là mong
manh, và cũng rất là ngọt ngào.
Vào
thập niên 60, châm ngôn của xả hội thời ấy là "Hãy bộc
lộ ra hết tất cả," tôi cứ tưởng tượng về việc mình
sẽ viết một quyển sách có tựa đề Giữ Hết Lại Bên
Trong. Tôi cảm thấy lo âu vì thấy mọi người không ý thức
được rằng chúng ta có thể dễ bị thương tích đến mức
nào. Nhưng mấy năm gần đây, tôi đã đổi tựa quyển sách
của tôi thành Giữ Nó Lại Bên Trong Cho Đến Khi Nào Chúng
Ta Tìm Được Một Đường Lối Để Phát Biểu Cho Có Hữu
Ích.
Tôi
tin là chúng ta có bổn phận phải nói sự thật. Nói lên sự
thật là một phương cách giúp ta chăm sóc kẻ khác. Đức
Phật dạy chúng ta phải hoàn toàn chân thật, nhưng ngài cũng
dạy thêm là bất cứ một lời nói nào của ta cũng phải
có hai yếu tố: chân chánh và hữu ích.
Khi
dạy về Chánh Ngữ, đức Phật cũng có cung cấp cho ta một
kim chỉ nam trong việc sửa sai người khác. Một sự khiển
trách, đức Phật dạy, phải có đủ những yếu tố sau đây:
thời gian, chân thật, nhẹ nhàng, dễ thương và bổ ích. Khi
tôi nói cho người ta nghe về những tiêu chuẩn ấy, họ thường
kêu lên, "Nhưng nếu vậy thì sẽ không còn ai có thể khiển
trách ai được nữa hết!" Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ với
Chánh Ngữ người ta vẫn có thể phát biểu ý kiến hoặc
nhận xét của mình qua một đường lối mà người kia có
thể lắng nghe và sử dụng được, mà không hề cảm thấy
mình bị thấp kém.
Luật
Sáu Mươi Giây
Trình
độ sơ cấp của chánh ngữ là những lời nói không gây đổ
vỡ thêm cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Việc này sẽ ngăn
ngừa được những lỗi lầm căn bản, như là nói dối hoặc
cố ý dùng những lời gây khổ đau. Trình độ cao cấp của
chánh ngữ sẽ giúp duy trì sự quân bình của hoàn cảnh, bằng
cách không cộng thêm vào đó yếu tố phá hại của việc
nói những lời thị phi.
Những
lời thị phi tức là nói chuyện về một người nào đó không
có mặt. Trừ những trường hợp hiếm hoi, khi có thể ta cần
phải phát biểu một vấn đề nào đó thay mặt cho một người
khác. Khi nói chuyện gièm pha về một người thứ ba là ta
đang mời gọi người nghe cùng chia xẻ cái khoảng không gian
cáu kỉnh, bất an trong tâm mình. Nói chuyện ca ngợi về một
người thứ ba có thể khiến cho người nghe cảm thấy họ
là không quan trọng. Như vậy tại sao ta lại không chọn nói
về những gì đang có mặt trong hiện tại?
Sau
đây là một bài tập về chánh ngữ cho trình độ cao cấp.
Bắt đầu ngày mai khi bạn thức dậy, đừng nói chuyện phiếm.
Xem việc gì sẽ xảy ra nếu bạn không phê bình về bất cứ
một ai không có mặt. Cẩn thận lắng nghe tiếng nói trong
tâm khi nó chuẩn bị để phê phán, và bạn hãy tự hỏi,
"Tại sao mình phải nói như thế?" Thấy được ý định của
ta là phương cách hay nhất để biết được lời phê phán
mà ta sắp nói ra có là chánh ngữ hay không. Ý định của
ta có tốt lành không, có thật sự là một ý muốn giúp đở
người khác hay không? Hay chỉ là để khoe khoang? Hoặc là
gièm pha?
Đôi
khi bàn chuyện thị phi có vẽ dường như là vô hại, một
cố gắng để gợi chuyện, để trám cái khoảng trống im
lặng giữa hai người. Tôi nghĩ chúng ta ưa nói chuyện phiếm
vì sợ người bạn của mình sẽ nghĩ rằng ta không thấy
thích thú đủ để nói chuyện với họ. Khi ta có thể có
mặt với một người nào đó và nói, "Tôi đang có một thời
gian tuyệt vời và rất thích cùng đi dạo với bạn (ăn với
bạn, lắng nghe nhạc với bạn, uống trà với bạn), nên chúng
ta không cần phải nói chuyện gì", đó là một hạnh phúc
lớn. Tôi xuất thân từ một gia đình của những "nhà vô
địch" thích nói chuyện, cho nên tôi rất ngạc nhiên khi khám
phá ra là mình lại rất thích những khoá tu thiền im lặng.
Rửa xà-lách, xắt cà-rốt trong thinh lặng, với một người
khác cũng rất là thân mật. Thật vậy, chia xẻ cái không
gian thinh lặng của công việc làm xà-lách với một người
lạ trong vòng một tuần, khơi dậy một cảm giác chúng tôi
là những người bạn rất thân thiết.
Một
trình độ rất cao của Chánh Ngữ đòi hỏi ta phải ý thức
được ý định của mình trong tất cả mọi sự truyền thông,
không phải chỉ có trong việc nói chuyện phiếm mà thôi. Tôi
cũng bắt đầu xem xét lại lời nói của chính mình sau một
thời gian tu tập trong thinh lặng. Khi trở về nhà, cũng mất
dăm ba ngày trước khi lời nói của tôi trở lại cái tốc
độ phản ứng quen thuộc của nó. Tôi đã có thể ghi nhận
được cái khoảng thời gian, từ khi câu trả lời khởi lên
trong tâm tôi và cho đến khi nó thoát ra khỏi miệng. Tôi có
đủ thời giờ để ý thức được động cơ nào đã thúc
đẩy mình. Xét ra thì những động cơ thúc đẩy tôi cũng
rất tốt đó, nhưng chúng không tốt như tôi đã tưởng. Có
lẽ 80 phần trăm những câu trả lời của tôi là để trình
bày sự thật, 10 phần trăm là tôi bị thúc đẩy vì muốn
phô trương cách thức khéo léo mà tôi sẽ trình bày chúng,
và 10 phần trăm còn lại là tôi muốn gây một thiên kiến
nơi người nghe. Đôi khi còn tệ hơn thế nữa! Đôi khi 10
phần trăm chót ấy là một hình thức che đậy, một thủ
đoạn để trả đũa người khác, cho một sự khinh thường,
có thật hoặc tưởng tượng, nào đó.
Lúc
mới đầu, tôi rất nản khi khám phá ra tôi đã lạm dụng
năng khiếu sử dụng ngôn ngữ của mình, lấy đó làm một
phương tiện kín đáo để hành xử không đẹp. Nhưng tôi
cảm thấy thật nhẹ nhàng sau khi quyết định sẽ không làm
thế nữa. Chánh Ngữ ở một trình độ cao cấp xét ra cũng
không phải là khó lắm. Một khi tâm ta đã được hướng
dẫn để quán sát tìm những thông điệp ẩn tàng, nó sẽ
hành động theo đó một cách tự nhiên. Quyết định thay đổi
ấy đã giản dị hóa cuộc đời của tôi rất nhiều, vì
tôi không còn lo nhiều về việc phải thu dọn về sau nữa.
Và
Chánh Ngữ ở trình độ tối cao là ta phải biết trung thực
hoàn toàn, nó đòi hỏi ở nơi ta một sự có mặt trọn vẹn.
Tôi học được điều này từ Jim, một nhà tâm lý học tôi
có dịp làm quen khi chúng tôi cùng dạy chung tại một cuộc
hội thảo đối thoại giữa Phật giáo và Công giáo. Tôi đã
đọc những quyển sách của ông viết, và rất mừng được
dịp đi ăn chiều với tác giả.
"Chị
nghĩ sao về đề tài A, Sylvia?" ông hỏi. (Tôi dùng đề tài
A,B,C... vì không còn nhớ chúng tôi nói về vấn đề gì, và
những điều tôi học từ Jim là cái phương cách mà ông nói
hơn là từ nơi chủ đề.)
"Tôi
nghĩ như vầy, như vầy và như vầy," tôi trả lời lập tức.
"Còn anh nghĩ sao về đề tài B và C?"
Ông
ta chỉ ngồi yên lặng. "Chết rồi," tôi thầm nghĩ. "Có lẽ
mình đã làm gì mích lòng ông ta chăng. Chắc là điều mình
hỏi có tính cách cá nhân quá. Hay có lẽ mình đã nêu ra nhiều
đề tài quá."
Nhưng
rồi ông từ tốn trả lời, "Tôi nghĩ như thế này, thế này
về B và C. Còn chị nghĩ sao về vấn đề D?"
"Ồ,
D," tôi đáp ngay, "Tôi nghĩ như vầy, như vầy và như vầy.
Còn E và F thì sao?"
Và
ông lại ngồi im lặng. Tôi chợt thức tỉnh và thấy được
chuyện gì đang xảy ra. Khi tôi hỏi ông nghĩ gì, thì ông thật
sự bỏ ra thời giờ để suy nghĩ. Ông trả lời bằng cách
nói cho tôi nghe những gì ông đang nghĩ ngay bây giờ, không
phải là của ngày hôm qua hoặc của tuần trước. Tôi cảm
thấy mình được ông quý trọng. Tôi cảm thấy ông biết
tôn trọng những câu hỏi của tôi đủ để ông nói cho tôi
nghe một sự thật hiện tại nhất về nó.
Bài
thực tập của Chánh Ngữ ở trình độ tối cao tức là luật
Sáu Mươi Giây trong khi trò chuyện. Bất cứ khi nào có ai đặt
một câu hỏi, người đáp cần phải im lặng trong sáu mươi
giây trước khi trả lời. Vì sự dừng lại ấy là bắt buộc,
cho nên câu trả lời của ta sẽ có nhiều cơ hội để bao
gồm sự suy ngẫm, xem xét ý định, duyệt lại giọng nói
- tất cả những gì là tối cần thiết cho một câu trả lời
sáng suốt.
Chánh
Mạng: Chị Pearl và Công Việc Ủi Đồ
Chánh
Mạng, tức sự mưu sinh chân chánh, dường như khó thực tập
đối với ngày nay hơn là ở vào thời của đức Phật. Điều
luật thì cũng vẫn vậy: Chánh Mạng có nghĩa là tổ chức
sự mưu sinh của mình sao cho không lạm dụng, không bóc lột,
không gây hại cho ai. Dù sao, vào thời đại ngày nay thế nào
là lạm dụng, là bóc lột thì cũng không nhất thiết được
rõ ràng cho lắm.
Vào
thời đức Phật, những loại nghề nào bất thiện rất dễ
phân biệt. Làm binh sĩ, nuôi nô lệ, sản xuất võ khí và
những chất say - tất cả đó đều là những nghề bị ngăn
cấm. - thời đại chúng ta, binh sĩ đôi khi cũng còn có nhiệm
vụ của một người duy trì hòa bình. Và ta cũng khó mà biết
được sự tốt lành của tất cả mọi sản phẩm của bất
cứ một công ty nào, nhất là trong thời đại mà các công
ty mua bán, phụ thuộc lẫn nhau. Nào có ai biết những gì được
sản xuất bởi công ty phụ thuộc với công ty làm bột giặt
của tôi?
Ngày
nay khi người ta nói, "Ông ấy, bà ấy là một người rất
thành công" thường có nghĩa là "Ông ấy bà ấy có rất nhiều
tiền." Nó không nhất thiết có nghĩa là họ có đạo đức,
có nhân cách hoặc là có hạnh phúc. Giáo lý của đức Phật
về Chánh Mạng không hề loại bỏ những hạng người giàu
có - ngài dạy cho tất cả mọi người, trong đó có hàng vua
chúa - nhưng nó không hề được dựa trên của cải vật chất.
Nó được dựa trên sự tốt lành.
Đối
với tôi, một hình ảnh trọn vẹn về Chánh Mạng nó to lớn
hơn là những cấm đoán mà được phản ảnh qua sự chọn
lựa bên ngoài của ta. Sự chọn lựa tốt lành trong nội tâm
- ví dụ một thái độ lành mạnh về công việc làm của
ta - cũng có thể đóng góp cho sự an lạc và hạnh phúc của
ta nhiều lắm. Phương cách mưu sinh của mỗi người là một
cơ hội để ta phát huy đức tự trọng.
Bạn
của tôi, chị Pearl, sinh sống bằng nghề giữ nhà, khi bốn
đứa con tôi còn bé và tôi mới bắt đầu đeo đuổi cao học.
Tôi rất hảnh diện vì được nhận vào một trường đại
học có uy tín, và chị Pearl thì rất vui với công việc mới
của mình.
Chị
Pearl nấu ăn rất khéo, mấy đứa con tôi mê những món chị
làm. Chị lái xe chở chúng đi học, nhớ những giờ hẹn bác
sĩ, và săn sóc khi chúng bệnh. Một chiều nọ, sau một ngày
ở trường, tôi về nhà thấy chị đã ủi xong hết đống
quần áo mà tôi nghĩ phải mất cả tuần. Những bộ đồ
phẳng phiu được treo trên chiếc máng áo trông thật đẹp.
"Chị
Pearl," tôi kêu lên, "quần áo chỉ ủi trông đẹp quá!"
"Đẹp
thật," chị đáp. "Tôi rất hảnh diện với tài ủi đồ của
mình!"
Tôi
rất sung sướng là đã được câu trả lời của chị đánh
thức tôi dậy. Tôi vẫn còn ghi nhớ nó mãi cho đến ngày
hôm nay, ba mươi năm sau. Không phải là tôi có một thái độ
tự cao về những công việc chuyên nghiệp đâu! Không phải
vậy! Điều mà tôi học được ở chị Pearl là trong ngay giờ
phút này thì cái mà bạn làm, bên ngoài, chỉ mới là phân
nửa của công việc mà thôi. Nó đối với bạn ra sao, bên
trong, là phân nửa phần còn lại!
Chánh
Tinh Tấn: "Nhớ, Hãy Vui Vẻ"
Những
lời dạy về Chánh Tinh Tấn, tức sự siêng năng chân chánh,
trong đạo Phật rất là rõ rệt. Đức Phật dùng chữ thiện
và bất thiện để nói đến những gì dẫn đến hạnh phúc
và những gì đưa đến khổ đau. Nguyên tắc của Chánh Tinh
Tấn là: hãy ghi nhận những cảm giác tốt lành như là tính
thân thiện, từ ái, hoặc rộng lượng, khi chúng có mặt trong
tâm, và khuyến khích cho chúng phát triển. Tập hành động
dựa trên những cảm xúc ấy là một phương cách để ta phát
huy hạnh phúc. Và ta cũng cần ghi nhận những cảm xúc bất
thiện, như là giận dữ và tham lam, khi chúng khởi lên trong
tâm, và cố gắng đừng làm cho chúng phát triển thêm. Hơn
nữa, đức Phật còn khuyên rằng, những cảm xúc bất thiện
cần phải được loại trừ ra khỏi tâm ta.
Tôi
tin đức Phật có ý nói là chúng ta có thể chọn lựa về
cái trạng thái trong tâm của mình. Nhưng nói thì bao giờ cũng
dễ hơn làm. Tham lam và giận dữ, ít nhất là trong những
sự bộc phát nho nhỏ, có một tác dụng khơi động năng lượng,
và năng lượng ấy rất là quyến rũ. Có một lần, nhiều
năm về trước, tôi lái xe đến phi trường Oakland vào nửa
đêm để đón chồng tôi, anh ta trở về trên một chuyến
bay khuya. Con đường xa lộ cảnh vật vắng tanh và đều đều.
Tôi bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, và chợt sợ là mình
có thể bị ngủ gục trong khi cầm tay lái. Đột nhiên, trong
dòng tư tưởng, tôi chợt nhớ đến một vấn đề giữa tôi
với một người bà con xa, và cảm thấy bực mình về những
điều mà người ấy nói về tôi.
"Chị
ấy táo tợn đến thế là cùng!" tôi nghĩ, và ngay khi ấy
tôi cảm thấy mình trở nên thật tỉnh táo. Một đòn tức
giận chính đáng đã đánh tiêu tan hết sự buồn ngủ trong
tôi.
"Chà,
cái này hay thật!" Tôi tự chúc mừng mình về một sự khám
phá mới. "Trạng thái của tâm có thể thay thế lẫn nhau được.
Tôi có thể đem cái này để thay thế cho cái kia trong tâm.
Tôi có thể đánh thức mình dậy bằng cách nghĩ những tư
tưởng tức giận!"
Và
tôi đã làm theo như vậy. Trên đường đi đến phi trường,
tôi nghĩ đến những tư tưởng tức giận và lặp lại trong
đầu những câu đối thoại khác nhau: lời tôi nói, những
gì chị ta cho là tôi nói, những gì tôi có thể kể cho mọi
người nghe về điều chị nói là tôi đã nói. Đến lúc tôi
quẹo vào bãi đậu xe của phi trường, tôi đã tỉnh như sáo
sậu. Tôi không nhớ rõ, nhưng tôi có thể đoán là có lẽ
sau đó tôi đã cảm thấy cáu kỉnh và bực bội thật sự.
Hai
ngày sau, tôi có đem câu chuyện ấy kể lại cho thầy tôi
nghe, nghĩ rằng thế nào ông ta cũng khen ngợi tôi về cái
tuệ giác mới này, về sự liên hệ mật thiết giữa thân
tâm. Nghe xong ông cười và nói, "Phải rồi, sự thay thế lẫn
nhau của những tâm thức là đúng đấy. Nhưng dù sao," ông
nói thêm, "chị có thể làm cho mình tỉnh táo bằng những
tư tưởng gợi tình cũng được vậy, và như thế có còn
thú vị hơn không!"
Sau
một thời gian, tôi bắt đầu nhận thấy ngoài những cơn
bộc phát nhỏ của lòng tham và cơn giận - mà chúng là những
phản ứng tự nhiên của tâm đối với những kinh nghiệm
dễ chịu và khó chịu - bám víu vào hai thành tố ấy sẽ
làm ta mệt mỏi lắm. Kéo dài sự mong ước và kéo dài sự
ghét bỏ, cả hai đều sẽ làm cho ta bực bội và nản chí.
Chúng làm cho tâm ta mỏi mệt. Đó cũng là một trong những
lý do mà ta khó có thể nào loại trừ chúng được. Tôi nghĩ,
vì ta cảm thấy mệt mỏi, nên không còn muốn thoát ra hoặc
chịu nhìn vấn đề cho thấu suốt nữa. Vì vậy, chúng ta
cần những điều luật để nhắc nhở mình. Và đôi khi ta
cũng phải cần đến người chung quanh nữa.
Một
hôm trong khi lái xe ngang qua chiếc cầu Golden Gate Bridge, trên
đường đến đón một người bạn cùng đi xem nhạc ô-pê-ra,
tâm tôi lúc ấy mang một tâm trạng bực dọc không hiểu vì
lý do gì. Tôi không thấy được cái không gian bao la của vịnh
biển đang ôm ấp thành phố San Francisco mới lên đèn. Tôi
chầm chậm xe lại ngang phòng thu tiền qua cầu và trình vé
của mình cho người gác cổng. "Bà có một ngày thật tuyệt
vời nhá!" anh ta nói. Ái chà! Một dòng điện tỉnh thức chạy
suốt qua người tôi. "Từ nảy tới giờ mình làm trò trống
gì vậy?" Tôi nghĩ. "Bây giờ đây, ta sắp gặp một người
bạn mà ta quý, đi làm một chuyện mà ta ưa thích nhất, và
ta lại bực dọc!"
Không
ai chối cải là ngay bây giờ trên thế giới này có những
việc đáng buồn, ngay cả trong đời sống của tôi cũng vậy,
nhưng sự bực dọc sẽ không làm cho bất cứ một việc nào
được trở nên tốt đẹp hơn. Thật ra nó còn có thể làm
cho sự việc trở nên tệ hơn nữa là khác. Đức Phật dạy,
"Mỗi giây phút của tâm sẽ làm điều kiện cho giây phút
kế tiếp." Sự bực dọc lôi trì tâm ta xuống bằng chính
sự mỏi mệt của nó. Hạnh phúc kéo tâm ta lên và giúp nó
tiến bước trở lại.
Chị
Sharon, người mà tôi theo học thiền quán về tâm từ (metta
meditation), thường kết thúc buổi trình pháp của tôi với
chị bằng câu, "Nhớ nhá Sylvia, hãy vui vẻ!" Ban đầu tôi
cứ nghĩ đó là một lời nói xã giao thông thường của những
người sống ở vùng này. Mất một thời gian rất lâu tôi
mới hiểu rằng đó chính là một lời hướng dẫn tu tập
cho tôi.
Chánh
Định: Làm Nhẹ Đi Nỗi Đau
Đức
Phật dạy, Chánh Định là một khả năng để cho sự chú
ý của ta được thẳm thấu vào một đối tượng duy nhất.
Chú tâm vào một đơn điểm sẽ làm phát sinh nên một phẩm
tính rất cá biệt trong tâm ta. Nó là một cảm giác dễ chịu,
quân bình, thư thái rất đặc biệt - một trạng thái mà trong
kinh điển gọi là "một tâm mềm dịu."
Lúc
trước tôi có hướng dẫn một lớp gọi là "Thực Tập Định
Tâm Qua Sự Thêu May." Chúng tôi gặp nhau mỗi kỳ hai tiếng
tại một phòng thiền. Trong một giờ đầu, tất cả chúng
tôi ngồi trong thinh lặng và thêu may. Người ta thêu thùa,
đan may, và thực tập những đường kim mũi chỉ. Trong phòng
chỉ có tiếng lách cách của những mũi kim thêu, tiếng sột
soạt của sợi chỉ xuyên qua bạt vải, bên ngoài có khi là
trời mưa, tuyết. Trong giờ thứ hai, mọi người vẫn tiếp
tục công việc thêu may của mình, và chúng tôi nói chuyện.
Trong
giờ nói chuyện, chúng tôi không hề đề cập gì đến công
việc thêu may của mình. Chúng tôi nói về đời sống, về
nỗi lo sợ, những vất vả, những muộn phiền của chúng
tôi. Lời nói của chúng tôi phát xuất từ một không gian
tĩnh lặng, và chúng tôi lắng nghe nhau trong một không gian
quân bình. Mọi người đều đồng ý rằng chính một giờ
thực tập định tâm trước đó đã giúp cho chúng tôi có
thể chia xẻ một cách thật sâu sắc. Sự thực tập định
tâm, cùng một lúc, vừa làm vững mạnh và lại vừa làm êm
dịu tâm. Đó không phải là một sự nghịch lý. Đó là một
sự thật.
Tôi
khám phá ra được hiệu quả của sự định tâm này lần
đầu tiên vào cuối một khoá tu thiền trong thinh lặng hai
tuần, tại tiểu bang Washington vào năm 1977. Vì đây là một
trong những khóa tu tập đầu tiên của tôi, nên mọi việc
trong khóa tu đều là kỳ lạ và khó khăn. Thân tôi đau vì
ngồi lâu, tôi vật lộn với những cơn buồn ngủ, và hoàn
toàn cảm thấy lộn xộn về những lời hướng dẫn.
Tôi
bắt đầu cho rằng kinh nghiệm này cũng giống như là một
cuộc phiêu lưu của tâm, và cảm thấy nếu hoàn tất được
nó sẽ là một chiến thắng lớn. Mỗi ngày qua, cái đau nơi
thân tôi dần dà mất đi và tôi cũng cảm thấy bớt buồn
ngủ, nhưng không có một sự kiện gì là kỳ diệu xảy ra
hết. Vào ngày cuối c