Luận
bảy
THIỀN
ĐƯỜNG VÀ THANH QUY
I.
CẦN LAO VÀ TINH THẦN BÁCH TRUỢNG
Để
có một ý niệm về tinh thần thực tiễn và giới luận Thiền,
ta cần nghiên cứu cơ sở gọi là Thiền Đường. Đó là một
hệ thống giáo dục riêng biệt hẳn cho Thiền Tông. Hầu hết
chùa Thiền thuộc phái này đều có Thiền Đường, và hơn
đâu hết, sinh hoạt của chư sư Thiền tại đây có gì mường
tượng như tập đoàn Tăng Già Ấn Độ. Tổ chức ấy do một
Thiền sư Trung Hoa là Bách Trượng (72-814) dựng lên trên ngàn
năm nay. Trước đó, các nhà tu Thiền sinh hoạt trong chùa của
phái Luật Tông, và vâng theo những giới luật lệch lạc hẳn
với tinh thần đạo Thiền. Nhưng rồi vì lẽ Thiền ngày càng
hưng thịnh, và số người tu Thiền ngày càng lên cao, về
nhân số cũng như về ảnh hưởng, nên cần dựng lên một
cơ sở riêng thích hợp hơn để có thể hướng thẳng đến
mục đích. Theo Bách Trượng, Thiền viện không thuộc Tiểu
Thừa giới cũng không thuộc Đại Thừa giới, mà phải kết
hợp cả hai hệ thống giới luật theo một tinh thần tân kỳ
độc đáo thuận tiện nhất để thành tựu những lý tưởng
Thiền đúng như sự tâm chứng của chư tổ ngày trước.
Nguyên
tác bộ tăng luật hoặc thanh quy do Bách Trượng soạn ra nhằm
điều hành các Thiền viện nay đã thất lạc. Bộ luật thông
dụng hiện nay mới được soạn lại ở triều đại nhà Nguyên
nhằm theo sinh hoạt của các Thiền viện đương thời, nhưng
vẫn được coi như thừa tiếp đúng truyền thống cũ với
ít nhiều canh cải cố nhiên phải có vì nhu cầu lịch sử.
Sách được soạn lại dưới sự bảo trợ của vị hoàng
đế đương thời là Sùng Ninh (?) và có tên là Sắc tu Bách
Trượng Thanh Quy, nghĩa là bộ giới luật Bách Trượng tu chỉnh
lại theo sắc chỉ nhà vua để dùng ở các tòng lâm tự viện.
Ở Nhật Bổn, cơ sở các Thiền viện không quá quy mô như
ở Trung Hoa nên một phân giới luật quy định trong bộ luật
không dùng đến. Dầu vậy, tinh thần vẫn được theo đúng,
cũng như những nghi thức nào có thể áp dụng được vào
sinh hoạt và phong thổ Nhật Bổn. Nói tóm lại, bất cứ đâu,
người tu Thiền vẫn không xao lãng những lý tưởng của sinh
hoạt Thiền vậy. Vậy, trước khi đi xa hơn, tôi xin giới
thiệu qua một lý tưởng trong số ấy luôn luôn được đặt
trước mắt người tu Thiền vì đó là điểm quan trọng nhất,
đáng lưu ý nhất trong sinh hoạt tại các Thiền viện.
Thật
vậy, đó là chỗ phân biệt Thiền với các tông phái Phật
giáo khác hiện ở Trung Hoa; đó là yếu tố đặc trưng nhất
của Thiền, mà cũng là nguồn sinh lực của dòng Thiền sử
vô tận. Tôi muốn nói đến chủ trương chấp tác hoặc cần
lao. Bách Trượng lưu lại một danh ngôn, mà cũng là tiêu chuẩn
hướng dẫn trọn đời Ngài, mà chính đó cũng là tinh thần
quán triệt của Thiền Đường. Đó là câu:
Một
ngày không làm, một ngày không ăn
一日
不 作 一 日 不 食
Có
lúc hàng đệ tử thấy ngài quá già nua không tiện để ngài
giẫy cỏ tưới vườn, là công việc thường ngày của ngài,
ngoài phần việc nói pháp dạy Thiền, chúng dấu hết cuốc
xẻng, vì biết tánh ngài không bao giờ chịu nghe lời khuyên
can của chúng. Ngài bèn nhịn ăn, nói: “Một ngày không làm,
một ngày không ăn.”
Vậy,
ở tất cả các Thiền Đường, cần lao là yếu tố huyết
mạch trong sinh hoạt của giới Thiền môn tăng chúng. Luôn
luôn đó là một việc làm rất thiết thực, nhất là làm
bằng tay chân như quét dọn, lau chùi, làm bếp, hái củi, cày
ruộng hoặc đi khất thực ở thôn xóm gần xa. Không một
việc làm nào được coi là hạ phẩm giá tinh thần hòa hợp
và dân chủ thật đã quán xuyến trọn vẹn sinh hoạt của
tăng đoàn. Dầu công việc có khó nhọc hoặc hèn mạt đến
mấy đối với thường tình, họ vẫn không trốn tránh, họ
tin tưởng ở tác dụng thanh lọc của sự làm việc bằng
tay chân; họ rộn rịp suốt ngày, bằng mọi cách; họ không
thuộc hạng ăn không ngồi rồi như hàng khất sĩ Ấn Độ
chẳng hạn, ít ra trên mặt hình thức.
Chủ
trương đạo pháp hóa sự cần lao phản ảnh tinh thần thực
tế của người Trung Hoa Trước, tôi có nói rằng Thiền là
đạo giác ngộ thể hiện qua kiến giải Trung Hoa, quan niệm
chấp tác của Thiền chưa đi vào kết luận của tôi, về
tinh thần hoặc lý thuyết. Nhưng thực tế thì cần lao được
gắn liền mật thiết vào sinh hoạt Thiền, không thể quan
niệm cái nầy biệt lập với cái kia được. Ở Ấn Độ,
chư sư đều là khất sĩ, đến hồi tĩnh tọa, họ lui về
những chốn thanh tịnh hoang vu, xa cảnh phồn hoa; và bởi mọi
nhu cầu đều được hàng thiện tín dâng cúng nên các ngài
không thấy cần phải lao lực, khác với chư sư ở Trung Hoa
và Nhật Bổn. Nhưng chính nhờ nâng lực cần lao lên hàng
pháp hạnh nên Thiền tông khỏi sa đoạ trong môn thể thao
tinh thần ấy gọi tắt là mặc tưởng, mà không ít thì nhiều
các trường phái khác đều mắc phải. Ngoài giá trị tâm
lý ấy, sự cần lao còn là phương tiện hữu hiệu giữ sức
khỏe và khí lực cho Thiền Tông qua mọi giai đoạn xiển dương
theo dòng lịch sử.
Dầu
tính cách lịch sử của cần lao quan trọng như thế nào, Bách
Trượng vẫn là một là một người rất am tường nhân tâm
thế sự khi ngài đặt sự làm việc bằng tay chân làm tinh
thần chủ động cho sinh hoạt tăng đoàn. Tiêu chuẩn “không
làm không ăn” không thế tất được nêu lên vì nhu cầu
kinh tế hoặc giá trị đạo đức. Lý do ấy cũng không phải
chỉ ở chỗ “phải đổ mồ hôi ra đổi lấy miếng ăn”,
dầu rằng cũng đáng gọi là một đức hạnh không ngồi mát
nhận bát cơm. Vả, từ thời sơ khởi của Đạo Phật, đã
có nhiều Phật tử cảm thấy xấu hổ sống nhờ vào của
cúng của bổn đạo; nhưng chủ tâm của Bách Trượng, dầu
rằng có thể ngài không ngờ đến, nặng về tâm lý hơn,
dầu ngài công khai tuyên bố: “không làm không ăn”. Đó
là ngài muốn tránh cho đồ chúng cái tệ ăn không ngồi rồi
khiến tinh thần ngầy ngật, hoặc sự phát triển thiếu quân
bình của tâm trí thường vì thói quen tu thiền tập định
mà mắc phải.
Thật
vậy, khi các bắp thịt không được luyện tập để chấp
hành những chân lý của tâm và thân không được đem ra thử
thách với thực tế, sự ly khai thường đưa đến những hậu
quả tai hại. Vì lẽ triết lý Thiền cốt vượt qua mâu thuẫn
giữa thân và tâm, hồn và xác, nên nói theo ngôn ngữ nhị
nguyên luận, áp dụng Thiền vào thực tế tức khiến các
giây thần kinh và bắp thịt luôn luôn sẵn sàng và tuyệt
đối phục vụ cho hồn, chớ không thể, như thường tình,
đổ thừa tại xác ươn hèn níu xuống nên hồn, dầu rất
sẵn sàng, vẫn không vươn lên được. Dầu chân lý đạo
của câu nói sau là thế nào thì trên mặt tâm lý đó vẫn
do giữa tinh thần và các bắp thịt thiếu dòng mạch giao thông.
Hễ đôi tay không được luyện quen để làm công việc của
khối óc thì máu không lưu thông được khắp châu thân, bị
ứ trệ ở đôi chỗ, nhất là ở bộ óc. Kết quả tự nhiên
là không những cơ thể bị nhiễm bịnh mà tinh thần cũng
bải hoải hôn trầm, khiến tư tưởng hiện đến nhưng cụm
mây vất vưởng. Người ta mở mắt thật đấy nhưng tâm trí
ám đầy mộng mị và hình ảnh man rợ nhất không mảy may
liên hệ đến thực tế. Những mộng tưởng điên đảo ấy
rất tai hại cho Thiền, và hành Thiền bằng hình thức mặc
tưởng như vậy ắt rước những kẻ thù quỷ quyệt ấy vào
mình. Bách Trượng chủ tâm đề cao sự làm việc bằng tay
chân nhằm tránh cho Thiền khỏi rơi vào những tệ đoan bại
hoại, cũng như những ảo giác của tâm thức.
Ngoài
những xét đoán tâm lý ấy, ta không thể không chú ý đến
lý do luân lý để có thể đánh giá đúng mức cao kiến của
Bách Trượng đặt sự cần lao làm yếu tố chủ động của
sinh hoạt Thiền. Vì giá trị của tư tưởng phải chịu qua
một sự thử thách rốt ráo khi đem ứng dụng vào thực tế.
Nếu thất bại, nghĩa là nếu tư tưởng không ứng dụng được
vào cuộc sống hàng ngày đem đến hòa hợp và thỏa mãn và
lợi lạc cho mọi người trong cuộc - cho chính mình cũng như
cho người khác - thì không một tư tưởng nào đáng gọi là
có giá trị và thực tiễn. Đành rằng thế lực vật chất
không phải là thước đo giá trị của tư tưởng, tuy nhiên,
dầu chặt chẽ, dầu hợp lý đến mấy, hễ không gắn liền
được vào cuộc sống thì tư tưởng nào cũng là hư tưởng.
Riêng trong Thiền, những tư tưởng trừu tượng không khiến
ai tin quyết được trong sinh hoạt thực tế đều là hư tưởng.
Muốn tin quyết phải thân chứng, không thể hư luận đàm
được, thế nghĩa là sự tin quyết không có cơ bản vững
chắc, xác thực, nếu tác động vào cuộc sống, nó không
chứng tỏ hiệu năng. Cũng vậy, trong phạm vi đạo đức,
đề quyết hay dẫn chứng cũng phải vượt lên và thoát ngoài
tầm phê phán của lý trí, nghĩa là chân lý phải là kết
quả sống của thể nghiệm cá nhân. “Mộng tưởng hoang đường
không phải lẽ sự việc của chúng tôi”, đó là lời quyết
đoán mạnh của các bậc hiền đức. Cố nhiên là các ngài
vẫn ngồi tịnh, vẫn tọa thiền, cốt nghiệm lại những
bài học được trong khi làm việc; nhưng vì không chịu nhai
lại suốt ngày, họ đặt vào hành động mọi tư tưởng đến
với họ trong khi trầm tư mặc tưởng; họ thử lại giá trị
của tư tưởng trong miếng đất sống của thực tế vậy.
Tôi tin quyết rằng nếu Thiền không đặt trọn tin tưởng
vào sự trụi luyện tư tưởng trong hành động, tổ chức
ấy hẳn đã chìm lỉm từ lâu trong các tư trào ngây ngất
hôn mê, và tất cả kho tàng tư tưởng do chư sư ở Trung Hoa
và Nhật Bổn dày công xây dựng hẳn đã bị mất bừa bãi
như những đống rác hôi thúi.
Hẳn
là vì những lý do trên hàng tu Thiền đánh giá cần lao ngang
hàng với một lý tưởng đạo. Chắc rằng quan niệm ấy lớn
mạnh được do tinh thần chuộng thực khéo léo của người
Trung Hoa, tự đó đạo Thiền được tinh luyện và khai triển.
Điều chắc chắn là nếu có một điểm nào đó các Thiền
sư tha thiết đề cao nhất, coi như biểu hiện cụ thể nhất
tâm đạo của các ngài, điểm ấy là phụng sự người đời,
là giúp ích người khác, cố nhiên là giúp ích mà không cầu
cạnh khoe khoang, chỉ âm thầm kín đáo không để cho ai biết.
Eckhart nói: “Những gì ta có được trong khi im lặng trầm
tư phát rải ra lượng tình thương”. Thiền có thể nhai lại
“rải
ra trong cần lao”, cần lao, ở đây, có nghĩa là cụ thể
và tích cực thực hiện tình thương. Tauler nâng việc dệt
vải quay tơ, đóng giày, và những việc làm bằng tay chân
trong nhà như những ân trên của Thánh Linh; thầy Lawrence cho
việc bếp núc là thánh lễ; George Herbert viết:
Who
sweeps a room as to thy laws
Makes
that and the action fine.
Quét
nhà là vâng thánh ý
Làm
cho công việc đẹp lên
Những
câu nói trên toàn diễn đạt tinh thần của đạo Thiền ở
sắc thái thiết thực. Vậy, các nhà huyền học đều là người
thực tế, hoàn toàn khác xa với nhưng người sống bằng ảo
giác, tâm hồn luôn trôi giạt ngoài thế gian, hoặc chìm đắm
trong thế giới khác mà sao lãng hẳn với sinh hoạt hằng ngày.
Quan niệm thông thường coi các nhà huyền học là người mơ
mộng, vơ vẩn theo trăng sao, cần xét lại vậy, vì thiếu
căn bản thiết thực. Hơn nữa, còn có sự kiện tâm lý này,
là có một sự liên quan rất mật thiết, rất sâu đậm, giữa
một tâm thái thực tiễn và một mẫu mực huyền học nào
đó, không phải chỉ liên quan riêng ở mặt khái niệm hoặc
siêu hình thôi. Nêu huyền học là xác thực thi những gì nó
nhận là thực phải là cái thực tiễn, phải được nhận
thức lại trong mỗi hành động của ta trong đời; nhất định
không thể chỉ thực ở lý luận, chỉ đúng trong biện chứng.
Ta đọc sau đây lời thơ của nhà Thiền Bàng Uẩn[1]:
Nhật
dụng không gì khác
日
用 事 無 別
Mình
ta ta hòa chung
唯
吾 自 偶 諧
Việc
việc không nắm bỏ
頭
頭 非 取 捨
Nơi
nơi chẳng trệ ngưng
處
處 勿 張 乘
Đỏ
tía tai còn bảo
未
紫 誰 為 號
Đồi
núi bặt bụi hồng
五
山 絕 點 埃
XÁCH
NƯỚC LÀ DIỆU DỤNG
神
通 并 妙 用
BỬA
CỦI ẤY THẦN THÔNG
運
水 及 般 柴
II
THANH ĐẠM VÀ THANH BẦN
Thiền
đường, theo kiểu thông dụng ở Nhật, là một cơ sở hình
chữ nhật kích thước thay đổi tùy tăng số tham dự.
Chẳng
hạn như ở Chùa Viên Giác[2],tại Khiêm Thương, Thiền đường
dài độ 65 bộ Anh và ngang 36. Hai dãy sàn, ngang độ 8 bộ,
và cơi cao lên 3 bộ, chạy dài suốt hai bên, còn ở giữa
theo thì để trống trơn. Đó là khoảng trống dành cho khóa
lễ gọi là kinh hành. Giới han dành cho mỗi tăng sĩ trên sàn
nhà không quá diện tích của một chiếc chiếu 3 bộ trên
6, trong khoảng ấy họ nằm ngồi, tham thiền, và ngủ luôn
ban đêm. Đồ nằm của một vị tăng chỉ vỏn vẹn là một
chăn bông lớn nhồi gòn, đông cũng như hè, ít khi họ có
gối, đêm muốn gối đầu phải tạm dùng những vật sở
hữu tùy thân. Vật sở hữu của người xuất gia thật ra
gần như không có gì hết: một áo cà sa, một áo tràng (tăng
già lê), vài cuốn sách, một lưỡi dao cạo và vài cái chén,
tất cả xếp gọn trong một cái dãy cao chừng 13 tấc Anh,
dài 10 và rộng 3,5 .. đi đâu cũng mang theo mình, buộc vào
một sợi dây đai choàng qua cổ. “Vật chẳng lìa thân”
vậy. “Một y một bát, dưới cội cây, trên tảng đá”,
đại khái đó là sinh hoạt của hàng xuất gia Ấn Độ. So
theo đó thì Thiền tăng ngày nay có thể nói là được cấp
dưỡng sung túc hơn. Dầu vậy, nhu cầu của họ vẫn được
tiết giảm đến mức tối thiểu; khuôn theo mức sống ấy
của các Thiền tăng, thiết tưởng không ai có thể sống đạm
bạc hơn được, nếu không nói thế là đạm bạc nhất.
Phật
giáo coi sự ham muốn của cải là một đam mê tai hại nhất
luôn luôn quấy nhiễu người đời. Thật vậy, nguyên nhân
gây ra bao khổ ải trong thế gian này chẳng qua chỉ là mãnh
lực ham chiếm hữu. Vì thèm muốn thế lực nên người mạnh
luôn luôn áp chế người yếu. Vì khao khát của cải nên người
giàu người nghèo luôn luôn căm hờn tuốt kiếm sát phạt
nhau.
Chiến
tranh thế giới còn bạo diễn, xã hội còn bị quấy động
liên miên một khi khát vọng muốn có riêng, muốn giữ riêng,
chưa được xả trừ tận gốc. Xã hội không thể tổ chức
lại trên một căn bản hoàn toàn khác hơn căn bản quen thuộc
với ta tự thuở sơ khai của lịch sử sao? Ta không mong gì
chận đứng được nếp sống tích trữ tài sản, và sử dụng
quyền thế, nung đốt lên bởi tham vọng phóng đại cá nhân
ta, hoặc quốc gia ta sao?
Không
mong gì được ở sự đời vô nghĩa lý, các Thiền tăng đi
đến chỗ cực đoan khác, chặt đứt cả đến những thú
vui hợp lý và hết sức vô tội. Dầu sao, lý tưởng Thiền
thu gọn tất cả giang sơn trong một tay nải cỏn con diện
tích chỉ hơn một bộ vuông, và cao ba tấc Anh, vẫn là một
lời phản kháng câm lặng, và mãi mãi vô hiệu, đối với
trật tự hiện đại của xã hội.
Trong
khái niệm ấy, ta nên đọc lời cảnh tỉnh sau đây của quốc
sư Đại Đăng[3]để lại cho muôn đồ. Quốc sư là tổ khai
sơn chùa Đại Đức ở Kyoto trong năm 1326. Tương truyền Sư
bỏ một phần ba cuộc đời, tương đối khá ngắn, sống
chung với hạ tầng xã hội dưới gầm cầu Gojo, đi ăn xin,
làm mọi công việc hèn, và được những người gọi là thượng
lưu chiếu cố bằng một cái nhìn miệt thị. Sư không bao
giờ quan tâm đến cảnh sống lộng lẫy, đầy phú quý và
vinh hoa, của phần lớn chư sư đương thời hưởng thụ trong
các chùa chiền; mà Sư cũng lơ là nốt với những đạo hạnh
và công quả rình rang của họ chỉ làm bật nổi thêm cái
giả dối của hạnh xuất gia. Với Sư, phải một nếp sống
đạm bạc nhất, phải một tâm niệm thanh cao nhất. Lời cảnh
tỉnh của quốc sư như sau:
“Này
tăng chúng, các ông vân tập đến chùa núi này nên nhớ là
để cầu pháp, chẳng phải cầu cơm ăn, áo mặc. Đành rằng
có thân phải mặc, có miệng phải ăn. Nhưng các ông cần
luôn luôn ghi nhớ, suốt ngày mười hai giờ, là phải chuyên
tâm đạt tới cái pháp không thể nghĩ bàn. Thời giờ qua
như tên bắn; đừng bao giờ động tâm trìu mến việc thế
gian. Phải luôn luôn, luôn luôn cảnh giác. Sau khi tôi hóa rồi,
có thể lắm trong hàng tăng chúng quý ông hôm nay có vị sẽ
có chùa cao viện lớn, phấn chấn khác thường, với những
tháp cao, phòng rộng, kinh sách sơn son thiếp vàng, và vô số
bổn đạo chen chúc vang rân; cũng có những vị khác suốt
ngày tụng kinh, trì chú, trường kỳ ngồi tịnh mãi không
ngủ; có vị ngày chỉ một bữa ăn, giữ đúng vai giới, ngày
đêm sáu giờ chuyên làm công quả.
“Dầu
kiên trì như vậy, nhưng nếu tâm niệm không trụ ở diệu
pháp của chư Phật chư Tổ mầu nhiệm, không thể dạy truyền,
thì vẫn chưa thấu rõ lý nhân duyên, và sẽ đưa đến họa
sụp đổ toàn thể chánh pháp. Đó toàn là quyến thuộc của
nhà ma; dầu tôi có lìa thế gian này bao lâu, họ vẫn không
thể gọi là con cháu trong đạo của tôi được. Trái lại,
dầu chỉ một người thôi, dầu sống hẻo lánh ở rừng núi,
kết cỏ làm am, ăn rễ cây luộc trong nồi đất sứt mẻ,
nếu người ấy nhất tâm quán tưởng đến chỗ cốt yếu
của chính mình thì đó là người duy nhất hằng ngày thân
thiết đối diện với tôi, và biết đáp đền ân nặng. Ai
dám coi thường người ấy? Này tăng chúng, hãy tinh tiến,
hãy tinh tiến”[4].
Ở
Ấn Độ, không bao giờ chư sư ăn quá ngọ; mỗi ngày các
ngài chỉ ăn một bữa, vì bữa điểm tâm sáng không thể
kể là một bửa ăn theo lối điểm tâm của người Anh người
Mỹ. Cũng vậy, các Thiền tăng kể như không dùng buổi chiều.
Tuy nhiên, vì sự đòi hỏi tự nhiên của phong thổ Trung Hoa
và Nhật Bổn, nên buổi chiều họ ăn qua loa gọi là lót dạ,
nhưng để trấn an lương tâm, họ gọi đó là món ăn thuốc:
dược thực. Còn bữa điểm tâm thì họ dùng rất sớm, khi
trời còn tối mò, và chỉ gồm có chao và dưa cà muối mặn.
Bữa
ăn chánh, ăn trước ngọ, vào lối 10 giờ, gồm có cơm (hoặc
cơm trộn lúa mạch) canh rau và cà dưa muối tương. Buổi chiều,
vào khoảng bốn giờ, họ dùng nhưng gì còn lại của bửa
cơm trưa, vì không nấu nướng riêng. Trừ khi chư tăng được
mời đi thọ trai ở ngoài, hoặc được hàng thiện tín
phát tâm cúng dường rộng rãi hơn, thường ngày các bữa
ăn chư sư tăng chỉ có vậy, như tôi vừa tả. Nghèo và đạm
bạc là phương châm của họ vậy.
Dầu
vậy, khổ hạnh vẫn không phải là lý tưởng Thiền. Xét
đến chỗ tâm yếu thì Thiền chẳng phải là khổ hạnh, mà
cũng không phải là nề nếp đạo đức nào hết. Nếu Thiền
dường như cao xướng phép xả trừ hoặc buông bỏ, đó chỉ
là hình thức; vì là một tôn phái Phật giáo Thiền vẫn nhiễm
ít nhiều cảm giác ghê tởm của Phật giáo đối với giới
luật Ấn Độ. Thật ra, tư tưởng trung tâm của sinh hoạt
xuất gia là không hoang phí bất cứ gì, trái lại phải vận
dụng bằng đuờng lối tốt đẹp nhất tất cả những gì
nhận lãnh của bá tánh, và đó cũng là tinh thần của Phật
giáo nói chung. Cũng vậy, tri thức, trí tưởng tượng và những
quan năng tinh thần khác, cũng như mọi thứ vật chất quanh
ta, kể luôn thể xác ta,..v..v tất cả những gì ta hướng
được là để phát triển và khai phóng những nguồn tinh lực
tối cao nằm ở trong ta như những thực thể tâm linh, chớ
không phải để thỏa mãn những khát vọng và tánh ngông cuồng
cá nhân khiến ta khó tránh xung đột và tổn thương đến
quyền lợi của người khác. Đại khái cái nghèo và cái đạm
bạc của nếp sống tăng đoàn tại các tòng lâm tự viện
là vậy.
III.
TRAI ĐUỜNG
Phong
thái trong bữa ăn ở Trai đường còn đượm một vị Thiền
riêng nên xin lược tả ở đây.
Buổi
ăn được báo hiệu bằng tiếng bảng; nghe ba tiếng bảng,
chư tăng rời Thiền đường, mỗi người mang bát đến
Trai đường. Tại đây, kê sẵn một dãy bàn thấp chũn, và
trống trơn. Chuông rung, chư tăng ngồi vào bàn. Chén sắp thành
chồng - chén gỗ hoặc giấy ngoài phủ lớp sơn mài, mỗi
chồng có chừng bốn năm chiếc, xếp vào nhau. Trong khi chén
đĩa được đặt ra, và chờ ông tăng chấp sự đi quanh bàn
bới cơm và múc canh, mọi người cùng tụng Bát Nhã Tâm Kinh[5],
tiếp theo là “năm điều quán tưởng” liên quan đến bữa
ăn, đại khái là:
1 Tôi
xứng đáng gì không? Bát cơm này do đâu mà có?
2.
Nhận bát cơm, tôi phải xét lại đức hạnh của tôi.
3.
Tôi phải ngăn lòng đừng phạm phải những lỗi lầm như
tham sân si.
4 Cơm
này là thuốc tốt để giữ thể xác tôi được khỏe mạnh.
5.
Để cầu đạo quả, tôi xin nhận lãnh.
Sau
phần quán tưởng là phần phát nguyện :
- Miếng
cơm đầu, nguyện dứt hết điều dữ,
- Miếng
cơm sau, nguyện làm tất cả điều lành,
- Miếng
cơm chót, nguyện độ tất cả chúng sanh thành Phật đạo.
Bây
giờ đến lúc cầm đũa, nhưng trước khi hưởng bửa ăn “thịnh
soạn” còn phải tưởng niệm ma quỹ thần tiên khắp ba cõi,
nên mỗi vị lấy ra trong chén mình độ bảy hột cơm rắc
lên bàn cúng chư vị khuất mặt và tụng bài biến thực:
“Nguyện cơm này cúng cho quỷ thần sẽ biến khắp mười
phương thế giới để tất cả được thọ hưởng”
Trong
khi ăn, hoàn toàn im lặng, không khua chén dĩa, không nói năng,
trò chuyện. Ăn, với họ, cùng là một việc làm trang nghiêm
như bất cứ pháp hạnh nào. Người nào muốn ăn thêm chén
nữa thì chấp tay trước ngực. Ông tăng dọn cơm biết rõ,
rê nồi cơm đến trước đương sự. Ông này trước khi đưa
chén bới cơm, cầm chén lên, đưa tay chùi qua đáy chén, cử
chỉ ấy cốt soát kỹ lại không còn chút dơ bẩn nào dính
chén có thể làm hoen ố tay ông tăng dọn bàn. Trong khi ông
này bới cơm, đương sự chắp tay trước ngực. Nếu đương
sự không muốn bới cơm đầy thì xoa nhẹ đôi tay, cử chỉ
ấy có nghĩa là : “Mô Phật, vừa rồi”.
Không
gì được phép bỏ thừa lại khi ăn xong. Chư tăng dùng sạch
tất cả nhưng gì dọn ra, “lượm tất cả những gì còn
rơi rớt”. Đó là pháp hạnh của họ. Thường, sau bốn lần
mời cơm là xong bửa ăn. Vị cầm đầu gióng lên một tiếng
bảng và vị dọn cơm mang nước nóng vào. Mỗi ông tăng múc
đầy vào chén lớn, nhúng những chén nhỏ vào đó rửa sạch,
rồi lấy khăn mang theo mình lau lại. Rồi một thùng cây được
chuyển quanh bàn hứng lấy tất cả nước dơ rửa chén[6].Mỗi
vị tự gom chén lại, vừa gói cột vừa niệm: tôi đã dùng
trai xong, cơ thể tôi giờ đây khỏe khoắn. Tôi tưởng như
khí lực của tôi có thể chuyển được mười phương thế
giới, chế ngự hết quá khứ hiện tại và vị lai; chuyển
cả nhân quả làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh, nguyện
cho tất cả chúng tôi quyết định tăng trưởng phép thần
thông quảng đại!”. Dãy bàn giờ đây trống trơn như trước,
trừ những hột cơm rắc cúng quỷ thần từ đầu bữa ăn.
Một tiếng bảng lại gióng lên, và sau nghi lễ tạ ân thường
lệ, chư tăng rời trai phòng từng đoàn, có thứ tự, lặng
lẽ ra như đã lặng lẽ vào.
IV.
CHẤP TÁC VÀ TU TẬP
Họ
siêng năng có tiếng. Ngày nào phòng bận học tập tại chùa
thì tang tảng sớm, sau bữa điếm tâm, vào lối năm giờ rưỡi
về mùa hè, và sáu giờ rưỡi vào mùa đông, họ đã làm
việc quần quật trên đất cát nhà chùa, hoặc trì bình ở
thôn xóm gần xa, hoặc cày cấy ruộng chùa. Chùa, trong cũng
như ngoài, được giữ hết sức ngăn nắp. Nên nói đến cái
gì sạch sẽ và tươm tất nhất đời đôi khi người ta ví
“như một Thiền tự”. Khi trì bình (xin ăn) họ đi khá xa
nhiều dặm đường. Thường dính liền với mỗi Thiền Đường
có một ít thiện tín pháp tâm bảo trợ, họ đến đó theo
định kỳ để có thêm phần gạo và hoa quả. Người ta gặp
họ dọc đường quê đẩy xe chở bầu bí hoặc khoai lang.
Họ làm việc cần cù nặng nhọc không thua gì dân cày thường.
Thỉnh thoảng họ lại vào rừng đốn củi quơ trà. Họ cũng
biết qua nghề ruộng nữa. Vì cần đắp đổi nhiều loại
nhu cầu, họ vừa là dân cày, là dân lao động, vừa là thợ
thủ công khéo léo. Vì đôi khi chính tay họ dựng lên ngôi
Thiền đường theo sự chỉ dẫn của kiến trúc sư.
Tăng
đoàn có một ban chấp hành tự trị, cắt riêng phần hành
bếp núc. Giám thị, tài chánh, từ khí, nghi lễ .v.v... Ở
thời Bách Trượng dường như đoàn giáo phẩm có mười người,
nhưng ta không biết chi tiết ra sao, vì bộ “Thanh Quy” của
ngài đã thất lạc. Cố nhiên vị hòa thượng là linh hồn
của Thiền đường, nhưng ít khi các ngài trực tiếp nắm
lấy công việc quản trị, quyền này thường được giao cho
các tăng lớn tuổi nhất, và hạnh kiểm từng được thử
thách qua nhiều năm trì giới. Gặp khi luận về Thiền, ta
không khỏi ngạc nhiên trước sức hiểu biết thâm diệu của
họ (nếu có thể nói vậy được) và tưởng tượng đoàn
học tăng kia như những nhà tư tưởng nghiêm trang làm sao,
xanh xao, đầu cúi thấp, tâm lìa thế sự. Nhưng sự thật
là trong cảnh sống thực này, họ vẫn là những phàm nhân
như mọi người, làm mọi việc thường ngày, có khác chứng
là lúc nào cũng vui vẻ, cũng tươi cười, cũng sẵn sàng giúp
ích, và không từ chối bất cứ việc làm nào thói thường
cho là hèn, làm mất phẩm giá người có học. Tinh thần Bách
Trượng luôn luôn hiện nơi họ.
Không
phải các tăng làm việc thôi, mà bổn thân hòa thượng cũng
dự phần vào công tác. Theo Bách Trượng, đó là để cho có
sự hợp tác chặt chẽ và phân công đồng đều giữa mọi
người không phân biệt chức vị. Nên hòa thương cũng phải
cùng tăng chúng cày ruộng, trồng cây, nhổ cỏ, hái trà, và
làm mọi công việc bằng tay chân khác. Lợi dụng những cơ
hội thuận tiện ấy, người lãnh đạo dễ đề ra nhưng bài
học thực tiễn về pháp Thiền và môn nhân cũng may mắn dễ
lãnh hội hơn. Xin đơn cử vài thí dụ.
Hòa
thượng Triệu Châu đang quét sân chùa thì ông tăng hỏi: “Cớ
sao chốn thanh tịnh già lam[7]lại có bụi?”
Sư
đáp:
“Lại
một hột bụi nữa kia kìa”
又
一 點 也
Lần
khác? Triệu Châu cũng đang quét chùa có người hỏi:
“Hòa
thượng là bậc thiện tri thức, cớ sao còn bụi?”. Sư đáp:
“Ở ngoài đến” 外 來
Ngày
kia hòa thượng Nam Tuyền cùng tăng chúng làm việc bên ngoài.
Triệu Châu ở lại chùa canh lửa. Châu bỗng hô to: “Cứu
lửa, cứu lửa”. Mọi người đỗ dồn về, chạy vào phòng
ngủ. Châu thấy thế bèn đóng ập cửa lại, bảo: “Nói
được, tôi mở cửa cho vào.” Không ai biết nói gì, Nam Tuyền
ném chiếc chìa khóa qua song cửa vào phòng cho Châu. Châu bèn
mở cửa.
Có
một ông tăng trong khi cày cuốc chặt nhằm một con trùn đứt
làm hai đoạn, đến hỏi hòa thượng Trường Sa: “Con trùn
đứt làm hai đoạn, đầu nào cũng động, vậy tánh Phật
ở đầu nào?”
Sư
nói “Đừng nghĩ nhảm. Động với chẳng động là cảnh
giới nào?”
Ông
tăng nài nỉ. Sư nói: “Đại đức há chẳng thấy kinh Thủ
Lăng Nghiêm nói rằng mười phương là hư không bất động
là lục đại dấy lên, còn bổn tánh vốn viên dung, vốn là
Như Lai tạng, vốn không sanh diệt vậy”.
Một
câu truyện tương tợ cũng xảy ra giữa Sư Tử Hồ và một
ông tăng trong khi cả hai đang làm vườn. Ông tăng hỏi về
chân sinh mạng của con trùn. Sư không đáp, nắm cào cỏ đập
khúc đầu con trùn, rồi đập khúc sau, đập vào khoảng giữa,
vứt vào cỏ, xong bỏ đi.
Ngày
kia, hòa thượng Huỳnh Bá cầm cuốc giẫy cỏ, ngoảnh đầu
ra sau thấy Lâm Tế Nghĩa Huyền đứng tay không, bèn hỏi:
“Cuốc đâu?” Lâm Tế đáp : Ai lấy mất rồi.
Huỳnh
Bá nói: Đến đây bảo, ta có việc muốn bàn.
Lâm
Tế đến gần, hai tay chắp lại.
Huỳnh
Bá giở cây cuốc lên, nói: “Chỉ chút vầy thiên hạ không
ai giở nỗi. Ông giở nỗi không?”
Lâm
Tế nắm cán cuốc vừa đưa lên vừa nói: “Cớ sao cái này
lại nằm trong tay Nghĩa Huyền tôi?”
Huỳnh
Bá nói: “Bữa nay ông là người lớn chuyện”[8]
Rồi
bỏ về chùa.
Lần
khác, hòa thượng Huỳnh Bá giẫy cỏ trong vườn trà thấy
Lâm Tế chống cuốc đứng, hỏi: “Ông mệt phải không?”
Lâm
Tế đáp: “Cuốc chưa giở lên mà mệt nỗi gì?”
Huỳnh
Bá giơ trụ lên đánh. Lâm Tế giật mạnh cây gậy xô ngã
Huỳnh Bá. Huỳnh Bá gọi ông duy na[9]đến đỡ dậy.
Duy
na đỡ Huỳnh Bá dậy rồi, nói: “Hòa thượng xử như vậy
với lão ấy được sao?”. Huỳnh Bá đánh ông duy na.
Lâm
Tế vừa cuốc đất vừa nói: “Ở chỗ khác thì hỏa
táng còn ở đây người ta chôn sống”.
Ở
bài luận trước, tôi có thuật lại câu truyện diễn ra trong
khi hái trà giữa thầy trò Quy Sơn và Ngưỡng Sơn. Cuốn sử
Thiền dẫy đầy những loại chuyện như vậy chứng tỏ các
Thiền sư lợi dụng bất cứ cơ hội nào để truyền dạy
pháp thiền cho môn đệ; nhân đó, nhưng sự việc tưởng là
tầm thường nhất đời không ngờ hóa ra đầy ý nghĩa. Ít
ra tất cả những câu vấn đáp ấy cũng biểu hiện một cách
hùng hồn nhất chiều hướng chung của sinh hoạt tăng đoàn
thuở trước, một cuộc sống thấm nhuần tinh thần chấp
tác và phụng sự mật thiết gắn liền vào công phu thâm quán
những diệu lý huyền cơ của tâm đạo.
V.
KHIÊM HẠ
Trong
môi trường ấy, chư tăng khai phá trí năng theo mọi chiều
hướng. Họ không được dạy về văn học - tôi muốn nói
cái học rút ra từ sách vở và xây dựng bằng khái niệm
hư tưởng, trái với nghi luật và kiến giải của họ cốt
thực tiễn và hữu hiệu, vì tiêu chuẩn chánh của sinh hoạt
Thiền Đường là “vừa học vừa làm”. Họ coi thường
lối giáo dục vừa dạy vừa dỗ, cốt trấn an, ví như những
thức ăn đã được tiêu hóa sẵn dành cho con bịnh mới khỏi.
Tục truyền sau khi đẻ được ba ngày, con sư tử mẹ đẩy
hết đàn con rơi xuống vực sâu để thử coi chúng leo lên
được không. Con nào không qua nỗi cuộc thử thách thì ráng
chịu, đừng mong được mẹ đỡ vớt gì.
Dầu
hư thực ra sao, câu truyện cùng hơi giống phần nào với thủ
đoạn của các Thiền sư xử tệ với đệ tử bằng mọi
cách, hầu như không có gì là ưu ái hết. Đệ tử áo không
đủ mặc, cơm không đủ ăn, không đủ thì giờ ngủ nghỉ,
mà khốn nỗi công việc lại quá bề bộn, công việc thủ
công cũng như việc tu tập.
Nếu
sự chấp tác được giữ điều hòa, đúng như lý tưởng,
những nhu cầu bên trong và những khuynh hướng bên ngoài chắc
chắn sẽ tạo thành những bản lĩnh cao cường, được trui
luyện đúng mức, trong đạo cũng như trong đời. Hệ thống
giáo dục duy nhất ấy, nay vẫn còn duy trì ở các Thiền Đường,
không may tín đồ biết rõ, cả đến ở đất nước này.
Nhưng rồi những đợt sóng tàn bạo của chủ nghĩa thương
mại không chừa gì hết trên bước xâm lăng, và có thể rồi
đây đến lượt hải đảo Thiền đìu hiu sẽ chìm ngập dưới
trào lưu duy vật thô bỉ. Chính ngay tăng ni đã bắt đầu
mất thông cảm với tinh thần cao cả của lịch đại chư
tổ. Trong giáo dục tăng đoàn đành rằng có chỗ phải canh
cải, nhưng về phân tâm yếu cực kỳ thâm hậu và tôn nghiêm
cần được bảo vệ nếu muốn Thiền còn tồn tại với thòi
gian.
Trên
lý thuyết, đạo lý Thiền vượt ngoài tầm hiểu biết bằng
tư biện, không bị ràng buộc trong luật mâu thuẫn luận lý.
Nên đó là một miếng đất quá trơn, nhiều người không
đi thẳng lưng được. Và hễ vấp váp thì kết quả thật
là tai hại. Cũng như nhiều nhà huyền học thời trung cổ,
người học dễ bị sa đọa, trở thành phóng đãng, hết kiểm
soát được mình. Lịch sử từng chứng minh điều ấy và
khoa tâm lý học cũng đã giải thích diễn trình sa đọa ấy.
Nên một Thiền sư có nói: “Tâm nguyện của mỗi người
phải vút lên bằng ngôi vị Phật Tì Lô, đồng thời tình
ý ở đời phải hạ thấp sát đất đến độ sẵn sàng quỳ
dưới chân một đứa con nít” .
Nói
một cách khác, đó là: “Muốn được cao trên thiên hạ thấp
dưới thiên hạ, là làm tôi tớ cho thiên hạ”. Nên sinh hoạt
Thiền Đường được qui định tỉ mi, mọi chi tiết cần
được nghiêm chỉnh vâng theo nhằm thực hiện tinh thần ấy.
Khiêm hạ, thanh bần, và tịnh tâm - đó là những lý tưởng
tránh cho Thiền khỏi sa đọa vào tệ bịnh của hàng triết
gia mâu thuẫn luận trời Trung cổ[10].Thế mới biết vai trò
kỷ luật Thiền Đường quan hệ như thế nào trong việc truyền
dạy đạo Thiền cũng như ứng dụng vào sinh hoạt thế tục.
Thiền
sư Đơn Hà Thiên Nhiên (738-824) đời nhà Đường dừng bước
vân du ở chùa Huệ Lâm, tại Kinh Đô; gặp tiết đại hàn
giá buốt, sư rinh một tượng Phật lớn xuống bửa ra đốt
sưởi ấm. Ông tư kinh hoảng hỏi: “Sao Hòa thượng dám đốt
tượng Phật của tôi?” Sư đưa gậy bới vào đống tro lửa
như tìm kiếm vật gì, đáp:
“Tôi
đốt Phật tìm xá lợi”
Ông
từ nói: “Phật gỗ mà xá lợi ở đâu?”
Sư
bảo: “Thế sao ông trách tôi? Ông cho tôi xin nốt hai pho tượng
kia để sưởi cho đỡ lạnh”.
Sau
đó, ông từ rụng hết lông mi[11]vì lời quở trách Đơn Hà
tội phạm thánh, còn sự thịnh nộ của Phật không bao giờ
giáng xuống đầu Đơn Hà.
Dầu
đáng ngờ về phương diện lịch sử, câu chuyện trên được
truyền tụng nhiều, và các Thiền sư đều đồng ý về sự
triệt ngộ của nhà sư Đơn Hà đốt tượng Phật.
Sau
đó có ông tăng hỏi một Thiền sư về ý nghĩa Đơn Hà đốt
tượng Phật, Sư nói:
Lạnh
đến lò than bên lửa sưởi
寒
即 圍 瀘 向 猛 火
Lại
hỏi: Nhưng Đơn Hà có tội không ? Sư đáp:
Nóng
ra rừng trúc cạnh khe ngồi
熱
即 竹 林 徯 畔 坐
Tôi
xin thừa hứng đưa thêm một lời bình giải khác về câu
chuyện Đơn Hà, vì đây là một trong số những đề tài uẩn
súc nhất trong Thiền học.
Thiền
sư Thúy Vi Vô Học, một đệ tử của hòa thượng Đơn Hà,
dâng hoa quả cúng dường La Hán (hẳn nhiên là tượng gỗ)
thì có ông tăng đến hỏi:
“Đơn
Hà đốt tượng Phật, cớ sao hòa thượng cúng dường La Hán?”
Thúy
Vi đáp: “Đốt, không thể đốt hết được, còn cúng dường
mặc thích tôi cúng dường.”
Hỏi:
Khi cúng dường La Hán có đến hưởng không?
Đáp:
Ông bữa nào cũng ăn cơm chứ ?
Ông
tăng không nói gì. Sư tiếp:
“Thật
ít có người lanh lợi!”
Dầu
đạo hạnh của Đơn Hà như thế nào trên phương diện thuần
túy Thiền, chắc chắn những hành động như vậy phải coi
là tối ư phạm thánh, hàng Phật tử mộ đạo nên tránh xa.
Những người chưa thâm ngộ lý Thiền còn có thể nhân đó
tác tệ thêm, và nhân danh Thiền phạm đủ tội ác. Vì lý
do đó, quy luật Thiền rất nghiêm ngặt đề phòng tánh cao
ngạo phải xả trừ tận gốc, và cốc rượu khiêm hạ phải
uống đến cạn.
Thiền
sư Châu Hoành, (1535-1615) thuộc đời nhà Minh, đang soạn bộ
sách tán tụng mười công đức của người xuất gia thì có
một ông tăng thuộc hàng cuồng nhiệt, đầy tự phụ, đến
nói: “Viết lách làm quái gì trong khi Thiền không có mảy
may gì đáng hoặc không đáng tán tụng hết”. Sư đáp: “Năm
uẩn diệu vũ, bốn đại dương uy, sao ngươi nói không có
tội?”. Ông tăng cãi lại: “Nhưng bốn đại vốn không,
năm uẩn chẳng thật”. Châu Hoành đánh vào mặt ông tăng
nói: “Toàn là hạng sa môn chấp văn tự chưa biết thế nào
là cái thực; đáp lại thử xem nào”. Nhưng ông tăng không
đáp gì, bỏ ra đi, lòng đầy oán hận. Sư mĩm cười nói:
“Sao không chùi vết bẩn trên mặt đi?” Trong sư tu tập
Thiền, sức nội quán chiếu diệu phải đi đôi với đức
độ khiêm hạ sâu dày và một trái tim nhẫn nhục cao độ.
Để
có một khái niệm về bài học thực tập khiêm hạ, tôi xin
thuật lại sau đây nhưng nỗi khổ nhục người tân tăng phải
nếm qua trước hết khi ông đến xin vào Thiền Đường. Đương
sự có thể có đủ chứng minh thư xứng đáng về đạo phẩm
của mình, có thể có đủ vật tùy thân (như áo cà sa, bát,
tọa cụ. v.v...) như đã kể trước, hàng tri sự chùa vẫn
không nhận ngay vào Thiền Đường. Thường họ viện đủ
cớ để thối thác, như chùa không đủ sức cấp dưỡng thêm
một ai khác, hoặc Thiền Đường chật nứt rồi, v.v... Nếu
đương sự im lặng bỏ ra đi là chắc chắn không đâu có
chỗ cho đương sự, không những chỉ ở Thiền Đường này
đương sự đã có ý chọn riêng, mà bất cứ Thiền Đường
nào trong nước, vì ở đâu đương sự vẫn bị khước từ
khéo như vậy cả. Nhưng nếu đương sự cương quyết phát
tâm học Thiền thì đừng vì những lời thối thác như vậy
mà chỉ nản chí.
Vị
học tăng gan lì ấy sẽ ra trước cửa tam quan ngồi , đầu
cúi xuống tay nải mang theo mình, và trầm tĩnh chờ. Có lúc
nắng sáng nắng chiều của ông ta, nhưng thây kệ, ông cứ
ngồi yên như vậy, không lay chuyển. Đến giờ trai thực,
ông xin được vào chùa, và được ăn uống, điều ấy được
bảo đảm cho ông , vì không một cửa Thiền nào từ chối
cơm ăn chỗ ở cho một du tăng khất sĩ. Nhưng ăn xong, ông
ta lại phải mở ra cửa chùa ngồi như trước, và cứ làm
như thế để yểm trợ lời thỉnh nguyện được thâu nhận
vào. Nhưng vẫn không ai đoái hoài đến ông, rồi tối ông
lại xin vào chùa nghỉ. Được cho phép ngay như trước, ông
bèn cởi đôi giày cỏ ra, rửa chân, rồi được đưa vào
phòng riêng dành cho tăng lữ qua đường. Tại đây thường
không có giường chiếu gì hết, vi thông lệ đã là sư Thiền
phải tọa thiền nhập định qua đêm. Ông ngồi thẳng lưng
như thế suốt đêm, hẳn là định tâm tham công án[12].Sáng
ngày ông lại ra trước cửa tam quan như trước, ngồi lại
như trước, để biểu lộ chí nhiệt thành được nhập viện.
Cơ sự ấy có thể kéo dài ba ngày, năm ngày, có khi cả tuần.
Lòng nhẫn nhục và đức khiêm hạ của ông tân tăng được
trui qua những thử thách khắc khổ như vậy cho đến khi được
hàng tri sự chú ý đến, và cảm động vì lòng nhiệt thành
và kiên nhẫn của ông mới nhận thử ông vào tăng đoàn.
Thể
thức ấy lâu ngày trở thành một việc làm hình thức, nhưng
ngày xưa, khi sự việc chưa khuôn và lề nếp, các học tăng
phải trải qua nhiều khổ nhục, vì họ còn có thể bị trục
xuất khỏi chùa bằng bạo lực nữa. Ta đọc trong tiểu sử
các Thiền tổ xưa nhiều trường hợp các ngài còn bị đối
xử tệ bạc hơn, không chút nương tay.
Tăng
kỷ áp dụng ở Thiền Đường nghiêm mật chẳng khác nào
quân kỷ, cốt đào luyện những đức tánh như khiêm hạ,
thuần phục, đạm bạc và tinh thành trong tâm người cầu
đạo hầu sẵn sàng noi gương phi thường hàng cổ đức, hoặc
đem ra thực hành, không cần biết, không cần tiêu hóa, giáo
lý “không”của kinh điển Bát Nhã trong văn học Đại Thừa.
Ta đã thấy qua ở phần trước một khía cạnh đặc biệt
của nếp sinh hoạt ấy trong phần mô tả đạo phong trong khi
ăn uống tại trai đường.
VI.
TUẦN NHIẾP TÂM
Trong
sinh hoạt tăng đoàn có một thời kỳ ngưng hết mọi việc
cần lao, trừ việc tối khẩn yếu, để dốc hết tinh thần
vào sự tu học. Thời kỳ ấy gọi là tuần nhiếp tâm[13]
kéo dài trong bảy ngày, và mở ra mỗi tháng một lần trong
hai mùa yên nghỉ gọi là mùa an cư hè và an cư đông. Mùa
an cư hè khởi đầu tháng tư và mãn trong tháng tám, còn mùa
an cư đông khởi đầu tháng mười và mãn trong tháng hai. Nhiếp
tâm có nghĩa là thâu góp tâm tư lại một chỗ. Suốt tuần
ấy, chư tăng dồn hết vào Thiền Đường, thức dậy sớm
hơn thường lệ và “tịnh” khuya hơn trong đêm. Mỗi ngày
có một thời pháp khai thị. Sách thì dùng những bộ “lục”,
thông dụng nhất là bộ Bích Nham Lục và Lâm Tế Lục, là
hai bộ sách cốt yếu nhất của Lâm Tế Tông. Lâm Tế Lục
là bộ sách chép lại những lời nói và bài pháp của Nghĩa
Huyền, tổ khai sáng phái Thiền Lâm Tế. Bích Nham Lục, như
đã nói trước, là một bộ sách thuật lại một trăm câu
chuyện Thiền gọi là “tắc” với lời bình giảng và thơ
tụng. Cố nhiên tùy lúc cũng dùng nhiều bộ sách khác. Nhưng,
với một ông tăng thường, thì sách nào cũng là một thứ
obscurum per obscurius[14] như nhau. Sau khi cho nghe một loạt bài
pháp, người ta bỏ ông ta ngồi đây một mình trong ngây dại.
Không phải vì lời dạy quá bí ẩn, nhưng tai người nghe chưa
đủ cơ duyên kiến chiếu vào lý Thiền.
Phép
tắc thăng tòa nói pháp diễn ra rất tôn nghiêm. Khởi đầu
là những hồi chuông báo hiệu cho đến khi vị hòa thượng
chủ đàn xuất hiện ở Thiền Đường, và đó là khởi đầu
phần “trì tụng”[15] Trong khi hòa thượng làm lễ dâng hương
trước bàn Phật và hương linh vị tiên sư khi chư sư tăng
đọc một bài đà la ni[16]ngắn gọi là Chú Đại Bi. Đó là
một văn phạn ngữ, nên đọc lên không có nghĩa gì hết.
Chắc rằng trong trường học này không thiết yếu phải hiểu
nghĩa, chỉ cần tin quyết ở thần lực kiết tường đem đến
nhiều lợi lạc cho tâm trí. Điều quan hệ là cách đọc chú,
đọc trầm trầm, theo tiếng mõ cầm nhịp liên hồi, (một
thứ mõ có tên là mộc ngư, cá gỗ), cốt để chuẩn bị
tâm trí của chư tăng chuyển qua tiết mục sau. Sau ba lần
trì chú, chư tăng cùng đọc lời khổ khuyến của vị tổ
khai sơn Thiền Đường. Nay, tại đôi chùa, người ta thường
đọc bài Tọa thiền ca Bạch Ẩn. Sau đây là bản dịch khúc
ca của Bạch Ẩn, và bài khổ khuyết của Mộng Sơn Sơ Thạch[17],
là bài pháp cuối cùng của Sư được liệt vào hạng được
truyền tụng nhất.
BÀI
VĂN PHỔ KHUYẾN CỦA MỘNG SƠN
(Muso
Kokushi)
Tôi
có ba hạng đệ tử.
Trước
hết là những người dõng mãnh chặt đứt tất cả ràng buộc
của chư duyên, nhất tâm tham cứu chỗ tâm yếu của chính
mình, và đó là hạng thượng căn.
Thứ
đến những người không nhất tâm tu học, mang lòng tán loạn
tầm cầu kinh sách, đó là hạng nhì.
Còn
những người tự che khuất cái sáng của tâm mình, chỉ cầu
mưa móc của chư Phật chư Tổ nhiễu xuống, đó là hạng
thấp hèn nhất.
Còn
những người tâm nhiễm tục học, cố tạo một cái danh văn
nhân học giả, chỉ là hạng ngoại đạo trọc đầu, cả
đến trong hàng đệ tử thấp nhất cũng không nhập bọn được.
Còn
nói chi hạng người chỉ ham ăn mê ngủ, biếng nhác, ươn
hèn, há có thể gọi là người của Tăng Già sao? Cổ đức
gọi họ là phường giá áo túi cơm, thật chẳng quá đáng.
Bởi lẽ họ không đáng gọi là tăng, nên tôi cấm họ xưng
là đệ tử của tôi, cấm vào chùa, vào viện, cả đến tạm
trú cũng không chấp thuận được huống nữa là xin nhận
vào hàng học tăng. Lão tăng nói thế, các ông có thể nghĩ
rằng tôi thiếu tâm lượng từ bi bao dung tất cả, nhưng đó
chỉ cốt cho họ thấy điều lỗi lầm để sám hối, và trở
thành những cây lành mạnh trong vườn tổ.
BẠCH
ẨN TỌA THIỀN CA
Tất
cả chúng sanh bổn lai là Phật;
Cũng
như băng với nước;
Ngoài
nước, không đâu có băng,
Ngoài
chúng sanh, tìm đâu ra Phật?
Đạo
(chân lý) gần bên mình mà chẳng biết,
Bao
người tìm kiếm xa vời - đáng thương!
Đó
cũng như người nằm trong nước,
Gào
rát cổ xin cho đỡ khát;
Đó
cũng như con trai một vị trưởng giả giàu,
Lang
thang sống với phường nghèo khó.
Nguyên
do ta luân hồi trong sáu cõi
Là
tại ta chìm đắm trong hắc ám của vô minh ;
Mãi
lạc xa, xa mãi trong u minh,
Biết
bao giờ thoát ly sanh tử?
Pháp
môn Tọa Thiền của Đại Thừa,
Ta
không đủ lời để tán tụng.
Những
pháp hạnh cao quý như bố thí, trì giới,
Như
niệm hồng danh Phật, sám hối, và khổ hạnh,
Và
biết bao công đức khác,
Tất
cả đều là kết quả của tọa Thiền.
Thậm
chí những người chỉ ngồi qua một lần
Cũng
diệt trừ được tất cả ác nghiệp,
Không
đâu tìm thấy ác đạo nữa,
Mà
Tịnh Độ vẫn sát kề bên.
Xin
hãy cung kính nghe nói cái Thực ấy,
Dầu
chỉ một lần,
Hãy
tán thán, hãy hoan hỉ ôm choàng lấy ,
Và
sẽ được muôn vàn phước huệ.
Vì
những người tự mình phản tỉnh,
Chứng
vào cái thực của Tự Tánh,
Cái
thực của Tự Tánh là Vô Tự Tánh,
Người
ấy thật đã thoát ngoài điên đảo vọng tưởng,
Đã
mở ra cánh cửa đồng nhất của nhân và quả,
Và
thênh thang con đường pháp phi nhị phi tam.
Trụ
nơi Bất Dị giữa những cái dị
Dầu
tới lui vẫn không bao giờ động,
Nắm
cái Vô Niệm trong cái niệm
Trong
mọi thi vị đều nghe tiếng pháp.
Trời
Tam Muội lồng lộng vô biên,
Trăng
Từ Trí sáng ngời viên mãn.
Ấy
là lúc họ thiếu gì đâu ?
Đạo
(chân lý) bổn lai thanh tịnh hiện thành,
Thế
giới này là thế giới của Tạng Hoa Sen,
Và
thân này là Thân Pháp của Phật.
Buổi
tụng giảng kéo dài độ một giờ, một bài giảng hoàn toàn
khác với những bài giảng thường thuộc đề tài tôn giáo,
tuyệt không dẫn giải, không viện chứng, không tán tụng,
không biện luận. Vị hòa thượng kể như chỉ đề cử lại
bằng lời nói những gì đã được bình giảng trong bộ sách
đặt trước mặt. Bài giảng kết thúc, chư tăng cùng đọc
ba lần Bốn Lời Nguyện Lớn, rồi giải tán. Lời nguyền
ấy nguyên văn như sau:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành
VII.
THAM THIỀN
Trong
tuần nhiếp tâm, ngoài thời tụng giảng, còn có những buổi
tham thiền. “Tham thiền” là đi đến với thầy, trình lên
chỗ thấy của mình về một công án để được thẩm định.
Trong những ngày không có buổi nhiếp tâm riêng thì việc tham
thiền diễn ra một ngày hai lần, nhưng suốt thời gian nhiếp
tâm - nghĩa là thu thúc tư tưởng - học tăng phải tham vấn
ấy không diễn ra công khai[18],học tăng cần một mình vào
phương trượng của thầy, tại đây, cuộc đối thoại diễn
ra theo những hình thức rất tôn nghiêm. Khi sắp bước qua
ngưỡng cửa phương trượng, ông tăng lạy ba lạy, rồi mới
vào, tay chắp trước ngực , khi đến gần thầy, ông phải
làm lễ nữa, rồi mới ngồi. Và tự lúc đó, mọi phép tắc
đều được miễn hết. Nếu cần, trong tinh thần Thiền, thầy
trò còn có thể trao đổi nhau những cú đấm đá nữa. Ở
đây chỉ có một điều đáng kể là biểu hiện chân lý Thiền
với tất cả thành thật của trái tim, ngoài ra đều rởm
hết. Do đó có lề lối tế nhị như vậy. Tham vấn xong, ông
tăng cáo lui theo những cách thức như trước. Một cuộc tham
thiền cho độ ba chục ông tăng phải mất trên một giờ rưỡi,
và đó cũng là giờ giấc căng thẳng nhất cho ông thầy. Phải
đảm trách mỗi ngày bốn năm cuộc tham vấn như vậy hẳn
là một thử thách không vừa cho ông nếu ông ta không đủ
sức khỏe cân xứng.
Phàm
những gì liên hệ đến thiền lý, phải tuyệt đối tin tưởng
ở sư. Nếu vị học tăng có đủ lý do để ngờ khả năng
của sư, ông ta có thể tự mình thảo luận thẳng với sư
trong khi tham thiền. Cố nhiên sự trình bày quan điểm ấy
không phải là một trò chơi vô lối, về phía sư cũng như
đệ; nhất định đó phải là một sự việc tối hệ trọng;
và vì lý do ấy, kỷ luật thiền có một đại giá trị đạo
đức ngoài giá trị về giáo lý
Muốn
biết việc ấy hệ trọng như thế nào, ta thử đọc sau đây
cuộc hội kiến giữa hòa thượng Chánh Thọ Lão Ông và tăng
Bạch Ẩn Huệ Hạc (1683-1768).
Một
chiều hè, Bạch Ẩn đến trình chỗ thấy của mình cho Lão
ông, lúc ấy đang hóng gió trước mái hiên. Sư bảo: “Trò
nhảm!”. Bạch Ẩn lặp lại trong một tiếng cười gằn hơi
mai mỉa: “Trò nhảm !”. Sư liền nắm lấy học trò đánh
đá lung tung, rồi xô ra ngoài mái hiên. Đang mùa mưa, Bạch
Ẩn té lăn xuống vũng sình. Lát sau tỉnh táo lại, Bạch Ẩn
lại vào lạy thầy, và lần nữa bị thầy mắng: “Đồ súc
sinh ở hang động”.
Bữa
sau, Bạch Ẩn nghĩ rằng sư phụ không hiểu nổi kiến giải
cao thâm tuyệt diệu của mình, nên nhất quyết bằng mọi
cách phải làm cho ra lẽ. Vừa gặp cơ hội, ông vào ngay phương
trượng, và đem hết biện tài tranh luận với sư, lần này
nhất định không nhường một tấc đất. Sư nổi cơn thịnh
nộ, chụp lấy Bạch Ẩn, giáng cho mấy bạt tai, rồi xô ra
khỏi cửa. Ông rơi từ gác cao xuống chân tường đá, nằm
mê man như bất tỉnh. Sư dòm xuống ông tăng bất hạnh, cười
ha hả.
Tiếng
cười đánh thức Bạch Ẩn tỉnh cơn chết giấc; ông ráng
leo lên, mồ hôi đầm đìa, nhưng sư phụ ông vẫn chưa buông
tha cho, và như trước lại mắng ông: “Đồ súc sinh ở hang
động”
Bạch
Ẩn tuyệt vọng quá tính bỏ thầy ra đi luôn. Ngày kia, trên
đường khất thực, ông dừng bước trước nhà một bà lão,
bà không cho cơm, ông cứ đứng yên trước cửa như không
biết gì đến sự từ khước của bà ta. Tâm thần ông đang
tập trung cao độ vào câu hỏi làm bận tâm ông nhất mấy
lúc gần đây. Bà lão nổi giận, tưởng ông không đếm xỉa
gì đến lời bà nói, và cố xin cho kỳ được mới nghe. Sẵn
cây chổi bự cầm nơi tay bà đập vào đầu ông, bảo phải
cút ngay. Cây chổi đập nặng quá làm xẹp nát cái nón
tì tư của ông, còn ông thì ngã xỉu xuống đất. Giây lâu
ông tỉnh dậy, và ô kìa, dưới mắt ông, tất cả hiện ra
sáng rõ, suốt thông. Tai nạn tình cờ hốt nhiên mở mắt
ông trước chân lý Thiền, từ trước hoàn toàn bị khuất
lấp ở ông. Ông mừng không kể siết vội trở về trong tâm
trạng phấn khích cực độ. Chưa đặt chân đến cửa ngoài
thì sư phụ ông đã nhận ra, đưa tay ra dấu, và nói: “Bửa
nay đem tin vui gì về đây? Vào đây mau, lẹ đi!” Bạch Ẩn
thuật lại sự việc vừa qua trong ngày. Sư phụ âu yếm vỗ
vai ông, nói: “Được rồi đấy, được rồi đấy.” Từ
đó, Bạch Ẩn không còn nghe đủ tiếng quở mắng như trước.
Đó,
vị tổ của Thiền Nhật Bổn hiện đại phải trải qua những
thử thách như vậy. Thật kinh khiếp biết mấy khi Chánh Thọ
xô Bạch Ẩn xuống chân tường đá và lời đón tiếp cũng
từ ái biết bao nhiêu khi người đệ tử, sau bao lần bị
ngược đãi, vươn lên trên chiến thắng mà trở về. Không
có gì nguội lạnh trong Thiền hết. Hễ nguội lạnh thì chẳng
phải là Thiền. Thiền muốn ta dấn mạnh vào chiều sâu của
chân lý, thứ chân lý không bao giờ nắm bắt được trừ
phi ta trở về cảnh trần truồng ban sơ, lột bỏ tất cả
trò phỉnh gạt của trí thức cũng như mọi thứ khác. Mỗi
cái bạt tai Chánh Thọ đưa ra là đánh rớt một phần cái
lốt giả của Bạch Ẩn. Chúng ta đều sống như nhau dưới
vô số lốt mượn ấy không mảy may can dự gì đến cái thân
thiết nhất của chính ta. Nên để giúp ta đạt tới cái ấy,
có được cái tự tri tự giác ấy, các Thiền sư viện đến
những thủ đoạn hầu như quá tàn nhẫn. Tuy nhiên, ở trường
hợp như trên, lòng tin phải tuyệt đối đặt ở chân lý
Thiền, và ở sự triệt ngộ của sư. Thiếu lòng tin ấy tức
thiếu luôn lòng tin ở khả năng tự tri tự giác của chính
mình. Nên tổ Lâm Tế nói: “Hỡi các ông, những người lòng
tin chẳng đủ làm sao mong dò được đáy biển Thiền” .
VIII.
NUÔI LỚN THÁNH THAI
Trong
sinh hoạt ở Thiền Đường, không có kỳ hạn nào định trước
được cho bước thăng tiến nào như cái học ở nhà trường.
Có người ăn cơm chùa ngót hai mươi năm mà vẫn chẳng đi
đến đâu. Nhưng với một căn cơ thường, nhưng giàu chí
nhẫn nại và kiên quyết, vẫn có thể giữa vô số nẻo dọc
đường ngang dò ra được con đường Thiền trong khoảng mươi
năm.
Tuy
nhiên, hiện thực Thiền lý trong mỗi động tác sinh hoạt
- nghĩa là đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng thấm nhuần Thiền
vị - lại là một vấn đề khác. Muốn thế, một đời người
có lẽ không thấm vào đâu, vì tương truyền cả đến Phật
Thích Ca và Di Lặc vẫn còn đang hồi tu tập.
Muốn
được là một chân sư xứng đáng, ngộ Thiền !ý thôi cũng
chưa đủ. Còn phải trải qua một thời kỳ gọi là nuôi lớn
thánh thai. Thành ngữ này vốn là của Lão giáo, nhưng trong
Thiền ngày nay người ta hiểu theo nghĩa rộng là sống một
cuộc đời (hành) ứng hợp với cái thấy biết của mình
(giải).
Dưới
sự hướng dẫn của thầy, người học đạo có thể trước
sau gì cũng thâm ngộ được diệu lý Thiền, nhưng ít nhiều
gì cái ngộ ấy cũng vướng hình thức, dầu quá vi tế, khó
nhận ra. Sanh hoạt của hành giả, trong cũng như ngoài, phải
khế hợp với cái ngộ ấy. Thế nên phải tiếp tục tu hành,
vì những gì ông ta chứng được ở Thiền Đường xét ra
chỉ mới là ngón tay chỉ chiều hướng cần tích cực nổ
lực thêm. Nhưng từ đây, không cần thiết phải trụ ở Thiền
đường. Giờ đây, cái sở chứng trí thức ấy phải được
trui qua nhưng thử thách mới trong cuộc trộn lẫn với thế
gian.
Không
có quy tắc nào định được sự “nuôi lớn” ấy. Mỗi
người tùy hoàn cảnh mà ứng dụng khác nhau, kín đáo, âm
thầm. Họ có thể lên núi cao, sống ẩn dật đìu hiu, hoặc
“thõng tay vào chợ”[19],dự vào tất cả hoạt động của
thiên hạ.
Lục
Tổ ẩn nhẩn sống trong rừng suốt mười lăm năm với đoàn
thợ săn sau khi ngài tự giã Ngũ Tổ. Ngài sống tối tăm,
không ai biết, cho đến ngày Ngài đến nghe pháp sư Ấn Tông
giảng kinh.
Quốc
Sư Nam Dương Huệ Trung bỏ trốn mười năm không rời khỏi
am. Tiếng đồn khắp chốn đến tai nhà vua, vua cho sứ khẩn
khoản triệu thỉnh ngài mới chịu hạ sơn.
Quy
Sơn sống nhiều năm ở miền hoang dã hẻo lánh với khỉ nai,
ăn toàn hột dẻ. Nhưng rồi tiếng đồn ra, người ta tìm
đến, và những tòng lâm tự viện đồ sộ mọc lên quanh
bước chân ngài, và ngài trở thành vị cao tăng cầm đầu
một số tăng chúng 1.500 người.
Ở
Nhật, Thiền sư Quan Sơn, pháp từ của quốc sư Đại Đăng,
và cũng là tổ khai sơn chùa Diệu Tâm ở Kyôtô, sống tối
tăm trong tỉnh Minô, làm nghề cày ruộng mướn cho dân làng.
Không ai biết Sư là ai cho đến ngày kia, nhân một tai biến,
tung tích của Sư bị lộ, và Sư được nhà vua khẩn cầu
đứng ra xây một tự viện mới ở đế đô.
Bạch
Ẩn Huệ Hạc làm ông từ giữ chùa, một ngôi chùa hoang ở
Suruga - và đó là tất cả sự sản của Sư trong thế gian
này. Ta thử đọc đoạn văn sau đây để có thể hình dung
cảnh hoang phế điêu tàn của ngôi chùa ấy: “Chùa không
có nóc, trông thấy trời, và sao lấp lánh thâu đêm. Mà cũng
không có sàn. Làm lễ ở chánh điện gặp hồi mưa phải
đội nón và mang ủng cao. Tất cả sự sản của chùa đều
rơi vào tay chủ nợ, còn vật dụng sở hữu của sư cũng
bị cầm cố cho bạn hàng”- Đó là màn đầu đạo nghiệp
của Bạch Ẩn.
Còn
có nhiều trường hợp thuộc loại trên, cuốn sử Thiền dẫy
đầy những thí dụ như vậy. Tuy nhiên, chú ý không phải
là hành xác, mà chính là nuôi lớn[20], đúng như tên gọi,
căn tánh của con người. Biết bao rắn rít hờm sẵn trước
cửa, nếu không chà nát được chúng thì chúng lại nhô đầu
lên, và toàn thể cơ sở văn hóa đao đức xây dựng lên trên
kiến giải sẽ sụp đổ ngay trong ngày. Kiến giải mâu thuẩn
luận[21] cũng là một cạm bẫy gài sẵn cho người tu Thiền,
cần luôn luôn cảnh giác. Thế nên phải nuôi lớn - trưởng
dưỡng - là vậy.
IX.
MẬT HẠNH
Ở
đôi phương diện, đành rằng lối giáo dục phổ cập ở
Thiền Đường có lỗi thời phần nào, nhưng những nguyên
tắc chỉ đạo chư sư sống đơn giản, không hoang phí một
phút giây ngồi không, tinh thần tự chủ, và cái gọi là “mật
hạnh”, thì đời nào cũng là những giá trị bất hủ. Nhất
là “mật hạnh” là một trong những nét đặc thù nhất
của kỷ luật Thiền. Mật hạnh có nghĩa là làm việc thiện
mà không nghĩ biết gì về việc thiện, người khác không
biết, mà chính mình cũng không biết. Người công giáo có
thể gọi đó là “vâng ý cha”. Một em bé rớt xuống sông,
tôi nhảy xuống nước, và em bé được vớt lên. Cái gì phải
làm đã làm xong, không còn gì phải nghĩ. Tôi quay đi, không
bao giờ xây lưng lại. Mây qua, và trời xanh lại, bát ngát
như thuở nào. Thiền gọi cái đó là “hành động không công
đức”, và ví đó như việc làm của người xúc tuyết lấp
giếng.
Đó
là giá trị tâm lý của mật hạnh. Còn về mặt tôn giáo,
đó là nhìn và hưởng dụng thế gian một cách kính cẩn và
đầy lòng biết ơn, cảm như ta mang trên vai tất cả tội
lỗi của thế gian.
Một
bà lão hỏi Triệu Châu: “Tôi mang cái thân nữ này bị năm
dây ràng buộc chướng ngại cho Phật tánh, làm sao thoát ly
những triền phước ấy?”, Châu đáp: Xin nguyện cho mọi
người sanh lên cõi trời, còn thân tiện tỳ này nguyện tiếp
tục chịu trầm luân một mình trong biển khổ!” Đó là tinh
thần của người chân chánh cầu Thiền.
Sau
đây là một câu chuyện khác biểu dương chung tinh thần kham
khổ ấy. Tại quận Triệu Châu là chỗ đại sư mở Thiền
viện, và lấy tên đất làm tên người, có một cái cầu
đá nổi danh. Ngày kia có ông tăng đến coi, bảo: “Bấy lâu
nghe đồn cầu đá Triệu Châu, té ra chỉ là một cái cầu
khỉ gập ghềnh!”. Châu nói: “Ông chỉ thấy cầu khỉ,
không thấy cầu đá sao?”. Ông tăng hỏi: “Thế nào là cầu
đá?”. Châu đáp:
“Đưa
lừa qua, đưa ngựa qua”
渡
驢 渡 馬
Dường
như đó chỉ là một câu chuyện lang bang về một cái cầu,
nhưng xét theo tâm đạo, đúng với trường hợp này, câu chuyện
hàm ẩn nhiều cái thật liên hệ đến trung tâm của sinh hoạt
tâm linh con người. Vậy thử hỏi đây là thứ cầu gì? Phải
chăng Triệu Châu chỉ nói đến cái cầu khỉ trong khu đất
chùa, khá chắc để đủ hạng bộ hành qua được? Mỗi người
chúng ta thử hỏi ở trong ta có chưa một cái cầu có thể
không những ngựa qua, lừa qua, đàn ông qua, đàn bà qua, xe
nặng qua, xe nhẹ qua, mà cả thế giới qua đèo theo đủ thứ
dơ dáy, điên rồ, bịnh tật, một cái cầu không phải chỉ
để đi qua thôi, mà thường còn chà đạp lên, hơn nữa còn
xỉ vả xài xể nữa - một cái cầu nhận chịu tất cả sự
đãi ngộ, xấu cũng như tốt, mà vẫn nhẫn nhục, không hề
oán trách Có phải Triệu Châu ám chỉ cái cầu ấy không ?
Dầu sao ta cũng phải hiểu ngầm như vậy khi đọc những câu
chuyện như trên.
Tuy
nhiên, tinh thần chịu khổ không nên hiểu theo nghĩa của người
Công giáo là ngày đêm cầu nguyện và hành xác để được
khỏi tội, vì đó là một ý nghĩ quá vị kỷ, mà Thiền thì
thoát ngoài tất cả hình thức vị kỷ. Thiền tăng muốn độ
tất cả khổ tội của thế gian, còn riêng tội của chính
mình thì họ để cho nó tự lo liệu lấy, vì họ biết rằng
bổn lai tội không có ở đâu hết trong tự tánh. Vì lý do
đó, họ thuộc hạng người thường được mô tả “khóc
mà như không khóc, hưởng dụng mà như không hưởng dụng,
mua sắm mà không thọ hưởng, sử dụng thế gian mà không
lạm dụng”
Chúa
Ki Tô nói: “Khi người bố thí, đừng để tay mặt biết
việc làm của trái, hãy bố thí một cách thầm kín”. Đó
là mật hạnh của đạo Phật. Nhưng nếu Chúa nói thêm rằng
“Cha chúng ta thấy rõ tất cả nỗi thầm kín ấy sẽ thưởng
ngươi”, thì một hố sâu mở ra ngay giữa đạo Phật và
đạo Chúa. Hễ còn có mảy ý nghĩ đến người nào đó, dầu
là Chúa, hoặc quỷ, biết việc làm của ông thì Thiền còn
nói với ông: “Ông chưa là người của bản môn”. Hễ hành
động còn kèm theo một tâm niệm thì chưa phải là “hành
động không công đức” vì còn đầy tì vết và bóng tối.
Nếu có một đấng thiêng liêng theo dõi ông, ông sẽ bị chận
đứng bất cứ lúc nào để đòi nghe ông báo cáo lại việc
ông làm. Cái áo tuyệt đẹp là cái áo không lộ đường may,
trong cũng như ngoài; đó là một tấm vải nguyên, không ai
có thể nói khởi may tại đâu và dệt bằng cách nào. Cũng
vậy, Trong Thiền không thể có một ý thức nào lưu dấu lại
sau khi việc bố thí đã xong, huống nữa là ý thức khen thưởng,
dầu là Chúa thưởng. Lý tưởng Thiền ví như gió muốn thổi
đâu thì thổi, ví như âm thanh ta nghe được, nhưng không biết
được từ đâu đến và đi về đâu.
Nhà
hiền triết Liệt Tử hình dung tâm trạng ấy một cách bóng
bẩy như sau: “Tôi để tâm trí tôi mặc tình muốn nghĩ gì
thì nghĩ, miệng tôi mặc tình muốn nói gì thì nói; lúc ấy
tôi không còn nhớ cái này hay cái kia là của tôi hay của
người, không còn biết hơn thiệt thị phi gì nữa; thậm chí
tôi không biết nốt thầy tôi là ai, bạn tôi là ai. Trong và
ngoài, tôi hoàn toàn đổi khác hết; lúc ấy tự nhiên mắt
biến thành tai, tai biến thành mũi, mũi biến thành miệng,
tất cả đều giống nhau hết. Tâm trí tôi ngưng tụ lại,
còn hình thể thì tiêu tan, thịt xương hóa sương khói; tôi
không còn biết thân hình tôi dựa vào đâu, chân tôi đứng
chỗ nào; tôi cỡi gió mà đi khắp chốn, đông tây, như chiếc
lá lìa cành; tôi không biết tôi cỡi gió, hay gió cỡi tôi”.
X.
Ý THỨC VỀ THUỢNG ĐẾ
Như
đã nói trước, các bậc Thiền đức không tán thành thái
độ của người Công giáo - cả người công giáo huyền học
- quá chấp nặng vào ý thức Chúa, coi như đấng khai sáng
và bảo hộ thế gian và muôn vật. Thái độ của các ngài
đối với Phật và Thiền là thái độ của Liệt Tử cỡi
gió tiêu dao , môn đệ của Triệu Châu, Vân Môn và các bậc
cổ đức khác không nhằm chứng gì hơn là hoàn toàn đồng
hóa hoặc viên dung cái tôi, năng tri, và đối tượng của
tư tưởng, sở tri. Vì lý do đó các ngài quyết không chịu
đọc đến tiếng Phật hoặc Thiền trong bài giảng dạy của
các ngài, chắc chắn đó không phải là phản Phật, mà chính
vì Phật giáo đã hoàn toàn đồng hóa trong người các ngài.
Chẳng hạn như câu chuyện sau đây của Pháp Diễn, ở Ngũ
Tổ Sơn (? - 1104) quở nhẹ đệ tử là Phật Quả Viên Ngộ
(1063-1135).
Ngũ
Tổ nói: “Được lắm, nhưng có chút chưa ổn”. Viên Ngộ
gạn hỏi hai ba lần chút ấy là gì, rốt cùng Sư mới nói:
“Ông nói đến Thiền nhiều quá”. Viên Ngộ phản ứng lại:
“Sao vậy? học Thiền thì tự nhiên phải nói Thiền, sư phụ
ghét là sao?”. Ngũ Tổ nói: “Như một cuộc nói chuyện thường
ngày vậy, thì tốt hơn”. Một ông tăng có mặt lúc ấy hỏi:
“Tại sao hòa thượng ghét nhất người ta nói đến Thiền?”
– “Vì nó làm cho ta bợn dạ”, đó là lời phán quyết
của Sư.
Cùng
tinh thần ấy, Lâm Tế Nghĩa Huyền (? - 867) có lối nói cực
bạo, triệt để cách mạng. Nếu không quen với phương pháp
dạy Thiền, những đoạn văn trích sau đây ắt khiến ta trố
mắt, nghiến răng, tóc dựng đứng lên được. Người đọc
có thể nghĩ rằng ông ta đáng ghê tởm quá, nhưng chúng ta
đều biết rõ với nhiệt tâm nào ông đứng lên trước những
giả dối của thế gian này, với ý chí bất khuất nào ông
sấn bước qua trò đời ma chướng, đảo điên. Bàn tay ông
có thể ví như bàn tay Jehovah quyết đập nát tất cả thần
tượng và hình tướng. Ta thử đọc, chẳng hạn, vài đoạn
văn sau đây, trong ấy Lâm Tế quyết lột trần tâm trí ta
tất cả lớp trang sức giả dối cuối cùng.
1.
“Bậc đạo nhân chân chánh tuyệt không nắm Phật, không
nắm bồ tát la hán, cũng không nắm ba cõi thù thắng, quyết
nhiên không câu chấp vào ngoại vật thì trước mắt tức
thì hiện chánh pháp, vào lửa không phỏng, vào nước không
chìm, vào ba đường địa ngục như dạo vườn cảnh, vào
ngạ quỷ súc sanh mà chẳng thọ báo; vào[22] sắc giới chẳng
bị sắc mê hoặc, vào vị giới chẳng bị vị mê hoặc,
vào xúc giới chẳng bị xúc mê hoặc, vào pháp giới chẳng
bị pháp mê hoặc.
2.
Cứ tự nhiên mà động dụng, mặc áo ăn cơm, cần đi cứ
đi, cần ngồi cứ ngồi, đừng mang mảy tâm niệm nào cầu
Phật quả. Quý ông cho rằng đạo có tu chứng, chớ nói nhảm.
Đặt ra tu chứng là tạo nghiệp sanh tử. Ông nói sáu độ
muôn hạnh cùng tu, ta thấy toàn là tạo nghiệp. Cầu Phật,
cầu pháp là tạo nghiệp địa ngục. Cầu bồ tát cũng là
tạo nghiệp. Coi kinh coi giáo cũng là tạo nghiệp. Phật với
Tổ Sư đều là người vô sự. Quý ông nói có đạo tu được,
có pháp chứng được. Đạo nào mà tu? Pháp nào mà chứng?
Chỗ thọ dụng của ông nay còn thiếu hụt vật gì chứ? Mà
bồi đắp vào đâu chứ?
3.
“Sãi núi tôi sao phải nói lên ở đây? Chỉ vì cầu đạo
quý ông cứ tìm kiếm mãi tâm không dứt được niệm... Quý
ông cầu chân lý! theo chỗ thấy của sãi núi tôi thì dứt
hết là tự nhiên quý ông ngồi trên đầu báo hóa thân Phật.
Mười địa bồ tát chẳng qua như đứa trẻ hầu, hai phần
diệu giác như gông đeo cùm khóa, la hán bích chi chỉ là bùn
phẩn, bồ đề niết bàn như hàm thiết buộc ngựa lừa.
4.
“Ví nói đến chỗ thấy của sãi núi tôi thì không gì chẳng
sâu thẳm, không gì chẳng giải thoát. Quý ông cầu chân lý,
tâm pháp không hình tướng, không xâu suốt hết mười phương:
tại
mắt gọi là thấy,
tại
tai gọi là nghe,
tại
mũi ngửi mùi,
tại
miệng bàn nói,
tại
tay nắm giữ,
tại
chân đi đứng,
gốc
là một tinh minh chia làm sáu phần hòa hiệp. Một tâm đã
là không nên tùy chỗ mà giải thoát. Được như vậy là chốn
chốn chẳng trệ, xâu suốt mười phương, ba cõi tự tại,
vào tất cả cảnh giới sai biệt; trong khoảng một búng tay,
vào suốt pháp giới , gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ,
gặp La Hán nói La Hán, gặp ngạ quỷ nói nga quỷ, dạo nát
khắp quốc độ, giáo hóa chúng sanh mà không hề lìa một
niệm.
…Nếu
có người đứng lên hỏi ta về việc cầu Phật, ta liền
tùy ứng đưa ra cảnh giới thanh tịnh.
Ví
hỏi ta về bồ tát, ta hến tùy ứng đưa ra cảnh giới từ
bi.
Ví
hỏi ta về bồ đề, ta liền tùy ứng đưa ra cảnh giới tịnh
diệu.
Ví
hỏi ta về niết bàn, ta liền tùy ứng đưa ra cảnh giới
tịch tĩnh.
Cảnh
thì sai khác muôn vàn, người thì chẳng khác; đó là tùy theo
ngoại vật mà ứng hiện hình tướng, như trăng trong lòng
nước.
Tôi
cùng ông đi vào quốc độ tịnh diệu: khoác áo thanh tịnh,
nói Phật pháp thân
Lại
đi vào quốc độ không sai biệt: khoác áo không sai biệt,
nói Phật báo thân
Lại
đi vào quốc độ giải thoát: khoác áo quang minh, nói Phật
hóa thân.[23]
5.
“Này, quý ông cầu chân lý! muốn ngộ vào chánh tông (Thiền),
chớ để thiên hạ phỉnh mình. Trong cũng như ngoài, gặp chướng
ngại nào cứ đạp ngã ngay; gặp Phật giết Phật, gặp Tổ
giết Tổ, gặp La Hán hoặc họ hàng thân thiết, giết hết,
chớ ngần ngại: đó là con đường độc nhất để giải
thoát. Đừng để bất cứ ngoại vật nào trói buộc mình,
hãy vượt lên, hãy bước qua, hãy tự do. Tôi thấy suốt trong
thiên hạ những vị gọi là cầu đạo không ông nào đến
với tôi tự do và độc lập hết. “Hễ gặp việc, tôi đạp
nhào hết, không cần biết họ đến với tôi bằng cách nào.
Họ ỷ mạnh tay, tôi chặt đứt tay; họ ỷ giỏi nói, tôi
bóp câm miệng, họ ỷ tinh mắt, tôi đập đui mắt. Quả thật
bao năm rồi chưa một ông nào đơn độc đối diện với tôi,
hoàn toàn tự do, hoàn toàn độc lập. Ông nào cũng mắc phải
như nhau những trò lừa dối không đâu của hàng cổ đức.
Tôi không có gì để cho quý vị. Tất cả những gì tôi có
thể làm được là tùy bịnh mà cho thuốc, là giải phóng
cho quý vị tất cả triền phược”.
“Này,
chư vị cầu chân lý! hãy tỏ ra độc lập tự cường Tôi
trân trọng đặt vấn đề ấy cùng quý vi. Suốt năm mươi
năm gần đây, tôi chỉ chờ có vậy , mà chưa được gì hết.
Người ta đến với tôi toàn là người ma, những súc sanh
cổ quái vất vuởng bờ tre, rừng bụi, đồng hoang cỏ dại,
điên khùng gặp gì cắn nấy, thối tha.
“Quý
vị, loài ở hang, sao dám hoang phí của tín thí! Quý vị đáng
gọi là sư sao khi còn vọng tưởng điên đảo như vậy ? Tôi
nói cho biết: không Phật, không pháp, không tu, không chứng
? Quý vị tìm gì ở nhà láng giềng? Đó là trên đầu ghép
thêm một cái đầu mượn? Quý vị thiếu gì?”
Quý
vị cầu chân lý! những gì quý vị thọ dụng hiện giờ đây
có khác gì với chư Phật chư Tổ đâu. Nhưng quý vị không
tin tôi, mảng đi tìm ngoài. Đừng mê tưởng như vậy. Không
có gì ngoài, mà cả bên trong vẫn không có gì nắm giữ đuợc.
Quý vị chấp theo lời tôi nói, nhưng thà là dứt tuyệt tất
cả tham cầu, đừng làm gì hết.
“Trân
trọng.[24]
Đó
là Lâm Tế chủ tâm quét sạch tất cả ngấn bụi ý thức
về Chúa trong tâm người cầu chân lý. Lẫm liệt biết bao
nhiêu, như lôi thần Thor, Sư giáng tất cả sấm sét trong từng
lời cổ võ?
XI
.VÔ CHẤP
Trạng
thái của tâm trong đó tất cả dấu vết cơ trí, tình thức,
đều được quét sạch hết, ngưòi Công giáo huyền học gọi
là nghèo. Tauler định rõ rằng “cái nghèo tuyệt đối chỉ
có ở tâm ngươi khi ngươi không còn nhớ biết có ai trả
gì hay mắc nợ gì của ngươi không; mà rồi cả đến mọi
vật ngươi cũng sẽ quên nốt trong cuộc du hành cuối cùng
của cái chết”.
Các
Thiền Sư cảm nghĩ đến cái nghèo một cách thiết thực và
thơ mộng hơn; các ngài không gợi thẳng đến sự việc của
thế gian. Đây, Thiền sư Vô Môn (1183-1260) cảm tác:
Hoa
xuân muôn đóa, bóng trăng thu
Hạ
có gió vàng, đông tuyết rơi
Tuyết
nguyệt phong ba lòng chẳng chấp
Mỗi
mùa mỗi thú mặc tình chơi
Và
đây lời cảm tác của Thiền sư Nam Đài Thủ An:
Nam
Đài ngồi tịnh trước lò hương
Cảnh
lặng trời ngưng vạn sự buông
Nào
phải ngăn lòng hay dứt niệm
Chỉ
vì vô sự chẳng gì vương[25]
Bài
thơ này, cũng như bài trên, không ngụ ý tác giả ăn không
ngồi rồi, không làm gì khác, hoặc không có gì để làm khác
hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hoặc ngắm
vừng trăng bạc đìu hiu; không, có thể tác giả đang hăng
say làm việc, đang giảng giải, đang tụng kinh, đang quét chùa
giẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm
thanh tịnh và khinh an. Người Công giáo có thể nói tác giả
đang sống ở nơi Chúa. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không
còn một vọng tưởng nào gây trở ngại chi tâm trí ứng dụng
dọc ngang, do đó, tâm gọi là tâm “không”, thân họ là
thân “nghèo”. Vì nghèo nên họ biết thưởng thức “hoa
xuân”, biết ngắm “trăng thu”. Trái lại, nếu của cải
của thế gian chồng chất đầy con tim thì còn chỗ nào dành
cho những lạc thú thần tiên ấy ? Các Thiền sư quen nói đến
thái độ an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của các
ngài bằng những hình ảnh cụ thể, chẳng hạn như thay vì
nói chỉ có đôi tay không, các ngài bảo rằng muôn vật trong
đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá
đủ lắm rồi. Nhưng Thiền sư Phương Hội ở Dương Kỳ có
lần lại đề cập đến ngôi nhà điêu tàn của Sư. Ngày
kia Sư thượng đường lớn tiếng ngâm thơ :
“Nhà
ta phên mái rách tơi bời
Nền
trắng một màu tuyết trắng rơi
Giá
lạnh toàn thân, lòng vạn mối…
Sư
ngừng giây lâu, rồi ngâm tiếp câu kế:
Người
xưa nhà chỉ có bóng cây thôi”.
Hương
Nghiêm nói đến cái nghèo bộc lộ hơn :
Năm
trước nghèo chưa thật nghèo
Năm
nay nghèo mới thật nghèo
Năm
trước nghèo không đất cắm dùi
Năm
nay nghèo dùi cũng không có nốt[26]
Sau
đó có một Thiền sư bình giảng bài kệ nghèo của Hương
Nghiêm như sau :
Không
dùi không đất chửa rằng nghèo
Còn
biết mình nghèo tức “chấp” nghèo
Rốt
ráo nghèo là như thế ấy:
Bổn
lai chưa thấy ai nghèo[27]
Vân
Môn không mắc phải tội nghèo, nhưng sư vẫn không đẩy đà
gì theo lời sư đáp cho một ông tăng hỏi Sư về gia phong
của bản môn: “Da móp xương lồi”. Sự đẫy đà và phủ
phê không bao giờ đi chung với đạo lý, ít ra ở đông phương
nay. Sự thật thì không hẳn đó là những tư tưởng chống
nghịch nhau, nhưng trong hiện tình kinh tế của chúng ta, sự
tích trữ của cải toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với
những lý tưởng thánh thiện. Có lẽ vì thế mà chúng ta lớn
tiếng phản kháng trào lưu duy vật gây ra tình tệ. Nên người
Phật giáo đặt lý tưởng sinh hoạt ở chỗ không có ai hết,
thậm chí trí và đức cũng không nốt. Nói thế không có nghĩa
là Phật giáo khinh miệt những sở hữu ấy, vì còn khinh miệt
tức còn bị ô nhiễm, chưa thanh lọc hết; đã là chân Bồ
tát thì cả đến cái thanh tịnh và đạo hạnh còn không chấp
đến huống nữa là những nỗi hèn yếu nhỏ nhặt của thế
nhân! Chỉ khi nào người Phật tử gạn sạch tất cả thứ
ấy mới thật là nghèo, thô vụng và trong suốt.
Mục
đích của kỷ luật Thiền, nói theo thuật ngữ Phật giáo,
là đạt đến trạng thái không chấp trước.
Mọi
kiến thức đều là của cải, là tích trữ tài sản, còn
Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu. Dó là cốt
thực hiện tinh thần nghèo và khiêm hạ - hoàn toàn gội sạch
tâm tưởng tất cả vết cảm nhiễm. Trái lại, học thức
khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức năm
giữ - “chấp” càng học càng có thêm, nên “càng biết
càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm”. Xét
cùng ra, đó chỉ là “phí công bắt gió”. Thiện nhiệt thành
tán đồng cái thấy ấy, đúng như Lão Tử nói:
Hoc:
ngày càng thêm
Đạo:
ngày càng bớt, bớt rồi lại bớt nữa, cho đến chỗ không
làm, không làm nhưng không gì mà chẳng làm.[28]
Chỗ
đến cuối cùng của “cái bớt” ấy là cái “vô sở chấp,
vô sở cầu” tức cái nghèo vậy; và nghèo, nói một cách
khác, tức là “không” – sunyata. Khi tâm hoàn toàn gội sạch
tất cả cảm nhiễm chồng chất từ vô lượng kiếp thì hiện
thực trong trạng thái trần truồng, không hóa trang, không che
đậy. Đó là lúc tâm hiện thực là tâm, tự do, trống không,
chân thực, phục hồi lại uy thế nguyên sơ. Đó là lúc thấm
nhuần niềm vui, không phải thứ vui có thể bị phá bỏ bất
cứ lúc nào bởi cái buồn đối cực, mà là một niềm vui
tuyệt đối, một “ân sủng của Chúa” khiến con người
“hưởng mọi sự tốt lành trong mỗi việc làm”, một niềm
vui không gì bớt được, không gì thêm được, một niềm
vui đời đời viên mãn vậy. Vậy, trong Thiền, vô chấp là
một khái niệm tích cực, chớ không ngụ ý khiếm khuyết.
Phương cách tư tưởng của Phật giáo đôi khi khác hẳn với
người Tây phương, nên bạn đọc Công giáo thường rất bỡ
ngỡ trước khái niệm “không”, cũng như trước những chủ
trương duy tâm duy niệm tuyệt đối ấy. Tuy nhiên, điều cần
lưu ý là các nhà huyền học, dầu thuộc Phật giáo hay không,
đều đồng ý nghèo là chỗ đến cuối cùng của diễn trình
tu chứng.
Trong
Công giáo, hầu như chúng ta còn vướng nặng ý thức về Chúa
dầu rằng ta nói rằng ta sống, ta hành động, ta hiện hữu
ở nơi Chúa. Thiền muốn ta xóa bỏ, nếu được, cả đến
dấu vết cuối cùng ấy của tư tưởng về Chúa. Nên các
bậc thiền đức khuyên ta:
Chỗ
nào có Phật chớ đứng lại
有
佛 處 不 得 住
Chỗ
nào không Phật chạy lẹ qua
無
佛 處 急 走 過
(Triệu
Châu)
Tất
cả công phu tu tập của chư tăng tại Thiền Đường, về
thuyết cũng như hành, đều đặt căn bản trên “hành động
không công đức” ấy. Nói một cách thơ mộng hơn, đó là:
Bóng
trúc quét trên thềm nhà
Mà
không một hột bụi dấy lên
Ánh
trăng rơi trong lòng nước
Mà
không dấu vết gì lưu lại.
Nếu
diễn theo lối Ấn Độ bằng thuật ngữ Lăng Già, đó là:
“Tập
khí không khác với tâm mà cũng không đồng với tâm; dầu
bao trùm trong tập khí, tâm vẫn không có tướng sai khác.
“Tập
khí, giống như một chiếc áo do mạt na thức dệt thành, khuất
lấp tâm không chiếu sáng được, dầu bổn lai tâm là một
chiếc áo vô nhiễm.
“Ta
nói rằng a lại da thức giống như hư không, chẳng có mà
cũng chẳng không; vì a lại da không can dự gì đến có không
hai tướng.
“Do
mạt na thức chuyển hóa, tâm gạn sạch hết ô nhiễm, đó
là chứng ngộ, vì từ đây nó thấu triệt tất cả: đó là
điều tôi dạy.
XII.
NGÔN NGỮ THIỀN
Sinh
hoạt ở Thiền Đường không phải hoàn toàn là chấp tác
cần lao, và tham công án. Ở hình thức nói pháp gọi là “thượng
đường”, hay “thị chúng”, còn có sinh hoạt trí thức
phần nào như tôi đã giới thiệu qua. Nhưng ngày xưa không
có thời “nhiếp tâm” có định kỳ, nên những buổi thượng
đường thường được tổ chức trong các ngày lễ, ngày vía,
hoặc trong những cơ hội thuận tiện khác như tiếp tân, giải
chức, hoặc lạc thành. Cơ hội nào cũng có thể dùng được
vậy nhằm mở trí cho những người nhiệt thành cầu chân
lý. Những bài giảng, bài pháp, bài phổ khuyến ấy, những
nhận xét ngắn, gọn, và sống động ấy đều được ghi
lại trong văn học Thiền mà phần lớn thật không chứa đựng
gì khác hơn. Tuy chủ trương “bất lập văn tự”, Thiền
lại đầy văn tự và đầy vun, đầy tràn nữa là khác. Trước
khi đưa ra vài bài nói pháp, tôi xin thừa hứng có vài lời
về Hoa ngữ, là thứ ngôn ngữ “chở” triết lý Thiền.
Theo
thiển ý, Hoa ngữ là thứ tiếng xứng tuyệt cho Thiền; chắc
chắn đó là phương tiện diễn đạt ưu tú nhất, ít ra xét
ở khía cạnh văn chương. Vì độc âm, nên lời gọn, ý mạnh,
một chữ buông ra là vô số nghĩa được gợi lên, thêm vào
đó ý lại lơ mơ hóa thành một lợi thế hiển nhiên. Thiền
tận dụng tánh chất thiếu thân xác ấy của ngôn ngữ luyện
thành một lợi khí nhuệ nhất đặt vào tay chư sư. Không
phải Thiền muốn tối nghĩa, muốn đánh lạc hướng, trái
lại là khác, nhưng sự thật thì một khi rời khỏi môi, chỉ
một tiếng đơn âm thích đáng ấy đủ sống động lên tất
cả ý nghĩa, gánh trọn tất cả giang sơn Thiền. Thiền sư
Vân Môn được coi là một cao thủ của kỹ thuật ấy có
tên riêng là “nhất tự quan”.[29]
Sau
đây vài câu chuyện chỉ rõ Sư cộc lốc đến chừng nào:
Một
ông Tăng hỏi: “Thế nào là gươm báu Vân Môn?”
- Tổ
祖