Luận
sáu
THIỀN
PHÁP THỰC TẬP
“Thiền
là gì?”. Đó là một câu hỏi rất khó trả lời, không thể
trả lời cho vừa ý người hỏi; vì Thiền từ khước tất
cả, cả ý định mô tả hoặc định nghĩa Thiền. Vậy, để
hiểu Thiền, phương pháp hay nhất hẳn là phải học thiền
và hành Thiền ít nhất vài năm tại Thiền đường. Thế nên
dầu đem hết tâm trí nghiền ngẫm thiên cảo luận này e bạn
đọc vẫn không khỏi hoang mang về đại nghĩa của Thiền
pháp.
Thật
vậy bản chất của Thiền thoát ngoài tất cả định nghĩa
và giải thích; nói một cách khác, không bao giờ chuyển hóa
Thiền thành khái niệm được, hoặc mô tả được bằng ngôn
từ hợp lý. Vì lý do đó, các Thiền sư tuyên bố thiền độc
lập với chữ nghĩa - bất lập văn tự - vì đó là một sự
truyền riêng ngoài tất cả giáo lý chánh thống - giáo ngoại
biệt truyền. Dầu vậy, mục đích của bài luận này không
nhằm chứng minh suông Thiền là cái không thể hiểu được,
và như vậy không ích gì bàn nói đến. Chủ tâm của tôi,
trái lại, là thử tận lực làm sáng tỏ ra, dầu kết quả
phải thiếu sót và lệch lạc. Muốn vậy, có năm bảy đường,
vì về Thiền, ta có thể đề cập đến dưới nhiều phương
diện khác nhau, về tâm lý, hoặc bản thể, hoặc hình tướng,
hoặc dõi theo dòng lịch sử như tôi đã trình bày phần nào
ở những bài trước. Phương diện nào cũng đặc biệt quan
hệ như nhau, muốn thông suốt hết phải nhiều năm chuẩn
bị. Ở đây, điều tôi định làm chỉ nhằm vào phương diện
thực tiễn của vấn đề nêu lên vài khía cạnh hành Thiền
theo như chư sư đã thực hành để khai thị môn đồ. Sự
tham cứu những tài liệu ấy sẽ giúp ta đi sâu vào tình thần
đạo Thiền và đạt đến chỗ tột cùng có thể đạt tới
được.
I.
TỔNG QUAN
Thiền,
theo thiển ý, là chỗ quy thúc cuối cùng của mọi triết học
và tôn giáo. Tất cả cố gắng tinh thần phải thúc kết tại
đó, hoặc phát ra từ đó, nếu muốn có được bất cứ kết
quả cụ thể nào. Tất cả tín ngưỡng đạo giáo phải trào
ra từ đó nếu muốn chứng tỏ có hiệu năng và sinh lực
tác động vào sinh hoạt của chúng ta. Vậy, Thiền phải đâu
là nguồn nước riêng tư cho tư tưởng sinh hoạt Phật giáo;
nguồn Thiền cũng rất dồi dào trong Công giáo, Hồi giáo,
Lão giáo, và cả trong Khổng giáo duy thực nữa. Tất cả nhưng
tôn giáo và triết học ấy, sở dĩ đầy khởi sắc và sinh
lực, sở dĩ giữ được tinh thần giúp ích đầy hiệu năng,
vì trong đó có cái tôi gọi là yếu tố thiền. Nếu chỉ
bằng vào triết lý kinh viện suông, hoặc nghi thức hành đạo
suông, chắc chắn không bao giờ gây được một lòng tin sống
động. Tôn giáo đòi hỏi đến cái gì kích động tự bên
trong mới có đủ nội lực để hành động và tác động.
Tri thức vẫn có chỗ dùng trong phạm vi của nó, nhưng nếu
nó muốn bao trùm luôn miếng đất tôn giáo ắt cuộc sống
phải cạn nguồn. Còn tình cảm, cũng như tín ngưỡng suông,
bởi mù quáng, nên gặp gì nắm lấy, chấp làm cái thực cứu
cánh. Sự cuồng tín vẫn đầy sinh lực thật đấy, bởi nặng
bổn chất bạo phát, dễ nổ, nhưng đó không phải là tôn
giáo chân chánh, nên hậu quả khó tránh là dễ gây sụp đổ
cho toàn thể hệ thống, chưa nói đến vận mạng của chính
nó. Thiền là cái đưa đạo tâm vào con đường chánh, và
đem sinh khí đến cho trí thức.
Sở
dĩ vậy vì Thiền đem đến cho con người một cái nhìn mới
phóng vào sự vật, một cách thưởng thức mới cái chân thiện
mỹ của vũ trụ và nhân sinh, phát minh một nguồn tinh lực
mới tự tầng sâu thẳm nhất của tâm thức, và tạo ra một
cảm giác sung mãn và tự tại ở con người. Nói một cách
khác, Thiền tạo phép lạ bằng cách khám phá toàn bộ then
máy sinh hoạt nội tâm, và mở rộng ra cả một thế giới
từ trước chưa hề mơ tưởng đến. Đó có thể gọi là
một cuộc phục sinh. Và dầu rằng chủ trương đối lập
hẳn với tri thức luận giải Thiền lại có khuynh hướng
đề cao yếu tố trí giải lên trên tất cả trong toàn bộ
then máy cách mạng tâm linh – và như vậy Thiền là Phật
giáo vậy. Đúng ra ta nên nói Thiền sử dụng ngôn cú của
triết học lý giải.
Trong
Thiền Tông, yếu tố tình cảm hẳn là không bật nổi như
trong Tịnh Độ Tông, pháp môn chủ trương lòng tin là tất
cả. Thiền, trái lại, nhấn mạnh hơn ở cái thấy (kiến)
hoặc cái biết (tri) - cố nhiên biết bằng trực giác, chẳng
phải bằng luận giải.
Theo
Thiền lý, chúng ta đều bị trói buộc quá nghiệt ngã trong
nếp cảm nghĩ giả tạo, kẹt hẳn trong thế nhị nguyên đối
đãi. Không một cánh cửa “tương nhập” nào được phép
mở, không một sự “tương dung” nào giữa các đối thể
được phép xen vào cái hợp lý thường ngày của chúng ta.
Cái gì thuộc về Chúa thì chẳng phải ở thế gian này, và
cái gì thuộc về thế gian này thì chẳng hợp với thánh thể.
Đen chẳng phải là trắng, trắng chẳng phải là đen. Cọp
là cọp, mèo là mèo, không bao giờ là một được. Sông thì
chảy dài, núi thì cao ngất.
Sự
vật là vậy, tư tưởng là vậy, trong thế giới của tình
thức và của khuôn phép luận giải này. Thiền lật đổ kế
hoạch tư tưởng ấy, và thay vào một cái mới, trong ấy không
có cái hợp lý, mà cũng không có thị phi tư tưởng hai chiều.
Vì tập quán cổ truyền nên ta tin vào tư tưởng nhị nguyên
đối lập. Tin tưởng ấy có hợp với thực tế không, đó
là một vấn đề khác, cần khảo sát riêng. Thường ta không
tra hỏi thẳng ở sự vật mà chỉ chấp nhận càn những gì
thấm nhuần sẵn trong trí óc ta; vì chấp nhận như thế thì
gọn hơn, tiện hơn, và đời ta nhân đó được thoải mái
thêm phần nào - nhưng có thật vậy không? Chúng ta ai cũng
nặng bản chất bảo thủ không phải vì ta lười, mà chính
vì nông nổi ta muốn được an phận thủ thường. Nhưng rồi
có lúc cái hợp lý cổ truyền ấy tỏ ra không thật nữa,
ấy thế là bắt đầu ta cảm thấy đủ thứ mâu thuẫn và
rạn nứt, và cố nhiên đủ thứ khắc khoải ê chề ray rứt
tâm hồn ta. Ta đánh mất cái thế an vui tưởng hưởng được
khi ta nhắm mắt đi theo những nếp cảm nghĩ ngàn đời. Eckhart
nói rằng chúng ta ai cũng tìm đến chỗ nghỉ yên, dầu hữu
ý hoặc vô tình, như những cục đá cứ lăn lóc mãi cho đến
khi gặp đất. Thật ra niềm yên vui ta tưởng hưởng được
trước ngày ta mở mắt trước những mâu thuẫn nằm trong
nếp sống luận lý cũng ví như hòn đá tiếp tục rơi xuống
đất, không phải là cái yên vui chân thực. Đâu là miếng
đất thuần nhất bất nhị (non-dualism) để ta được nghỉ
yên trong vui tươi và hạnh phúc? Xin dẫn lại lời Eckhart:
“Có
lắm người tưởng rằng ta phải thấy Chúa y như Chúa đứng
bên này, còn ta đứng bên kia. Đâu phải vậy. Chúa với tôi
chỉ là một trong động tác thấy Chúa của tôi”.
Chính
trong cái “chỉ là một” tuyệt đối ấy Thiền đặt căn
bản cho đạo pháp.
Khái
niệm “chỉ là một” không thuộc độc quyền của Thiền;
nhiều tôn giáo, triết học khác cũng giảng chung giáo lý ấy.
Giống như các đa thần, nhất thần giáo khác, Thiền chỉ
nêu suông nguyên tắc ấy, ngoài ra không có yếu tố đặc
thù nào hết, ắt nó không tồn tại như hiện nay. Nhưng trong
Thiền có cái gì độc đáo riêng tạo thành sinh mạng Thiền,
và chứng minh tin tưởng Thiền là di sản tinh thần cao quý
nhất của văn hóa Đông phương. Vài cuộc đối thoại sau
đây cho ta một ý niệm về phương pháp tu tập Thiền.
Một
ông tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu (778-897) một cao tăng Trung
Hoa: “Thế nào là câu nói cùng tuyệt?”[1] Thay cho lời đáp
thỏa đáng, Sư chỉ nói: “Phải”. Ông tăng không nhận ra
ý nghĩa của chữ “phải”, tưởng là Sư chưa đáp, bèn
hỏi lại. Sư hét to: “Bộ tôi điếc sao?”
Lần
khác, cũng về câu nói cùng tuyệt ấy, Triệu Châu ho. Ông
tăng hỏi gạn: “Như vậy đó chăng?” – “Già cả như
bần đạo ho chút không được sao?”, Sư hỏi quật lại ông
tăng.
Lần
khác, vẫn với Triệu Châu, có ông tăng hỏi:
- Thế
nào là đệ nhất cú?
- Ông
hỏi gì?
Ông
tăng lặp lại: “Thế nào là đệ nhất cú?”
- “Ông
biến thành nhị cú rồi”, đó là lời phán quyết của Triệu
Châu[2].
Một
ông tăng hỏi Thủ Sơn (926-992):
Người
xưa nói: “Có một câu ai thấu được là tự nhiên siêu thoát
ngàn ức kiếp nghiệp thân”[3], đó là câu nói gì? Sư đáp:
“Trước
mũi ngươi đó”.
- Rốt
ráo nghĩa là gì ?
- Tôi
chỉ biết nói thế.
Như
ta thấy đó, thật không gì tầm ruồng hơn là giải quyết
như vậy vấn đề trọng đại nhất của nhân sinh, là cái
một, hoặc nguyên lý tối thượng! Nhưng đó chính là chỗ
độc đáo của Thiền, siêu lên lý luận, vượt ngoài vòng
khống chế của tư tưởng và phù hiệu hư ảo. Như đã nói
trước, Thiền không tin tri thức, không viện phép biện luận
cổ truyền đối đãi, tự nắm lấy vấn đề bằng những
thủ đoạn riêng.
Tôi
xin dẫn thêm vài thí dụ khác trước khi đi vào chánh đề.
Ngày kia có người hỏi lão sư Triệu Châu:
“Một
ánh sáng chia ra muôn ngàn ánh sáng, tôi xin hỏi do đâu có
cái ánh sáng một ấy?”
Câu
hỏi này, cũng như mấy câu hỏi trước đây, là một trong
số những vấn đề cao siêu và hóc búa nhất của triết học.
Nhưng lão sư khỏi bỏ công giải đáp, cũng không cần cãi
vã lắm lời. Sư chỉ vứt một chiếc giày cỏ đang mang, không
nói gì hết. Thế nghĩa là gì? Muốn hiểu, ta phải mở được
“con mắt thứ ba”, huệ nhãn, và tập nhìn sự vật bằng
một nhãn quang mới.
Còn
nhiều câu vấn đáp thuộc chung một đề mục. Xin dẫn vài
câu:
Một
ông tăng hỏi Thiền sư Lư Sơn: “Muôn vật rốt cùng trở
thành không, cái không trở thành gì?” Sư đáp:
- Lưỡi
ngắn quá không giảng được.
- Sao
lại ngắn quá?
- Trong
và ngoài đồng một thể “như”
Một
ông tăng hỏi Thiền sư Khê Sơn (?):
“Khi
nhơn duyên hết thì tất cả trở thành không, vậy cái không
trở thành gì?” Sư gọi tên ông tăng, ông tăng “vâng”.
Sư hỏi: “Đâu là cái không?” - Thỉnh sư chỉ dạy. Sư
đáp: “Cũng như tên rợ Hồ cắn hột tiêu”
Hỏi
về ánh sáng là hỏi về căn nguyên, còn hỏi về cái không
như trên là hỏi về mục đích, vì vấn đề cần giải quyết
là sự trở thành đến cực vi của cái không. Nhưng siêu lên
thời gian và lịch sử, Thiền chỉ nhận có trở thành trong
vô thủy và vô chung. Hễ biết căn nguyên của một ánh sáng
thì đồng thời ta cũng biết luôn đâu là chỗ đến của
cái không.
Các
Thiền sư chứng minh như thế nào cái thấy mới lạ ấy cho
môn đệ? Phương pháp dùng đến tự nhiên vượt ngoài thói
thường, lề lối, luận lý, nên người ngoài cuộc không hiểu
nổi. Mục đích thiên cảo luận này là mô tả những phương
pháp ấy, xếp thành hai loại chánh như sau :
- Phương
pháp nói
- Phương
pháp chỉ thẳng.
Phương
pháp nói có thể chia ra :
1.
Nói nghịch
2.
Nói vượt qua
3.
Nói chối bỏ
4.
Nói quyết
5.
Nói nhại ;
6.
Hét.. v.v...
Phương
pháp trực chỉ hoặc chỉ thẳng dùng đến cơ thể, và có
thể chia ra nhiều nhóm nhỏ như cử động, đánh đá, làm
một loạt động tác nhất định, sai bảo người làm, v.v...
Ở đây tôi không định đưa ra một bản xếp loại theo khoa
học, và đầy đủ tất cả phương pháp chư sư sử dụng
nhằm khai thị cho môn nhân trong diệu lý Thiền, nên không
tận dụng đề tài trong thiên cảo luận này. Sau này tôi sẽ
trình bày đầy đủ hơn về phép trực chỉ. Nếu bạn đọc
nhân đấy có được một sự hiểu biết nào về khuynh hướng
chung và đặc tánh Thiền, tác giả tự coi như nhiệm vụ đã
tròn.
II.
NÓI NGHỊCH
Chúng
ta đều biết các nhà huyền học thích dùng lối nói nghịch
để phô diễn cái thấy riêng. Chẳng hạn như nhà huyền học
Công giáo có thể nói như thế này: “Chúa là thật, nhưng
Chúa không là gì hết, Chúa là hư không vô biên; Chúa có mà
không có. Nước của Chúa khách quan hiện hữu ở ngoài và
đồng thời cũng ở trong tôi. Tôi là địa ngục là cũng là
thiên đàng”. Một thí dụ khác: Eckhart nói đến “cái hắc
ám thánh kinh” hoặc “cái động ngưng đứng”. Tôi tin rằng
lược qua phần văn học bí giáo, ta có thể lượm lặt đủ
câu đàm huyền luận diệu thành một pho hợp tuyển phi lý
nghịch đề.
Thiền
vẫn nằm trong công lệ ấy, có khác là ở cách diễn đạt
chân lý, Thiền có cái gì kỳ đặc của Thiền. Cái gì ấy
là sắc thái cụ thể và sinh động trong lối nói. Thiền không
chịu nổi cái trừu tượng. Xin đưa vài thí dụ.
Phó
đại sĩ[4]nói :
Tay
không: nắm cán mai
空
手 把 鋤 頭
Đi
bộ: lưng trâu ngồi
步
行 騎 水 牛
Theo
cầu qua bến nước
人
從 橋 上 過
Cầu
trôi nước chẳng trôi
橋
流 水 不 流
Thật
là phi lý không gì hơn, nhưng cái phi lý ấy lại tràn ngập
trong Thiền. “Hoa không đỏ, liễu không xanh”, đó là một
câu nói đầu miệng trong đạo Thiền, thuộc thể phủ định,
và được coi như tương đương với thể khẳng định này
:
Hoa
thì đỏ, liễu thì xanh. Đặt theo hình thức luận lý học,
câu ấy sẽ là thế này: “A vừa là A vừa chẳng phải là
A” Nếu vậy, tôi là tôi, mà ông cũng là tôi. Triết học
Ấn Độ gọi thế là tat tvam asi, “ông là cái kia”. Nếu
vậy thì thiên đường tức địa ngục, và Thiên Chúa tức
Sa Tăn.
Với
người Công giáo mộ đạo, thật không gì chói tai hơn là
Thiền? Ai đời Cam uống rượu mà Quít say! Ấy thế mà ông
Duy Ma, con người im lặng như sấm sét ấy[5], lại tâm sự
rằng ông bịnh vì chúng sanh bệnh. Quả thật tất cả những
tâm hồn chí thánh chí thiện đều thân thiết mang trong người
cái Đại Nghịch Lý của vũ trụ vậy. Nhưng tôi đi xa đề
quá rồi. Điều tôi muốn nói là, trong lối nói nghịch, Thiền
dám cụ thể một cách táo bạo hơn những đạo giáo huyền
học khác. Thật vậy, những câu nói của các phái này thường
chỉ lẩn quẩn quanh nhân sinh, hoặc Chúa, hoặc vũ trụ, còn
Thiền mang luôn cái điên đảo thị phi vào cả trong tình tiết
sinh sống thường tục hằng ngày. Thiền không ngại thờ ơ
chối bỏ tất cả những gì thân thiết nhất trong kinh nghiệm
của chúng ta. “Tôi đang viết đây mà chưa hề viết một
chữ; có lẽ ông đang đọc đấy, nhưng trong đời không có
ai đọc hết. Tôi điếc tôi mù, nhưng tôi thấy đủ thứ
sắc màu, phân biệt đủ tiếng động”. Cứ thế, các Thiền
sư tiếp tục mãi, không cùng.
Ba
Tiêu, một Thiền sư Cao Ly vào thế kỷ thứ chín, có lần
nói một bài pháp nổi tiếng như vầy:
Ông
có một cây gậy, tôi cho ông một cây gậy.
爾
有 挂 枝 孑 我 與 爾 挂 枝 孑
Ông
không có cây gậy nào, tôi đoạt mất của ông cây gậy
爾
無 挂 枝 孑 我 奪 爾 挂 枝 孑
Có
người hỏi Triệu Châu lão nhân, vị cao tăng ta được biết
qua nhiều lần, ví có người nghèo đến xin, Sư lấy gì cho.
Châu đáp :
“Ông
ta thiếu gì đâu?”
不
缺 少?
Lần
khác, cũng về câu hỏi nghèo, một Thiền sư đáp :
“Giữ
chặt lấy nó!”
Sau
đây là lời đáp có vẻ an ủi hơn của Nam Viện Huệ Ngung
( -952) cho một ông tăng cùng khốn:
“Chú
nắm trong tay thiếu gì châu báu”.
Nghèo
là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc hành đạo
- không phải chỉ nghèo về vật chất mà cả theo nghĩa tâm
linh. Sự nghiêm trì giới luật phải đặt trên một căn bản
thâm diệu hơn là điều chế dục vọng, dứt tham cầu, phải
là một cái gì vừa thiết thực, vừa “cao đạo”. Câu nói:
“nghèo ở tâm hồn” của Eckhart, dầu bên Công giáo muốn
hiểu thế nào, vẫn là một câu nói đầy ý nghĩa cho hàng
Phật tử, nhất là cho giới tu Thiền.
Thầy
Thanh Thoát đến bạch với Tào Sơn Bổn Tịch (840- 901), một
đại sư thuộc ngành Thiền Tào Động ở Trung Hoa:
“Thanh
Thoát con nghèo khó côi cút, xin hòa thượng chẩn tế”.
Sư
gọi: - Thanh Thoát !
- Dạ
!
Sư
nói: “Ở quán rượu Bạch Gia Thanh Nguyên[6], thầy nốc hết
ba chung sao còn nói rượu chưa dính môi?”.
Một
khía cạnh khác của cái nghèo được sư Hương Nghiêm phô
diễn trong bài kệ như sau:
Khứ
niên bần vị thị bần
Kim
niên bần thỉ thị bần
Khứ
niên vô trác chùy chi địa
Kim
niên chùy giã vô[7]
Lần
khác, một ông tăng hỏi Triệu Châu lão nhân ví có người
đến với sư trần trụi, không gì dính thân hết, Sư sẽ
bảo họ thế nào, Sư đáp :
“Vứt
hết đi!”.
放
下 來!
Nhưng
thử hỏi người trần trụi, không gì dính thân hết, thì
lấy gì mà vứt ? Còn với người nghèo khó, há có thể nói
tự nơi anh ta anh chẳng thiếu gì hết sao? Anh ta há chẳng
đang cần gì đến đây sao? Dầu những lời đáp trên có cao
kiến thế nào, những nghịch lý ấy vẫn khiến ta sửng sốt,
làm xáo trộn hết những nếp tư tưởng hợp lý quen thuộc
của ta. Câu nói:
“Nếu
là người thấu đạt nên bắt lấy bò của dân cày, đoạt
lấy cơm của kẻ đói” (Viên Ngộ)
若
是 本 分 人 須 是 有 驅 耕 夫 之 牛 奪 飢 人 之 食 底
手 腳
là
một khẩu đầu ngữ quen thuộc của các Thiền sư, các ngài
nghĩ rằng có như vậy ta mới có thể cày sâu hơn, cuốc bẫm
hơn miếng ruộng tâm của ta, và lấp đầy linh hồn ta đói
khát chân lý.
Người
ta kể rằng có người đặt cho ông Okubo Shibun, một họa sĩ
xuất thần vẽ trúc: làm một tấm bình phong rừng trúc. Họa
sĩ nhận lời, và đem hết ngón tuyệt kỹ tạo thành một
bức tranh trong đó trúc toàn một màu đỏ hoe. Khách hàng nhận
được tranh trầm trồ mãi tài khéo phi thường của họa sĩ,
tìm đến nhà họa sĩ để cảm ơn, nhưng thắc mắc ướm
hỏi: “Xin lỗi tiên sinh, sao trúc đỏ như vậy?” Họa sĩ
hỏi :
- Ấy
ông muốn nó màu gì?
- Cố
nhiên là màu đen.
Họa
sĩ hỏi bâng quơ : “Có ai thấy lá trúc đen bao giờ không
nhỉ ?”.
Khi
ta trót quen nhìn sự vật một cách nào đó, rất khó cho ta
đổi ý, và bắt đầu lại theo một đường lối khác. Màu
trúc có lẽ chẳng phải đỏ, chẳng phải đen, chẳng phải
màu vàng tím gì gì hết như ta tưởng. Có lẽ nó đỏ thật
đấy, có lẽ nó đen cũng nên. Ai biết? Và biết đâu những
điều ta tưởng là nghịch ấy rốt cùng chẳng gì là nghịch
hết ?
III.
NÓI VUỢT QUA
Ở
đây hình thức phô diễn của Thiền là phủ nhận và vượt
qua tất cả thế đối lập, tương đương phần nào với cái
via negativa của các nhà huyền học. Điều quan hệ, theo lời
chư sư, là đừng kẹt vào bất cứ mệnh đề nào trong bốn
mệnh đề sau đây gọi là tứ cú[8].Tứ cú là :
1.
A là A.
2.
A không là A.
3.
A vừa là A vừa không là A
4.
A không là A mà cũng chẳng không là A.
Hễ
có phủ nhận hoặc chấp nhận là chắc chắn ta rơi vào một
trong nhưng công thức luận lý ấy của phép biện chứng Ấn
Độ; hễ trí óc còn theo con đường mòn nhị nguyên ấy thì
hậu quả đó đành là không tránh được. Vì bổn thể của
lý luận là vậy nên, dĩ nhiên ta không thể phát biểu gì
khác hơn thế được. Nhưng Thiền cho rằng chỉ khi nào ta
không khẳng định cũng chẳng phủ định mới đạt lý. Hẳn
nhiên đó là thế kẹt hai đầu, nhưng đó lại là chỗ các
Thiền sư luôn luôn thúc giục ta phải vượt qua. Thử coi các
ngài thoát ra bằng cách nào.
Theo
Vân Môn (? - 949):
Tông
môn tôi (Thiền) ngang dọc tự do, nắm bỏ tùy lúc.
Một
ông tăng hỏi :
- Thế
nào là bỏ?
- Đông
đi Xuân lại.
Khi
Đông đi Xuân lại thì như thế nào?
Sư
đáp: “Gậy vát ngang vai, Đông Tây Nam Bắc, mặc tình đập
vào gốc mục[9]”
Đó
là con đường đạt tới tự do của một đại sư Trung Hoa.
Và đây, một con đường khác. Thường các sư cầm một cây
thước ngắn gọi là trúc bề, nhất là ở thời cổ bên Trung
Hoa. Tuy nhiên, bất tất phải có cây trúc bề, miễn có gì
cầm tay là nên chuyện.
Vậy,
hoà thượng Thủ Sơn (926 - 992) một cao tăng ở thế kỷ thứ
mười, ngày kia giơ cao cây trúc bề bảo đồ chúng :
Này
quý ông, nếu bảo cái này là cây gậy tức khẳng định,
nếu bảo chẳng phải là cây gậy tức phủ định; ngoài khẳng
định và phủ định, nói đi, nói đi: gọi là cái gì ? 汝
等 諸 人, 菩 喚 作 竹 篦, 則 觸 不 喚 作 竹 篦 則 肯;
汝 等 諸 人, 且 道 喚 作 其 麼?
Đó
là Thủ Sơn cốt giữ đầu óc chúng ta thoát ngoài nhưng ràng
buộc nhị nguyên và triết lý hư tưởng. Lúc ấy có một
ông tăng bước đến, nắm cây gậy trúc bề ở tay hòa thượng
và ném xuống đất. Đó là câu trả lời chăng? Đó là thủ
đoạn đáp lại lời thúc giục “nói đi” của Sư chăng
? Đó là con đường thoát ngoài bốn mệnh đề của “tứ
cứ”, siêu lên nếp tư tưởng luận lý chăng? Tóm lại, con
đường tự do giải thoát là vậy chăng? Trong Thiền không
có gì là khuôn là nếp hết, mỗi người tùy tiện giải quyết
nỗi khó khăn riêng mỗi cách khác nhau. Đó là chỗ độc đáo
của Thiền, đầy sinh khí sáng tạo.
Cùng
ý niệm ấy, Thiền Sư Vân Môn (? - 949) có lần giơ gậy lên
nói :
“Cái
gì đây?” Nếu nói là cây gậy, ông đoạ ngay địa ngục;
nếu chẳng phái là cây gậy thì là gì?”
Thủ
đoạn của Thiền sư Pi Mo (?) có khác hơn. Ông mang một cây
chĩa, hễ ai đến hỏi han gì là Sư kẹp chĩa ngay ót, và hét
to :
“Con
ma nào xúi ông làm thầy chùa không nhà? Con ma nào xui
ông đi ăn xin? Dầu nói được hay không nói được phen này
nhất định ông phải chết dưới cây chĩa của bổn hòa thượng.
Nói đi, mau lên!”.
Thiền
sư Đức Sơn (779-865) cũng thường sử dụng cây trụ trượng
nhằm mục đích ấy. Sư thường bảo đồ chúng :
Nói
được, ba chục hèo
道
得 也 三 十 棒
Nói
không được, ba chục hèo
道
不 得 也 三 十 棒
Hai
nhóm tăng trong chùa tranh nhau con mèo con, hòa thượng Nam Tuyền
(749-835) ra thấy, nắm lấy con mèo giơ lên cao, bảo: nói được
thì mèo sống, nói không được ta giết chết con mèo”.
Nói
được (đạo đắc) có nghĩa là nói một câu vượt qua cả
phủ nhận và khẳng nhận, nói một câu cùng tuyệt (tối sơ
nhất cú) như ta đã thấy trong câu chuyện có người hỏi
“Triệu Châu nhất cú là gì?” Không ai đáp, và Nam Tuyền
giết chết con vật khốn nạn. Nam Tuyền dường như quá nhẫn
tâm, nhưng quan điểm của Sư có thể là vầy: Nói “có”
là kẹt ở cái thế hai đầu. Nói “không” cũng kẹt như
nhau. Muốn đạt chân lý cần nhất phải tránh thái độ
nhị nguyên đối đãi ấy. Làm sao tránh? Nếu ống không thoát
khỏi ngõ cụt ấy thì không những con mèo mất mạng, mà cả
chính mạng ông, và cả linh hồn nữa, cũng mất nốt. Do đó
có thủ đoạn cực đoan của Nam Tuyền.
Chiều
đó, Triệu Châu về chùa, sư phụ kể lại câu chuyện ban
ngày. Châu bèn cởi ra một chiếc giầy cỏ, đội lên đầu,
rồi ung dung đi ra. Nam Tuyền nói: “Tiếc thay hồi sáng không
có thầy ở chùa để cứu mạng con mèo con”. Hành động
quái dị ấy, với Triệu Châu, là thượng sách xác lập chân
lý siêu việt lên cá cái “có” (sat) và cái “không”(asat).
Ngưỡng
Sơn (804-899) và sư phụ là Quy Sơn (771- 853) đều thuộc hàng
cao tăng ở đời nhà Đường. Thuở ấy Ngưỡng Sơn đang trụ
trì ở núi Đông Bình, quận Thiên Châu, Quy Sơn gởi đến
cho học trò một tấm gương kèm theo một phong thư. Ngưỡng
Sơn đưa gương lên trước đồ cúng bảo:
“Quy
Sơn gởi tôi tấm gương. Nói thử coi, gương của Quy Sơn hay
gương của Ngưỡng Sơn? Nếu của Quy Sơn sao nằm trong tay
Ngưỡng Sơn? Nếu của Ngưỡng Sơn, sao do Quy Sơn gởi đến?
Hễ nói được thì gương còn, không nói được ta sẽ đập
nát”.
Ngưỡng
Sơn lặp lại ba lần, nhưng không ai nói năng gì và tấm gương
bị đập nát.
Trường
hợp Ngưỡng Sơn đập gương này hệt như trường hợp Nam
Tuyền giết mèo trên. Trong hai trường hợp, đồ chúng không
cứu nổi mạng sống con mèo, không bảo vệ được tấm gương
quý, chỉ vì tâm chưa cởi bỏ được nếp trí thức nên không
mở được một lối thoát giữa mê đồ do hai sư phụ Nam
Tuyền và Ngưỡng Sơn chủ tâm gài vào. Phương pháp tu tập
các Thiền sư luyện cho môn đồ dường như hoàn toàn vô lý
vậy, mà còn tàn nhẫn vô lối nữa. Nhưng nhãn quang các ngài
luôn luôn đặt ở thực tại, tuy tuyệt đối mà vẫn có thể
đạt tới được ở thế giới tương đối dị biệt này.
Nếu chứng được chân lý ấy thì sá gì một bảo vật hay
một con thú phải hy sinh? Phục hồi lại linh hồn há chẳng
quan trọng gấp bội hơn cả cái khổ mất nước sao?
Hương
Nghiêm, đệ tử của Quy Sơn ta vừa biết trên, có lần nói
trong một bài pháp :
Ví
như có người lơ lửng trên miệng vực sâu muôn trượng,
răng cắn vào một cành cây, chân thõng giữa hư không, hai
tay không níu vào đâu được. Vì lúc ấy có người qua đấy
hỏi vọng lên: “Tổ Đạt Ma qua Tàu có ý nghĩa gì?”. Nếu
người trên cây mở miệng trả lời thì rơi mất mạng trong
vực sâu. Nếu không trả lời thì phụ lòng người hỏi. Trong
phút giây nguy kịch khó xử ấy, người ấy phải làm sao?
Đó
là tác giả đặt vấn đề phủ nhận tất cả đối thể
một cách bức bách không sao né tránh được. Người bị treo
trên miệng vực là người kẹt trong tình thế tiến thoái
lưỡng nan giữa cái chết và cái sống, không còn biện luận
gì được để thối thác. Con mèo có thể bị hy sinh trên
bàn thờ Thiền, tấm gương có thể bị đập nát, nhưng còn
mạng sống của chính mình, phải tính sao đây?
Tương
truyền ở một tiền kiếp Phật nhảy vào miệng quỷ la sát,
đổi mạng sống để được nghe trọn bài kệ chánh pháp[10]
Thiền,
cốt thực tế, muốn ta phát tâm đại hùng đại lực và cao
rộng như vậy, dám thí mạng sống nhị nguyên đổi lấy giác
ngộ và yên vui vĩnh viễn. Vì Thiền nói cánh cửa chỉ mở
ra khi hùng tâm ấy phát hiện.
Cái
có (asti) và cái không (nasti) của lý luận nhị nguyên thường
được các Thiền sư diễn bằng những chữ đối đãi thông
thường như sát (giết chết) và hoạt (cho sống), đoạt (cướp
lấy) và dữ (ban cho), xúc (khẳng định) và bối (phủ định)
v.v...
Thiền
sư Vân Môn (? - 949) ngày kia thượng đường giơ cao cây gậy,
nói :
Toàn
thể núi sông thế giới đều nằm trong cây trụ trượng này
cho sống hoặc giết chết.
Một
ông tăng bước ra hỏi :
- Thế
nào là giết ?
- Nó
đang chết.
- Thế
nào là cho sống ?
- Ông
nên làm chủ.
- Khi
không giết chết, không cho sống, thì thế nào?
Vân
Môn đứng dậy, đọc:
“Ma
ha bát nhã ba la mật đa”
“Tối
sơ nhất cú” là vậy.
Đó
là tổng đề của Vân Môn, cụ thể hòa đồng cả chính đề
và phản đề. Đó là lối thoát ngoài “tứ cú” không dùng
vào đâu được nữa.
IV.
NÓI CHỐI BỎ
Đến
đây là lối nói thứ ba, gọi là nói chối bỏ, hoặc nói
mâu thuẫn, chỉ về trường hợp các Thiền sư phủ nhận,
hoặ ngầm lặng hoặc ra mặt, những gì do chính miệng các
ngài nói ra, hoặc người khác nói ra. Cùng một người, và
cùng một câu hỏi, ba hồi các ngài nói “có”, ba hồi lại
nói “không”. Cũng có khi các ngài quyết liệt chối bỏ
một sự kiện rất hiển nhiên, thiên hạ đều biết. Thói
thường hẳn là ta không thể tin nổi các ngài, nhưng các ngài
nghĩ rằng Thiền lý cần phải có những mâu thuẫn và đính
chánh như vậy, vì Thiền có đường lối phê phán riêng; đường
lối ấy là chối bỏ tất cả những gì thói thường chúng
ta có lý do nhận là đúng, là dĩ nhiên, là thật. Dầu bề
ngoài điên đảo là vậy, bên trong vẫn một nguyên lý như
nhau quán xuyến toàn thể đạo Thiền, hễ nắm được đầu
mối ấy là mọi sự đảo lộn càn khôn trở thành cái thực
đơn giản nhất.
Một
ông tăng hỏi Huệ Năng (638-713) vị tổ thứ sáu khai diễn
đạo Thiền ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy và thứ tám:
“Ý
chỉ của Hoàng Mai, ai là người nhận được?” Hoàng Mai
là một ngọn núi, ngũ tổ Hoằng Nhẫn (601 - 674) trụ trì
ở đó; và ai cũng biết Huệ Năng học Thiền với Hoằng Nhẫn,
và nhận tâm ấn Thiền tại đó làm tổ thứ sáu. Câu hỏi
hẳn nhiên không phải là một câu hỏi thường, đặt ra cốt
có được một giải đáp về mặt “tướng”, nhưng thật
sự nhắm đến một đối tượng xa khác hơn. Và đây là lời
đáp của Lục Tổ:
- Người
nào hiểu pháp Phật thì được ý chỉ Hoàng Mai.
- Hòa
thượng có được không?
- Không.
- Tại
sao vậy?
Huệ
Năng đáp: Vì tôi không hiểu pháp Phật.
Có
thật Huệ Năng không hiểu pháp Phật không? Hay không hiểu
tức là hiểu, theo luân điệu của triết giáo Keng - Upanishad?
Câu
chuyện Huệ Năng tự mâu thuẫn như trên vẫn còn kín đáo
và xa xôi hơn câu chuyện Đạo Ngô Viên Trí (768-835) sau đây:
Đạo
Ngô thừa tiếp Dược Sơn Duy Nghiêm (751- 834) làm Thiền Sư,
ấy thế mà ngày kia Ngô xuống núi đến thăm Ngũ Phong, Phong
hỏi: “Ông biết lão túc Dược Sơn không?”. Ngô đáp: “Không
biết”. Phong hỏi gạn lại: “Tại sao không biết ?”. Ngô
một mực đáp lớn: “Không biết, không biết”. Ấy đó,
thật là quái gở. Đạo Ngô tuyệt không đưa ra lý do nào
hết, chỉ quyết liệt phủ nhận một sự việc quá hiển
nhiên đối với thế tục chúng ta.
Một
chuyện mâu thuẫn khác sau đây của Thiền sư Thiết Chuỳ
Giác, cứng rắn hơn, tỏ rõ, dứt khoát, thường được truyền
tụng trong giới tu Thiền. Giác là đệ tử của Triệu Châu.
Giác đến viếng hòa thượng Pháp Nhãn (885-958), một cao tăng
đương thời. Pháp Nhãn hỏi: “Lúc rày Thượng Tọa ở đâu
nay đến đây?”. Giác đáp :
- Triệu
Châu.
- Tôi
nghe Triệu Châu có câu nói “cây bách trước sân” có phải
vậy không?
- Không.
Pháp
Nhãn gạn hỏi: “Mọi người đến đây đều thuật rằng
có chú điệu hỏi Triệu Châu “Tổ Đạt Ma qua Tàu có ý
nghĩa gì”, Châu đáp: “Cây bách trước sân”[11] sao Thượng
Tọa lại nói không có?”. Giác rống to: “Tiên sư tôi thật
không có nói câu ấy mà. Xin hòa thượng chớ phỉ báng Tiên
sư tôi”. Pháp Nhãn rất tán thành thái độ ấy ở người
học trò của lão túc Triệu Châu, khen: “Đúng là con dòng
sư tử”.
Trong
văn học Thiền, sự đông độ của Bồ Đề Đạt Ma thường
được đặt làm đề tài luận giảng. Người ta thường hỏi
nhau về mục đích xác thực của Bồ Đề Đạt Ma sang Tàu[12]
tức thực sự hỏi về nguyên lý tột cùng của Phật giáo,
chớ không liên quan gì đến duyên cớ riêng Đạt Ma cỡi sóng
biển đến một địa điểm nào đó ở miền Nam Trung Hoa,
tức không can dự gì đến sự kiện lịch sử vậy. Với câu
hỏi tối trọng ấy, biết bao lời đáp được đưa ra, câu
nào cũng khác lạ hẳn nhau, và quái đản như nhau, nhưng theo
chư sư, tất cả đều thể hiện tuyệt diệu chánh pháp Thiền.
Những
câu nói mâu thuẫn, nghịch lý, phủ nhận như vậy là kết
quả không tránh được của nhãn quang Thiền phóng vào cuộc
sống. Vì phép hành Thiền toàn đặt trọng tâm ở trực giác
cốt bắt lấy chân lý nội tại khuất sâu trong tâm thức
ta. Chân lý ấy khi hiển lộ ra, hoặc thức tỉnh dậy ở trong
ta, là nó thách hết tài vận dụng khối óc, hay ít ra nó không
thể chia sớt được cho người nào khác bằng bất cứ công
thức biện chứng nào. Chân lý ấy phải thoát ra từ trong
ta, lớn mạnh ở trong ta, và trở thành một với con người
của ta. Kỳ dư mọi thứ khác, như khái niệm và phù hiệu,
không thể làm gì khác hơn là chỉ con đường đi đến chân
lý. Đó là điều các Thiền sư phát tâm làm. Nên mọi chỉ
dẫn của các ngài đều tự nhiên thoát ngoài thông lệ, và
tươi mát khác thường. Mắt đặt thẳng vào chân lý tối
thượng, các ngài tùy nghi dùng bất cứ phương tiện nào nhằm
đạt cứu cánh, chẳng cần biết đến bất cứ điều kiện
và hậu quả hợp lý nào. Thái độ dửng dưng ấy đối với
luận lý đôi khi còn được các ngài chủ tâm xác định,
cốt minh thị chân lý Thiền không liên can gì đến tri thức.
Đúng như kinh Bát Nhã nói: “Không pháp nào nói được nên
gọi là nói pháp”[13].
Quan
tướng quốc Bùi Hưu đời nhà Đường là người ham mộ đạo
Thiền theo học với tổ Huỳnh Bá. Ngày kia Bùi trình lên Huỳnh
Bá một bản thủ bút ghi lại chỗ thấy của ông về đạo
Thiền. Huỳnh Bá cầm lấy, để trước mặt, không liếc qua,
im lặng giây lâu, rồi hốt nhiên hỏi :
- Ông
hiểu không ?
- Không
hiểu
Sư
nói: “Nếu có hiểu là có Thiền. Còn bằng vào giấy trắng
mực đen thì tông môn tôi không có ở đó”.
Một
câu chuyện tương tợ sẽ thuật lại ở phần sau[14]trong cuộc
hội kiến giữa Bạch Ẩn và Chánh Thọ.
Là
một sự kiện sống, Thiền chỉ có trong việc xử kỷ tiếp
vật với cái sống. Tri thức cũng vậy, chỉ thật, chỉ linh
hoạt, chỉ đáng kêu gọi đến, khi nào nó trào thẳng ra từ
mạch sống. Bằng không, không một sự tinh thông văn học
nào, không một sự phân tách thông thái nào có thể dùng vào
đâu được trong việc tu thiền tập định.
V.
NÓI QUYẾT
Đến
đây, hầu như Thiền chỉ là một triết giáo chuyên phủ định
và mâu thuẫn trong khi sự thật Thiền vẫn có khía cạnh khẳng
định riêng, và đó là chỗ độc đáo của Thiền. Ở mọi
hình thức huyền học khác, hoặc thuộc tình hoặc thuộc lý,
hầu hết các câu nói đều nặng tánh chất phổ quát và trừu
tượng nên không khác lạ gì hơn những mệnh đề triết học.
Chẳng
hạn ta thử đọc Blake:
Thấy
toàn thế giới trong một hột cát
Toàn
bầu trời trong đóa hoa đồng
Nắm
vô biên trong lòng bàn tay
Và
vĩnh cửu trong một giờ thấm thoát
To
see a world in a grain of sand
And
a heaven in a wild flower
Hold
infinity in the palm of your hand
And
eternity in a hour.
và
đây là những tình cảm tinh tế trong lời thơ của Wither:
Bằng
tiếng suối róc rách
Bằng
tiếng cây rì rào
Bằng
khóm cúc lá sum sê
Khép
lại khi Titan đi ngủ;
Bằng
lùm cây rậm mát
Nàng
truyền cho tôi nhiều hơn
Là
thiên nhiên truyền tất cả mỹ cảm
Cho
những người thông minh tuyệt vời khác.
By
the murmur of a spring
Or
the least bought’s rustling;
By
a daisy, whose leaves spread
Shut
phen Titan goes to bed ;
Or
a shady bush or tree
She
could more infuse in me
Than
all nature’s beauties can
In
some other wiser men
Kể
ra những tình tứ đầy thơ mộng và u huyền của những tâm
hồn siêu cảm trên không đến đỗi khó hiểu lắm, dầu phỏng
mấy ai am tường một cách chính xác họ cảm gì. Cả đến
khi Eckhart nói: “Tôi thấy Chúa bằng con mắt nào thì Chúa
thấy tôi vẫn bằng con mắt ấy”, hoặc khi Plotinus nói rằng
“Tâm là cái khi phản tỉnh thì có tư tưởng trước khi nó
tư tưởng về chính nó”, ý nghĩa những mặt ngôn ấy có
lẽ không vượt hẳn ngoài tầm hiểu biết của ta, ít ra trên
phương diện khái niệm. Nhưng đến nhưng câu nói của các
Thiền sư thì thật không còn biết rờ vào đâu được. Những
lời nói quyết hoặc khẳng định của các ngài, ít ra trên
hình thức, thật lạc lõng và sang đàng, thật phi lý và vô
nghĩa đến đỗi người ngoài cuộc không biết đầu đuôi
ra sao hết.
Sự
thật là cả đến các bậc huyền học, dầu đã được siêu
thăng, vẫn chưa gội sạch hết sắc thái tri thức, thường
vẫn còn lưu dấu bước chân đi qua khiến thế nhân có thể
phăng mối cảnh đào nguyên các ngài chứng đến. Bước thăng
hóa của Plotinus “bay lướt từ cái một mình đến cái một
mình” hẳn là một công thức cực kỳ bí mật chứng tỏ
ông đã chứng sâu vào “thánh tạng” của tâm thức. Tuy
nhiên, đó vẫn còn có chút tì vết suy luận hoặc siêu hình;
nếu đem so với những câu nói Thiền sau đây, các Thiền sư
chắc sẽ bảo rằng các ngài còn nhiễm chút tướng hương
vị huyền đàm[15].Hễ các ngài còn buông thả trong những
phủ nhận, đính chính, mâu thuẫn hoặc nghịch lý thì vết
suy luận chưa gội sạch hết được.
Cố
nhiên Thiền không chống lại suy luận, vì suy luận vẫn là
một quan năng của tâm thức. Nhưng Thiền vạch riêng một
con đường hoàn toàn khác, tôi thiết tưởng có thể nói là
con đường độc đáo, và duy nhất, trong cuốn sử truyền
học, dầu đông hay tây, dầu đạo Chúa hay đạo Phật. Một
vài thí dụ sau đây đủ biểu minh điểm ấy.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu: “Kinh nói muôn vật trở về cái
một, vậy cái một trở về cái gì?”. Châu đáp:
“Khi
tôi ở Thanh Châu có may cái áo nặng bảy cân”
我
在 青 洲 作 一 領 布 衫 重 七 斤
Một
ông tăng hỏi Hương Lâm:
“Tổ
Đạt Ma qua Tàu có ý nghĩa gì ?”
如
何 是 祖 師 西 來 意?
Lâm
đáp :
Ngồi
lâu hóa mệt.
坐
久 成 勞
Đâu
là chỗ liên hệ luân lý giữa câu hỏi và câu đáp?
Phải
chăng Thiền sư ám chỉ truyền thuyết chín năm diện bích
của Đạt Ma ? Nếu thế thì sự hoằng hóa của Tổ Sư hóa
ra công toi sao, vì không được gì khác hơn là cảm giác thấm
mệt ?
Một
ông tăng hỏi Thiền sư Hoa Sơn (?): “Thế nào là Phật”,
Sư
đáp :
“Tôi
biết đánh trống, tum đùng đùng”
Mã
Tổ bịnh, ông viện chủ đến vấn an: “Hòa Thượng cảm
thấy thế nào?”. Mã Tổ đáp: "Nhật diện Phật, Nguyên diện
Phật”, và có nghĩa là Phật mặt hình mặt trời, Phật mặt
hình mặt trăng.
Một
ông tăng hỏi Triệu Châu “khi xương trắng tan hết thì cái
linh diệu tồn tại đời đời ấy như thế nào?” Châu đáp:
Bữa
nay nổi gió.
Một
ông tăng hỏi Thủ Sơn “thế nào là đại nghĩa của pháp
Phật?”, Sơn ngâm thơ:
Bên
cạnh thành vua Sở
楚
王 城 畔
Sông
Nhữ chảy về đông
汝
水 東 流
Có
người hỏi Mục Châu “thầy của Phật là ai?”, Sư khẽ
hát: “Tình tinh tang tang tính tình”.
Vẫn
với sư Mục Châu ấy, có người hỏi “thế nào là Thiền?”,
Sư đáp: “Nam Mô Tam Bảo”.
Người
ấy thú nhận không hiểu, xin dạy thêm, Sư thét: “Đồ súc
sinh, sao mà nặng nghiệp thế?”.
Cùng
một câu hỏi ấy, lần khác Sư đáp:
“Ma
ha Bát nhã Ba la mật đa.”
Người
hỏi không hiểu gạn hỏi thêm, Sư ngâm thơ:
“Áo
thầy rách đã bao năm
Gió
tung từng mảnh bay vồng lên mây.”
Lại
có người hỏi “thế nào là giáo lý siêu Phật vượt Tổ?”,
Sư giơ cao cây trụ trượng trước tăng chúng nói to:
“Tôi
gọi cái nầy là cây trụ trượng, còn các ông gọi là gì?”
Không
ai trả tời, Sư lại giơ cao cây gậy lên, xoay qua phía người
đặt câu hỏi, hỏi lại: “Có phải ông hỏi tôi giáo lý
siêu Phật vượt Tổ không?”
Có
ông tăng hỏi Nam Viện “thế nào là Phật”, Sư hỏi lại:
“Cái
gì chẳng là phật?”
Rồi
Sư hạ đường, không thêm một tiếng.
VI.
NÓI NHẠI
Giảng
về sự liên quan giữa chúa và người, Eckhart có lần nói:
“Ví như có người đứng trước ngọn núi cao hô to: “Vô
đi”, tiếng dội liền đáp lại: “Vô đi”. Nếu hô: “Ra
đi”, tiếng dội đáp lại: “Ra đi”[16].
Trong
nhưng lời đáp của các Thiền sư sau đây, xếp dưới mục
“nói nhại”, có gì tương tợ như lời ví trên. Người
sơ cơ khó nhận ra ý nghĩa ẩn trong những câu lặp lại như
két ấy, đôi khi còn như tiếng nhái ghẹo của chư sư.
Trong lối nói ấy thật sự tiếng nói chẳng có giá trị gì
hơn là một thứ âm thanh, nên nếu hiểu được thâm ý là
hiểu ở sự đồng vọng lại, không phải ở tiếng nói.
Cái hiểu ấy phải phát ra từ sinh hoạt nội tâm vậy, và
sự vọng lại chỉ cốt tạo cơ duyên thức tỉnh cho người
thiết tha cầu chân lý. Khi tâm của đệ tử được chuyển
theo chiều thích đáng nào đó để sẵn sàng vỡ ra một âm
điệu nào đó, Thiền sư khẽ vặn một vòng khóa, ấy thế
là bài hát bừng lên, hợp tiết tấu, bài hát không học ở
ai hết mà chính khám phá ra tự trong chính mình. Cứ chỉ vặn
khóa ở đây tức là lặp lại câu hỏi, và đó là chỗ ta
cần quan tâm trong những câu chuyện trích dẫn sau đây:
Trường
Thủy Từ Huyền hỏi Thiền sư Huệ Giác ở núi Lang Gia, thuộc
tiền bán thế kỷ mười một:
“Cái
thanh tịnh bổn nhiên nhân sao bỗng dưng sanh núi sông thế
giới?”
Cái
hỏi mượn ở kinh Lăng Nghiêm, đoạn Phú Lâu Na hỏi Phật
tại sao cái Chân Như Tuyệt Đối hốt nhiên hóa thành thế
giới hiện tượng nầy [17].Đó là một vấn đề triết học
vĩ đại từng làm điên đầu tất cả những khối óc lớn
ở tất cả thời đại. Bao nhiêu lời giải thích nối tiếp
nhau trong lịch sử, tư tưởng đều có những sở đoản riêng,
ở chỗ nầy hoặc chỗ khác.
Tứ
Huyền bề nào cũng là một triết gia trong thế giới của
ông, nên tìm đến thầy xin soi sáng vấn đề ấy. Nhưng lời
đáp của thầy lại không phải một lời đáp theo lối thường,
vì để đáp lại, thầy chỉ lặp nguyên lại câu hỏi của
trò:
“Cái
thanh tịnh bổn nhiên nhân sao bỗng dưng sanh núi sông thế
giới?”
Dịch
ra tiếng Việt câu nói mất nhiều ý vị. Xin đọc thẳng nguyên
văn Hán tự như sau :
“Thanh
tịnh bổn nhiên vân hà hốt sanh sơn hà đại địa?”
清
淨 本 然 云 何 忽 生 山 河 大 地?
Còn
nữa, chưa hết đâu. Vì sau đó, vào thế kỷ mười ba, một
cao tăng khác là Thiền sư Hư Đường còn đem câu chuyện ấy
ra bình giảng một cách vô cùng bí hiểm. Ngày kia Sư thượng
đường nói thế nầy:
Khi
Từ Huyền hỏi Huệ Giác: “Thanh tịnh bổn nhiên vân hà hốt
,sanh sơn hà đại địa” , câu hỏi dội ngược lại người
hỏi, và người hỏi liền mở được con mắt đạo. Vậy,
tôi hỏi các ông thế là thế nào? Câu hỏi với lời đáp
há chẳng là một câu như nhau sao? Từ Huyền tìm thấy lý
huyền vi gì ở đó? Tôi xin bình giảng cho quí ông nghe”.
Nói xong, Hư Đường cầm phất tử đập vào ghế, giáng rằng
:
"Thanh
tịnh bổn nhiên vân hà hốt sanh sơn hà đại địa?”
Lời
giảng thật đã làm rối thêm vấn đề thay vì mở gút.
Luôn
luôn vấn đề cái một (đơn) và cái nhiều (phức), tâm và
vật, tư tưởng và thực tại, vẫn là một vấn đề lớn
của triết học. Thiền, bởi lẽ chẳng phải duy niệm luận
mà cũng chẳng phải duy thực luận, đề nghị một đường
lối giải quyết riêng như ta vừa thấy biểu hiện trong câu
chuyện “thanh tịnh bổn nhiên”.
Câu
chuyện sau đây cũng giải quyết bài toán ấy một cách kì
thú hơn. Một ông tăng hỏi Trường Sa:
“Làm
sao chuyển non sông đất nước trở về cái tự kỷ?”
如
何 轉 得 山 河 國 土 歸 白 己 去?
“Làm
sao chuyển cái tự kỷ thành non sông đất nước?”
如
何 轉 得 白 己 成 山 河 國 土 去?
Ông
tăng thú thật không hiểu. Sư giảng:
Chợ
búa Hồ Nam dân giả tốt
湖
南 城 下 好 黎 民
Củi
nhiều gạo rẻ xóm làng đông.
米
賤 柴 多 足 四 鄰
Ông
tăng trầm ngâm. Sư cho thêm bài kệ:
Sao
hỏi non sông chuyển
誰
問 山 河 轉
Non
sông chuyển đến gì?
山
河 轉 向 誰
Viên
thông
không hai phía
圓
通 無 兩 畔
Pháp
tánh chẳng về đâu[18]
法
性 本 無 歸
Đầu
Tử Đại Đồng, tịch năm 914 , đời nhà Đường, có lối
trả lời bằng cách chỉ lặp lại một chữ, gọi là nhất
tự pháp môn.
- Thế
nào là Phật ? - Phật.
- Thế
nào là Đạo ? - Đạo
- Thế
nào là Pháp ? - Pháp.
Triệu
Châu hỏi Đại Từ Khoan Trung thuộc thế kỷ thứ chín:
- Thế
nào là bổn thể của Bát Nhã?
Khoan
Trung không đáp gì khác hơn là lặp lại câu hỏi như một
tiếng vang:
- Thế
nào là bổn thể của Bát Nhã?
Thế
đủ cho Triệu Châu thích chí phá ra cười, sảng khoái.
Bát
Nhã là sự hiểu biết tối cao; với người Đại Thừa, bồ
tát Văn Thù là hiện thân của trí Bát Nhã ấy. Nhưng đây
không dính dấp gì đến Văn Thù hết. Câu hỏi đặt ra liên
quan đến khái niệm về thể chất Bát Nhã; vì lẽ Bát Nhã
là một hình thái hoạt động của tâm thức nên ắt có chỗ
trụ. Theo triết lý Phật giáo, có ba khái niệm chủ yếu biện
giải vấn đề hiện hữu: đó là thể, tức bổn chất, tướng,
tức hiện tượng, và dụng, tức hoạt động. Hoặc theo Trung
Đạo, ba khái niệm đó là người làm, sự làm, và cái làm.
Bát Nhã là một tác động của tâm thức, vậy đằng sau phải
có một tác nhân, một người làm, tức là thể. Nên câu hỏi:“Thế
nào là bổn thể của Bát Nhã?” được nêu lên. Có khác
là lời đáp chỉ là một câu lặp lại như một tiếng dội,
không giải thích gì hết, khiến ta càng hoang mang thêm. Các
Thiền sư không cho ta một mối chỉ nào để phăng tới cái
gì ta mới thoáng thấy ngoài mặt. Cái gì ấy, nếu ta cố
hiểu lấy bằng tri thức, ắt thoát mất khỏi ta. Ta phải
đến với nó trên một bình diện vô thức khác. Trừ phi ta
sinh hoạt chung trên một bình diện với chư sư, hoặc trừ
phi ta từ bỏ cái gọi là trí xảo, ngoài ra không có nhịp
cầu nào nối liền được với vực thẩm chia cách tri thức
suy luận của ta với những câu nói nhại như két kêu.
Trong
trường hợp trên chừng như ở những trường hợp khác, chủ
tâm của các Thiền sư là chỉ con đường thân chứng lý Thiền,
chớ không phải đưa ra một số ngôn từ, dầu rằng mọi
người, các ngài cũng như chúng ta, đều dùng nó làm phương
tiện truyền đạt tư tưởng. Lời nói, nếu phải dùng đến,
chỉ có thể đạt tình, không thể diễn ý, nên hoàn toàn
ta không thể hiểu gì được nếu ta cứ tưởng rằng câu
nói của các Thiền sư có gói ghém một ý nghĩa phải tìm
ra. Dầu vậy, lời nói không thể coi như vô tích sự được,
nhất là khi nó liên quan đến tình cảm hoặc kinh nghiệm.
Đó là điều cần nhận rõ để hiểu Thiền.
Lời
nói, với các Thiền sư, là một thứ tiếng la, tiếng than,
thoát ra từ sự thân chứng nội tại; nên không một ý nghĩa
nào có thể tìm thấy được trong hình thức ấy, mà phải
tìm ngay trong chính ta, từ nội tâm ta thức tỉnh chung nhau
trong một kinh nghiệm. Nên hiểu ngôn ngữ Thiền tức tự hiểu
chính ta, chớ không phải hiểu nghĩa của ngôn ngữ chỉ phản
chiếu những ý niệm, chớ không phải những cảm giác thân
chứng qua. Nên Thiền không thể nói được cho những người
chưa có tự chứng cũng ví như người chưa nếm mật ong không
thể tưởng tượng hương vị dịu ngọt của mật. Với những
người này, hương vị “ngọt” chỉ là một danh từ rỗng,
nghĩa là thiếu chất sống vậy.
“Ngũ
Tổ Pháp Diễn” (? - 1104) khởi đầu học triết lý Phật
giáo Duy Thức bách pháp luận[19].Ông đọc thấy câu này: “Khi
Bồ Tát vào chỗ thấy đạo thì trí (ý thức suy luận) và
lý (tâm thể trực giác) ngầm hợp nhau, cảnh (ngoại giới)
và thần (nội tâm) gặp nhau, không còn phân biệt có năng
chứng (chủ thể) và sở chứng (khách thể)”. Giới ngoại
đạo Ấn Độ từng vấn nạn lại rằng đã không phân biệt
năng chứng sở chứng thì làm sao có chứng. Các nhà Duy Thức
không đáp được lời công kích ấy. Pháp Sư Tam Tạng Huyền
Trang, lúc ấy đang ở Ấn Độ, đến cứu nguy các bạn lâm
nạn bằng câu nói này :
“Như
người uống nước, nóng lạnh tự biết”.
“Đọc
câu ấy, Ngũ Tổ tự hỏi: “Nóng lạnh có thể biết được
vậy cái gì khiến ta tự biết”[20]. Sư mang nỗi thắc mắc
ấy đến hỏi các pháp sư thông thái Duy Thức, không ai đáp
được. Có người bảo sư: “Ông muốn rõ ý ấy hãy sang
phương nam gõ cửa phái Thiền truyền tâm ấn Phật”. Thế
là rốt cùng Pháp Diễn đi đến với Thiền Tông.
Trước
khi đi sang đề tài tiếp theo, tôi xin trích dẫn một trường
hợp nói lặp khác. Pháp Nhãn Văn Ích (885-958) là tổ khai sáng
ngành Thiền Pháp Nhãn hưng thạnh đầu thế kỷ thứ mười.
Ngày kia, tổ hỏi Tu sơn chủ: “Sai một đường tơ đất
trời phân cách, ông hiểu thế nào?[21]Tu đáp: “Sai một đường
tơ, đất trời phân cách”. Pháp Nhãn nói: “Thế là nghĩa
lý gì?". Ông tăng bạch: “Tu tôi chỉ biết có vậy, còn ý
Hòa Thượng thế nào?”. Pháp Nhãn đáp ngay: “Sai một đường
tơ, đất trời phân cách” .
Pháp
Nhãn là một cao thủ của phép nói nhại. Và đây là một
câu truyện thích thú khác. Sau khi khổ công cầu Thiền với
năm mươi bốn pháp sư, Thiên Thai Đức Thiều (907- 971) rốt
cùng đến gõ cửa Pháp Nhãn ; nhưng thối chí cầu Thiền,
Sư chỉ nhịp bước cầm chừng theo đồ chúng thường. Ngày
kia, Pháp Nhãn thượng đường. Một ông tăng bước lên hỏi:
“Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?”[22] Pháp Nhãn
đáp: “Là một giọt nước nguồn Tào”. Ông tăng lựng khựng
không hiểu gì hết, trong khi ấy Đức Thiều tình cờ đứng
cạnh bỗng dưng sáng tỏ ý chỉ Thiền, mọi nghi niệm bấy
lâu ôm ấp ở thâm tâm hốt nhiên tiêu tan hết. Ngay lúc ấy,
Sư trở thành một người hoàn toàn mới lạ.
Những
thí dụ trên đủ minh chứng Thiền không thể cầu được
trong ngôn ngữ văn tự, dẫu Thiền vẫn dùng ngôn ngữ văn
tự để truyền đạt. Nắm lấy diệu lý Thiền, xuyên qua
ngôn ngữ, không phải nằm trong ngôn ngữ là một ngón tuyệt
kỹ phải trải qua vô số thử thách ê chề mới đạt tới
được. Đức Thiều sau ngày đốn chứng vào diệu pháp Thiền,
cố gắng miêu tả cái thấy của Sư mở ra “dưới câu nói”
của Pháp Nhãn. Đó là lúc Sư trụ trì ở chùa Bát Nhã, có
nói bài pháp như sau:
Sư
thượng đường, có một ông tăng hỏi: người xưa nói thấy
Bát Nhã tức bị Bát Nhã ràng buộc, chẳng thấy Bát Nhã cũng
bị Bát Nhã ràng buộc. Sao đã thấy Bát Nhã mà còn bị ràng
buộc là gì?
Sư
hỏi: Ông thấy Bát Nhã nói cái gì?
Ông
tăng hỏi: “Chẳng thấy Bát Nhã thì ràng buộc như thế nào?”
Sư
đáp: “Ông nói Bát Nhã chẳng thấy cái gì?”. Rồi tiếp:
Nếu thấy Bát Nhã, đó chẳng phải là Bát Nhã, chẳng thấy
Bát Nhã, đó cũng chẳng phải là Bát Nhã. Bát Nhã là cái
gì mà nói là thấy, và chẳng thấy?” Nên người xưa nói:
Nếu
thiếu một pháp (vật) chẳng thành Pháp thân,
Nếu
thừa một pháp chẳng thành Pháp thân,
Nếu
có một pháp (để thành) chẳng thành Pháp thân,
Nếu
không một pháp nào (để thành) chẳng thành Pháp thân.
Chư
thượng tọa, đó là chân tông Bát Nhã.
(Truyền
đăng lục, quyển 25)
Dưới
ánh sáng ấy, lối nói nhại như trên kể ra còn có thể lãnh
hội được phần nào.
VII.
1.HÉT
Như
đã trình bày trước, nguyên lý cơ bản của mọi phương pháp
dạy Thiền là cốt đánh thức ở nội tâm người cầu đạo
một năng khiếu nào đó để chính tự họ trực giác lấy
chân lý Thiền. Bởi vậy các Thiền sư thường dùng lối “tác
động thẳng” không phí thì giờ biện luận dông dài. Các
cuộc vấn đáp giữa sư đệ thường rất cô đọng, hầu
như không tuân theo khuôn phép lý luận nào. Phương pháp “lặp
lại”, cũng như các phương pháp khác, đủ chứng minh tỏ
rõ lời đáp của thầy chẳng nhằm giải thích, mà cốt chỉ
thẳng con đường trực ngộ Thiền.
Quan
niệm chân lý như một thứ sở tri ngoại thuộc mà chủ thể
năng tri phải nhận ra, phải vận dụng tri thức để lãnh
hội, là một kiến giải lưỡng nguyên đối đãi. Theo Thiền,
chúng ta toàn sống trực tiếp với chân lý, trong chân lý,
không thể lìa ngoài chân lý. Thiền sư Huyền Sa Sư Bị (535-905)
bảo chúng ta: “Cũng ví như các ông ngồi trong biển cả,
đầu vai ngập dưới nước, ấy thế mà các ông còn với
tay ngoắc người khác xin nước” .
Bởi
thế có ông tăng hỏi Huyền Sa: “Thế nào là cái tự kỷ
của người học đạo?”
Sư
hỏi lại ngay: “Ông dùng cái tự kỷ ấy làm gì?”
Nếu
đem ra mổ xẻ, câu đáp ấy ngụ ý rằng hễ vừa nói đến
cái tôi là tức khắc, và chắc chắn, ta tạo ra cái thể hai
đầu của cái tôi và cái chẳng phải tôi, như thế là rơi
vào những lầm lẫn của trí thức luận. Thiền có thể nói:
Ta ở trong nước, đấy là sự thực, và cứ ngồi yên thế
đi vì hễ hỏi xin nước là tức thì tạo ra giữa ta và nước
một quan hệ hình thức, và ta sẽ đánh mất hết tất cả
những gì thân thiết vốn là của ta.
Câu
truyện sau đây có thể giải thích tương tợ trong ánh sáng
ấy:
Một
ông tăng hỏi Huyền Sa: “Trộm nghe hòa thượng có nói suốt
mười phương thế giới là một khối minh châu, câu ấy nên
hiểu thế nào?”
Huyền
Sa đáp: “Suốt mười phương thế giới là một khối minh
châu, hiểu để làm gì?”
Ngày
sau Sư hỏi lại ông tăng: “Suốt mười phương thế giới
là một khối minh châu, ông hiểu thế nào?”
Ông
tăng đáp: Suốt mười phương thế giới là một khối minh
châu, hiểu để làm gì?”
Sư
nói: “Đúng là ông đang la cà ở động ma”.
Đó
là một trường hợp hơi giống lối nói lặp, nhưng có khác
hơn, có thể nói là nhiều trí xảo hơn.
Dầu
vậy, Thiền không bao giờ viện đến cơ trí suy luận, luôn
luôn chỉ thẳng đến những gì ta tìm cầu.
Ngày
kia Huyền Sa đãi trà vị võ quan vi giám quân. Vi hỏi:
Thế
nào là cái ta dùng mỗi ngày mà chẳng biết ?
如
何 是 日 用 而 不 知?
Sư
không đáp, mời Vi dùng trái cây. Vi dùng rồi, lặp lại câu
hỏi. Sư nói :
Đó
chính là cái ta dùng mỗi ngày mà chẳng biết.
只
者 是 日 用 而 不 知
Quả
đúng là một bài vạn vật học.
Ngày
khác, có ông tăng mới vào tòng lâm xin Huyền Sa chỉ cho con
đường vào đạo. Sư hỏi: “Ông có nghe tiếng suối róc
rách đó không?” – “Có nghe” – “Đó là chỗ vào của
ông”, Sư đáp (是 汝 人 處)
Phương
pháp của Huyền Sa cốt làm cho người tìm chân lý tự mình
hiểu thẳng trong chính mình thế nào là chân lý, thay vì thâu
thập lấy kiến thức qua tay trung gian. Đúng như Terstegen
nói: “Einbegriffener gott ist kein gott”[23].
Vậy,
ta không ngạc nhiên khi thấy các Thiền sư thường la hét để
đáp lại câu hỏi, thay vì đưa ra một lời giải đáp sáng
tỏ. Khi dùng lời nói thì ít nhiều gì vẫn còn có chỗ phăng
mối để dọ dẫm lý nghĩa, nhưng trước tiếng la tiếng thét
thì ta không còn biết rờ vào đâu nữa, trừ phi ta được
trang bị một thứ kiến thức khác thường hơn thuộc loại
tôi đã cố gắng đem đến cho quý bạn đọc.
Trong
số các Thiền sư thường dùng tiếng la hét quát tháo để
khai thị; hai vị nổi danh nhất là Vân Môn Văn Yển (? 949)
và Lâm Tế Nghĩa Huyền (? - 867), Vân Môn thì quát (quan:關),
còn Lâm Tế thì hét (ha:呵)
Nhân
ngày hạ mạt[24],Thúy Nham nói với tăng chúng :
“Từ
đầu mùa an cư đến nay, tôi vì chư huynh đệ nói khá nhiều.
Coi thử lông mi tôi còn không?”
Đó
là Thúy Nham nhắc đến truyền thuyết cho rằng người nào
giảng sai giáo pháp của Phật sẽ rụng hết lông mày. Thúy
Nham, suốt mùa an cư, đã nói nhiều bài pháp nhằm xây dựng
các huynh đệ trong khi không một lời nói năng nào giải thích
được đạo pháp là gì, vậy có lẽ lông mi của Sư đã rụng
hết rồi. Trên mặt chữ nghĩa, câu hỏi của Thúy Nham ngụ
ý là vậy, còn về Thiền lý hàm ẩn trong ấy là một việc
khác.
Bảo
Phước, một Thiền sư khác có mặt lúc ấy, nói:
“Làm
giặc, hỏng nhân tâm”
作賊人心虛
Trường
Khánh, một Thiền sư khác, nói: Mọc nhiều (生 也)
Vân
Môn, một cao tăng cuối đời Đường, quát lớn: “Quan!”
Quan
關 là cửa ải đặt ở địa đầu giữa hai nước để kiểm
soát toàn bộ hành và hành lý. Tuy nhiên, ở đây quan là quan,
không dính dấp gì đến đồn ải. Đó chỉ là một tiếng
hét, một thán từ, không có gì phải phân tách hoặc giải
thích.
Tuyết
Đậu (980-1052), vị Thiền sư chủ xướng trong bộ Bích Nham
Lục, có lời tụng về thán từ ấy như vầy: “Đã mất
tiền toi còn mang tội vạ”[25].
Còn
Bạch Ẩn (1683-1768) bình rằng: “Quả đấm, dầu giận mấy,
cũng không đánh vào mặt hoa” .
Chắc
rằng không thể bình giảng gì khác hơn được tiếng quát
ấy của Vân Môn. Nếu ta cố gán cho chữ “Quan” ấy một
khái niệm tri thức ắt lạc mất ngàn trùng trên mây xanh.
Lâm
Tế được coi như người đầu tiên chủ xương hét (hát),
nhưng trước đó có Mã Tổ (709-788), pháp tử của Nam Nhạc
(677-744), và là vị cao tăng mở một kỷ nguyên mới cho Thiền
sử, đã hét to khi Bách Trượng (724-814), đến tái vấn Thiền;
tiếng hét chát chúa đến đỗi Bách Trượng điếc tai ba ngày.
Nhưng
chính do Lâm Tế mà tiếng hét được đắc dụng và có hiệu
năng nhất, và sau này biến thành một ngón tuyệt kỷ của
Lâm Tế Tông khác hẳn với các ngành Thiền khác. Thật sự,
môn đệ Lâm Tế quá lạm dụng tiếng hét đến đỗi Lâm
Tế phải lên tiếng :
Tôi
nghe quý ông toàn học hét. Thử hỏi quý ông: Ví như mái tây
có người ra, mái đông có người ra, cả hai người cùng
hét. Các ông có phân biệt tiếng hét nào là khách, tiếng
hét nào là chủ không?”. Nếu các ông không phân biệt được,
từ đây cấm học tiếng hét của lão tăng.
Lâm
Tế phân biệt có bốn cách hét, tùy tiện mà dùng, gọi là
tứ hát. Đó là :
- Có
tiếng hét như gươm báu Vua Kim Cương,
- Có
tiếng hét như bốn vó sư tử vàng trụ bộ trên mặt đất.
- Có
tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ.
- Có
tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét[26]
Lâm
Tế ngày kia hỏi Lạc Phố, một đệ tử: Một người dùng
hèo đánh, một người hét, ông thấy người nào gần đạo
hơn?
Phố
đáp: Không người nào gần hết.
Sư
nói: Vậy sao mới là gần?
Phố
hét to: “ha!”
Sư
liền vung hèo đập.
Lối
đánh đá như thế là thủ đoạn quen thuộc của Đức Sơn
đối với Lâm Tế chuyên hét nhiều hơn, nhưng ở đây có
khác là Lâm Tế sử dụng hèo, còn ngón tuyệt kỹ của sư
lại do môn đệ sử dụng một cách khá ngoạn mục.
2.
IM LẶNG
Ngoài
những “phương tiện thiện xảo” thuộc bảy loại kể trên,
còn nhiều phương tiện khác, nhưng tôi không có kỳ vọng
trình bày hết được.
Một
phương tiện khá thông dụng là im lặng, Bồ Tát Văn Thù hỏi
Duy Ma về “pháp bất nhị”, Duy Ma im lặng; đời sau ca tụng
thái độ ấy của Duy Ma là sự “im lặng của sấm sét”-
mặc như lôi.
Một
chú tiểu thỉnh Ba Tiêu chỉ cho thấy cái “bổn lai diện
mục”[27], trực tiếp, đừng qua ngôn từ suy lượng, Ba Tiêu
ngồi trên tấm tọa cụ, im lìm chẳng nói.
Thiền
sư Từ Phước cũng im lặng, không một lời đáp lại câu
hỏi ấy của người cầu đạo.
Một
chú tiểu hỏi Thiền sư Hàng Châu Văn Hỷ, pháp từ của Nhưỡng
Sơn Huệ Tịnh: “Thế nào là cái tự kỷ?”, Sư mặc nhiên.
Chú tiểu không hiểu cái im lặng ấy ngụ ý gì, bèn hỏi
lại. Sư đáp: “Trời xanh vần vũ chẳng hẹn trăng lên”.
Một
chú tiểu hỏi Tào Sơn: “Cái im lặng (vô ngôn) có thể tiết
lộ cho biết được chăng?”
- Không
thể tiết lộ ở đây.
- Vậy
tiết lộ ở đâu ?
Tào
Sơn đáp: “Canh ba đêm trước tôi mất ba đồng tiền ở
đầu giường”
3.
HỒI LÂU
Đôi
khi các sư lặng im bất động hồi lâu - lương cửu - hoặc
để đáp lại một câu hỏi, hoặc khi thượng đường nói
pháp. Cái lương cửu ấy không cốt chỉ về thời gian trôi
qua như ta sẽ thấy ở những câu chuyện sau đây.
Một
chú tiểu thỉnh Thủ Sơn cho nghe một bản đờn không dây.
Sư im lặng hồi lâu, rồi hỏi:
- Chú
nghe không ?
- Bạch,
không nghe.
Sư
quở: Sao không bảo lớn tiếng hơn?
Một
chú tiểu hỏi Bảo Phước: “Tôi nghe nói muốn biết con đường
vô sanh phải rõ ngọn nguồn. Bạch hòa thượng, thế nào là
ngọn nguồn?”. Bảo Phước im lặng hồi lâu, rồi hỏi: “Chú
vừa hỏi tôi gì đó? Chú tiểu lặp lại câu hỏi. Sư phát
đuổi chú tiểu ra vừa hét lớn: “Bộ tôi điếc sao?”.
4.
HỎI NGƯỢC LẠI
Ta
có thể nêu thêm phương pháp “phản vấn”, nghĩa là thay
vì trả lời, hỏi ngược lại người hỏi. Trong Thiền, nói
chung, câu hỏi nào cũng thoát ngoài thói thường - nghĩa là
không phải hỏi để được chỉ bảo - nên tự nhiên lời
đáp cũng chẳng đáp lại gì hết. Một Thiền đức kê ra
có mười tám cách hỏi, đối lại có mười tám cách đáp
khác biệt hẳn nhau. Như vậy một câu phản vấn vẫn là một
lời đáp chiếu sáng vậy.
Một
chú tiểu hỏi Từ Minh: “Tổ Đạt Ma qua Tàu có ý nghĩa gì?”
Sư hỏi lại:
“Ổng
qua hồi nào?”
Một
chú tiểu hỏi La Sơn : “Ai là chúa tể ba cõi”. Sư hỏi
lại:
“Chú
biết làm sao ăn cơm không?”
Một
chú tiểu hỏi Thiên Long, sư phụ của hòa thượng Câu Chi:
“Làm sao thoát ly ba cõi?". Sư hỏi lại:
“Hiện
giờ chú ở đâu?” .
Một
chú tiểu hỏi Triệu Châu: “Ví có người không manh áo dính
thân đến đây, hòa thượng bảo họ thế nào?”. Sư hỏi
lại: “Chú nói không có gì?” - Bạch, không manh áo dính
thân. Sư đáp: “Ừ, được rồi, không manh áo dính thân”.
5.
LÝ LUẬN VÒNG TRÒN
Cứ
thế quả không sao kể hết được những phương tiện khai
thị chư sư sử dụng nhằm lợi lạc cho môn đồ. Vậy, để
kết thúc chương này, tôi xin đưa thêm hai trường hợp khác,
có thể coi như một thứ lý luận vòng tròn, nhưng ở một
quan điểm khác, vẫn có thể biểu thị một tinh thần nhất
nguyên luận tuyệt đối trong ấy mọi sự di biệt đều bị
xóa nhòa hết. Đành rằng các Thiền sư đều tán đồng cái
thấy ấy, nhưng cần xét lại, vì mặc dầu các ngài triệt
để xác nhận kiến giải đồng nhất giữa cái “ta” và
“cái người” mà đồng thời vẫn không từ khước những
sự kiện dị biệt của cuộc sống cá nhân này.
Một
đệ tử hỏi hòa thượng Đại Tùy: “Thế nào là cái tự
kỷ của con?” .
Hòa
thượng đáp: “Là cái tự kỷ của thầy” .
Trò:
Làm sao cái tự kỷ của con lại là cái tự kỷ của thầy
được?
Thầy:
“ Đó là cái tự kỷ của con.”
Để
hiểu câu chuyện trên theo tinh thần lý luận, ta chi cần thay
thế “cái tự kỷ của con” bằng những chữ như vô minh,
điên đảo hoặc phàm phu; và “cái tự kỷ của thầy” bằng
những chữ như “giác ngộ, Phật, hoặc hư linh” là ta hình
dung được ngay những gì đang diễn ra trong nội tâm của Đại
Tùy. Điều cần lưu ý là nếu không có câu xác nhận cuối
cùng “đó là cái tự kỷ của con” thì toàn thể cuộc đối
thoại hóa thành một thứ triết lý phiếm thần luận.
Tư
tưởng Đại Tùy còn được biểu lộ cụ thể hơn trong cuộc
đối thoại sau đây giữa Tam Thánh Huệ Nhiên và Ngưỡng Sơn
Huệ Tịch. Huệ Nhiên đến thăm Huệ Tịch.
Huệ
Tịch hỏi: Ông tên gì?
Huệ
Nhiên đáp: Tôi tên là Huệ Tich.
Huệ
Tịch cãi lại: Huệ Tịch là tên tôi mà.
Huệ
Nhiên nói: Vậy tôi tên là Huệ Nhiên.
Huệ
Tich cười dài…
Câu
chuyện đối đáp trên khiến ta liên tưởng đến cổ ngữ
Ấn Độ “tai tvam asi!”, và có nghĩa là “ông là cái kia”.
Tuy nhiên, giữa câu nói của Huệ Nhiên “tôi tên là Huệ
Tịch” và câu nói Ấn Độ “ông là cái kia” vẫn khác
biệt nhau nhiều, và chính đó là chỗ khác biệt giữa triết
lý vêđănta Ấn Độ và Phật giáo Thiền Tông, hoặc giữa
tinh thần duy trí ấn Độ và duy thực Trung Hoa. Tinh thần Trung
Hoa không vụ suy rộng luận cao, ngoài tầm vói của cuộc sống
như chúng ta hiện đang sống.
Theo
giáo lý Hoa Nghiêm, có một thế giới siêu nhiên, trong ấy
một sự vật dị diệt thâu nhiếp và dung thông tất cả sự
vật dị biệt khác, thay vì mọi sự vật dị biệt đều chìm
lỉm hết trong Đại Khối[28].Thế nên, ở thế gian này, ví
ta đưa lên một cành hoa, hoặc chỉ vào một cục gạch, là
toàn thể vũ trụ trăm hình vạn trạng đều hiện rõ, phản
chiếu lại trong ấy. Nếu quả vậy, ta có thể nói các Thiền
sư hoạt dung trong cảnh giới linh minh ấy hiển lộ đến cho
các ngài với tất cả cơ mầu trong phút giây hoạt nhiên đại
ngộ.
VIII.
PHÉP CHỈ THẲNG
Tự
đây ta đi vào thế giới kỳ đặc nhất của đạo Thiền,
đầy sắc thái độc đáo, khiến Thiền không những khác hẳn
với mọi ngành Phật giáo, mà còn khác luôn với mọi hình
thức huyền học đã có trong lịch sử. Từ trước, như ta
đã thấy, chân lý Thiền được diễn bằng lời nói, dầu
thành tiếng hay không thành tiếng, dầu hình thức có vẻ bí
hiểm lạ lùng. Và giờ đây, ta sẽ thấy chư sư sử dụng
một phương pháp trực tiếp hơn lời nói. Thật vậy, chân
lý Thiền là chân lý của sinh hoạt, mà sinh hoạt có nghĩa
là sống động, là hoạt động, là hành động, chớ không
phải chỉ suy lường thôi. Vậy, há chẳng là việc quá tự
nhiên Thiền sống trong chiều hướng hành động, hoặc nói
đúng hơn, vận dụng cái thực, sống cái thực, thay vì chứng
minh hoặc biểu thị cái thực bằng ngôn từ, nghĩa là bằng
khái niệm? Trong cái sống thực không có lý luận, vì cái
sống lớn hơn cái lý. Ta tưởng rằng lý luận chi phối cuộc
đời, nhưng thực sự con người chúng ta phải đâu là một
sinh vật quá duy lý như vậy theo ý muốn của ta. Đành rằng
chúng ta đang nói lý, nhưng khi bắt tay vào việc ta thường
bỏ rơi con đường lý luận đã vạch ra, vì lúc ấy ta cảm
thấy có cái gì khác mạnh hơn là lý luận. Cái gì ấy, ta
có thể gọi là hứng cảm, là bản năng, hoặc thông thường
hơn, là ý chí. Hễ ý chí phát động lên là có Thiền, nhưng
nếu các bạn hỏi tôi Thiền có phải là triết lý của ý
chí không, ắt tôi không dám dứt khoát xác nhận cùng quý
bạn được. Thiền cần được giải thích - nếu có thể
giải thích được - bằng một kiến giải chủ động hơn
là chủ tịnh. Cho nên khi tôi đưa bàn tay lên đó là Thiền;
nhưng nếu tôi khẳng định đưa bàn tay lên thì Thiền không
có ở đó nữa. Cũng vậy, vẫn không có Thiền khi tôi giả
định rằng có một cái gì đó có thể gọi là ý chí hoặc
gì gì khác. Nói thế không có nghĩa khẳng định hoặc giả
định là sai, nhưng vì cái gọi là Thiền, như chư sư thường
nói, biến mất ngoài ba ngàn dặm. Nói năng cũng là Thiền,
và chỉ là Thiền khi lời nói là một hành vi “tự hiện
thành”, không dựa vào bất cứ gì để được xác định.
Trong ngón tay chỉ mặt trăng không có Thiền, nhưng “tự thân”
của ngón tay là Thiền - ngón tay độc lập đối với tất
cả liên hệ bên ngoài.
Cuộc
sống tự trải ra trên một khung vải gọi là thời gian không
bao giờ tái diễn: một qua là hẳn, không bao giờ trở lại.
Việc làm cũng vậy, đã làm là không bao giờ làm lại được.
Đời là một bức tranh thủy mặc, một khi hạ bút xuống
là hoàn tất, mãi mãi, không chần chờ, không suy nghĩ, không
cạo sửa gì được. Đời không phải là một bức tranh dầu
để có thể tẩy xóa, sơn đi vẽ lại nhiều lần đến khi
nào họa sĩ vừa ý mới thôi. Trái lại, trong tranh thủy mặc,
bất cứ nét bút nào đồ thêm lên dầu nhỏ nhặt mấy, đều
biến thành tì vết, đều tước bỏ cuộc sống, vì mực khô
là nét sửa hằn lên ngay. Cuộc đời cũng vậy. Ta không bao
giờ rút lui lại được những gì ta đã hiến cho hành động;
không, những gì một lần đi qua tâm thức là không bao giờ
xóa bỏ được. Nên Thiền cần được bắt lấy khi cơ sự
đang diễn ra, không trước đó, không sau đó. Đó là một
hành vi của một chốc lát, của một sát na. Tương truyền
khi Tổ Đạt Ma sắp rời Trung Quốc về Thiên Trúc, Tổ hỏi
các môn đệ lãnh hội Thiền như thế nào, bà ni Tổng Trì
đáp:
"Chỗ
hiểu của con ví như nhãn quang của tôn giả A Nan phóng vào
nước Phật Bất Động: một khi thấy là không thế thấy
trở lại được[29]”
Cuộc
sống uyển chuyển là vậy, không nắm bắt được, không diễn
lại được: cuộc sống ấy, các Thiền sư mô tả như tia
lửa đá xẹt, như ánh điện chớp: kích thạch hỏa, thiểm
điện quang.
Phương
pháp trực tiếp đạt vào tay chư sư có công dụng nắm ngay
lấy cuộc sống uyển chuyển ấy trong khi đang trôi chảy,
thay vì sau khi đã trôi qua. Trong khi dòng đời đang trôi chảy,
không ai đủ thời giờ kêu gọi đến ký ức, hoặc xây dựng
tư tưởng. Không có lý luận nào có giá trị trong lúc ấy.
Ngôn
ngữ có thể dùng được, nhưng ngôn ngữ từ muôn thuở vốn
kết hợp chặt chẽ với nếp tâm tưởng suy lượng nên mất
hết nội lực, không trực tiếp truyền cảm được. Ngôn
ngữ, nếu đụng đến, chỉ diễn tả được một ý nghĩa,
một luận giải, chỉ biểu lộ một cái ngoại thuộc, nên
không trực tiếp liên hệ gì đến cuộc sống, nếu không
nói rằng đó chỉ là một vang bóng mờ nhạt của cái đã
tiêu ma. Đó là lý do các Thiền sư nhiều khi tránh nói, tránh
xác định, dầu đối với những sự việc quá tỏ rõ, quá
hiển nhiên cũng vậy. Kỳ vọng của các ngài là để cho môn
đệ tự tập trung tất cả tâm lực nắm lấy những gì họ
mong ước, thay vì ghì bắt những mối liên lạc xa xôi vòng
ngoài khiến họ phải phân tâm. Cho nên nếu cứ tìm hiểu
nghĩa nhưng câu thần chú (đà la ni) hoặc những tiếng hét,
hoặc những loạt âm thanh rỗng, ắt ta lạc xa con đường
Thiền. Ta phải lặn sâu vào tận tâm thể, là nơi phát nguyên
nguồn sống, là nơi phát xuất những âm thanh trên. Vung hèo
đập, quát lên một tiếng hét, đá vào một trái cầu... Những
cử chỉ ấy phải được lãnh hội trong ý nghĩa ấy, nghĩa
là phải coi như trực tiếp thể hiện cuộc sống; không, hơn
thế nữa, chính đó là cuộc sống. Phương pháp chỉ thẳng,
dầu vậy, không hẳn là thái độ khẳng nhận bổn chất bạo
lực của cuộc sống, mà bất cứ gì rất tầm thường diễn
ra hằng ngày như khẽ động thân hình, trả lời một tiếng
gọi, nghe suối reo, chim hót, không gì chẳng thể hiện cuộc
sống vậy.[30]
Một
ông tăng hỏi sư Linh Vân: “Muôn vật là thế nào trước
khi Phật xuất thế?”.
Sư
đưa cây phất tử lên.
Lại
hỏi: “Muôn vật là thế nào sau khi Phật xuất thế?”.
Sư
lại đưa cây phất tử lên.
Đưa
phất tử lên, hạ phất tử xuống, là phương tiện khai thị
rất thông dụng của nhiều Thiền sư. Như tôi đã trình bày
ở phần đầu bộ sách, phất tử (cây chổi lông đuôi ngựa)
và trúc bề (cây thước tre) hoặc trụ trượng, là tượng
trưng của giáo quyền nên tự nhiên chư sư phải dùng đến
luôn khi có người đến tham vấn.
Huỳnh
Bá (? - 850) thượng đường. Tăng chúng vừa tụ tập chờ
nghe thì Huỳnh Bá giơ cây trụ trượng lên đánh đuổi ra.
Tăng chúng bỏ đi ra. Huỳnh Bá lại gọi vào, Tăng chúng vừa
quay đầu vào thì Huỳnh Bá nói :
Trăng
như vòng cung
月
似 灣 弓
<