Luận
năm
NGỘ
HAY LÀ SỰ PHÁT TRIỂN MỘT CHÂN LÝ MỚI TRONG ĐẠO THIỀN
1.
KHÔNG NGỘ CHẲNG PHẢI THIỀN
Tinh
yếu của Thiền cốt ở một nhỡn quang mới phóng vào cuộc
sống, và vũ trụ nói chung. Thế nghĩa là, để thâm nhập
trong đạo Thiền, ta phải vứt bỏ tất cả nếp cảm nghĩ
thông thường điều khiển cuộc sống hằng ngày của chúng
ta để cố tìm coi biết đâu còn có một đường lối nhận
định khác hơn thói thường, hoặc nói đúng hơn, thử xem
lối nhận định thông thường có đủ để đáp ứng trọn
vẹn và rốt ráo những đòi hỏi của tâm hồn ta không. Nếu
ta vẫn cảm thấy không vừa ý gì đó với cuộc sống này,
nếu có cái gì trong nếp sống hằng ngày khiến ta như bị
vướng mắc, thiếu tự do, theo nghĩa thiêng liêng nhất, ắt
ta phải thử tìm ra một cái gì khác ngõ hầu cuộc sống ta
có được một cảm giác ổn định và thoải mái. Thiền đề
nghị làm việc ấy cho ta và đoán chắc có được cái nhìn
mới ấy thì cuộc đời sẽ diễn ra trong một khuôn mặt tươi
mát hơn, thâm trầm hơn, và thỏa đáng hơn. Lẽ dĩ nhiên cái
có ấy là một đại biến cố tinh thần độc nhất vô nhị
trong đời, không dễ gì đạt tới, vì đó là một cuộc rửa
tội trong lửa, phải dấn qua vô số thử thách hãi hùng của
bão tố giữa cơn dầu sôi nước phỏng, núi lở đá tan.
Cái
có một nhỡn quang mới ấy trong việc xử kỷ tiếp vật trong
đời thường gọi là NGỘ, và theo người Nhật là Satori.
Đó chẳng qua là một tên gọi khác của quả vị Chánh đẳng
chánh giác - anuttara samyak sambodhi - danh từ Phật và các đệ
tử của Phật ở Ấn Độ thường dùng từ ngày Phật thành
đạo ở cội bồ đề, gần sông Ni Liên. Ngoài ra còn nhiều
thuật ngữ Trung Hoa khác chỉ vào sự tâm chứng ấy, mỗi
chữ có một tình tiết riêng tùy chỗ ngộ giải theo kinh nghiệm
riêng. Tuy nhiên, dầu giải thích cách nào, không Thiền không
có Ngộ, không Ngộ chẳng phải Thiền, Ngộ là chữ đầu
và chữ chót của quyển sách Thiền vậy. Thiền mà không Ngộ
chẳng khác nào mặt trời không có ánh sáng và nắng ấm.
Thiền có thể mất tất cả, nào học thuật, nào chùa chiền,
nào thể thức hành đạo, nhưng hễ Ngộ còn bao hàm trong Thiền
thì Thiền vĩnh viễn còn tồn tại với thế gian. Tôi muốn
nêu lên sự kiện cực kỳ tâm yếu ấy gắn liền vào sinh
mạng của đạo Thiền vì có nhiều người, cả những người
tu Thiền, vẫn chưa ý thức được điểm căn bản ấy, tưởng
rằng cứ đem Thiền ra giải thích bằng lý, bằng triết, hoặc
như một bài triết luận có thể rút gọn vào một số cú
pháp thật cao kiến, thật tuyệt kỹ, là Thiền không còn gì
nữa, rỗng hết cốt tủy. Nhưng tôi, trái lại, tôi cả quyết
rằng sinh mạng của Thiền là cốt ở khai ngộ.[1]
Ngộ
có thể định nghĩa là một trực giác phóng thẳng vào bản
thể của muôn vật, khác với sự hiểu biết bằng phân tách,
bằng luận lý. Trên thực tế, đó là khám phá ra một thế
giới mới chưa bao hiển lộ đến cho một tâm thức đảo
điên của những người chuyên luyện trí bằng luận giải
nhị nguyên. Hoặc nói khác hơn, hễ ngộ rồi thì muôn vật
quanh ta sẽ hiện ra dưới một quan điểm hoàn toàn mới lạ
chẳng ngờ. Dầu sao, thế giới sau khi ngộ không còn là thế
giới cũ ngày nào; dầu vẫn dòng nước chảy ấy, vẫn ngọn
lửa nóng thiêu ấy, thế giới ấy không bao giờ “mê” trở
lại như xưa. Nói theo luận lý học, tất cả mâu thuẫn, tất
cả dị biệt, đều đồng nhất, đều dung thông nhau trong
cái toàn thể thân thiết và nhịp nhàng. Đó là một sự mầu
nhiệm, một phép lạ, nhưng phép lạ ấy, các Thiền sư cho
rằng vẫn diễn ra hằng ngày trong đời chúng ta. Vậy, ngộ
chỉ có được ở nơi ta bằng sức tự mình chứng lấy.
Ta
có thể miễn cưỡng hình dung cái ngộ ấy , dầu rất thấp
kém, rất vụn vặt, khi bất thần ta giải đáp được một
bài toán khó, hoặc khám phá một việc phi thường, hoặc thoát
ra một ngõ bí trong những điều kiện bối rối và tuyệt
vọng nhất, nói tóm lại khi ta reo to: “Eureka! Eureka! .” Nhưng
đó chỉ ứng với khía cạnh trí thức của ngộ, nên cố
nhiên là rất vụn vặt, rất thiếu sót và như vậy không
ấn sâu vào căn bản của cuộc sống - cuộc sống một, bất
khả phân. Trái lại cái ngộ của Thiền phải gắn liền vào
cuộc sống toàn diện. Nên cái Thiền nhằm thực hiện cho
ta là một cuộc cách mạng, mà cũng là một cuộc đánh giá
lại con người chúng ta, thẩm định lại chính ta như một
đơn vị tâm linh. Giải đáp một bài toán là xong bài toán,
chỉ thế thôi, không can dự gì đến sinh mạng của người
giải đáp. Mọi vấn đề khác, thực tế hoặc khoa học cũng
không gì hơn, hoàn toàn không tác động vào mạng sống của
những cá nhân liên hệ. Nhưng “khai ngộ” đích thực là
một cuộc tái thiết toàn thể đời người. Nếu là cái ngộ
thực - vì có nhiều trường hợp giả - thì sức tác động
của nó vào sinh hoạt đạo đức và tâm linh của ta thật
là cách mạng, toàn làm đẹp ra, phấn khởi lên, và trong sạch
lại. Có người hỏi một Thiền sư: “Phật tánh là gì?”,
sư đáp:
“Thùng
sơn lủng đáy.”
Thế
đủ biết sự tâm chứng ấy gây lên một cuộc cách mạng
toàn triệt như thế nào. Ngày khai sanh của một con người
mới đúng là một đại biến cố.
Trong
tâm lý học tôn giáo, hiện tượng đổi mới toàn thể vận
mạng ấy gọi là “quy cải”. Nhưng danh từ ấy, riêng dùng
cho những người mới khép mình theo đạo Chúa, không thể
áp dụng đúng mức vào kinh nghiệm Phật giáo, nhất là cho
những người tu Thiền; danh từ quá nặng về tình cảm để
có thể coi như tương đương với “ngộ” hoàn toàn vượt
thoát hết. Khuynh hướng chung của Phật giáo, như ta đã biết,
nặng về trí hơn tình, nên giáo lý Giác Ngộ của Phật giáo
khác hẳn với quan niệm cứu rỗi của người Công giáo; và
Thiền vốn là một tông phái của Đại Thừa, dĩ nhiên dự
phần rộng rãi vào cái có thể gọi là siêu trí luận, một
thứ trí thức không quy thúc ở lý nhị nguyên vậy. Nói một
cách bóng bẩy hơn, thơ mộng hơn, ngộ là “tâm hoa nở”,
là “đổi cung đàn”, là “tâm thông”.
Tất
cả những hình ảnh ấy đều chỉ vào sự mở thông một
chướng ngại nào đó để cho bộ máy chạy trơn, hết trục
trặc, hoặc cho tâm hoạt dụng điều hòa, hết vướng mắc.
Chướng ngại một khi san bằng là một chân trời mới mở
rộng trước con người, cao rộng vô biên, cổ kim thu trọn.
Hoàn toàn tự do trong hoạt động, khác với lúc còn mê, cuộc
sống giờ đây phô diễn ra ngang dọc tùy ứng theo những diệu
dụng vô cùng - và đó là cứu cánh Thiền đề nghị đưa
ta đến. Người ta thường coi đó như tương đương với trạng
thái “không chủ tâm, không định ý”. Nhưng các Thiền sư
cho rằng lý “vô đắc” ấy thuộc về thái độ chủ quan
của tâm vốn siêu việt mọi giới hạn của tư tưởng. Thiền
không chối bỏ những lý tưởng đạo đức, mà cũng không
cố vượt qua; đó chỉ là một trạng thái nội tại của
tâm thức, bất chấp mọi hậu quả khách quan.
II.
THẤY TÁNH và NGỒI THIỀN
Tất
cả công quả của Bồ Đề Đạt Ma trong cuộc Đông độ đầu
thế kỷ thứ VI là chuyển yếu tố “ngộ” ấy vào cơ thể
Phật giáo cho những người học Phật chỉ chuyên tinh luyện
triết
lý, hành Phật chỉ nặng nghi thức giới điều[2]. Pháp trực
tiếp “truyền tâm ấn” do Sơ Tổ chủ xướng lên,
đó tức là “khai ngộ”, là phóng ra một nhỡn quang mới
quán chiếu vào kim ngôn của Phật.
Tổ
thứ sáu, Huệ Năng, đặc biệt làm nổi bật hơn bao giờ
hết khía cạnh ngộ của thiền định (dhyana) trái với phương
pháp mặc tĩnh của Bắc tông, theo chủ trương trụ tâm quán
tịnh của Thần Tú. Tiếp theo, các cao tăng Mã Tổ, Huỳnh
Bá, Lâm Tế, và tất cả ngôi sao khác, từng nhóm quần tinh
sáng rực trong những ngày sơ khởi của đạo Thiền ở thời
nhà Đường, đều từng loạt đứng lên biện hộ cho cái
ngộ ấy; mọi hoạt động của các ngài trong đời đều
không ngớt tinh tiến hướng đến đó; và cái đó như ta dễ
thấy, khác hẳn với sự trầm tư quán tưởng, hoặc ngồi
thiền nhập định. Họ chống mạnh lại phương pháp tĩnh
tọa, cho rằng tu thế là thiển cận, là giam mình trong hầm
hắc ám. Vậy, trước khi đi xa hơn, ta cần nhận rõ điểm
ấy để đánh bạt hết nỗi ngờ về ý nghĩa tối hậu của
Thiền, vốn không phải là phí cuộc đời luyện cho tâm trí
chìm lỉm trong hôn mê, mà chính là kiến chiếu vào tự thể
của cuộc sống, nghĩa là mở ra con mắt ngộ.
Ở
Nhật Bổn có một bộ sách tên là Thiếu Thất lục môn. Thiếu
Thất là tên riêng của Đạt Ma, sơ tổ Thiền Tông; sách gồm
có sáu bài luận, trong số ấy có vài bài chắc do Tổ nói
ra, kỳ dư đều không phải của Tổ, có lẽ mới được soạn
ra sau này trong đời nhà Đường khi Thiền Tông bắt đầu
gieo ảnh hưởng sâu rộng hơn trong giới Phật tử Trung Hoa.
Nhưng tinh thần quán xuyến toàn bộ sách vẫn là chấn phong
thuần túy của đạo Thiền. Một trong những bài luận ấy
có tên là “huyết mạch luận”, luận về sự thấy tánh,
hoặc ngộ mà tác giả coi là cốt tùy của Đạo Thiền. Dưới
đây là phần trích dịch[3]:
“Muốn
tìm Phật, cần thấy tánh, vì tánh[4]tức là Phật.
Nếu
chẳng thấy tánh thì niệm Phật, tụng kinh, chay lạt giữ
giới nào có ích gì?
Niệm
Phật thì được công quả tốt.
Tụng
kinh thì tâm trí được sáng thông.
Giữ
giới thì được sanh lên cõi trời.
Bố
thí thì được phước báo.
Nhưng
tìm Phật như vậy chẳng gặp Phật bao giờ. Nếu tự ngươi,
ngươi chưa sáng tỏ thì nên tham vấn bậc thiện tri thức
hiểu căn bản của sanh tử luân hồi. Người không thấy tánh
không thể gọi là thiện trí thức.
“Nếu
chẳng vậy thì dầu có nói được mười hai bộ kinh vẫn
chẳng ra khỏi sanh tử luân hồi, vẫn chịu khổ trong
ba cõi chẳng có ngày ra. Xưa tỳ khưu Thiện Tinh[5] thuộc làu
mười hai bộ kinh mà vẫn chẳng thoát khỏi luân hồi vì chẳng
thấy tánh. Thiện Tinh kia còn vậy huống nữa là người đời
nay mới giảng được năm ba bộ kinh luận đã tự coi
là hiểu pháp Phật, thật chẳng gì ngu hơn. Hễ không thấu
được tâm mình thì tụng đọc ích gì chỉ là hư văn. Muốn
tìm Phật, trước hết phải thấy tánh. Vì tánh tức là Phật.
Phật là người tự tại, là người vô sự, là người
vô tác. Nếu, thay vì thấy tánh, người hướng ngoại suốt
ngày cầu Phật lông bông, ắt không bao giờ thấy được Phật.
Phật
là tự tâm, chớ lầm vái lạy (những vật bên ngoài). Phật
là tiếng Ấn Độ, bên Trung Hoa gọi là Giác tánh. Giác tức
là linh giác. Và chính cái tánh tự kỷ linh giác ấy đáp ứng
với ngoại vật trong sinh hoạt thường ngày, nhướng mày,
nháy mắt, dang tay giơ chân.
Tánh
tức là tâm
Tâm
tức là Phật
Phật
tức là Đạo
Đạo
tức là Thiền . “Chỉ một chữ Thiền, cả thánh phàm đều
không lượng nổi.”
Trực
tiếp thấy tánh, đó tức là Thiền. Bằng chẳng thấy tánh
thì chẳng phải Thiền vậy. Dầu có giỏi nói được ngàn
kinh muôn luận, nếu chẳng thấy tánh thì vẫn là phàm phu,
chẳng phải là Pháp Phật. Đạo lớn cao thâm, u huyền, không
thể nói cho hiểu được. Kinh điển không dựa vào đâu với
tới được. Chỉ nên thử thấy tánh dầu chỉ một lần,
thì suốt thông hết cả đến những người chữ nghĩa dốt
đặc. Thấy tánh tức là Phật.
“Những
người không thấy tánh mảng lo tụng kinh niệm Phật, tinh
tiến học hoài, đêm ngày tu tập ngồi mãi không nằm, cốt
lấy cái học rộng nghe nhiều tâm pháp Phật , những chúng
sanh đó đích thực là người phỉ báng Phật.
Phật
trước Phật sau chỉ nói thấy tánh. Muôn vật đều vô thường.
Nếu
không thấy tánh mà rêu rao là được Chánh Giác, đó là người
đại tội
Trong
mười học trò lớn của Phật, A Nan được tiếng học rộng
nhất, nhưng ông không thấy gì ở Phật hết vì ông chỉ lo
thu thập kiến thức.
Lục
Tổ ở điểm ấy còn tỏ ra dứt khoát và quyết liệt hơn
khi người ta hỏi Ngài “Tổ Hoàng Mai khi phó chúc truyền
thọ gì?” Tổ đáp:
“Không
truyền thọ gì hết, chỉ luận môn thấy tánh, chẳng đá
động gì đến phép giải thoát hoặc tọa thiền nhập định”[6]
Ở
một đoạn khác Lục Tổ gọi là “tà mê”, không đáng đến
học hỏi, những người đầu óc trống rỗng, suốt ngày ngồi
im thin thít không nghĩ tưởng gì hết trong khi “cả đến
người ngu, nếu bỗng chốc ngộ chân lý, mở con mắt huệ,
vẫn thành bậc trí, chứng vào Phật Đạo”. Rồi khi
Lục Tổ nghe thuật lại phép dạy đạo của Bắc Tông cốt
chận đứng tất cả tư tưởng, lặng im ngồi kiết già quán
tưởng mãi không nằm, Ngài tuyên bố những phép hành đạo
ấy toàn thác loạn vô ích, xa vời Thiền lý, và Ngài đọc
bài kệ như đã dẫn ở phần trước:
Khi
sống, ngồi chẳng nằm
Chết
rồi nằm chẳng ngồi
Một
bộ xương mục thúi
Có
gì gọi công phu?
Tại
Truyền pháp viện, Mã Tổ[7]ngày ngày đến đó ngồi thiền.
Sư Nam Nhạc thấy hỏi:
“Đại
đức ngồi thiền để làm gì?
- Để
làm Phật.
Sư
bèn cầm một miếng ngói đến trước am ngồi mài trên phiến
đá. Mã Tổ thấy lạ hỏi:
“Sư
mài ngói để làm gì?”
- Để
làm gương
- Mài
ngói sao thành gương được?
Sư
đáp: “Còn ngồi thiền há thành Phật được sao?”
Mã
Tổ hỏi: “Vậy phải làm sao?”
Sư
đáp: “Ví như người đánh xe, xe không chạy, nên đánh vào
xe? Hay đánh vào bờ?”
Sư
nói tiếp: Ông học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu
học ngồi Thiền thì Thiền không phải việc nằm ngồi. Nếu
học ngồi Phật thì Phật không có hình tướng nhất định,
ở nơi pháp vô trụ chẳng giữ chẳng bỏ. Ông học ngồi
Phật tức giết Phật; bằng chấp vào tướng ngồi[8]thì
chẳng đạt lý.
Quả
là những câu nói quá tỏ rõ khiến ta không còn ngờ được
về cứu cánh tối hậu của Thiền. Cứu cánh ấy phải đâu
là hôn trầm trong cái ngồi mặc tĩnh như kiểu những ông
thánh Ấn Độ cố trừ bỏ tất cả tư tưởng - những tư
tưởng không biết từ đâu đến rồi lát sau lại đi mất
chẳng biết về đâu. Những nhận xét trên cốt dọn đường
để bạn đọc có thể hiểu sâu hơn phần vấn đáp tiếp
theo sau, vì đó là phần biện minh kiến giải của tôi về
Thiền, cốt ở khai ngộ, hoặc phóng một nhỡn quang mới vào
vũ trụ và nhân sinh. Các Thiền sư, như ta sẽ thấy sau, luôn
luôn nắm lấy bất cứ sự việc rất tầm thường nào trong
đời làm cơ duyên chuyển tâm người cầu đạo vào một
dòng “đào nguyên” mới lạ chưa bao giờ chứng thấy. Đó
cũng như khai một mạch nước ngầm, vừa khai xong là ngọn
nước - những chứng nghiệm mới - thao thao phun trào ra. Lại
cũng ví như đóng hồ gõ giờ, lò xo vừa bật là toàn bộ
then máy phát âm thanh chuyển động ngay. Dường như trong tâm
ta có cái gì thuộc hệ thống ấy; đến phút giây nào đó,
tấm màn bấy lâu che khuất được vén lên, một thế giới
hoàn toàn mới hiện ra và toàn thể cuộc sống chuyển sang
một cung điện mới lạ hẳn. Chính cái “mổ cò” ấy của
bộ máy tâm, hoặc sự mở thông ấy, các Thiền sư gọi là
ngộ, và đặc biệt nêu lên làm mục tiêu hành Thiền.
Tiện
đây, bạn đọc có thể suy nghiệm câu nói chiếu diệu sau
đây của nhà huyền học Eckhart: Một vị hiền triết bên
lương có nói với vị khác một câu nói thâm trầm như vầy:
“Tôi chợt thấy ở trong tôi có cái gì bừng sáng lên trên
lý trí của tôi. Tôi biết có cái gì đó, nhưng không biết
rõ là cái gì, không thể nhận ra được. Tôi có cảm tưởng
nếu nhận ra được chắc chắn tôi sẽ biết tất cả sự
thực”.
III.
VẤN ĐÁP
Những
câu chuyện dẫn sau đây không nhằm vẽ lại toàn thể diễn
trình của tâm thức từ lúc người học đạo mới thọ giáo
đến hồi cứu cánh ngộ đạo, qua vô số thăng trầm vấp
váp. Nhưng ví dụ đưa ra chỉ cốt cho thấy pháp thiền chỉ
có ý nghĩa khi cây trục của nội tâm xoay sang một thế giới
khác, rộng hơn. Vì một khi thế giới thâm diệu ấy mở ra
là cuộc sống hằng ngày, cả đến những tình tiết tầm
thường nhất, vẫn đượm nhuần Thiền vị. Nhìn ở góc này,
thật vậy, ngộ là cái xoàng xĩnh, vô nghĩa lý nhất đời,
nhưng ở góc khác, nhất là khi ta chưa hiểu, nó kỳ bí không
gì hơn. Vả, xét cùng ra ngay cả cuộc sống nay chẳng
đầy kỳ quan, bí mật, và huyền vi, ngoài tâm hiểu biết
của trí óc con người sao?
Một
chú tiểu thành khẩn thỉnh Triệu Châu dạy Thiền, Châu hỏi:
- Chú
ăn cháo chưa?
- Ăn
cháo rồi.
Châu
bảo: “Rửa chén đi”
洗
砵 盂 去
Thoạt
nghe chú tiểu liền tỉnh ngộ.
Thế
ra cái ngộ thường tục biết chừng nào.Tuy nhiên, để thấy
rõ một câu chuyện quá đỗi tầm thường như vậy trong đời
lại đóng một vai trò quan trọng như thế nào trong đạo Thiền,
tôi xin đưa ra một ít nhận xét của chư sư sau này hầu bạn
đọc có thể nhận qua nội dung của sự ngộ đạo.
Vân
Môn (???-949) sau đó có lời bình giảng như vầy:
“Có
ngụ ý truyền riêng gì không trong câu nói của Triệu Châu?
Nếu có, truyền cái gì? Nếu không, chú tiểu ngộ cái gì?”
Sau
lại có Vân Phong (997-1062) phản đối lại vầy: “Đại sư
Vân Môn không biết cơ sự thế nào hết nên bình giảng như
vậy, không ích lợi gì hết, toàn là vẽ rắn thêm chân, bôi
râu cho quan hoạn. Ý kiến tôi khác. Tôi nghĩ rằng chú tiểu
tưởng mình tỉnh ngộ kia đang rơi xuống địa ngục lẹ như
một mũi tên".
Thế
nghĩa là thế nào - câu nói rửa chén của Triệu Châu, sự
tỉnh ngộ của chú tiểu, ý kiến phân vân của Vân Môn, và
lời quyết đoán của Vân Phong? Các ngài nói nghịch nhau hết
chăng? Hay toàn làm rùm beng vô lối? Đó là chỗ khó hiểu
mà cũng khó nói của đạo Thiền. Tôi xin phép đặt thêm vài
câu hỏi làm sao Triệu Châu mở mắt chú tiểu bằng một nhận
xét tầm thường như vậy? Câu nói phải chăng có ẩn ý gì
khiến vừa nói ra là ăn khớp với nhịp tâm của chú tiểu?
Chú tiểu đã dọn tâm sẵn thế nào để đón lấy cái ấn
tay cuối cùng ấy của Triệu Châu mà tất cả công đức có
thể nói chỉ là đưa tay bấm nút?
Không
có gì là ngộ hết trong việc rửa chén bát, ta nên tìm Thiền
ở chỗ khác. Dầu thế nào, ta vẫn không thể nói Triệu Châu
chẳng làm gì hết cho sự đạt ngộ của chú tiểu. Cho nên
lời nhận xét của Vân Môn, dầu rằng tối nghĩa, nhưng bắt
đúng mạch. Còn lời luận giải của Vân Phong, thuộc loại
kỹ thuật lý luận lộng đàm, bề ngoài có vẻ như miệt
thị Vân Môn, nhưng tựu trung vẫn hiệp ý với hàng tiền
bối.
Đức
Sơn (779-865) nghiên cứu tinh thâm kinh Kim Cương. Nghe nói có
một pháp môn gọi là Thiền gác ngoài tất cả kinh điển
để nắm thẳng tự nơi tâm, Sư tìm đến Long đàm tham học.
Đêm kia, Sư ngồi ngoài chùa miên man nghiền ngẫm diệu lý
Thiền, Hòa Thượng Long Đàm bảo: “Sao chưa vào nghỉ đi?”
Sư bạch: “Trời tối như mực?” Long Đàm đốt lên ngọn
đèn cầy trao cho Sư. Sư vừa tiếp lấy thì Long Đàm vụt
thổi tắt. Sư liền đại ngộ[9].
Ngày
kia, Bách Trượng (724-814) và thầy là Mã Tổ ( 709-788) đi đường.
Giữa đường thấy bầy le le bay ngang. Mã hỏi:
- Gì
thế?
- Bầy
le le?
- Bay
đi đâu vậy?
- Bay
mất hết rồi.
Mã
Tổ chợt nắm lấy chót mũi Bách Trượng vặn tréo. Đau
quá, Bách Trượng la ôi ối. Mã Tổ liền nói:
“Có
bao giờ bay mất được sao?”[10]
何
曾 飛 去?
Bách
Trượng lạnh loát mồ hôi lưng. Và ngộ trong lúc ấy.
Có
thể có liên hệ nào không giữa các câu chuyện rửa chén
của chú tiểu, thổi tắt ngọn đèn và vặn tréo mũi trên?
Ta phải nói như Vân Môn: Nếu không có gì hết, làm sao những
người ấy đạt được lý Thiền? Nếu có, thì mối thân
thuộc ra sao? Cái ngộ ấy là gì? Cái nhỡn quang mới ấy là
gì? Hễ sự quan sát của ta còn bị giới hạn trong những
điều kiện của trước thời mở con mắt đạo, có lẽ ta
không bao giờ thấy được đâu là là rốt ráo kết thành.
Đó toàn là việc diễn ra hằng ngày, và nếu khách quan Thiền
nằm ở chỗ thường nhật ấy thì mỗi chúng ta đều là Thiền
sư hết mà không biết. Điều ấy quả đúng phần nào, càng
đúng hơn bởi lẽ không có gì là giả tạo hết xây dựng
lên trong đạo Thiền, nhưng phải có cái mũi bị bẻ vặn,
có cây đèn bị thổi tắt, thì mắt ta mới lột hết vảy
cá, và ta mới chú ý đến bên trong, hướng đến sự động
dụng của tâm thức; và chính tại đó tiềm ẩn mối liên
hệ mật thiết giữa bầy le le bay và sự rửa chén và cây
đèn tắt và vô số sự việc khác dệt thành tấm màn thế
sự của loài người chúng ta.
“Ở
thời Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163), một đại sư đời nhà
Tống, có một ông tăng tên là Đạo Khiêm học Thiền đã
nhiều năm nhưng chưa nhập lý. Được phái đi hành cước
ở phương xa, ông tỏ vẻ thất vọng. Một cuộc viễn du kéo
dài đến sáu tháng trời chắc rằng sẽ là mối chướng đạo
hơn là trợ đạo cho ông. Một ông bạn đồng môn tên là
Tông Nguyên thương hại ông bèn nói: “Tôi sẽ theo ông trên
đường hành cước, sẽ làm những gì có thể làm được
giúp ông. Không có lý do nào khiến ông phải bỏ dở việc
tham thiền, cả đến lý do xê dịch”. Thế rồi cả hai lên
đường.
“Một
đêm kia, Đạo Khiêm tuyệt vọng nài nỉ người bạn đường
giúp ông vén màn bí mật của vũ trụ và nhân sinh. Người
bạn đáp: “Tôi sẵn sàng giúp ông bất cứ gì, nhưng có
năm điều tôi không thể giúp ông. Những điều ấy, tự ông
phải đảm đương lấy”. Đạo Khiêm xin cho biết là những
điều gì, ông bạn đáp: “Chẳng hạn như khi ông mặc áo
ăn cơm thì tôi không thể ăn mặc giùm ông được. ông phải
tự mình ăn mặc lấy. Khi ông mắc ỉa mắc đái, ông phải
tự mình lo liệu, tôi không thể làm thay ông. Rốt hết chính
là ông, không thể ai khác, phải mang cái thây chết này của
ông suốt khoảng đường trường này”. Lời nhận xét phút
chốc mở tâm người cầu đạo; ông này mừng quá với điều
khám phá đến không còn biết nói gì để tỏ niềm vui. Bấy
giờ Tông Nguyên mới nói rằng công quả của ông nay đã tròn,
từ nay sự đi chung không còn ý nghĩa nữa. Thế rồi hai người
chia tay nhau, và Đạo Khiêm tiếp tục cuộc hành trình một
mình. Sáu tháng sau, Đạo Khiêm trở về chùa cũ. Sư phụ là
Đại Huệ xuống núi tình cờ gặp ông đang lên chùa, bèn
cười nói:
“Bây
giờ thì đệ tử biết như thế nào rồi chứ?”
Thử
hỏi cái gì bừng ra lúc ấy trong tâm trí của Đạo Khiêm
khi ông bạn đưa ra một lời khuyên quá đỗi tầm thường
như vậy?
“Hương
Nghiêm Trí Nhàn là đệ tử tổ Bách Trượng (724-814). Bách
Trượng qua đời, Nghiêm sang tiếp tục công quả với tổ
Quy Sơn (771-853), một cao đệ của Bách Trượng. Quy Sơn hỏi:
Tôi nghe nói sư đệ tham học với thầy cũ tôi là Bách Trượng,
sư đệ thông minh lanh lợi tuyệt vời; nhưng tôi không hỏi
sư đệ về chỗ sở học bình sanh, cũng không hỏi về vô
số kinh sách sư đệ đã học qua. Tôi chỉ hỏi sư đệ: “Lúc
sư đệ chưa ra bào thai, chưa phân biệt gì gì hết, thử nói
một câu xem?”
“Hương
Nghiêm mờ mịt chẳng biết đường nào trả lời. Ông rút
lui vào thất, đem hết những văn chương chữ nghĩa ghi chép
lại bấy lâu ra tham cứu, những không tìm được đoạn nào
có thể nêu làm điểm thân kiến của ông. Rốt cuộc ông
trở lại Quy Sơn khẩn khoản xin chỉ giáo. Quy Sơn đáp: “Nếu
tôi nói cho sư đệ biết, sau này nhất định sư đệ sẽ
mắng tôi, vì tôi nói là nói cái biết của tôi, xét ra có
dính líu gì đến việc của sư đệ”. Hương Nghiêm thất
vọng, nghi vị sư huynh kia không tốt bụng. Rốt cùng ông đem
những kinh luận ngày thường đã xem đốt ráo, coi như “bánh
vẽ ăn mấy chẳng no”, nguyện gác thân ngoài thế sự, sống
cuộc đời tàn trong cô quạnh và chất phác theo giới luật.
Ông nghĩ thế này: ích lợi gì khổ công tham cứu Phật giáo,
thà làm một ông đạo không chùa không viện, cơm cháo đắp
đổi qua ngày, khỏi nhọc tâm thần.
“Thế
rồi Hương Nghiêm từ giã Quy Sơn ra đi, đến Nam Dương cất
bên mộ của quốc sư Huệ Trung một cái cốc. Ngày kia, trong
khi ông chặt cây quét lá, một viên sỏi đụng vào khóm tre
phát ra tiếng đập vào trí óc ông. Ông cười thất thanh,
ngộ ngay trong lúc ấy. Câu hỏi của Quy Sơn sáng rỡ lên;
ông vui mừng như gặp lại một bà con đã mất, ông vội trở
về tắm gội, đốt hương, hướng vọng về phía Quy Sơn và
nói rằng: Hòa thượng thực là đại từ, ơn ngài còn hơn
cha mẹ, nếu lúc trước vì ta mà nói ra thì ta đâu có được
như hôm nay.
Đây
là bài thơ cảm tác sư Hương Nghiêm làm ra sau khi thành đạo;
đọc lên, ta có thể có một ý niệm về sự đạt ngộ của
Sư:
Tiếng
dội lùm tre quên sở tri[11]
一
撃 忘 所 知
Có
gì đối trị giả tu trì
吏
不 假 修 治
Đổi
thay thần sắc nêu đường cổ
動
容 揚 古 路
Nếp
cũ tiêu điều chẳng trệ si
不
墮 悄 然 機
Chốn
chốn dạo qua không dấu vết
處
處 無 蹤 跡
Sắc
thanh nào nhiễm được uy nghi
聲
色 外 威 儀
Mười
phương đạt giả đều như vậy
諸
万 達 道 者
Tối
thượng là đây biết nói gì
咸言
上 上 機
IV.
CƠ DUYÊN VÀ ĐỐN NGỘ
Ta
phải nhận rằng trong Thiền có cái gì thách đố tất cả
sự giải thích; cái gì ấy, không một sư nào, dầu thiện
xảo thế mấy, có thể dùng trí óc phân tách mà độ được
con người. Hương Nghiêm đó, và Đức Sơn nữa, học đủ
tất cả kinh điển, nghe đủ tất cả lời giảng của các
thầy; nhưng khi hỏi về cái thực tự chứng nghiệm lấy thì
mù mịt không biết nói gì khả dĩ đẹp ý mình, huống nữa
là cầu được thấy ấn chứng. Đó là một sự kiện đầy
ý nghĩa, vì ngộ, rốt cùng, không phải là cái có thể hiểu
bằng trí thức. Nhưng một khi nắm được chiếc chìa khóa
rồi thì tất cả như phơi trần ra hết; toàn thể vũ trụ
hiện ra dưới một sắc thái mới lạ khác thường. Chỉ người
nào biết mới nhận ra sự thay đổi bên trong ấy. Ông Đạo
Khiêm trước ngày hành cước, và ông Đạo Khiêm sau ngày chứng
ngộ, bên ngoài vẫn là một; chỉ có Thiền sư Đại Huệ
vừa thấy là biết ngay cơ huyền diệu diễn ra trong ông, khỏi
cần ông thưa, gởi gì hết. Mã Tổ vặn mũi Bách Trượng,
và Bách Trượng biến đổi liền thành một bản lĩnh uy dũng
đến đỗi dám cả gan cuốn chiếu dẹp lại khi thầy ông
toan lên đàn nói pháp[12]. Cái thực nghiệm các ngài vừa chứng
qua không phải là thứ khéo luyện giỏi tập, có thể minh
giải được bằng tri thức, nên không vị nào có ý định
trình bày nó bằng một loạt bài giảng thông thái; các ngài
chỉ làm một hành vi nào đó, nói lên một câu nói nào đó
điên đảo đối với người ngoài cuộc, và như thế là xong
hết, thầy cũng như trò đều hài lòng như nhau. Ngộ không
thể là một ảo ảnh trống rỗng không chứa đựng gì hết,
không chân giá trị nào hết, trái lại đó phải là một kinh
nghiệm đơn giản không gì hơn, vì đó là kinh nghiệm căn
bản của tất cả kinh nghiệm.
Để
khai ngộ, tất cả những gì Thiền có thể làm là chỉ con
đường, kỳ dư mỗi cá nhân phải tự lo liệu lấy, nghĩa
là nương theo con đường ấy và đến đích - tức là phải
tự lực không thể ỷ lại vào tha lực. Dầu làm gì, ông
thầy vẫn không giúp gì được cho sự tu chứng của học
trò, trừ phi tâm trí người học trò được dọn sẵn để
tiếp nhận. Cũng như hoa nở là do tinh anh bên trong phát tiết
ra, cũng vậy, sự kiến chiếu vào tự tánh phải là kết quả
sự sung mãn nội tại tràn ra ngoại cảnh. Thiền vốn riêng
tư và chủ quan là vậy, nghĩa là thuộc nội tâm, và đầy
sáng tạo. Trong văn học A Hàm hoặc Nikaya, ta gặp luôn những
câu như “atta-dipa viharatha atta sarana ananna-sarana” hoặc “sayam
abhinna” hoặc “dittha dhammo patta-dhammoo vidita-dhammo pariyogalha-
dhammo aparappaccayo satthu sasane”, ngụ ý rằng Giác Ngộ là
sự thức tỉnh, tự bên trong, không lệ thuộc vào người
khác, của một quan năng nội tại khả dĩ sáng tạo nên một
thế giới đời đời chí thiện chí mỹ - cảnh giới Niết
Bàn.
Thiền
không giúp ta một kiến thức nào, mà cũng không phí thời
giờ tranh biện kiến thức với ta; Thiền chỉ gợi ý, hoặc
chỉ thẳng, không phải vì Thiền muốn lờ mờ, mà chính vì
Thiền không thể làm gì khác hơn cho ta được, bằng không
nó có nề hà gì đưa ta đến chỗ thông đạt. Trên thực
tế, Thiền đã tận dụng đến phương tiện cuối cùng để
giúp ta hiểu biết, như ta có thể nhận thấy qua cử chỉ
của các cao tăng đối với môn đồ[13]. Cả khi các ngài hét
mắng đánh đá, lòng lân mẫn của các ngài vẫn không hề
có chỗ đáng ngờ. Các ngài chỉ chờ đệ tử đủ cơ duyên
mở tâm ra trong vận hội cuối cùng. Đến lúc ấy thì bất
cứ gì cũng là cơ hội khai ngộ, hiển thị chân lý Thiền,
hoặc nghe một tiếng động vu vơ, một câu nói khó hiểu,
hoặc ngắm đóa hoa nở, hoặc gặp bất cứ sự việc thường
nhật nào trong đời như ngã té, cuốn chiếc chiếu, phe phẩy
cây quạt..v.v... sự việc nào cũng là những điều kiện đủ
để đánh thức nội tâm. Cơ duyên đành là vô nghĩa lý nhất
đời, nhưng hậu quả đối với tâm trí thật là vô cùng
tận, vượt ngoài tất cả điều mong ước. Đúng là một
đốm lửa châm vào một ngòi nổ và, ô kìa, một cuộc địa
chấn bộc phát lên tận đáy cùng của trái đất. Thật vậy,
tất cả nguyên nhân giác ngộ đều nằm ở tâm. Cho nên hễ
có cái ấn tay là tất cả những gì tiềm ẩn ở tâm đều
vùng dậy hết, bốc cháy như núi lửa, hoặc nhoáng lên như
tia chớp. Thiền gọi đó là “quày đầu trở về nhà”,
đúng như các nhà tu thiền thường nói: “Đó là ông gặp
lại chính ông. Từ đời thuở nào không có gì đánh mất
ở ông hết. Chính tại ông nhắm mắt trước cái thực. Trong
Thiền, không có gì phải cắt nghĩa, không có gì cần dạy
để thêm vào kiến thức của ông. Trừ phi sự hiểu biết
bừng lên tự trong ông, ngoài ra không có sự hiểu biết nào
có giá trị hết; lông chim kết lên đầu có mọc được bao
giờ?”
Quan
thái sử Hoàng Sơn Cốc là một nhà Nho, một nhà thơ, ngày
kia đến gõ cửa Thiền sư Hối Đường Tổ Tâm (1024-1110)
xin học Thiền. Sư nói: “Có một đoạn sách Nho ắt ngài
đã nằm lòng dạy đúng như Thiền dạy. Ngài nhớ lại coi
có phải thánh Khổng nói: Ông nghĩ rằng tôi có điều giấu
ông. Này các ông ơi, thật tôi không giấu ông điều gì hết.”
Nhà nho toan đáp, nhưng Sư một mực nói: “không! không!”
khiến ông không mở miệng được. Ông bối rối cả tâm thần,
nhưng không biết thưa thốt gì. Sau đó hai người có dịp
đi chơi núi. Gặp mùa hoa quế rừng nở rộ, mùi hương thơm
ngát một vùng. Thiền sư hỏi: “Ngài có ngửi thấy mùi hương?”.
Ông đáp “Vâng”. Sư tiếp: “Đó, tôi có giấu gì ngài
đâu?”. Câu nói tức thì mở tâm nhà nho. Thật hiển nhiên
ngộ há phải từ ngoài đến, do người khác cưỡng ép vào
ta đâu, mà chính tự nó nó mọc lên ở trong ta? Dầu không
có gì giấu ta hết, nhưng ta phải ngộ mới thấy được,
và tin quyết rằng không gì thiếu hết trong chính ta. Vậy,
tất cả những gì Thiền chủ xướng lên không ngoài mục
đích xác định sự tự hiển thực ấy ở cá nhân gọi là
mở ngộ.
V.
ĐỐN NGỘ VÀ ĐỘT BIẾN
Vì
lẽ “ngộ” đập thẳng vào căn bản của cuộc sống, nên
đạt ngộ đánh dấu một khúc quanh quyết định cho nhân sinh.
Tuy nhiên, cái ngộ ấy phải toàn triệt, phải “tiệt đoạn”
mới có được kết quả thỏa đáng. Để xứng với danh từ
ngộ, cuộc cách mạng nội tâm phải cùng tuyệt thế nào khiến
ta có cảm giác như thực sự vừa thử qua một cuộc rửa
tội trong lửa cho tâm trí. Khí lực bình sinh của người chuyển
ngộ càng quyết liệt bao nhiêu thì cảm giác ấy càng cao độ
bấy nhiêu. Vì về nhiệt độ, ngộ vẫn có thứ bậc như
bất cứ hoạt động tinh thần nào khác. Người chứng đến
một cái ngộ nguội lạnh không chịu đựng nổi ngọn trào
cách mạng tâm linh như của Lâm Tế hoặc Phật Quang, sẽ thuật
sau. Ngộ thuộc phạm vi cá tánh, chẳng phải trí thức, nghĩa
là Thiền nảy mầm lên tự ý chí như nguyên lý đầu tiên
của cuộc sống. Một trí óc tinh nhuệ có thể không xô nổi
cánh cửa huyền vi của đạo Thiền, nhưng một bản lĩnh uy
hùng uống ngay được ngọn nước đầu nguồn. Tôi không biết
trí thức có phải chỉ phiến diện chạm sơ ngoài rìa của
cá thể con người không, nhưng sự thực thì ý chí chính là
con người, nên Thiền kêu gọi đến ý chí. Hễ nắm chặt
được then máy ấy là có khai ngộ, và đạt Thiền. Thường
người ta ví đó là rắn hóa rồng, hoặc cụ thể hơn đó
là con chó quèn lang thang đầu đường xó chợ, nguẩy đuôi
ăn mày đầu tôm xương cá và tình thương, và bị trẻ con
đánh đuổi không tiếc tay, giờ đây biến thành sư tử lông
gáy vàng, một khi rống lên là khiếp đảm tất cả những
tâm hồn hèn yếu.
Khi
Lâm Tế Nghĩa Huyền (? - 867) cắn răng ba lần nhận lấy ba
chục hèo của Huỳnh Bá Hy Vận (?-850) mỗi khi ông đến hỏi
đạo, trông ông thật thiểu não làm sao? Ông buồn ý bỏ Huỳnh
Bá sang xin học với sư Đại Ngu.
Đại
Ngu hỏi:
- Ở
đâu đến đây?
- Ở
hòa thượng Huỳnh Bá.
- Huỳnh
Bá có nói câu gì không?
- Nghĩa
Huyền tôi đảnh lễ Hòa Thượng hỏi về đại ý của Phật
pháp thì bị hòa thượng đánh, ba lần hỏi ba lần bị đánh
như vậy, không biết tôi có lỗi gì?
Đại
Ngu nói: Huỳnh Bá có lòng đại bi như lão bà như vậy nên
mới làm cho ông khốn đốn, sao ông không biết mà còn hỏi
lỗi phải nỗi gì?
Sư
vừa nghe chợt tỉnh theo lời nói.
Ngộ
rồi, câu nói đầu tiên của Lâm Tế là: “Thì ra Phật pháp
của Huỳnh Bá chả có gì lắm đó!” Sau khi đánh Đại Ngu
ba thoi vào bụng. Lâm Tế giã từ trở về Huỳnh Bá. Huỳnh
Bá hỏi:
- Người
về sớm vậy sao?
- Vì
lòng đại bi của lão bà nên trở về đây.
- Đại
Ngu có nói câu gì không?
Lâm
Tế thuật lại tự sự. Huỳnh Bá nói:
- Cái
lão Đại Ngu lẻo mép ấy, hôm nao gặp ta đánh cho một trận.
- Khỏi
chờ đến hôm nào, ngay bây giờ cũng được.
Vựa
nói, Lâm Tế phóng Huỳnh Bá một chưởng. Huỳnh Bá nói:
“Lão
mắc phong này khéo vào đây vuốt râu cọp”.
Lâm
tế không đáp, hét một tiếng[14]
Hẳn
là cử chỉ thô bạo của Lâm Tế có lý do, vì vị sư già
chỉ biết vui mừng không siết kể để cho Lâm Tế vừa xử
tệ với mình, vừa giàn giụa nước mắt.
“Sau
khi đạt ngộ với hòa thượng Long Đàm, Đức Sơn (779-865)
gom tất cả những bài luận giải kinh Kim Cương do ông soạn
ra, và ông quý mến vô cùng, đi đâu cũng mang kè kè theo, rồi
ông nổi lửa đốt, không chừa gì lại hết. Ông nói:
Đàm
huyền luận điệu cho đến đâu cũng chẳng khác đặt một
sợi lông vào hư không vô tận; còn cùng kiếp tận số tìm
kiếm then chốt máy huyền ví như đổ một giọt nước xuống
vực sâu không đáy, chẳng thấm vào đâu. Học với chẳng
học, mình ta ta biết.
“Ám
chỉ vào Đức Sơn, hôm sau hòa thượng Long Đàm lên tòa gọi
tăng chúng nói: Trong đây có một lão răng như rừng gươm,
miệng tợ chậu máu, đánh một hèo chẳng ngoái cổ, lúc khác
lại lên chót núi chớn chở dựng đạo ta ở đấy.”
“Từ
giã Long Đàm, sư Đức Sơn đi ngay lên núi tổ Quy Sơn. Đến
nơi, Sư cặp áo dưới nách đi thẳng vào phương trượng,
ngó qua ngó lại, hỏi: “Có gì? Có gì?”. Quy Sơn không buồn
đáp. Sư bỏ ra đi, đến tăng đường, rồi sửa lại uy nghi,
trở lại phương trượng. Vừa bước qua khỏi cửa, Sư đưa
cái tọa cụ (gối ngồi) lên, nói: “Hòa Thượng!”. Quy Sơn
vói nắm cái phất trần. Sư hét lớn, rồi rủ tay áo ra đi.
“Chiều
ấy, Quy Sơn nói với tăng chúng: Ông ta sau này lên chót núi
cheo leo kết cỏ làm am, la Phật quở Tổ ở đó vậy!”
Sau
ngày xảy ra vụ le le bay, đã thuật ở đoạn trước, Mã Tổ
Đạo Nhất ( 709-788) lên pháp đàn, toan nói pháp, thì Bách
Trượng Hoài Hải (724-814) xuất hiện, cuốn chiếu dẹp, coi
như bế mạc thời pháp. Mã Tổ xuống đàn, trở vào phương
trượng, gọi Bách Trượng vào hỏi: Ta vừa thượng đường,
sắp nói pháp, sao ông cuốn chiếu dẹp đi?”
Trượng
thưa: Hôm qua Hòa thượng véo mũi đau quá.
Mã
hỏi: Ông nói tầm ruồng gì đó?
Trượng:
Hôm nay chót mũi hết đau rồi.
Sư
Bách Trượng nay đã đổi khác hết rồi? Khi chưa bị véo
mũi, sư không biết Thiền cơ là gì hết. Giờ đây, Sư là
kim mao sư tử, Sư là chủ, Sư hành động ngang dọc tự do
như chúa tể của thế gian này, không ngại đẩy lui cả vị
sư phụ vào hậu trường[15].
Thật
quá tỏ rõ ngộ là cái gì đi sâu tận đáy cá thể con người.
Thế nên sự biến đổi mới kỳ đặc đến vậy như ta vừa
thấy ở những câu chuyện kể trên.
VI.
KỆ NGỘ GIẢI
Nhiều
sư còn lưu lại những bài thơ gọi là kệ ghi lại những
điều cảm nghĩ trong phút giây mở con mắt huệ. Những bài
kệ ấy có tên riêng là “đầu cơ kệ”, ngụ ý giữa thầy
và trò có sự tình ý hợp nhau. Qua những lời dịch sau, bạn
đọc có thể rút ra những kết luận riêng cho mình về bổn
chất và nội dung của ngộ rất được giới tu Thiền tôn
quý. Có điều tôi xin lưu ý trước là nội dung những bài
thơ sau uyển chuyển biến đổi không giống nhau về từ và
tứ nên rất khó cho bạn đọc so sánh sự ngộ giải của
các tác giả. Đôi khi đó chỉ là một bài tả tình ghi phớt
qua cảm nghĩ của tác giả khi ngộ đạo chớ không phân tách,
vả không thể phân tách được - trừ phi chính người phê
bình tự mình chứng quả cảnh ấy. Dầu sao, những bài thơ
ấy vẫn giúp ích rất nhiều cho nhưng nhà khảo sát phần
huyền học trong tâm lý học Phật giáo.
Bài
thơ sau đây là của Trường Khánh (? - 932) làm ra khi ông cuốn
lên bức rèm mà tỏ ngộ:
Thật
là hư ảo, ảo hư thay
Vén
bức rèm lên: thế giới đây!
Ví
hỏi pháp nào tu chứng đó
Rằng
đây phất tử tặng ông này.
Pháp
Diễn ở Ngũ Tổ Sơn, tịch năm 1104, là pháp tử của hòa
thượng Thủ Đoan ở Bạch Vân, mà cũng là sư phụ của đại
sư Viên Ngộ, có bài thơ như sau khi mắt ông mở ra trong chỗ
ngộ nhập:
Ven
đồi một dải đất thong dong
山
前 一 片 閑 田 地
Nài
nỉ xoa tay hỏi tổ ông:
又手
叮 嚀 問 相 翁
“Mấy
thuở mua đi rồi bán lại?”
幾
度 賣 來 還 白 買
Vui
thay tòng trúc quyện thanh phong
為
憐 忪 竹 引 清 風
Phật
Quả Viên Ngộ (1063-1135) là một cao tăng, đời nhà Tống,
và là tác giả bộ sách Bích nham lục nổi danh trong Thiền
giới. Thơ ông tình ý khác hẳn với sư phụ Pháp Diễn, bạn
đọc khó nhận ra chất Thiền bàng bạc trong bài thơ hào hoa
bay bướm sau đây:
Hương
ngỗng vàng thôi ướp gấm thêu
金
鴨 香 膘 錦 幃
Ca
xang giữa cuộc bỏ về theo
笙
歌 叢 裏 醉 扶 歸
Tuổi
xanh một dứt lời phong nhã
少年
一投 風 流 事
Chỉ
hứa giai nhân tự biết nhiều
衹
許 佳 人 獨 自 知
Diên
Thọ (904-975) ở chùa Vĩnh Minh, thuộc dòng Thiền Pháp Nhãn,
và là tác giả bộ sách Thiền Tông cảnh lục, gồm trăm quyển,
là một cao tăng tên tuổi đầu đời nhà Tống. Tình cờ Sư
nghe tiếng bó củi rơi xuống đất mà tỏ ngộ, và có thơ
rằng:
Có
gì rơi xuống chí lâng lâng
Khắp
khắp hai bên chẳng mảy trần
Sông
núi có cây toàn vũ trụ
Đâu
là chẳng hiện Pháp Vương Thân
Hai
bài thơ sau đây, bài đầu của cư sĩ Dương Ức, tự Đại
Niên (973-1020), một quan chức đời Tống, bài sau của Trà
Lăng Úc, đệ tử của Thiền sư Dương Kỳ Phương Hội (l024-l072),
tổ khai sáng ngành Thiền Dương Kỳ thuộc hệ thống Lâm Tế
Tông:
Cối
xay tám góc chuyền trời cao
八角
磨 盤 空 裏 走
Sư
tử lông vàng hóa chó ngao
金
毛 獅 子 變 作 狗
Ví
muốn cất mình lên bắc đẩu
擬
欲 將 身 比 斗
Chắp
tay về ngắm chốn nam tào
應
須 谷 掌 南 辰 後
Ta
có ngọc quý minh châu
找
有 明 珠 一 顆
Bụi
đời vùi lấp bấy lâu
久
被 塵 勞 關 鎖
Bụi
hết hôm nay sáng lại
今
朝 塵 盡 光 生
Thế
gian chiếu phá làu làu
照
破 山 河 萬 朵
Những
bài thơ đủ sắc thái trên, không bài nào giống bài nào,
khó gợi cho ta một nhận định xác đáng về nội dung của
ngộ bằng cách so sánh hay phân tách. Nhưng tôi thiết tưởng
dầu sao ta vẫn nhận thấy ở đôi bài biểu lộ một phát
giác mới; còn phát giác đó là gì, điều ấy cần tự ta
có ít nhiều thân chứng riêng mới có thể nói rõ hơn được.
Dầu ở trường hợp nào, tất cả Thiền sư đều chứng chắc
rằng trong Thiền có cái gọi là “ngộ”, nhờ nó con người
du nhập trong một thế giới giá trị mới. Kiến giải cũ
vứt bỏ là thế gian mang một ý nghĩa mới. Có người cho
rằng mình đã bị mê hoặc, hoặc kiến thức cũ của mình
chìm lỉm mất trong quên lãng, trong khi người khác thú thật
rằng bấy lâu họ đâu có ngờ đến cái đẹp mới lạ ấy
hiển lộ trong “thanh phong” và trong “minh châu”.
VII.
TÂM CƠ CHUYỂN HÓA
Nếu,
như từ trước đến giờ, ta chỉ xét cái ngộ ở phạm vi
khách quan, thì sự mở con mắt Thiền trong chỗ ngộ nhập
hầu như không có gì khác thường lắm. Thầy đưa ra một
vài xét đoán nào đó, và nếu đúng thời cơ, trò chứng ngay
lý nhiệm màu bấy lâu chưa hề mơ tưởng đến. Tất cả
hầu như tùy ở tâm trạng, hoặc mức độ dọn tâm sẵn có
trong chốc lát ấy.
Thiền,
rốt cuộc, là một canh bạc hên xui, có lẽ nhiều người
toan nghĩ vậy. Nhưng ta biết rằng Nam Nhạc phải bỏ tám năm
trường vật lộn với câu hỏi của Huệ Năng “Mà cái gì
đến?”[16] ta mới thấy vô số đau đớn ê chề ray rứt
tâm hồn Nam Nhạc như thế nào trước khi ông đi đến giải
quyết cuối cùng bằng câu đáp:
“Nói
tợ như cái gì đều chẳng đúng”[17]
Ta
phải nhìn sâu vào khía cạnh tâm lý của ngộ, nghĩa là vào
những then máy thầm kín mở ra cánh cửa muôn đời. Muốn
vậy, tốt hơn là dẫn lại lời tự thuật của vài thiền
sư nay còn lưu giữ.
Cao
Phong Diệu Tổ (1238-1285) là một đại sư cuối đời nhà Tống.
Khi sư phụ ông lần đầu tiên trao cho ông công án chữ VÔ[18]của
Triệu Châu để tham quán, ông chuyển hết khí lực bình sanh
vào đề án. Ngày kia, bất thần sư phụ hỏi ông:
“Ai
mang cho ông cái thân vô tri giác ấy?”. Ông khựng, không biết
sao mà thưa thốt, mà thầy ông thì khắc nghiệt lắm, thường
hỏi đâu là có đánh đá đó. Sau đó, nữa đêm, khi đang
ngủ, ông sực nhớ, trước kia thầy cũ của ông có giao cho
ông tìm ra diệu nghĩa của câu nói “Muôn vật trở về một”[19]
thế là suốt đêm ấy, và mấy ngày đêm sau, ông không sao
ngồi yên, chợp mắt được. Trong tâm thần căng thẳng cực
độ ấy, ngày kia ông bất chợt thấy mình đang đọc bài
thơ của Ngũ Tổ Pháp Diễn viết trên chân dung của Tổ, trong
ấy có câu này:
Trăm
năm - ba vạn sáu ngàn ngày
Lão
hán ấy luôn luôn cử động
Thế
là những thắc mắc ngàn đời của ông về câu hỏi “ai
mang cho ông cái thân vô tri giác ấy?” phút chốc được giải
trừ ngay. Ông được “ấn chứng”, và trở thành một người
hoàn toàn mới.
Thiền
sư Cao Phong còn lưu lại trong bộ ngữ lục do sư soạn lời
tự thuật nhưng ngày tâm thần căng thẳng ấy như sau:
“Trước
kia, khi còn ở Trường Khánh, trước khi vào Thiền đường
một tháng, đêm kia trong giấc ngủ say tôi bất chợt thấy
tôi chú hết tâm tri vào câu hỏi “muôn vật trở về một,
một trở về gì?”. Tôi chiếu cố đến đề án[20]chuyên
nhất đến đỗi quên hết việc ngủ nghỉ ăn uống, không
còn phân biệt phương hướng ngày đêm gì hết. Khi trải khăn
bàn, hay sắp chén dĩa, hay đi tiểu đi tiện, dầu động hay
tịnh, dầu nói hay im, toàn thể cuộc sống của tôi như gói
trọn trong nghi niệm “cái một trở về gì?”, không xen lộn
mảy may niệm nào khác; vả lại, dầu muốn, tôi vẫn không
thể nghĩ gì lệch ngoài trung tâm điểm ấy, dầu chỉ nghĩ
thoáng qua thôi. Tưởng chừng như tôi bị đóng cứng hoặc
chôn chân tại chỗ; dầu tôi cố vùng vẫy mấy nó vẫn không
buông tha; dầu giữa đám đông, giữa tăng chúng, tôi vẫn
cảm thấy như hoàn toàn chỉ có một mình tôi. Từ sáng đến
tối, từ tối đến sáng, tinh khiết làm sao, thanh tịnh làm
sao, tư tưởng của tôi trang nghiêm lướt trên muôn vật. Một
niềm thanh khiết làm sao, không gợn mảy bụi! Một niệm bao
trùm muôn thuở! Thế giới bên ngoài vắng lặng làm sao, tôi
không còn biết có ai khác nữa. Như một kẻ ngốc, như một
tên ngu dại, trải qua sáu ngày sáu đêm như vậy, kế tôi
vào chánh điện với chư tăng khác, và khi đang đọc kinh,
mắt tôi chợt đặt trên câu thơ của Ngũ Tổ. Thế là đột
ngột tôi thức tỉnh cơn mê, và ý nghĩa của câu hỏi “ai
mang cho ông cái thân vô tri giác ấy” vụt sáng trong tôi câu
hỏi thầy tôi trao cho tôi ngày trước. Tôi cảm như cả không
gian vô biên này vỡ tan từng mảnh và đại địa sụp đâu
mất. Tôi quên tôi, tôi quên thế gian; đó như một tấm gương
phản chiếu một tấm gương. Tôi thử tham quán vài công án
khác, sao mà công án nào cũng sáng rỡ đến vậy! Từ nay tôi
không còn nghi hoặc diệu dụng của trí Bát Nhã nữa.
Sau
đó, Sư Cao Phong vừa gặp lại thầy cũ thì bị hỏi chận
đầu ngay: “Ai mang cho ông cái thân vô tri giác ấy”, Sư
hét trả lại. Thầy giơ hèo toan đập, Sư ngăn tay, nói:
- Bữa
nay không đánh tôi được.
-Tại
sao?
Sư
không đáp, đột ngột bỏ ra đi. Hôm sau, thầy lại hỏi Sư:
- Muôn
vật trở về một, một trở về gì?
- Chó
liếm nước sôi trong chảo nóng.
- Ông
học đâu thứ quái gở ấy?
Cao
Phong đáp lại ngay:
"Ông
cứ hỏi ông thì biết".
Câu
nói đủ đẹp lòng vị sư phụ không gì hơn.
Bạch
Ẩn Huệ Hạc[21] (1683-1768) là một vị sư khác cơ lưu lại
di bút thuật lại sự tâm chứng của Sư; trong bộ Orategama,
Sư viết:
“Năm
hăm bốn tuổi, tôi đến chùa Anh Nghiêm ở Echigo. Hòa thượng
trao cho tôi chữ VÔ của Triệu Châu. Tôi chuyên nhất tham quán,
ngày đêm không ngủ, quên cả uống ăn, thì bỗng dưng khối
đại nghi[22]chiếm trọn tâm thần tôi. Tôi cảm như đông
cứng lại trong một cánh đồng băng giá trải rộng ngàn vạn
dặm, và trong tôi là một cảm giác vô cùng thanh tịnh và
khinh an. Tôi hết đường tới, bặt đường lui. Như một kẻ
ngốc, như một tên ngu dại, tôi không thấy gì khác hơn chữ
VÔ ấy của Triệu Châu. Tôi vẫn dự những thời nói pháp
của thầy, nhưng lời nói sao mà xa xôi như từ muôn dặm vọng
về. Đôi khi tôi có cảm tưởng như bay giữa hư không. Tình
trạng ấy kéo dài suốt tuần, cho đến một buổi chiều,
một tiếng chuông chùa xa vọng lại làm cho tất cả sụp đổ
tan tành. Quả đó chẳng khác nào như đập bể một bồn nước
đá, hoặc xô ngã một ngôi nhà ngọc. Phút chốc tôi thức
tỉnh, và thấy chính mình là Nham Đầu[23],vị tổ sư thuở
trước, qua bao thế sự thăng trầm vẫn không mất mảy may
gì. Mọi điều ngờ vực, hoang mang từ trước bỗng tiêu tan
như băng tuyết gặp vừng dương. Tôi reo to: “Kỳ thay, kỳ
thay, không có sanh tử luân hồi nào phải thoát ra, cũng không
có bồ đề nào phải dụng tâm cầu được. Tất cả cát
đằng kim cổ một ngàn bày trăm câu[24]thật chẳng đáng bỏ
công đề xướng” .
Trường
hợp của Phật Quang[25]quốc sư hẳn còn ly kỳ hơn. Rất may
ta còn một di cảo của quốc sư tự thuật lại đủ chi tiết
như sau:
“Năm
mười bốn tuổi, tôi đến Khâm Sơn. Năm mười bảy tuổi
tôi phát tâm học Phật, và bắt đầu thử khám phá mật nghĩa
chữ VÔ của Triệu Châu. Tôi định làm xong công quả ấy
trong một năm, nhưng rốt cuộc không đi đến đâu hết. Rồi
một năm nữa trôi qua vẫn không gì hơn, rồi ba năm nữa,
vẫn không thấy chút tiến bộ nào. Qua năm thứ năm và thứ
sáu, vẫn không có gì khác thường biến đổi trong người
tôi, nhưng chữ VÔ giờ đây bám dính vào tôi, không rời một
bước, cả đến khi tôi ngủ. Toàn thể vũ trụ hầu như chẳng
gì khác hơn là chữ VÔ ấy. Trong khi ấy, một ông sư già
bảo tôi thử dẹp hết qua một bên coi sự thế ra sao. Theo
lời khuyên, tôi vứt tất cả và ngồi yên. Nhưng chữ VÔ
đeo riết theo tôi đến không sao bứt bỏ được, dầu đã
hết sức vùng vẫy. Ngồi, tôi quên tôi đang ngồi, mà cũng
quên luôn bản thân tôi, quên hết, chỉ còn lại cảm giác
một cái trống không. Cứ thế nửa năm trôi qua. Như chim sổ
lồng, tâm tôi qua lại tự do, dọc ngang tùy thích, không ngăn
ngại, hết Đông sang Tây, hết Nam sang Bắc. Ngồi tịnh suốt
hai ngày liền, hoặc suốt ngày đêm, tôi không biết mệt mỏi
là gì.
“Thuở
ấy ở chùa có đến gần chín trăm tăng, trong số ấy có
nhiều người hành thiền tinh cần lắm. Đêm nọ, trong khi
đang tịnh, tôi cảm như thân và tâm tôi bứt làm đôi, hết
mong gì chắp liền lại được. Mọi người quanh tôi đều
tưởng tôi chết mất rồi, nhưng có một tăng già bảo rằng
vì tôi thâm nhập trong đại định nên tứ chi cóng lạnh thành
bất động, nếu cho mặc áo ấm vào thì tỉnh lại như thường.
Quả đúng vậy vì rốt cùng tôi tỉnh lại, và hỏi mới biết
tôi lịm trong trạng thái ấy đã một ngày một đêm.
“Sau
đó, tôi vẫn tiếp tục ngồi tịnh, và bắt đầu ngủ được
chút chút, nhưng hễ nhắm mắt là thấy mở rộng trước tôi
một khoảng trống không như một sân trại. Trong mảnh đất
ấy tôi qua tôi lại mãi thét đến quen thuộc hết. Nhưng hễ
mở mắt ra là hình ảnh ấy tan biến mất. Một đêm, ngồi
tịnh rất khuya, tôi giữ đôi mắt mở trừng ra theo dõi tôi
ngồi trên tấm nệm. Thình lình có tiếng đập trên tấm bảng
trước phòng vị giáo thọ lọt vào tai tôi, và liền đó hiển
lộ trọn vẹn ở tôi vị “bổn lai nhân”. Hình ảnh hiện
ra ấy không còn gì hết khi tôi nhắm mắt. Tôi vội vã rời
nệm ngồi, chạy riết dưới trăng thanh đến khu vườn nhà
Ganki, tại đây ngửa mặt lên trời tôi phá lên cười vang:
Ôi,
lớn thay pháp giới! Lớn thay, vào bao la, mãi mãi không cùng!
“Nỗi
mừng của tôi thật không bờ bến vậy! Tôi không ngồi yên
được trong Thiền đường; tôi bỏ đi lên núi, lang thang đó
đây, vớ vẩn, không mục đích. Tôi nghĩ rằng mặt trời
mặt trăng mỗi ngày đi bốn ngàn triệu dặm. Rồi tôi nghĩ
nữa vầy: quê tôi ở Trung Quốc, người ta nói rằng xứ Dương
Châu của tôi là trung tâm của thế giới. Nếu vậy thì chỗ
ấy xa chừng hai ngàn triệu dặm cách chỗ mặt trời mọc;
nhưng tại sao mặt trời vừa mọc là ánh nắng đập ngay vào
mắt tôi?” Tôi lại nghĩ thêm: “Ánh mắt tôi phải đi chớp
nhoáng như ánh mặt trời, vì nó đến tận mặt trời; mắt
tôi, tâm tôi há chẳng là Pháp giới sao?” Nghĩ đến đây,
tôi cảm như tất cả những gì trói buộc tôi từ vô lượng
kiếp đổ vỡ tan tành hết. Từ bao nhiêu năm vô tận rồi
nhỉ tôi sống trong ổ kiến như thế này? Và giờ đây, đây
này, mỗi lỗ chân lông trên da tôi là vô số nước Phật
trong mười phương! Tôi tự nhủ: “Dầu không được cái
ngộ cao hơn, thì thế này vẫn đủ quá cho tôi rồi".
Sau
đây là bài thơ Phật Quang cảm tác khi ngộ đạo:
Một
đao đập nát động tâm ma
Mặt
sắt Na Tra hiện đó mà
Miệng
tưởng câm rồi tai tưởng điếc
Va
nhầm, sao lửa nổ bùng ra[26]
VIII.
ĐẠI NGHI VÀ BÙNG NỔ
Những
câu chuyện trên đủ chứng tỏ tâm thức phải qua những diễn
trình như thế nào trước khi được mở ngộ. Đành rằng
đó toàn là những thí dụ ưu việt nhất, cao tuyệt nhất,
vì không phải cái ngộ nào cũng đến tự một cao độ tập
trung phi thường như vậy. Tuy nhiên, một sự kinh nghiệm tương
đương phần nào như vậy vẫn phải có để chuẩn bị cho
bất cứ cái ngộ nào, nhất là cho người mới phát tâm cầu
Thiền. Đó là lúc tấm gương của tâm, hoặc miếng đất
của ý thức (tâm địa) chừng như được lắng sạch đến
không còn mảy bụi.
Vậy,
khi tất cả suy lượng đều nhất thời ngưng đứng, khi bặt
cả đến ý thức dụng công giữ đứng một ý nghĩ tập trung
ở một tiêu điểm; nghĩa là, nói theo luận điệu các Thiền
sư, khi tâm (năng tri) với đối tượng của tâm (sở tri) đều
dung thông nhau, và đồng nhất mật thiết đến đỗi cả cái
biết đồng nhất ấy cũng bặt nốt để tất cả chỉ còn
là một tấm gương phản chiếu một tấm gương, đó là lúc
hành giả có cảm tưởng sống trong một cung điện pha lê,
đâu cũng trong suốt, cũng tươi mát, cũng nhẹ bồng, và hư
linh. Tuy nhiên, đó chưa phải là cứu cánh, chỉ mới là cơ
duyên chuẩn bị để hoàn tất cái gọi là Ngộ. Nếu cố
thủ ở trạng thái tâm chứng ấy ắt dứt hết cơ hội ngộ
Thiền. Thuật ngữ đại nghi[27]chỉ vào trạng thái chuẩn
bị ấy. Trạng thái ấy phải đổ vỡ tan tành, và nổ bùng
trong giai đoạn tiếp theo, tức “thấy tánh” hoặc “mở
ngộ” sự bùng nổ ấy chẳng gì khác hơn là hiện tượng
thường diễn ra khi cái thế quân bình mong manh ấy lắc lư
vì một lý do này hoặc lý do khác. Một cục đá ném xuống
mặt hồ phẳng lặng là cơn chấn động lan rộng liền khắp
mặt hồ. Sự bùng nổ có cái gì hơi giống vậy. Một tiếng
động chạm vào cửa tâm thức khép kín là loan truyền ngay
qua toàn thể cá nhân. Và cá nhân tỉnh giấc, theo nghĩa mạnh
nhất của danh từ. Cá nhân ấy được “rửa tội” trong
ngọn lửa sáng tạo vậy. Cá nhân ấy chứng kiến việc làm
của Chúa ngay tại công xưởng của Chúa. Cơ duyên thức tỉnh
ấy không nhất quyết phải là tiếng chuông chùa xa nghe vọng
lại, mà có thể bất cứ gì, như đọc một bài thơ, thấy
một vật xê dịch, cảm một va chạm trên làn da, miễn đó
là một trạng thái tập trung nung đến cực độ là có nổ
bùng trong ngộ.
Tuy
nhiên, sự tập trung có thể không giữ được ở độ quá
bất thường như ở Phật Quang. Thường có thể chỉ kéo dài
vài giây, nhưng nếu là thứ “chánh định” và được diệu
thủ của thầy hướng dẫn thì chắc chắn cơ khai ngộ vẫn
có thể diễn ra. Như trường hợp Tổ Lâm Tế khai ngộ cho
Định thượng toạ.
Định
thượng tọa hỏi Lâm Tế: “Thế nào là đại ý của pháp
Phật?”. Tế bước xuống thiền sàn, nắm lấy thượng tọa,
xáng cho một bạt tai, rồi xô ra. Định đứng khựng. Ông
tăng đứng bên nhắc: “Định thượng tọa, sao không lạy
Hòa thượng đi?”. Định toan lạy thì ngay lúc ấy hốt nhiên
đại ngộ.
Trong
trường hợp này, sự tự tịnh tự định của Định thượng
tọa hầu như không kéo dài lâu lắm; sự vái lạy đánh dấu
điểm cùng biến biến thông tất cả, và phục hoàn lại thức
giác không phải thứ thức giác thường như khi tỉnh táo,
mà chính là thức giác nội tại về tự thể con người. Thường
ta không có những bút tích thuật lại công phu tu tập có trước
khi ngộ, nên ta hay phớt tỉnh lướt qua biến cố cùng tột
ấy, coi như chỉ là một sự may mắn bất thường, hoặc như
một “ngón” trí thức phù phiếm nào đó không có chiều
sâu. Cho nên đọc những câu chuyện đạt ngộ ấy, ta cần
đem kinh nghiệm bản thân bổ khuyết chỗ thiếu sót tài liệu
về tất cả công phu hạ thủ cần cho cơ sự khai ngộ bùng
nổ[28]
TỔNG
KẾT
Trong
Phật giáo, hiện tượng tu chứng gọi là Ngộ được coi là
tinh yếu của đạo Thiền, là khúc quanh chuyển hướng cuộc
sống của ta mở tâm ra trước một thế giới vô cùng thâm
diệu, mà đồng thời ngộ cũng là một cái rất thường tình
có thể lượm lặt được trong sinh hoạt thường ngày, bất
cứ đâu; ta cũng được biết ngộ phát ra từ cuộc sống
nội tâm của cá nhân, không thể nhờ sức giúp đỡ nào bên
ngoài, ngoài việc chỉ dẫn một con đường đi. Tiếp theo,
ta còn được biết cái ngộ biến đổi như thế nào nhãn
quang của chúng ta phóng vào sự vật nghĩa là lật đổ như
thế nào toàn thể giá trị cũ để đặt chúng ta trên một
thế đứng hoàn toàn khác lạ. Để minh giải vài bài thơ
đã được đẫn ra, do các sư cảm tác khi ngộ đạo; hầu
hết đều ghi lại cảm giác chứng nghiệm qua, như thơ của
Phật Quang, Dương Đại Niên và Viên Ngộ, và đôi vị khác,
toàn thuộc loại thơ điển hình nhất vì hầu như không gói
ghém một yếu tố trí thức nào hết. Nếu ta cố phân tách
những thi phẩm ấy nhằm rút ra một ý nghĩa nào đó ắt ta
sẽ thất vọng lớn. Khía cạnh tâm lý của ngộ, qua lời
tự thuật của Bạch Ẩn và vài cao tăng khác, sẽ giúp ích
nhiều cho hàng học giả muốn khảo sát tâm lý Thiền. Cố
nhiên nhưng kỹ thuật ấy chẳng đủ vào đâu, vì còn nhiều
yếu tố khác cần lưu ý đến trong việc khảo sát đạo Thiền,
chẳng hạn như thái độ chung của hàng Phật tử đối với
nhân sinh và vũ trụ, và môi trường sinh hoạt lịch sử của
người tu Thiền.
Để
chấm dứt thiên cảo luận này, tôi xin trình bày vài nhận
xét chung, nhằm tổng kết, về cái gọi là “ngộ” chứng
qua trong Phật giáo Thiền Tông.
1
Thường
người ta tưởng rằng pháp Thiền cốt gây nên một trạng
thái tự kỷ ám thị bằng cách mặc tưởng. Thật không gì
lầm hơn. Như ta đã thấy ở nhiều đoạn trích dẫn khác
nhau, Thiền không cốt tạo ra một điều kiện nào đó theo
chủ tâm đã định trước bằng cách tập trung mạnh tư tưởng
vào đó; trái lại, đó là sự nhận chân một năng lực tâm
linh mới để có thể phán đoán sự vật trên một quan điểm
mới. Bấy lâu, tự thời phát triển của tâm thức, luôn luôn
ta thụ động đáp lại những kích thích bên trong và bên ngoài
bằng khái niệm, bằng tư biện. Pháp Thiền cốt dứt khoát
lật đổ ngôi nhà giả tạo ấy để dựng lên cái khác trên
một nền móng hoàn toàn mới. Cơ cấu cũ gọi là vô minh,
và ngôi nhà mới gọi là giác ngộ. Do đó không hề có việc
trầm tư về những câu nói tượng trưng hoặc siêu hình nào,
toàn là sản phẩm giả tạo của ý thức, của cơ trí, nên
không tham dự gì trong Thiền như ta đã thấy ở thiên cảo
luận mở đầu bộ sách này.
2
Không
đạt ngộ, không chứng Thiền cơ. Ngộ, đó là tia sáng nhoáng
lên của một chân lý mới bấy lâu không hề tơ tưởng đến.
Đó là một đại biến cố tinh thần nhất thời xảy đến
sau khi trí óc con người chồng chất lâu ngày đủ thứ khái
niệm và luận giải khôn ngoan. Chất cao đến độ nào đó
thì toàn thể cơ cấu đổ nhào, và trước mắt là một vòm
trời mới mở rộng ra. Cũng ví như nước bỗng chốc đọng
thành băng khi lạnh đến độ nào đó, thể lỏng biến thành
thể đặc, nghĩa là không trôi chảy nữa. Cũng vậy, cái ngộ
chụp lấy ông, bất thần, không biết trước, khi ông đi đến
chỗ cùng lý tuyệt tình. Trên mặt đạo, đó là chết đi
sống lại; trên mặt luân lý, đó là thẩm định lại mối
liên hệ giữa cá nhân và thế gian. Thế gian, từ nay, như
phục sức mới trở lại, che lấp tất cả nỗi nhầy nhụa
ghê tởm của cái thấy nhị nguyên đối đãi, cái mà thuật
ngữ Phật giáo gọi là ảo, là huyễn - maya – do điên đảo
vọng tưởng tạo ra.
3.
Ngộ
là lẽ sống của Thiền. Không ngộ, Thiền chẳng phải là
Thiền. Nên bất cứ phương tiện nào, học cũng như tu, đều
hướng đến ngộ. Các Thiền sư không thể điềm nhiên tọa
thị chờ ngộ đến một cách quá tùy hứng như thế được.
Các ngài tích cực tạo phương tiện đưa con người đến
chỗ hiện thực một cách ung dung và triệt để chân lý Thiền.
Lối trình bày của các ngài, đành là tối nghĩa, vẫn không
ngoài mục đích thân thiết tạo ra ở đệ tử một tâm thái
san bằng được tất cả chướng ngại để chứng Thiền.
Mọi sự chứng minh đầy cao kiến, mọi sự cổ võ đầy khích
lệ, bấy lâu đặt tay hầu hết các nhà hướng đạo tôn
giáo và triết học, đều không đem lại kết quả mong ước.
Đệ tử càng ngày càng lạc lõng. Riêng về Phật giáo, khi
mới du nhập vào Trung Hoa với mọi thứ trang sức Ấn Độ,
với một nền học thuật trừu tượng siêu hình tột bực,
với một hệ thống kỷ luật tinh thần phiền toái nhất đời,
người Trung Hoa hoang mang không còn biết nắm đâu đầu mối
của giáo lý nhà Phật. Đạt Ma, Huệ Năng, Mã Tổ và chư
sư khác hiểu hơn ai hết tình trạng ấy, nên kết quả tự
nhiên là đạo Thiền được tuyên xướng lên; là cái ngộ
được đề cao lên trên cả sự tụng kinh học luận đến
thành đồng hóa với Thiền. Thiền không ngộ như tiêu không
cay. Nhưng đồng thời, ta đừng quên cũng có cái ngộ quá
đáng, cố nhiên là nên bác bỏ vậy.
4.
Thiền
Tông đề cao cái ngộ tuyệt đối như vậy, trên tất cả
điều ấy có nghĩa dứt khoát là Thiền không phải là một
hệ thống dhyana thuộc loại thạnh hành ở Ấn Độ, và ở
những pháp môn Phật giáo khác. Dhyana, thông thường, là một
thứ trầm tư hoặc quán tưởng; và riêng trong Phật giáo Đại
Thừa, đó là sự giữ đúng tư tưởng trên giáo lý không
(sunyata). Khi tâm được tinh luyện đến độ chứng nhập trong
cảnh giới hoàn toàn không ấy, tuyệt không mảy ý thức,
cả đến ý thức cái không mảy ý thức ấy cũng dứt luôn
- nói một cách khác, khi mọi hoạt động của tâm thức đều
gạn sạch hết như một vòm trời trống không, không một
ngấn mây, như một không gian bao la xanh ngắt - đó gọi thành
tựu dhyana. Ta có thể gọi đó là cơn bốc đồng hoặc thần
hóa, nhưng chẳng phải là Thiền. Trong Thiền phải có ngộ;
đó phải là một sụp đổ tan tành ở tâm thức lôi cuốn
theo tất cả nếp tri thức chồng chất lâu đời, và đặt
móng cho một lòng tin mới; phải là sự thức tỉnh của một
giác quan mới xét lại mọi giá trị cũ dưới một quan điểm
hoàn toàn mới lạ và tươi mát. Trong dhyana không hề có những
cái ấy, vì tựu trung đó chỉ là một phép trấn định tinh
thần. Đành rằng nó vẫn có giá trị riêng, nhưng nhất định
không thể đồng hóa Thiền với Dhyana được. Nên Phật không
thỏa mãn với hai vị đạo sư đầu tiên của Phật thuộc
phái số luận (samkhya) dạy phép ngồi Thiền làm đà tiến
lên từng nấc thang nhiếp tâm và diệt niệm.
5.
Thiền
không cốt thấy Chúa y như thực, như tin tưởng có thể có
ở vài nhà huyền học Công giáo. Thiền, ngay từ ban sơ đã
tỏ rõ nêu cao yếu chỉ là nhìn vào tạo vật, không hỏi
đến tạo công. Có thể lắm trong khi hành Thiền người ta
bắt gặp Chúa đang đắp nắn vũ trụ của Người, nhưng việc
ai nấy làm, Thiền cứ tiếp tục theo đường riêng, dầu gặp
Chúa hay không gặp Chúa. Thiền không ỷ vào chỗ dựa ấy.
Thiền cần nắm lấy điểm chủ yếu của nhân sinh, thế là
xong công quả. Pháp Diễn ở Ngũ Tổ Sơn thường đưa bàn
tay lên hỏi đồ chúng: “sao cái này gọi là bàn tay?” Hễ
biết “vì sao” thì có Thiền, và thành Thiền. Trái lại,
trong ý niệm thần bí về Chúa còn có một đối tượng phải
nắm bắt; và hễ có được Chúa là phải loại trừ tất
cả những gì chẳng phải là Chúa. Đó là tự mình đặt giới
hạn cho mình. Thiền, trái lại, muốn được tuyệt đối tự
do, tự do cả đến đối với Chúa. Đó là ý nghĩa của ba
chữ vô trụ xứ. Đó cũng là nghĩa của câu nói: “Lỡ đọc
phải chữ Phật thì đi súc miệng đi?”. Nói thế không có
nghĩa là Thiền có mưu toan bại hoại phá thánh bài thần,
nhưng vì bổn chất của tên gọi vốn là vậy, nham nhở, dở
dang.
Thế
nên:
Ngày
kia ông viện chủ thỉnh hòa thượng Dược Sơn (751-834) nói
pháp. Tăng chúng hội đông đủ. Sư thượng đường, im lặng
giây lâu, rồi hạ đường, trở vào phương trượng, đóng
cửa lại.
Viện
chủ vào hỏi: “Hòa thượng hứa nói pháp sao bây giờ vào
phương trượng?”
Dược
Sơn nói: “Viện chủ, kinh thì có ông thầy kinh, luận thì
có ông thầy luận, luật thì có ông thầy luật. Còn trách
lão tăng nỗi gì?”
Ngày
kia, Bách Trượng Niết Bàn gọi một thầy đến báo đi cày
ruộng đi, xong sẽ nói cho nghe đại nghĩa của pháp Pháp. Cày
xong, thầy ta đến xin nghe pháp. Bách Trượng dang đôi tay,
không nói gì.
Đó
đại nghĩa của pháp Phật chỉ là vậy.
6.
Ngộ
là kinh nghiệm riêng tư thân thiết nhất của cá nhân, nên
không thể nói bằng lời, tả bằng bút. Tất cả những gì
các Thiền sư có thể làm được để truyền đạt kinh nghiệm
ấy cho người khác chỉ là thử khơi gợi lên, hoặc chỉ
trỏ cho thấy. Người nào thấy được là vừa chỉ đã thấy
ngay, người nào không thấy càng nương theo đó để suy nghĩ,
lập luận càng sai đề. Ấy cũng ví như có người nói anh
ta yêu một bậc tuyệt thế giai nhân mà không biết gì về
người đẹp hết, cả về dòng dõi và địa vị xã hội,
họ và tên, hình dáng và tánh ý. Lại cũng giống như có người
cất một thang lầu ở ngã tư đường để leo lên tầng chót
ngôi nhà lầu mà tuyệt nhiên anh không biết ngôi nhà nằm
ở đâu, Đông hay Tây, Nam hay Bắc. Đức Phật nắm ngay trung
tâm điểm ấy khi Ngài chê bai các nhà đàm huyền luận diệu
đương thời toàn đưa ra những giáo lý không tưởng, những
truyền thuyết trống rỗng, những chỉ dẫn vu vơ. Thiền muốn
ta cất cái thang lầu đúng ngay trước mặt ngôi nhà đưa thẳng
vào tầng lầu chót của ta. Có thế ta mới nói được: “Đây
là thể tánh thực, đây là ngôi nhà thực”; và đó là lúc
mặt tận mặt ta đối diện với cái ngộ, hiệp thực ở
trong ta.[29]
7.
Ngộ
không phải là một tâm phái bịnh hoạn thuộc phạm vi tâm
lý học bất thường. Thật ra không gì “thường” hơn tâm
trạng ấy. Khi tôi nói đến đại biến cố tinh thần, ắt
có người toan nghĩ rằng đối với Thiền thường nhân nên
“kính nhi viễn chi”. Đó là hiểu oan cho Thiền, khốn nỗi
đó lại là ý kiến của đôi nhà phê bình cố chấp. Vì như
Nam Tuyền tuyên bố, Thiền là bình thường tâm[30]Sau này có
chú tiểu hỏi Thiền sư Báo Từ Văn Khâm (? - 928) thế nào
là bình thường tâm, sư đáp:
Cơm
ăn trà uống tùy theo thế
喫
茶 喫 飯 上 隨 時 過
Nước
ngắm non xem thích bấy tình
看
水 看 山 實 暢 情
Cánh
cửa mở ra ngoài hay mở vào trong là tùy ngạch cửa. Nhưng
hễ mở được là trong chớp mắt tất cả đổi khác hết,
và ông có thiền. Và ông hiện thực là toàn bích, là “bình
thường”, và mãi mãi. Hơn nữa, trong khi ấy, ông còn được
của báu nhất đời. Mọi hoạt động của tâm trí ông giờ
đây chuyển theo một chiều khác, thoải mái hơn, yên tịnh
hơn, đầy vui tươi hơn bất cứ gì từ trước ông đã nếm
qua. Phong thái đời ông cũng đổi theo, dường như có cái
gì đang rạo rực hồi xuân. Hoa xuân như lộng lẫy hơn, dòng
nước đầu non như chảy mát rượi hơn, trong vắt hơn. Cuộc
cách mạng bản thân mở ra một cảnh giới như vậy không
thể gọi là bất thường. Bởi cuộc sống được thanh thản
vui tươi hơn, mà còn biến hiện bao la trùm cả vũ trụ, vậy
ngộ phải là cái gì rất lành mạnh, vô cùng bổ ích, rất
đáng cho ta nỗ lực chứng đến.
8.
Chúng
ta thường tưởng như mình sống chung trong một thế giới
như nhau, nhưng ai dám bảo cái kia kìa, nằm dưới đất trước
cửa sổ kia, mà thói thường gọi là cục đá, là một vật
giống như nhau đối với tất cả chúng ta? Tùy cách nhìn khác
nhau, với người này đá chẳng phải là đá, trong khi với
người khác mãi mãi đó chỉ là một mẫu khoáng sản địa
chất học không giá trị. Quan điểm chia rẽ đầu tiên ấy
kéo theo sau này từng loạt bất đồng ý kiến và cùng tận
trong sinh hoạt đạo đức và tâm linh. Chỉ một chút vặn
tréo trong nếp cảm nghĩ của ta là cả một thế giới sai
biệt diễn ra giữa ta và người! Với Thiền, ngộ là cái
vặn tréo ấy, hoặc nói đúng hơn, là sự vặn siết lại
cái đinh ốc ấy, không phải vặn theo chiều điên đảo, mà
là vặn sâu vào bên trong, thỏa đáng hơn, và kết quả là
hiển lộ cả một thế giới giá trị hoàn toàn mới lạ.
Cũng
vậy, ông và tôi, chúng ta uống trà. Bên ngoài quả thực chẳng
có gì khác trong hành vi của chúng ta, nhưng bên trong làm sao
nói được cái hố sâu chia rẽ giữa ông và tôi như thế
nào? Có thể lắm trong cách uống của ông không có gì là
Thiền hết, còn phong thái của tôi nhuốm đầy Thiền vị.
Lý do là hành động của người này kẹt trong khuôn khổ của
trí thức suy luận, còn người kia thì thoát ngoài; nghĩa là
ở người này là lý trí ngự trị, tự xác định những quy
tắc cứng đờ nên làm gì cũng vướng mắc, không cởi bỏ
được những ràng buộc tinh thần; còn ở người kia là một
con đường mới khai phóng ra, không biết vướng mắc là gì
trong khi hành động; cuộc sống ở đây không chia thành chủ
khách, không phân hóa thành người làm và việc làm. Nên với
họ, ngay lúc ấy, uống trà là tất cả vậy, là toàn thể
vũ trụ[31].Thiền là hiện sinh, Thiền là tự do vậy,
trong khi đời sống thường của chúng ta là một vòng kiềm
tỏa; ngộ là bước đầu đi đến tự do tự tại.
9.
Ngộ
là Giác - tam bồ đề. Bởi Đạo Phật là Đạo giác, như
ta đã thấy trong kinh điển ban sơ cũng như các bộ luận sau
này; hơn nữa, Thiền xác định ngộ là tuyệt đỉnh của
pháp Phật thì tự nhiên ngộ phải được coi như thể hiện
chân tinh thần của giáo lý nhà Phật. Thiền tự coi như truyền
tâm ấn Phật, độc lập đối với mọi luận giải biện
chứng của tất cả kinh điển, thuộc Đại Thừa cũng như
Tiểu Thừa, điều ấy không có gì quá đáng đối với cơ
bản khai tông của Thiền khác biệt với các pháp môn Phật
giáo khác nảy nở ở Trung Hoa và Nhật Bản. Dầu muốn nghĩ
thế nào, chắc chắn Thiền vẫn là một phần di sản tinh
thần quý nhất, hơn nữa, ở nhiều phương diện, còn là đặc
thù nhất, lưu lại cho các dân tộc Đông phương này. Dầu
ta có coi đó như một hình thức Phật giáo thuần lý siêu
hình như Tây phương đã biết qua trong triết học Plotinus,
Eckhart, và vài người khác, thì văn học Thiền hưng khởi
tứ thời Huệ Năng (638-713) và nay còn giữ đủ vẫn đáng
cho các nhà thông thái và người tìm chân lý bỏ công nghiên
cứu. Ngoài ra còn các bộ công án cực tả diễn trình tu chứng
và ngộ giải là một kho tàng kỳ diệu nay còn nắm trong tay
các Thiền sư ở Nhật Bản.
[1]
Khai ngộ: là mở trí huệ để chứng vào chân lý (đạo).
Danh từ này xuất phát từ thành ngữ “khai thị ngộ nhập
trong tri kiến Như Lai” của Đại Thừa giáo. “Tri kiến Như
Lai” là Phật trí. “Khai” là mở ra trên vô minh; “thị”
là chỉ cho thấy; “ngộ” là chứng lấy; “nhập” là đi
vào chân lý biến thành một với chân lý, không còn năng tri
sở tri nữa. (D.G)
[2]
Trong Thiền nguyên chư thuyên tập, thiền sư Khuê Phong có nói
khi Đạt Ma đến Trung Hoa thấy ở đây hầu hết các người
học Phật đều chưa đắc pháp, chỉ hiểu theo danh số, hành
theo sự tướng (dĩ danh số vi giải sự tướng vi hành), nên
phản ứng lại Đạt Ma mới chủ trương lấy tâm truyền tâm
chẳng lập văn tự (D.G.)
[3]
Về bài luận này cũng như toàn bộ tác phẩm của Bồ đề
Đạt ma, xin xem “Sáu cửa vào động Thiếu Thất" do Trúc
Thiên dịch, An Tiêm ấn hành 1969. (D.G.)
[4]
Tánh có nghĩa là bổn thể, yếu lý, linh hồn hoặc cái bẩm
sanh ở con người. “Thấy tánh” là danh từ thông dụng của
các Thiền sư và chính đó là đối tượng của phép hành
thiền. Chữ “ngộ” phổ thông hơn trong đại chúng. Hễ
thâm nhập trong sự vật thì có ngộ. Danh từ này thường
dùng theo nghĩa rộng để chỉ chung mọi sự hiểu biết cao
thâm, nhưng riêng trong Thiền dùng theo nghĩa hẹp hơn .Trong
bài luận này tôi dùng chữ tánh chỉ vào cái tinh yếu nhất
của pháp Thiền. Vì thấy tánh ngụ ý soi ngược lại để
nhận ra cái gì vừa cụ thể vừa hàm dưỡng ở bên trong.
Điều ấy có thể gây luận giải sai lầm dầu rằng ngộ
cũng là một danh từ quá lông bông, không chân xác. Trong những
trường hợp thông thường, không nặng về triết học lắm,
chữ ngộ dễ dùng hơn, còn thấy tánh là ám chỉ riêng sự
phát huệ, mở con mắt bát nhã. Về giáo lý thấy tánh của
Lục Tổ xin xem luận IV, lịch sử Thiền tông bài Thiền Huệ
Năng.
[5]
Một trong số ba người con của Phật khi Phật còn là Bồ
Tát ở một kiếp trước. Thiên Tinh làu thông kinh điển Phật
giáo, nhưng kiến giải nghiêng về ngoan không (chấp đoạn)
cuối cùng đoạ địa ngục (coi kinh Đại Bát Niết Bàn quyển
XXXIII, bản Hán dịch của Pháp Hộ)
[6]
Nghĩa là không dạy ngồi thiền để cầu giải thoát (xem luận
4, đoạn nói về Huệ Năng và phép thấy tánh). Ở đây tôi
xin thêm đoạn văn Huệ Năng giải thích về thiền định theo
đốn giáo: Định và Huệ giống như đèn và ánh sáng. Có
đèn “tức” có sáng, không đèn “tức” có tối. Đèn
là thể của ánh sáng, cái sáng là dụng của đèn tuy hai mà
một. Cũng vậy, định và huệ chẳng phải hai. Định là thể
của huệ, huệ là dụng của định. Tức là khi huệ phát
thì định ở trong huệ, khi định phát thì huệ ở trong định;
phép toạ thiền cốt chẳng dính theo tâm, cũng chẳng định
theo tịnh, cũng chẳng phải là chẳng động. Sao gọi là ngồi
thiền? Ngoài, đối với mọi cảnh giới lành dữ niệm chẳng
dấy lên gọi là toạ. Trong, thấy tự tánh chẳng động gọi
là thiền. Sao gọi là thiền định? Ngoài lìa hình tướng
tức là thiền, trong chẳng tán loạn gọi là định. Trong thiền
ngoài định gọi là thiền định. (D.G.)
[7]
Mã Tổ Đạo Nhất (709-788) là một Thiền sư kỳ hình kỳ
tánh, dị ngữ dị hành, bước đi như trâu, mắt trừng như
cọp, tiếng hét như sấm, lưỡi dài quá mũi, dưới chân có
hai luân văn (hình bánh xe). Cùng với Thạch Đầu, Mã Tổ chi
phối toàn thể giới tu Phật đương thời, một người là
pháp chủ Giang Tây, một người là pháp chủ Hồ Nam. Sư dạy
đạo bằng lối nói làm đánh hét điên đảo không biết đâu
mà rờ. Môn đệ được Pháp của Sư có thêm tám mươi người,
gấp đôi số người đắc đạo với Huệ Năng.(D.G)
[8]
Tức là không xếp bằng ngồi thiền để thành Phật. Từ
thuở xa xưa của đạo Thiền ở Trung Hoa, khuynh hướng tĩnh
toạ (quietism), suốt dòng lịch sử vẫn song hành với khuynh
hướng trí đề cao yếu tố ngộ. Cả đến hiện đại, những
luồng tư tưởng ấy vẫn còn biểu hiện phần nào trong tông
Tào Động cũng như tông Lâm Tế, mỗi tông có chỗ sở
trường riêng. Riêng quan điểm của tôi là quan điểm trực
giác, chẳng phải quan điểm tĩnh toạ, vì tâm yếu của
đạo Thiền cốt ở chứng ngộ.
[9]
Trong bộ sách Mystics and saints of Islam (các nhà sư huyền bí
Hồi Giáo) của Claude Field, đoạn nói về Hassan Basri, chép
vầy: Ngày khác, tôi thấy một cậu bé cầm đuốc đến với
tôi. Tôi hỏi: “Đuốc ở đâu đem tới đây?”. Cậu bé
vụt thổi tắt ngọn đuốc, nói: “Này Hassan, ngọn đuốc
đi về đâu, ông nói tôi biết đi, rồi tôi nói ông nghe ngọn
đuốc từ đâu đến”. Cố nhiên sự trùng hợp ấy chỉ
là hình thức vì Đức Sơn đạt ngộ từ một nguồn hoàn
toàn khác hơn là sự thổi tắt ngọn đèn, nhưng đây là một
sự trùng hợp khá thích thú nên xin dẫn lại ở đây.
[10]
Nguyên văn “hà tằng phi khứ”, dịch thẳng là “sao từng
bay mất” và dịch ý là “từ bao giờ chưa hề bay mất đi
đâu cả” thế nghĩa là bầy le le vẫn có đó từ vô thỉ
đến vô chung. Bằng thủ đoạn ấy, Mã Tổ đặt Bách Trượng
trước cái bất động trong cái động, trước cái khoảnh
khắc vĩnh cửu bất biến (instant éternel) mà Huệ Năng gọi
là sát na tam muội. Qua cơn đau, Bách Trượng chết đi ở cảnh
giới nhị nguyên đối lập để sống lại ở cảnh giới
đại định vô phân biệt. Xin nói thêm ngoài Huỳnh Bá, Bách
Trượng sau này còn truyền tâm ấn cho Vô Ngôn Thông. Thông
sau sang Việt Nam mở phái Thiền Vô Ngôn, là dòng Thiền chánh
thống thứ nhì sau dòng Lưu Chi (DG)
[11]
Sở tri: kiến thức. Phật giáo cho kiến thức gây trở ngại
cho chân lý xuất hiện nên có tên “sở tri chướng” (D.G
)
[12]
Coi bài luận VI thực tập.
[13]
Coi bài V tiếp sau.
[14]
Từ Huỳnh Bá, Lâm Tế thạnh hành lối đánh đá và hét này
dùng làm phương tiện khai ngộ, như lời tục thường nói:
“Đức Sơn hét, Lâm Tế hèo”. Đó gọi là Thiền Khổng
và Thiền Hát.
[15]
Ba câu chuyện trên thuật theo Truyền đăng lục và Bích nham
lục.(D.G.)
[16]
Câu hỏi là "thập ma vật nhẫm ma lai?". câu đáp là "thuyết
tự nhất vật tức bất trúng" Coi luận bốn, phần IV,
chương Thiền Huệ Năng.
[17]
Câu hỏi là “thập ma nhẫm ma lai?”, câu đáp là “thuyết
tự nhất vật tức bất trúng”. Coi luận bốn, phần IV, chương
Thiền Huệ Năng .
[18]
Đó là một công án lừng danh thường chư sư trao cho người
học đạo để khai thị. Câu chuyện như thế này: Có người
hỏi Triệu Châu con chó có Phật tánh không, Châu đáp: “VÔ”(không
có) Dầu là “vô”, môn đồ của Lâm Tế hiện nay không
coi đó là phủ nhận, theo nghĩa thông thường, mà đoán chắc
có liên hệ đến cái gì rất thực tiễn nữa; cái gì ấy,
người học đạo phải tìm ra, tự mình, không thể nhờ người
khác, vì không ai giải thích được. Đó là công án “VÔ”
của Triệu Châu. Công án là một luận đề, một câu nói,
hoặc một bài toán các Thiền sư trao cho học trò để giải
quyết, và giải quyết được là kiến chiếu được nội
tâm, và thấy tánh. Đề tài này sẽ bàn rộng ở bộ Thiền
luận II
[19]
Một công án khác để tham quán. Một ông Tăng hỏi Triệu
Châu: “Muôn vật trở về một, một trở về gì?”, Châu
đáp: “Lúc tôi ở Thanh Châu có may cái áo nặng bảy cân”.
[20]
Một công án là một câu hỏi, tức một đề án. Đề án
nào cũng là nguồn kích động người cầu đạo quyết liệt
đi tới, sức kích động đó tức là nghi tình, nghi niệm hoặc
đại nghi. Xét một công án gọi là tham công án cũng gọi
là tham thoại đầu hoặc chiếu cố thoại đầu. Ngoài ra chữ
thoại đầu còn có nghĩa siêu hình hơn chữ công án. (D.G.)
[21]
Bạch ẩn Huệ Hạc (Haknin Ekaku) là tổ khai sáng phái Thiền
Lâm Tế mới ở Nhật. Các cao tăng hiện tại của phái này
đều thuộc dòng Thiền Bạch Ẩn rọi truyền xuống.
[22]
Đại nghi: nghi ngờ lớn, nhưng không phải cái nghi theo nghĩa
thường. Đó là trạng thái tập trung tư tưởng cao độ nhất
[23]
Nham Đầu (828 - 887) là một cao tăng đời Đường. Ông bị
cướp giết, khi chết, tiếng rống của ông nghe xa đến mấy
dặm. Khi Bạch Ẩn mới học Thiền, bi kịch ấy diễn ra trong
đời một cao tăng Thiền đạo hạnh vượt ngoài tất cả
tội lỗi của thế nhân khiến ông bị chấn động cả tâm
thần và ông tự hỏi Thiền có thật là bộ kinh cứu khổ
không. Do đó Bạch Ẩn ám chỉ đến Nham Đầu. Điều cần
lưu ý là dưới mắt Bạch Ẩn, Nham Đầu ở đây là một
nhân vật sống, không phải là hình ảnh trừu tượng hoặc
khái niệm hư tưởng.
[24]
Công án Thiền cũng gọi là “cát đằng”, theo nghĩa đen
là “giây sắn giây bìm, giây mơ rễ má” mọc quấn quít
vào nhau không gỡ nổi, vì chư sư cho rằng ngay trong bản chất
Thiền không có gì là công án hết; đó chỉ là trò đặt
bày vô lối làm rối thêm sự vật tự nó rất đơn giản.
Chân lý Thiền chẳng cần đến công án. Công án có tất cả
1.700 câu dùng để thử lại độ chánh giác của người tu.
[25]
Quốc Sư Phật Quang (1226 1286) tức là Thiền sư Vô Học Tổ
Nguyên, người Trung Hoa, sang hoằng hóa ở Nhật nhằm thời
gia tộc Hojo đang trị vì ở Khiêm Th