Luận
một
THIỀN:
THUẬT TRỪNG TÂM VÀ KHAI PHÓNG NHÂN SINH
(Tổng
luận)
Thiền,
cốt yếu nhất, là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh
của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải
thoát, đưa ta đến uyên nguyên của cuộc sống uống ngụm
nước đầu nguồn, Thiền cởi bỏ tất cả những gì ràng
buộc chúng ta, những sanh linh hữu hạn, luôn luôn quằn dưới
ách khổ lụy trong thế gian này. Ta có thể nói Thiền khai
phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong
mỗi người chúng ta, nguồn năng lực ấy, trong hoàn cảnh
thường, bị co rút lại, và vặn tréo đi, đến không vùng
thoát đâu được.
Thật
vậy, thân thể ta có thể ví như một cục “pin” điện,
trong ấy tiềm phục một năng lực huyền bí. Khi nguồn nội
lực ấy không được vận dụng đúng cách thì, hoặc bị
mốc meo mà mai một, hoặc nghịch biến mà phát loạn. Nên,
đó là chủ đích của Thiền, nhằm cứu ta hoặc khỏi khùng
điên, hoặc khỏi tàn phế. Tôi muốn nói tự do là vậy, mở
thông tất cả nguồn kích động đầy sáng tạo và từ hòa
ấp ủ trong con tim chúng ta. Ta thường quáng mắt không biết
mình đang làm chủ cả một kho tàng vô tận gồm đủ năng
khiếu cần để sống vui, và thương yêu lẫn nhau. Mọi cuộc
tranh đấu diễn ra quanh ta toàn bắt nguồn từ sự vô minh
ấy, nên Thiền muốn ta mở bừng con mắt thứ ba - huệ nhãn
– theo thuật ngữ Phật giáo, trên cảnh giới ấy ta chưa
bao giờ mơ tưởng đến, bị khuất lấp bởi vô minh. Hễ
vẹt mây vô minh thì càn khôn toàn hiển, và đó là lúc nhãn
quang ta, lần đầu tiên, phóng chiếu tận thể tánh của chúng
ta. Bấy giờ, ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống, ta biết rằng
đó không phải là một nỗ lực mù quáng, mà cũng không phải
là trường thao diễn những bạo lực vô tri; nhưng dầu không
thấu triệt được ý nghĩa tối hậu của kiếp người, vẫn
có cái gì trong đó khiến ta vui không cùng để mà sống, và
qua mọi cuộc thăng trầm ta vẫn thảnh thơi mà an thân lập
mệnh, không thắc mắc, không hoài nghi, không bi quan yếm thế.
Khi
ta căng đầy nhựa sống, chưa thức tỉnh trong việc đời,
ta không thể nhận ra được tầm nghiêm trọng của những
cuộc xung đột nằm trong cuộc sống, tạm thời chúng như
ngủ im trong thế tịnh. Nhưng trước sau gì có ngày ta phải
nhìn thẳng vào cuộc sống; phải đối diện với đời, và
thẳng thắn giải quyết những bí mật khắc khoải nhất,
cấp bách nhất của kiếp người. Khổng Tử nói:
“Ta
mười lăm tuổi để chí vào sự học, ba mươi tuổi thì trụ
vững bốn mươi thì hết ngờ, năm mươi biết mạng trời,
sáu mươi nghe thuận tai, bảy mươi thì tuy lòng muốn mà vẫn
không ra ngoài phép tắc”.
Một
câu nói cao kiến làm sao của bậc chí thánh Trung Hoa! Các nhà
tâm lý học đều tán đồng kiến giải ấy, vì thường thường
vào lối mười lăm tuổi, người con trai mới bắt đầu trịnh
trọng quan sát quanh mình, và tra hỏi về ý nghĩa của cuộc
sống. Tất cả nguồn năng lực siêu hình, bấy lâu vùi kín
trong tiềm thức, bỗng dưng như cùng một lúc trào vọt ra.
Nếu chúng bùng ra dồn dập và bạo quá, tâm trí có thể mất
thăng bằng một thời gian, lâu hoặc mau; trên thực tế, nhiều
trường hợp kiệt quệ thần kinh như vậy đã được ghi nhận
trong tuổi trẻ, mà nguyên do chánh không ngoài sự đổ vỡ
thế quân bình nội tại. Thường thì hậu quả không vết
tích gì sâu đậm; nhưng ở đôi căn tạng thì khác hẳn; hoặc
vì những khuynh hướng nội tại, hoặc vì sức tác động
mạnh của những luồng ảnh hưởng xung quanh vào bản chất
dễ cảm kích, cơn thức tỉnh tâm linh ấy chấn động họ
đến tận cùng cá thể. Đó là lúc phải dứt khoát chọn
giữa cái “vĩnh viễn có” và “vĩnh viễn không”. Chính
sự chọn lựa ấy mà Khổng Tử gọi là “học”. Học đây
không phải là học kinh sách, mà chính là lặn sâu vào những
bí mật của cuộc sống.
Thường
thường, lối thoát của cuộc tranh đấu là cái “vĩnh viễn
có” hoặc “vâng ý Cha”(1) vì rốt cuộc rồi bao giờ sống
cũng là "có", là khẳng định, mặc cho những người bi quan
quan niệm nó dưới vô số hình thức phủ nhận. Tuy nhiên,
ta không thể chối cãi trong đời có nhiều sự việc kéo lệch
trí óc dễ cảm của ta sang một hướng khác, để ta phụ
họa theo lời than vãn của nhà văn Andreyew(2) trong tác phẩm
"Nhân sinh" của ông:
“Tôi
nguyền rủa cái gì ngươi cho tôi. Tôi nguyền rủa ngày tôi
sanh. Tôi nguyền rủa ngày tôi chết. Tôi nguyền rủa tất
cả gì trong đời tôi. Tôi hắt tất cả vào mặt tàn nhẫn
mi, ôi Định Mạng vô tri giác! Khốn kiếp! Ôi khốn kiếp!
Bằng những lời thóa mạ ta thắng mi. Mi còn làm gì ta nữa?...
“Trong
hơi thở cuối cùng, ta thét vào tai trâu mi: Khốn kiếp! đồ
khốn kiếp!”
Quả
là một bản án khủng khiếp, một phủ nhận toàn triệt cuộc
sống, một bức tranh cực kỳ hắc ám về số kiếp con người
trên trái đất này. “Không lưu một dấu tích”, thật không
gì đúng hơn, vì chúng ta không biết gì hơn về tương lai
ngoài việc chúng ta sẽ tiêu mất hết, cả trái đất dung
thân này nữa. Hẳn vậy, người ta có đủ lý do để chán
đời.
Sống,
với hầu hết chúng ta, là khổ. Đó là một sự thật khó
phủ nhận. Bao giờ sống còn có nghĩa là tranh đấu thì thế
gian này chẳng qua là một trường đau khổ. Tranh đấu là
gì, nếu không là sự xô xát giữa hai đối lực mà bên nào
cũng cố chiếm phần hơn? Nếu thua thì hậu quả là cái chết,
mà chết là cái kinh khủng nhất trong đời. Tuy nhiên, dầu
có chiến thắng được cái chết, con người lại rơi vào
cô đơn, mà cô đơn lắm khi còn khó chịu hơn là tranh đấu.
Ta có thể không hay biết gì hết, và cứ buông lung theo dục
lạc nhất thời, nhưng có phải vì không hay biết mà sự đời
đổi khác phần nào khuôn mặt thực được đâu? Dầu cho
người mù cố tình không nhận có mặt trời vẫn không hủy
bỏ được mặt trời. Họ vẫn bị nắng nhiệt đới đốt
cháy tơi bời, và nếu không tìm chỗ che đụt vẫn bị
quét sạch trên thế gian này.
Thật
vậy, Phật không ngoa chút nào khi Ngài xiển mình bốn chân
lý tối thượng - tứ diệu đế - mà chân lý đầu là sống
là khổ - khổ đế. Chúng ta há chẳng mang tiếng khóc ra đời
như một lời phản đối sao? Ít ra, ta có thể nói chắc rằng
từ lòng mẹ êm ấm lọt ra ngoài để đi vào một thế giới
giá buốt, đầy bất trắc, là một biến cố đau thương.
Rồi lớn lên càng đèo theo khổ não. Mọc răng cũng đau buốt,
không ít thì nhiều; tuổi dậy thì thường trải qua nhiều
biến động, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Đối với cơ
thể lớn hơn là xã hội, sự trưởng thành cũng đánh dấu
bằng những tai ương khổ não, và hiện tại ta đang chứng
kiến một trường hợp đau đẻ ấy. Ta có thể nguội lạnh
ngồi nói lý, và cho rằng đó là việc không thể tránh, rằng
cuộc kiến thiết nào cũng mọc lên từ những hoang tàn của
chế độ cũ, và không tránh đâu được cơn đau giải phẫu.
Nhưng sự phân tách lạnh lùng ấy của tri thức có đỡ được
chút nào đâu những cấu xé của cơn đau. Nỗi khổ xoáy vào
thần kinh ta, ăn sâu mãi, không nhổ được. Dầu khéo biện
luận cho mấy thì đời vẫn vậy thôi, một trường tranh đấu
đầy khổ lụy, đau thương.
Tuy
nhiên, đó lại là điều may lớn cho ta. Vì ông càng khổ thì
tâm chí ông càng tinh luyện, và càng tinh luyện ông càng thâm
nhập vào lẽ nhiệm mầu của kiếp sống. Tất cả những
nhà nghệ sĩ cự phách, những đấng giáo chủ siêu tuyệt,
những tay cách mạng xã hội bạt tụy, đều thường mắt
đẫm lệ, tim rướm máu, vươn lên từ những cuộc tranh đấu
gay go nhất do các ngài hào hùng đứng lên lãnh đạo. Nếu
chén cơm ông ăn chưa trộn mùi cay đắng thì ông chưa thực
nếm đủ mùi đời. Mạnh Tử sáng suốt vô cùng khi ngài nhận
xét:
Khi
trời muốn giao phó một trọng trách cho người nào thì trước
hết làm cho khổ cái tâm chí, nhọc cái gân cốt, đói cái
thể xác, cùng túng cái thân người ấy, động làm gì cũng
nghịch ý muốn; có vậy mới khích động cái tâm, kiên nhẫn
cái tánh, thêm ích cho những điều chưa hay làm được(3).
Tôi
thấy nhà văn Oscar Wilde(4) dường như hay thích nói nghịch,
cốt được bật nổi; có lẽ ông là một văn hào, nhưng ở
ông có cái gì khiến tôi phải ngài ngại ngoảnh mặt đi.
Dầu vậy, Lời Kinh Siêu Độ của ông vẫn đầy niềm cảm
thán thâm diệu:
Suốt
mấy tháng trường vừa qua, và sau những biến cố và tranh
đấu khủng khiếp, tôi mới vỡ lẽ được một ít bài học
bấy lâu bị che lấp trong con tim của khổ đau. Các bậc tu
hành và nhiều người mê muội khác đôi khi nói đến cái
khổ như một cái bí mật. Tôi nghĩ rằng đích thực đó là
một sự khai ngộ. Người ta nhận biết những việc mà trước
kia không bao giờ nhận biết được. Người ta đi thẳng vào
tự sự của cái khổ bằng một quan điểm hoàn toàn khác.
Đoạn
văn cho ta thấy tác động kỳ diệu của ngục tù vào bản
lĩnh của nhà văn. Nếu từ lúc vào nghề, ông nếm qua những
thử thách như vậy hẳn văn nghiệp của ông còn đồ sộ
gấp bội hơn những gì hiện có.
Chúng
ta quá qui hướng vào chính ta. Ta sống trong vỏ ốc của tự
ngã, ngày càng lớn theo ta, cơ hồ không lột bỏ được. Dường
như ta mang nó theo suốt đời, từ tấm bé đến ngày nhắm
mắt. Tuy nhiên, thiên nhiên vẫn hiến cho ta nhiều cơ hội
đập vỏ bước ra, và cơ hội đầu tiên, thuận tiện nhất,
là khi ta bước vào thời hoa niên. Đó là lần đầu tiên cái
tôi của ta thoạt biết có “người khác”. Tôi muốn nói
đến sự thức tỉnh của dục tình. Một cái tôi, tưởng
là toàn nguyên, là bất khả phân, giờ đây như tự chẻ đôi
ra. Tình yêu bấy lâu ngủ say trong đáy tim vươn mình lên,
và gây bạo động. Vì đây là lúc vừa dấy lên, tình yêu
đòi hỏi ngay, cùng một lúc, vừa xác định cái tôi, vừa
trừ bỏ cái tôi. Tình yêu khiến cái tôi tự mất đi trong
đối tượng nó yêu, nhưng đồng thời cũng đòi quyền chiếm
hữu đối tượng ấy. Thật là mâu thuẫn; và chính mâu thuẫn
ấy là một đại bi kịch của nhân sinh. Cảm giác căn bản
ấy có lẽ là nguyên động lực thúc giục loài người hướng
thượng. Thượng Đế ban khổ cho con người để hoàn toàn
tất con người. Tiết mục quan trọng nhất trong văn chương
khắp thế giới nầy không ngoài sự hòa điệu, trên mọi
cung bậc, ca khúc ấy của yêu đương, chừng như không bao
giờ biết chán. Nhưng đó không phải là vấn đề của chúng
ta. Điều tôi muốn nhấn mạnh trong câu chuyện liên hệ đến
chúng ta ở đây là: bằng sự thức tỉnh của tình yêu, ta
thoáng nhận ra cái vô cực, và cái hé mắt ấy giục tuổi
trẻ đi vào cuộc sống lãng mạn hoặc thuần lý, tùy tánh
ý, hoàn cảnh hoặc giáo dục.
Khi
cái tôi bể vỏ và rước “cái khác” vào tự thân, ta có
thể nói đó là lúc cái tôi tự phủ nhận nó, hoặc đó là
bước đầu trong cuộc đăng trình của cái tôi đi đến vô
cực. Trên bình diện tôn giáo, đó là khởi điểm của một
cuộc xô xát tơi bời giữa hữu cực và vô cực, giữa tri
thức và một năng khiếu cao hơn, hoặc nói nôm na hơn, giữa
xác và hồn. Đó là vấn đề trên tất cả vấn đề, từng
đẩy hơn một chàng trai vào vòng tay của quỉ Satan. Khi người
lớn tuổi dòm lại những ngày niên thiếu không khỏi rùng
mình ớn lạnh toàn thân. Cuộc tranh đấu cần dấn vào với
tất cả lòng thành có thể kéo dài đến tuổi ba mươi, như
lời Khổng Tử nói: tam thập nhi lập. Ý thức tôn giáo, tức
đạo tâm, giờ đây hoàn toàn thức giấc, nên người ta mang
tất cả nhiệt huyết, cao độ nhất, dọ thử tất cả con
đường thoát ly tranh đấu, hoặc chấm dứt tranh đấu, không
từ một thí nghiệm nào. Sách nào cũng đọc, cuộc diễn thuyết
nào cũng dự, bài giảng đạo nào cũng thèm nghe, và đủ phép
tu tập nghiệm qua thử. Và tự nhiên đạo Thiền cũng được
gõ cửa đến để hỏi thăm.
Bằng
cách nào Thiền giải quyết vấn đề trên tất cả vấn đề
ấy?
Trước
hết, giải đáp Thiền được đưa ra là trực tiếp kêu gọi
đến ánh sáng của chứng nghiệm bản thân, thay vì kiến thức
của sách vở. Là trường khắc chế giữa hai thái cực, hữu
và vô, thể tánh của con người chúng ta phải được túm
lấy bằng một năng khiếu khác hơn là tri thức(5). Vì Thiền
cho rằng chính tri thức ấy tạo ra cho ta đủ thứ vấn đề
để không bao giờ tự giải quyết được, nên cần dẹp nó
qua một bên, nhường chỗ cho một cái khác, siêu đẳng hơn,
minh triết hơn. Vì đặc chất của tri thức là tán loạn,
ưu tư. Dầu rằng nó dựng đứng lên đủ thứ vấn đề khả
dĩ quấy động sự thanh tịnh của tâm, rất ít khi nó đưa
ra nổi một giải đáp thỏa đáng. Nó lật đổ thế yên ổn
đầy thú vị của vô minh mà không phục hồi được trạng
thái ban sơ của muôn vật bằng một thứ gì khác. Nghĩ rằng
nó phát giác ra vô minh, đôi khi người ta coi nó như có khả
năng chiếu phá, nhưng sự thực nó toàn gây rối, nhất định
không rọi được một tia sáng nào trong những động dụng
lăng xăng. Nó không rốt ráo, cứ chờ ở cái gì khác, siêu
việt hơn, giải quyết cho nó tất cả vấn đề nó quen tật
đặt ra, bất chấp hậu quả. Nếu nó có khả năng đem lại
một trật tự mới trong thế hỗn loạn, dứt khoát một lần,
thì hẳn loài người không cần đến triết học nữa một
khi đã có hệ thống triết học đầu tiên dựng lên từ khối
óc lớn của một Aristole hoặc một Hegel. Nhưng lịch sử triết
học chứng minh rằng một lâu đài tư tưởng nào của một
trí óc siêu tuyệt nào dựng lên nhất định sớm muộn gì
cũng bị người sau đánh đổ. Cái trò đạp xuống dựng lên
liên miên ấy hẳn là thường tình đối với triết học,
vì lẽ chân tướng của tri thức buộc nó phải vậy, không
sao chấm dứt được những thắc mắc tìm tòi, cũng như ta
không ngưng thở được. Nhưng đã gọi rằng sống, ta không
thể ngồi chờ câu giải đáp dứt khoát của tri thức, dầu
nó làm được. Ta không thể ngưng sanh hoạt, dầu trong chốc
lát, chờ triết học vén lên màn bí mật. Bí mật mặc bí
mật, nhưng ta phải sống. Người đói không thể chờ khoa
học phân tách xong thức ăn, qui định xong phân lượng mỗi
yếu tố dinh dưỡng. Với người chết, kiến thức khoa học
về thực phẩm không nhằm vào đâu hết. Do đó Thiền không
cậy vào tri thức để giải quyết những đại sự của Thiền.
Nói
chứng nghiệm bản thân có nghĩa là nắm lấy cơ sự khi vừa
phát khởi, không qua bất cứ trung gian nào. Lời ví thông thường
của Thiền là: dùng ngón tay chỉ mặt trăng, thấy trăng rồi
phải quên ngón tay(6); dùng nôm bắt cá, được cá phải quên
nôm. Cơ sự là vậy, cần nắm ngay giữa đôi tay trần kẻo
nó vuột mất - đó là thuật tiếp xử Thiền đề ra cho chúng
ta. Cũng như thiên nhiên, ghê tởm cái trống rỗng, Thiền ghê
tởm bất cứ gì xen giữa cái thực và chúng ta. Theo Thiền,
không có gì khác nhau hết, trên thực tế, giữa hữu cực
và vô cực, giữa xác thịt và linh hồn. Đó toàn là sự phân
biệt vu vơ, là vọng tưởng, do tri thức dụng ý đặc bày.
Ai quá chủ tâm đến chúng, hoặc nhìn đâu cũng thấy chúng
trong thực tế sanh hoạt, ắt chấp ngón tay làm mặt trăng.
Đói thì ăn, buồn ngủ thì đi ngủ, có gì là vô cực hữu
cực trong đó sao? Chúng ta há chẳng tự đủ ở chúng ta, và
ở mỗi người sao? Cuộc đời như hiện giờ chưa đủ sao?
Chỉ vì có tri thức len vào, gây lo âu, toan sát hại, nên ta
hết sống, và tưởng rằng mình thiếu một cái gì. Hãy để
yên cho tri thức động dụng trong thế giới riêng của nó,
dầu sao cũng có ích, nhưng đừng để nó cản trở dòng đời.
Nếu rốt cùng ông vẫn thèm khát nghiên cứu cuộc đời thì
cứ nghiên cứu nó trong dòng trôi chảy. Dòng trôi chảy ấy
không nên, trong bất cứ trường hợp nào, ngăn chận lại,
hoặc can thiệp vào: vì hễ ông vừa nhúng tay vào là sức
sáng rỡ, chiếu diệu của nó bị chao động, hết soi được
hình ảnh của ông, khuôn mặt ông có từ vô thỉ, và tiếp
tục có mãi đến vô chung.(7)
Hơi
tương tợ với “Bốn Qui Tắc” của Nhật Liên Tông(8), Thiền
có bốn truyền ngữ như sau:
Giáo
ngoại biệt truyền
教
外 別 傳
Bất
lập văn tự
不
立 文 字
Trực
chỉ nhân tâm
直
指 人 心
Kiến
tánh thành Phật,
見
性 成 佛
dịch:
Truyền
riêng ngoài giáo
Chẳng
lập văn tự
Chỉ
thẳng tâm người
Thấy
tánh thành Phật(9)
Câu
nói tóm lược tất cả yếu chỉ của pháp Thiền. Dĩ nhiên,
ta không nên quên rằng phải có một bối cảnh lịch sử thế
nào mới có phản ứng lại bằng chủ trương bạo như trên.
Số là khi Thiền mới du nhập Trung Quốc, đa số các nhà học
Phật ở đây đều sa đà trong những cuộc tranh luận siêu
hình về giáo pháp vô thượng, hoặc chỉ phụng trì giới
hạnh, hay suốt ngày ngầy ngật đắm say trong phép quán vô
thường. Hiểu theo danh số, hành theo sự tướng(10) các ngài
nắm hụt mất đại sự của nhân sinh, dòng luân lưu ấy hoàn
toàn diễn ra ngoài tất cả trò luyện trí suông, hoặc mơ
tưởng hão. Bồ Đề Đạt Ma và môn đệ của ông nhận thấy
thế đạo bi đát ấy, nên tuyên xướng bốn danh ngôn Thiền
vừa kể. Mặt khác, đó còn ngụ ý Thiền có xảo thủ riêng
chỉ thẳng vào thể tánh, và hễ thấy tánh là thành Phật,
nghĩa là chứng nhập trong trạng thái siêu tuyệt, thuần nhất,
hoàn toàn dung thông tất cả mâu thuẫn và tán loạn do tri
thức gây ra.
Do
đó, Thiền nhằm chỉ thẳng, không bao giờ giải thích, không
viện đến lối trình bày quanh co, mà cũng không qui nạp. Luôn
luôn, Thiền tiếp xử với những cơ sự thực tế, cụ thể,
rờ mó được. Xét về mặt luận lý, có lẽ Thiền chứa
đầy mâu thuẫn và trùng ngôn. Nhưng, siêu việt trên tất
cả, Thiền cứ thẳng đường mà đi, thanh thản, nhẹ nhàng,
đúng như một Thiền sư nói: “Gậy mình mình vát, đường
mình mình đi, giữa đồi núi trập trùng”. Đó không có gì
là biện luận cả, mà toàn dẫm trên những sự kiện cụ
thể, phó tất cả cho duyên phần. Chỉ khi nào tinh thần lý
luận xao lãng nhiệm vụ riêng mà sấn bước vào con đường
Thiền, lúc ấy, Thiền mới lớn tiếng tuyên cáo ý chỉ, và
trục xuất bằng võ lực tên xâm lăng. Dầu vậy, Thiền không
phải là cừu địch của bất cứ gì; thật vậy, không có
lý do nào Thiền đối nghịch với tri thức, dầu sao thỉnh
thoảng vẫn có công dụng cho chánh nghĩa Thiền. Vài câu truyện
chọn lựa sau đây đủ biểu thị con đường hiện thực của
Thiền trong việc ứng cơ tiếp vật:
Ngày
kia, tổ Lâm Tế nói: “Trên đống thịt đỏ lòm có một
vô vị chân nhân thường ra vô theo lối cửa mở trên mặt
các ngươi. Thầy nào sơ tâm chưa chứng cứ được thì nhìn
đây”. Có một thầy bước ra hỏi: “Vô vị chân nhân ấy
là cái gì?”. Lâm Tế vụt bước xuống thiền sàng, nắm
cứng thầy ta hét lớn: “Nói đi! nói đi!”. Thầy ta đang
lính quýnh thì Tổ buông ra, trề môi nói: “Vô vị chân nhân,
ồ chỉ là một cái cọc phân khô”. Rồi đi thẳng vào phương
trượng (11).
Lâm
Tế nổi tiếng trong Thiền giới bởi lối tiếp xử thẳng
và bạo với môn sanh. Sư không tán thành lối nói pháp quanh
co, sở trường của các pháp sư thiếu nhiệt huyết. Chắc
là Sư thừa hưởng phép Thiền trực chỉ ấy ở sư phụ là
hòa thượng Huỳnh Bá, trước kia ba lần đánh Sư đúng ba
lần Sư đến tham vấn về yếu chỉ của Pháp Phật. Khỏi
nói Thiền không liên quan gì đến việc đánh đá người hỏi
đạo ấy. Nếu ông cho rằng đánh đá là yếu tố Thiền ắt
ông chấp lầm như người ta chấp lầm ngón tay là mặt trăng.
Như ở các giáo thuyết khác, nhưng đặc biệt hơn ở Thiền,
ta đừng nên coi những hình thức phát hiện hoặc biểu hiện
bên ngoài như là cứu cánh; đó chỉ nhằm chỉ hướng nhắm
vào cái thực. Những chỉ dẫn ấy dầu là quan trọng, không
thể không có được, nhưng một khi mắc phải chúng là hỏng
hết, khác nào bị bó rọ trong lưới, và không bao giờ hiểu
được Thiền. Có người cho rằng Thiền luôn luôn cố chụp
ta trong mạng lưới lý luận, hoặc trong bẫy ngôn từ. Một
bước lỗi lầm đủ cho ông trầm luân muôn kiếp, không bao
giờ cởi mở được để hưởng tự do, sự tự do từng đốt
nóng trái tim ông. Do đó Lâm Tế bắt cứng trong bàn tay trần
những gì thoắt hiện đến cho mỗi người chúng ta. Nếu con
mắt thứ ba, con mắt Bát Nhã, mở bung được ở ta, ắt ta
thấy rõ, không chút sai lầm, chỗ Lâm Tế đưa ta đến. Trước
hết, ta cần thâm cảm với thực tâm của sư, và chất vấn
thẳng với con người nội tại ngay tại đó.
Không
một giải thích bằng chữ nghĩa nào đưa ta vào được thể
tánh của chính ta. Ông càng giải thích, nó càng chạy mất
khỏi ông. Đó chẳng khác nào ông cô đuổi bắt bóng ông.
Ông chạy theo nó, và nó chạy với ông, theo đúng một tốc
lực như nhau. Khi ông thấu đạt được lẽ ấy là đọc ngay
vào thâm tâm của Lâm Tế và Huỳnh Bá, và thâm cảm mối
từ tâm vô lượng của các Ngài.
Tổ
Vân Môn, (12) tự Văn Yển, là một cao tăng khác thời vãn
Đường. Sư phải thí mất một chân mới chứng được lẽ
đạo nhiệm mầu của vũ trụ và nhân sinh, luôn cả lẽ sống
đạm bạc của Sư. Sư kiên nhẫn ba lần gõ vào nhà tổ Mục
Châu, (một cao đệ của Lâm Tế, Tế là pháp từ (13) của
Tổ Huỳnh Bá) mới được vào tham vấn. Mục Châu hỏi:
-Ngươi
là ai?
-Văn
Yển
Sư
vừa xô cửa bước vào thì Mục Châu chụp lấy vai Sư, ra
lịnh: “Nói đi! nói đi!”. Sư chưa biết nói gì thì Mục
Châu mắng: “Đồ vô tích sự”, rồi đẩy ra khỏi cửa.
Cánh cửa đóng sập lại, tàn nhẫn, một bàn chân của Vân
Môn kẹt gãy trong đó. Trong cơn đau ngất, nhà sư khốn nạn
kia hoát nhiên đại ngộ, nghĩa là chứng nhập trong chân lý
của nhân sinh. Ông không còn là chú tiểu đi ăn mày chân lý
nữa; cái ông vừa chứng được bù lại gấp bội cái ông
vừa thiệt mất; một bàn chân. Tuy nhiên, trường hợp của
Sư không phải là một biệt lệ, vì có nhiều người xả
thân cầu đạo như vậy trong Thiền sử. Đúng như lời Khổng
Tử nói: “Sớm nghe được đạo, chiều chết cũng cam”.
Quả có nhiều người coi trọng chân lý hơn thân mạng của
kiếp sống như cây cỏ thú cầm. Nhưng, than ôi, trong đời
có biết bao cây thịt đành lặn hụp trong bùn hôi của ngu
mê và dục lạc!
Đó
là chỗ cực kỳ khó hiểu của Thiền. Tại sao có lối mắng
quở gắt gỏng ấy? Tại sao có vẻ như tàn nhẫn vậy? Chú
tiểu Vân Môn phạm tội gì đến phải trả bằng bàn chân
gãy nát? Chú ta chỉ là một bần tăng đi cầu đạo, và thiết
tha mong thầy khai ngộ cho. Thầy có lợi gì ba lần đóng cửa
trước tâm nguyện cầu Thiền của chú tiểu, và khi cửa vừa
hé mở lại đóng sập lại ngay, một cách tàn bạo và bất
nhân như vậy? Phải chăng đó là chân lý của Phật giáo mà
Vân Môn hằng nhiệt thành tìm kiếm? Có điều lạ nhất là
cả hai, thầy và trò, đều hài lòng như nhau vì biến cố
ấy. Thầy hoan hỷ thấy trò chứng nhập trong cơ huyền diệu
của thể tánh. Trò mang nặng thâm ân khai ngộ của Thầy.
Hiển nhiên, Thiền là cái phi lý nhất, khó quan niệm nhất
trong đời. Nên trước tôi có nói Thiền không phải là đề
tài để lý phân, hoặc trí giải. Trái lại, Thiền phải được
thân chứng và trực ngộ tự thâm tâm mỗi người chúng ta.
Cũng như hai tấm gương trong phản chiếu lẫn nhau, cũng vậy,
cái thực, cái chân tế, của thể tánh ta phải được đặt
đối diện nhau, tuyệt đối không gián cách. Có vậy, ta mới
nắm được dòng đời từ nơi nhịp sống đang luân lưu.
Khốn
nỗi lâu nay hai chữ tự do chỉ là một danh từ rỗng. Nên
điều khẩn yếu nhất cho ta là thoát vòng nô lệ mà tất
cả sanh linh hữu hạn đều cảm mắc phải, nhưng nếu ta không
thẳng tay chặt tan tành chuỗi xích vô minh trói cứng tay chân
ta thì còn tìm giải thoát ở đâu nữa? Vả, chuỗi xích vô
minh ấy chẳng phải đúc bằng chất liệu nào khác hơn là
chất mê hoặc của trí thức và giác quan bám chặt vào mỗi
tư tưởng, mỗi cảm giác của ta. Thật khó cởi bỏ chúng
như khó cởi bỏ bộ quần áo ướt, như lời khéo ví của
các Thiền sư.
“Chúng
ta đều sanh ra tự do và bình đẳng như nhau”. Dầu câu nói
có nghĩa thế nào về mặt xã hội học và chánh trị học,
nhưng với Thiền, đó vẫn là một sự thực tuyệt đối trong
lãnh vực tâm linh; và tất cả xiềng xích ta cảm thấy mắc
phải thật sự chỉ mới tròng vào ta sau này bởi vô minh,
nghĩa là bởi ta không thấu rõ điều kiện thực, nhân duyên
thực, của cuộc sống. Tất cả xảo thuật phóng khoáng
nhất, từ ái nhất, hoặc bằng văn nghệ, hoặc bằng phương
tiện cụ thể, chư sư ứng dụng vào những tâm hồn khát
khao cầu đạo đều nhằm phục hoàn cho họ trạng thái tự
do nguyên thỉ. Điều ấy không bao giờ ta thực chứng được,
trừ phi tự ta, bằng tự lực, ta thể nghiệm lấy ngoài tất
cả nếp suy tư. Vậy, quan điểm cùng tuyệt của Thiền là
vì vô minh nên ta lầm đường lạc lối, tưởng có sự chẻ
đôi ở trong ta trong khi, từ nguyên thỉ, chưa hề có cuộc
tranh chấp nào giữa hữu cực và vô cực; và sự tự do mà
ta nhiệt thành tìm kiếm vẫn có đó tự bao giờ. Thi hào Tô
Đông Pha, một quan đại phu đời nhà Tống, diễn lấy bằng
mấy vần thơ như sau:
Lô
sơn yên tỏa Chiết giang triều
Vị
đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo
đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô
sơn yên tỏa Chiết giang triều
Khói
ngút non Lô sóng Chiết giang
Khi
chưa đến đó luôn mơ màng
Đến
rồi hóa vẫn không gì khác
Khói
ngút non Lô sóng Chiết giang
Cũng
vậy, sư Thanh Nguyên Duy Tín có lời tự thuật như sau:
“Sãi
tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học Thiền,
老
僧 , 三 十 年 前 , 來 參 禪 時 ;
thấy
núi là núi, thấy nước là nước;
見
山 是 山 , 見 水 是 水 ;
“Sau
nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào,
及
至 後 來 親 見 知 識,有 箇 入 處
thấy
núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước;
見
山 不 是 山 , 水 不 是 水
“Rồi
nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh, y nhiên,
而
今 得 箇 體 歇 處 ,依 然 ,
thấy
núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước,
見
山 衹 是 山 , 見 水 衹 是 水
(Truyền
đăng lục, quyển 22)
Ngày
kia, có ông đạo hỏi Thiền sư Mục Châu, một cao tăng ở
hậu bán thế kỷ IX:
“Suốt
ngày mặc áo ăn cơm, làm sao khỏi mặc áo ăn cơm?”. Sư đáp:
“Mặc áo, ăn cơm”. Thầy kia trả lời không hiểu. Sư đáp:
“Không hiểu thì mặc áo ăn cơm.”
Thiền
luôn luôn tiếp xử với những cái cụ thể như vậy, không
thích suy luận mơ hồ. Tôi không muốn vẽ rắn thêm chân,
nhưng nếu phải lạm bàn về thái độ triết học của Mục
Châu, tôi có thể nói thế này: Chúng ta đều là hữu hạn
hết, ta không thể sống ngoài không gian; bởi lẻ chúng ta
sanh ra từ trái đất nên không thể đạt tới cái vô hạn.
Làm sao thoát ngoài những giới hạn của cuộc sống? Có lẽ
đó là ý nghĩ của ông đạo trong câu hỏi đầu; đối lại,
Mục Châu đáp: “Giải thoát phải tìm ngay trong cái hữu hạn;
không đâu có cái vô hạn ngoài những sự vật hữu hạn của
thế gian; ông đi tìm cái vô hạn nào khác tức ông cắt đứt
với thế gian tương đối này, như thế khác nào ông tự hủy
ông. Ông không muốn có được sự giải thoát trả giá bằng
cuộc sống thường tục này. Vậy, thà là cứ bình thường
mà ăn và uống, và tìm giải thoát ngay trong cảnh bình thường
ấy”. Lời giải thích ắt lạ tai quá với ông đạo, nên
thầy ta thú nhận không hiểu chủ ý của Thiền sư. Nên sư
giải thêm: “Dầu hiểu hay không hiểu, ông vẫn sống như
thường trong cái hữu hạn, với các hữu hạn, vì ông sẽ
chết nếu ông ngưng ăn ngưng mặc để hướng đến cái vô
hạn”.
Dầu
có tranh đấu mấy đi nữa, Niết Bàn vẫn phải tìm trong bánh
xe sanh tử luân hồi. Từ một thiền sư chứng đạo đến
một gã thất phu ngốc nhất đời, không ai thoát ngoài được
cái gọi là luật thiên nhiên. Hễ bao tử lép thì ai cũng đói
như nhau; hễ trời băng tuyết thì ai cũng lo choàng thêm áo
ấm. Tuy nhiên tôi không có ý nói rằng cả hai cuộc sống
đều rút lại chỉ còn là vật chất như nhau, nhưng họ vậy
vì họ vậy, bất chấp trình độ minh triết nào. Như kinh
điển Phật giáo nói, cái tối của hang động chuyển thành
ánh giác khi bừng lên ngọn đuốc chiếu diệu của tâm linh.
Không phải là trước hết phải dẹp bỏ cái gọi là hắc
ám, rồi đem thế vào đó một cái khác gọi là linh quang,
vì mê với giác bổn lai vẫn là một, chẳng phải hai, chẳng
phải khác. Cái này chuyển thành cái kia là nội chuyển, trong
tự thể. Nên hữu hạn tức vô hạn, vô hạn tức hữu hạn,
Cả hai không sai khác nhau, dầu rằng trên mặt tri thức ta
buộc phải phân đôi. Ngụ ý của ngài Mục Châu có lẽ là
vậy trong lời đáp sau, giảng rộng bằng luận lý. Cái lầm
của ta là thấy có chẻ đôi ở chỗ thật sự vốn là tuyệt
đối một. Cuộc sống ta đang sống đây há chẳng là một,
là toàn nhất sao, cuộc sống mà ta nhẫn tâm thọc vào mũi
dao tai hại của trí thức suy luận giải phẩu thành manh mún?
Ngày
kia, sư Bách Trượng Niết Bàn gọi một thầy đến nói:
“Thầy
với tôi ra cày ruộng xong tôi sẽ nói cho nghe đại nghĩa của
Pháp Phật”. Cày xong, thầy ta đến thỉnh giáo, sư dang đôi
tay, không nói gì.
Có
lẽ rốt cuộc không có gì là bí mật trong Thiền cả. Tất
cả đều trải banh trước mắt ông. Nếu ông ăn cơm, ông
mặc áo sạch sẽ, và cày cuốc để vun trồng lúa thóc và
rau cỏ, tức ông đã làm tất cả những gì phải làm trên
trái đất này, và như vậy là ông thành tựu cái vô cực
ở ông. Thành tựu bằng cách nào? Thưa, có người hỏi thiền
sư Mục Châu “Pháp Phật là gì”, ngài đọc một câu chữ
Phạn trong kinh Đại Bát nhã Ba la mật đa (14). Người kia thú
thật không hiểu, ngài bèn bình giải:
“Áo
thầy rách đã bao năm,
Gió
tung từng mảnh bay vồng lên mây”.
Rốt
cùng, vô cực chỉ là một tên ăn xin rách nát như vậy sao?
Dầu
là gì, trong sự thế này, có một cái ta không bao giờ có
thể lơ đểnh được, đó là sự yên tịnh của tâm thần,
hoặc nghèo (vì yên tịnh chỉ có được trong cảnh nghèo)-
sự yên tịnh đổi lấy bằng cả một cuộc đấu chiến dõng
mãnh, với tất cả khí lực bình sanh. Hài lòng vì biếng nhác
hoặc vì không muốn bận tâm, buông xuôi đến đâu hay đó,
là thái độ sống ghê tởm nhất. Không có gì là Thiền trong
đó hết mà toàn là bải hoải, là vô tri giác. Sự đấu chiến
phải được dấy lên với tất cả đại hùng đại lực,
bằng không, ông hưởng được thứ yên vui nào cũng là thứ
giả, liêu phiêu không gốc, vừa gặp trận bão đầu đã sụp
đổ tan tành. Thiền rất quyết đoán ở điểm đó. Thật
vậy, đảm lực tinh thần ấy ta thấy trong Thiền, ngoài phần
hứng khởi thần bí, vốn được trui luyện từ lò đấu chiến
trong đời, nhận lấy với tất cả chí khí bình sanh và tinh
thần vô úy.
Vậy,
trên quan điểm đạo đức, Thiền có thể coi như một kỷ
luật nhằm rèn đúc lại tánh khí. Cuộc sống thường ngày
của chúng ta chỉ chạm sơ vào vành ngoài của cá thể, không
gây một chấn động nào tận thâm tâm. Cả đến khi đạo
tâm được đánh thức, hầu hết chúng ta vẫn phơn phớt đi
qua như để khỏi lưu một dấu tích nào về cuộc đấu chiến
cam go trong tâm hồn ta. Bản chất của chúng ta là vậy, sống
phiên phiến trên mặt sự vật. Ta có thể thông minh, chói
sáng, v.v... nhưng dầu ta làm gì vẫn thiếu bề sâu, thiếu
chân thực, không kêu gọi đến chút thâm tình nào. Có nhiều
người khác lại hoàn toàn bất lực, không sáng chế được
gì hết, trừ ra những mánh khóe vụn, hoặc bắt chước tồi,
tố giác một tâm hồn nông nổi và thiếu nội chứng. Thiền,
trước hết, là một tôn giáo, nhưng cũng là một nghệ thuật
luyện tánh khí. Nói đúng hơn, chính sự tâm chứng cực sâu
nhất định khởi động một cuộc chuyển hóa trong cơ cấu
tinh thần của cá thể con người.
Như
thế nào?
Chân
lý Thiền, thật vậy, muốn thâm ngộ phải trải qua một cuộc
đại chiến, đôi khi rất dằng dai, và đòi hỏi một sức
tinh tiến trường kỳ, và thiết yếu. Thuần thục trong kỷ
luật Thiền không phải là việc dễ. Có một Thiền sư nhận
xét rằng muốn làm sư phải có một tinh thần đấu chiến
cao tuyệt, cả đến một ông thượng thơ đầu triều chưa
chắc làm được một ông sư tốt. (Ở đây tôi xin nói thêm
tại Trung Quốc được làm thượng thơ là thành được một
chí nguyện cao nhất mà không mấy ai dám mong được trong thế
gian này). Nói thế không phải vì cuộc sống xuất gia đòi
hỏi người tu phải nghiêm trì khổ hạnh, mà chính ngụ ý
rằng phải vận chuyển nguồn nội lực tâm linh vút đến
tuyệt đỉnh. Tất cả câu nói, tất cả việc làm của các
bậc Thiền đức đều ứng ra từ tuyệt đỉnh ấy. Đó không
có gì là cố ý làm ra tối nghĩa, hoặc gieo hoang mang vào đầu
óc ta, mà chỉ nước tràn bờ, chúng trào ra từ một trái
tim dẫy đầy thấm chứng. Bởi vậy, trừ phi ta chứng đến
chỗ cao bằng chư sư, bằng không ta không thể có được như
các ngài một cái nhìn quán xuyến vào cuộc sống. Ruskin(15)
nói: "Chắc chắn rằng nếu tác giả có đòi giá trị nào
vẫn khó cho độc giả trong chốc lát nhận ra tất cả ý nghĩa,
mà ít ra phải một thời gian sau mới thấu đáo hết được.
Không phải là tác giả không nói những điều mình nghĩ, và
nói cho tách bạch, nhưng thực sự không thể nói được, lạ
hơn nữa là tác giả cũng không muốn nói, nên đành nói úp
mở, bằng ẩn dụ, để thử coi ông có chắc muốn nghe không".
Tôi khống thể hiểu tất cả lý do của thái độ ấy, mà
cũng không thể phân tách sự dè dặt ấy trong tâm các bậc
hiền triết khiến các ngài luôn luôn dấu sâu tư tưởng.
Các ngài cho ông không phải để giúp ông, mà để thưởng
ông, và họ phải chắc ý ông xứng đáng mới thuận đưa
ông đến chỗ. Chiếc chìa khóa mở vào vương khố trí huệ
ấy chỉ trao cho ông sau một cuộc đấu chiến tinh thần đầy
kiên trì và gian khổ.
Luôn
luôn tâm ta đầy ắp đủ thứ điên đảo về lý và hư dối
về tình. Dầu vậy, chúng vẫn có công dụng riêng, không thể
chối cãi, trong cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, phần lớn
vì khối chất chứa ấy khiến ta khốn đốn và ấm ức dưới
cảm giác trói buộc. Mỗi khi ta muốn cử động, nó chắn
lại, nó dằn xuống, nó rũ một bức màn dày bịt trên chân
trời tâm linh của ta. Ta có cảm giác luôn luôn sống dưới
ách áp chế. Ta thèm được tự nhiên và tự do, và cảm thấy
không sao đạt được. Các Thiền sư hiểu lắm sự thế ấy,
vì chính các ngài có lúc đã trải qua. Các ngài muốn cởi
bỏ cho ta gánh ưu phiền ấy, vì thật sự không có gì phải
mang theo cả để sống một cuộc sống thực và giác. Nên
các ngài chỉ thốt ra đôi lời kèm theo vài cử chỉ, và nếu
lãnh hội thẳng được, đủ giải thoát ta khỏi vòng áp chế
khắc nghiệt của những khối kiến thức kinh niên ấy. Nhưng
rất khó cho ta lãnh hội được. Vì đã quen lâu với áp chế,
ta không dễ gì xóa bỏ được nếp tê liệt tinh thần. Trên
thực tế, nó đã ăn sâu, đã mọc rễ, trong con người chúng
ta, nên cần lật nhào toàn thể cơ cấu của cá thể ta. Cơ
tái tạo đầy máu và nước mắt! Nhưng không có con đường
nào khác đưa tới đỉnh cao diệu ấy của các bậc cao tăng.
Chân lý Thiền không bao giờ ta lãnh hội được trừ khi ta
đập vào đó với tất cả khí lực bình sanh. Ðường đi
dẫy đầy gai gốc, và dốc đứng. Ðó không thể là một
trò tiêu khiển, mà đúng là một việc làm nghiêm trọng nhất
trong đời, không một gã lười nhác nào dám bén mãng. Ðó
là một cái đe tinh thần, trên đe ấy, và dưới những lát
búa đập liên hồi, tánh khí ta được trui đi nhồi lại mãi
đến chỗ tinh luyện. Do đó, với câu hỏi “Thiền là gì?”,
có sư đáp “nấu dầu trên lửa hực”. Phải qua cuộc thử
lửa ấy trước khi nhận được cái mỉm cười của Thiền
với lời mừng: “Ðây là nhà của ông”.
Một
trong trong những Thiền ngữ từng gây cách mạng mạnh trong
tâm ta là câu chuyện sau đây:
Bàng
Uẩn, (trước theo nghiệp nho gia) ngày kia đến tham vấn Mã
Tổ, và hỏi: “Ai là người chẳng cùng muôn pháp làm bạn?”.
Mã Tổ đáp: “Ðợi khi nào ông hớp một bụng hết nước
Tây Giang ta sẽ nói cho nghe”. Bàng hoát nhiên đại ngộ(16)
Thật
không có lời đáp nào lạc đề hơn đối với câu hỏi nghiêm
trọng nhất ấy, từng nêu lên trong lịch sử tư tưởng của
loài người! Dư âm của lời đáp vang lên gần như một lời
thóa mạ, bất kính, đối với biết bao tâm hồn đang quằn
nặng dưới câu hỏi ấy. Tuy nhiên, nhiệt tâm của Mã Tổ
thật không có mảy bóng ngờ, như tất cả những người học
Thiền đều biết rõ. Thật vậy, công trình hưng long của
đạo Thiền sau khi Lục Tổ Huệ Năng(17) viên tịch là nhờ
đạo nghiệp huy hoàng của Mã Tổ, từ đại sư rồi xuống
hơn tám chục vị cao tăng, trong ấy có Bàng Uẩn, một cư
sĩ trác việt nhất trong đạo Thiền, rất xứng đáng được
tôn xưng là Duy Ma Cật(18) của tòa nhà Phật Giáo Trung Hoa.
Cuộc đàm thoại giữa hai vị Thiền sư thượng thăng ấy
không thể là một trò chơi rẽ tiền. Dầu bề ngoài có vẻ
dễ dàng, và nhàn nhã là khác, vẫn ẩn bên trong một viên
ngọc quý nhất đời của văn học Thiền. Chúng ta không quên
rằng vô số người học Thiền đã toát mồ hôi lạnh, và
thét ra nước mắt trước câu nói ấy của Mã Tổ, bí mật
không tiết lậu được.
Sau
đây là một câu chuyện khác:
Tú
thượng tọa hỏi hòa thượng Trường Sa Cảnh Sầm: “Nam
Tuyền đi đâu sau khi hóa đạo?” Sa đáp: “Khi Thạch Ðầu
còn là chú tiểu có tham kiến Lục Tổ”. Tú nói: “Tôi không
hỏi việc Thạch Ðầu tham kiến Lục Tổ, tôi chỉ hỏi việc
Nam Tuyền đi đâu sau khi hóa đạo”. Sa đáp: “Nghĩ kỹ xem
thử nào!”.(19) 教 伊 尋 思 去
Linh
hồn bất tử hay không bất tử, đó là một vấn đề lớn.
Ta có thể nói lịch sử tôn giáo toàn xây dựng trên một
câu hỏi ấy. Ai ai cũng muốn biết về cái sống sau khi chết.
Ta đi đâu sau khi bỏ trái đất này? Thật có một đời sống
khác không? Hay hết đời này là hết tất cả? Trong khi phần
đông có lẽ không hề bứt rứt về ý nghĩa tối hậu của
người cô liêu, “người không bạn”, nhưng chắc không ai
khỏi tự hỏi, ít nhất một lần trong đời mình, về số
phận của mình sau khi chết. Dầu Thạch Ðầu, khi còn là chú
tiểu, có gặp hay không gặp Huệ Năng, điều ấy không liên
quan gì đến việc ra đi của Nam Tuyền. Nam Tuyền là thầy
của Trường Sa, nên cố nhiên vị thượng tọa mới hỏi ngài
rốt cuộc thầy đi về đâu. Lời đáp của Trường Sa không
đáp lại gì hết, theo phép luận lý thường của chúng ta.
Do đó, có câu hỏi thứ nhì của trò, và có lời đáp liền
môi của thầy, một thứ vớ vẫn như nhau. Thật vậy, đáp
rằng “nghĩ kỹ xem thử nào” thì có nghĩa gì đâu? Vậy,
rõ ràng Thiền là một việc, còn lý luận là một việc, khác
nhau. Nếu ta coi thường sự phân biệt ấy, và mong Thiền đem
đến cho ta cái ánh sáng chiếu diệu hợp tình, hợp lý, ắt
ta hoàn toàn ngộ nhận ý chỉ của Thiền. Ngay từ đầu, tôi
há chẳng nói rằng Thiền đối xử với những cái cụ thể,
chớ không phải với những suy diễn trừu tượng? Và chính
đó là điểm chủ yếu của Thiền, nhằm chỉ thẳng vào căn
bản của cá tánh ta. Tri thức thường không đưa ta đến đó
được, vì chúng ta không sống trong tri thức, mà sống trong
ý chí. Ðúng như lời huynh Lawrence luận về chân lý: “Ta
phải phân biệt kỹ hành động của tri thức và hành động
của ý chí: loại đầu tương đối có một giá trị mỏng
manh, thứ sau mới là tất cả” (Quán xét về sự thấy Chúa).
Văn
học Thiền đầy dẫy những câu nói như trên, dường như
thốt ra một cách tình cờ, rất vô tâm, nhưng những ai thực
thấu đáo Thiền đều xác nhận rằng những câu nói hồn
nhiên thoát ra từ miệng chư sư ấy giống như những liều
thuốc độc giết người, hễ uống phải là khổ não kịch
liệt đến như quặn đau chính khúc ruột, theo lối nói của
người Trung Hoa. Nhưng phải có vậy, sau cơn đau khổ và xáo
trộn, mới gột sạch tất cả những uế trệ của nội tâm,
và con người mới hồi sanh lại, với một nhỡn quang hoàn
toàn mới lạ phóng vào cuộc sống. Có điều lạ là Thiền
trở nên sáng tỏ như ban ngày một khi tinh thần trải qua những
cuộc đấu chiến ấy; nhưng chắc chắn Thiền là chứng nghiệm,
ở hiện tại và ở bản thân, chứ không phải là kiến thức
rút ra từ so sách hoặc phân tách.
“Gặp
tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng
phải thi nhân chớ tặng thi”(20)
“Thanh
khí lẽ hằng”, câu nói giải rõ toàn thể vấn đề. Tâm
ta phải chín muồi như vậy mới hòa nhịp với tâm của chư
sư. Hãy thuần thục như vậy, và hễ một cung đàn rung lên
là nhất định cung khác ứng hoạ liền. Sự hòa điệu bao
giờ cũng phát ra từ sự duyên cảm giữa đôi ba giây hoặc
nhiều hơn. Và tất cả những gì Thiền nhằm làm cho ta là
chuẩn bị cho tâm ta nhu thuận và trang nghiêm khế hợp với
các bậc cổ đức. Nói một cách khác, về mặt tâm lý, Thiền
khai phóng tất cả nguồn nội lực tiềm phục ở trong ta,
mà bình thường ta không hề hay biết.
Nhiều
người coi Thiền như một sức tự kỷ ám thị. Nhưng nói
thế thật không giải thích gì hết. Ví có ai đọc lên hai
tiếng Yamato damashi(21) thì kích động ngay ở hầu hết dân
tộc này một lòng yêu nước nồng nàn. Các trẻ ở đây được
dạy dỗ tôn kính màu cờ mặt trời mọc, và khi chiến sĩ
diễn hành trước quân kỳ, tự nhiên họ tự động nghiêm
chào. Khi một đứa trẻ bị khiển trách không hành động
đúng với tinh thần một tiểu hiệp tướng quân, và làm nhơ
danh các bậc tiền bối, nó liền tập trung hết đảm lực,
và đương đầu với những cám dỗ đê hèn. Với người Nhật,
tất cả ý tưởng ấy là nguồn động lực, và khi phát động
ra, theo nhiều nhà tâm lý học, là tự kỷ ám thị. Những
qui ước xã hội, và bản năng bắt chước, cũng có thể coi
là tự kỷ ám thị. Kỷ luật tinh thần cũng vậy nốt.
Người ta nêu lên cho học sinh một tấm gương để noi theo,
và bắt chước. Ý niệm ấy lần hồi bắt rễ trong chúng
bằng sức tự ám, và cuối cùng chúng hành động theo ý niệm
ấy, tưởng như chính là của chúng. Tự ám là một lý thuyết
khô cằn không giải thích gì hết. Nói rằng Thiền là tự
ám, ta có minh định gì được về Thiền không? Người ta
tưởng rằng, theo tinh thần khoa học, cứ gán cho mỗi hiện
tượng một danh từ mới, hợp với thời thượng, là dứt
khoát xong việc, hài lòng, coi như đã đặt sự vật đúng
vào con đường cao kiến. Sự học Thiền cần đặt vào tay
các nhà tâm lý học thâm thúy hơn.
Có
người tin rằng trong ý thức ta có một vùng đất hoang chưa
được khai thác hoàn toàn, và triệt để. Cái đó thường
gọi là Vô Thức hoặc Tiềm Thức. Đó là một khu vực đầy
hình ảnh lờ mờ, nên tự nhiên ít nhà khoa học dám lảng
vảng đến. Nhưng không vì thế mà gọi được là phủ nhận
nó. Cũng như miếng đất ý thức thường ngày của ta đầy
ắp đủ thứ hình ảnh, lành và dữ, ngăn nắp và hỗn độn,
sáng và tối, xác định một cách hung hãn và trầm vong trong
hơi tàn; cũng vậy, Tiềm Thức là kho chứa đủ huyền năng
bí lực, nghĩa là những gì hoặc tiềm ẩn hoặc bất thường,
hoặc thuộc thần hồn hoặc thuộc tâm giới. Cơ năng kiến
chiếu của ta vào tự thể có lẽ ẩn phục tại đó, và cái
các Thiền sư đánh thức dậy trong ý thức ta có lẽ là cái
ấy. Trong mọi trường hợp, chư sư đều bóng bẩy hình dung
là mở con mắt thứ ba - con mắt bát nhã. Sự khai huệ, hoặc
sự thức tỉnh ấy, thông thường gọi là NGỘ.
Bằng
cách nào?
Bằng
cách tham quán những lời nói và việc làm ấy trào thẳng
ra từ chỗ sâu kín không bị tri thức và tưởng tượng che
mờ, và có thần lực quét sạch tất cả cuộn phong vũ quấy
lên từ vô minh và điên đảo.(22)
Tôi
thiết tưởng cần giới thiệu hầu bạn đọc vài phương
thức các Thiền sư thường dùng để khai ngộ cho môn đệ.
Cố nhiên các ngài hay dùng những biểu tượng tôn giáo, những
đạo tích mang theo khi đến Đạt Ma Đường. Thường là cái
phất tử, cây hèo, cây gậy như ý, hoặc cây trụ trượng.(23)
Vật sau dường như được thông dụng nhất trong việc chứng
minh thiền lý. Tôi xin cử vài thí dụ:
Theo
Thiền sư Huệ Lăng Trường Khánh “Hễ hiểu cây trụ trượng
là gì tức không còn gì phải học Thiền nữa”. Câu nói
khiến ta liên tưởng đến hoa Tennyson trong kẽ tường. Vì
khi ông lãnh hội được cây gậy là gì ắt ông hiểu “Chúa
là gì, loài người là gì” nghĩa là ông kiến chiếu ngay
vào thể tánh của ông, và sức kiến chiếu ấy dứt khoát
chấm hết tất cả ngờ vực, tất cả thèm khát xáo trộn
sự thanh tịnh của tâm ông. Ý nghĩa của cây Thiền trượng
có thể hiểu như vậy.
Thiền
sư Ba Tiêu Huệ Thanh (thế kỷ thứ X) có lần tuyên bố:
Ông
có một cây trượng, tôi cho ông một cây.
Ông
không có cây trượng nào, tôi đoạt mất của ông.
Quả
là một câu nói kỳ đặc Thiền, nhưng sau đó Thiền sư Mục
Khê cực lực phản đối lại vầy:
Ông
có một cây trượng, tôi đoạt mất của ông.
Ông
không có cây trượng nào, tôi cho ông một cây.
Tôi
nói vậy đó. Ông sử dụng trượng được không? hay không
dùng được? Nếu được, ông có Lâm Tế tiền hô và Triệu
Châu hậu ủng. Bằng không, hãy hoàn lại chủ cũ.
Một
ông đạo tham vấn Thiền sư Mục Châu:
“Câu
nói siêu khỏi Phật, vượt khỏi Tổ là câu gì?”. Sư bèn
giơ cao cây trượng trước tăng chúng nói: “Tôi gọi cái
nầy là cây trượng, còn ông, ông gọi là gì?”. Ông đạo
không đáp, Sự lại giơ trượng lên nói: “Câu nói siêu Phật
vượt Tổ của ông chẳng là câu hỏi của ông sao?”
Những
người lơ đảng phớt qua những Thiền ngữ thuộc loại như
của sư Mục Châu kể trên có thể cho đó là hoàn toàn vô
nghĩa. Dầu cây trượng gọi là cây trượng, hay chẳng phải
là cây trượng, vẫn không hệ trọng gì đối với cái chủ
yếu là trí huệ tối thượng siêu việt ngoài giới hạn của
kiến thức. Câu nói sau đây của một vị cao tăng khác, Thiền
Tổ Vân Môn, có lẽ dễ đạt hơn.
Sư
thượng đường giơ cao cây trượng nói:
Phàm
phu gọi đó là có,
Nhị
thừa bẻ lại là không,
Viên
giác gọi là có giả,
Bồ
tát nói là “đương thể tức không”.
Các
ông mặc áo nạp, thấy tích trượng thì cứ gọi là tích
trượng.
Đi
cứ đi, ngồi cứ ngồi, không được trù trừ(24).
Rồi
vẫn về cây gậy cũ kỹ, vô lý ấy, sau đây Vân Môn lại
nói bí hiểm hơn. Ngày kia, Sư báo với tăng chúng:
Cây
trượng hóa rồng rồi, nuốt hết càn không; đại địa núi
sông ở đâu chứ?
Ở
một dịp khác, sư Vân Môn dẫn tích một cổ đức trước
kia có lần vung gậy đánh vào hư không và nói có tiếng động,
rồi đập vào trụ cây nói không nghe gì hết.(25)
Sư
cũng vung gậy đập vào hư không, và la “Ôi, nó bị đau rồi”;
rồi đập vào tấm bản, Sư quay sang hỏi một ông tăng: “Có
nghe gì không?”. Ông tăng đáp: “Bạch, có nghe tiếng”.
Sư
than: “Ôi, đồ ngốc!”.
Nếu
cứ tiếp tục kể thì không bao giờ cùng. Vậy, tôi xin ngưng,
nhưng sẵn sàng đón trước những chất vấn của bạn đọc,
đại khái có thể sẽ hỏi tôi: “Những câu nói như vậy
có dính dấp gì đến sự kiến chiếu trong thể tánh đâu?
Giữa những câu chuyện phi lý trên về cây trụ trượng, và
vấn đề khẩn yếu của nhân sinh, có thể có liên hệ gì
với nhau sao?”
Để
giải đáp, tôi xin dẫn hai đoạn văn, một của hòa thượng
Tử Minh, một của hòa thượng Viên Ngộ.(26) Trong một thời
Pháp, Tử Minh nói:
“Một
mảy bụi dấy lên, đại địa hiện toàn thân. Trong một sư
tử hiển lộ triệu sư tử, và trong triệu sư tử hiển lộ
một sư tử. Có vô số sư tử, nhưng ông có biết một con
không, một con thôi?”. Nói xong, Sư giơ trượng lên tiếp:
“Đây là cây trượng, còn đâu một con sư tử?”. Rồi Sư
quát lên một tiếng, quăng trượng, bỏ vào phương trượng.
Cùng
một ý ấy, trong Bích Nham Lục, hòa thượng Viên Ngộ có lời
nhận xét như sau nhân bình giảng câu chuyện “Một ngón tay
Thiền của Câu Chi”:(27)
Một
mảy bụi dấy lên là đại địa trọn thâu. Một đóa hoa
nở là thế giới bừng dậy. Thế nhưng khi bụi chưa lên,
hoa chưa nở, thì mắt dính vào đâu? Bởi vậy nên nói: như
chém một cuộn tơ, chém một mối là chém hết; như nhuộm
một cuộn tơ, nhuộm một chéo là nhuộm trọn. Vậy nay chỉ
nên cắt đứt hết mối nhân duyên lằng nhằng, khai quật
lấy kho báu của nhà ngươi, thì cao thấp ứng nhau khắp, sau
trước chẳng khác sai, mỗi mỗi đều hiện thành(28).
Ở
những trang vừa phác họa, tôi mong đem đến cho bạn đọc
một ý niệm, dầu rất mơ hồ, về đạo Thiền theo như tinh
thần đã được thừa truyền tại Viễn Đông trên ngàn năm
nay. Tiếp theo tôi sẽ cố gắng đi tới uyên nguyên của đạo
Thiền trong tinh thần giác ngộ của chính đức Phật; vì Thiền
thường bị công kích là đã đi lạc quá xa so với sự hiểu
biết thông thường về lời dạy của đức Phật đã được
chép giữ lại, nhất là trong các bộ kinh A Hàm hoặc Nikayas.
Thiền, trên thực tế, đã là sản phẩm của tâm địa Trung
Hoa, con đường khai triển của đạo Thiền cần được dõi
ngược đến chỗ của thân chứng của vị Tị Tổ Ấn Độ.
Trừ phi Thiền được nhận định trong thế tương quan với
đặc tính tâm lý của dân tộc Trung Hoa, bằng không, không
sao hiểu nổi được sự hưng long của Thiền giữa hàng Phật
tử Trung Hoa. Dầu sao, Thiền vẫn là một ngành của Phật
giáo Đại Thừa tước bớt lớp áo Ấn Độ.
Sau
đây tôi thử vạch lại lịch sử Thiền Tông Trung Hoa - Thiền
Đông Độ - bắt đầu từ Bồ Đề Đạt Ma là người khai
sáng pháp môn này. Tại đây, Thiền đã chín muồi, và lần
lượt được trao truyền qua tay năm người gọi là Tổ sau
ngày viên tịch của người truyền pháp Ấn Độ đầu tiên.
Khi Huệ Năng, vị Tổ thứ sáu, bắt đầu truyền thánh giáo
Thiền thì Thiền không còn là Ấn Độ nữa mà đã hoàn toàn
là Trung Hoa; và cái mà nay ta gọi là Thiền, dưới hình thức
hiện hữu, bắt nguồn từ vị Tổ ấy. Con đường xiển dương
của đạo Thiền ở Trung Hoa, ngay từ đầu, hầu như được
Lục Tổ đúc trước cho một thần thái đặc thù, và cứ
thế ngày càng hưng thịnh, đầy uy lực, không những về khối
lượng mà cả về nội dung, bằng vào diệu thủ của hàng
pháp tử của Ngài. Chương đầu của Thiền sử kể như đã
kết thúc hẳn với vị Tổ này. Vì lẽ điểm huyết mạch
của đạo Thiền gắn liền với sự Ngộ, hoặc mở con mắt
huệ, tôi xin dành riêng một chương. Tuy nhiên, đề tài chỉ
nên lược giải thôi vì cốt yếu vốn là làm sáng lên cái
thật hiển nhiên của khả năng lãnh hội bằng trực giác
phóng thẳng vào chân lý Thiền, đó tức là Ngộ, và minh thị
tánh cách độc đáo của cái Ngộ ấy qua sự thân chứng của
các bậc Thiền đức. Khi ta hiểu được lý chứng ngộ trong
đạo Thiền, hẳn ta muốn biết qua những phương pháp chư
sư sử dụng, hoặc thực hoặc quyền, để gieo cách mạng,
mở đường chứng ngộ trong tâm thần người học. Một số
Thiền pháp thực tiễn sẽ được trình bày thành năm mươi
loại, nhưng xếp hạng như vậy, tôi không dám nói là gồm
thâu được tất cả.
Thiền
đường là một tổ chức đặc biệt chỉ có ở đạo Thiền,
nên muốn hiểu Thiền và phương pháp dạy Thiền, ta không
thể gác qua bên. Cơ sở độc đáo ấy đến nay chưa ai mô
tả qua. Tôi mong rằng bạn đọc sẽ tìm thấy ở đấy một
đề tài thú vị cho một cuộc khảo sát triệt để hơn. Dầu
rằng tự nhận là ngành viên đốn của hệ thống Phật giáo,
Thiền có những cấp bực khá rõ rệt đánh dấu bước tiến
đến cứu cánh tối hậu. Nên có chương “mười bức tranh
chăn trâu” kết thúc tác phẩm này.
Còn
rất nhiều tiết mục cần được khảo sát trong sự học
Thiền, và những điều tác giả coi là thiết yếu sẽ được
trình bày ở những bộ sau. (Bộ trung và hạ)
_________________________
(1)
Vâng ý Cha: let thy will be done, fiat voluntus tua, que ta volonté
soit faite, gần như chữ tùy thuận, hoặc nhẫn nhục của Phật
giáo (D.G.)
(2)
Andreyev: văn sĩ Nga ở thế kỷ 20, tác giả các bộ sách “Khủng
khiếp” “Hố thẳm”, chuyên mô tả những tâm lý hắc ám,
bi quan (1871-1919)
(3)
Mạnh Tử, thiên Cáo Tử, hạ (D.G.)
(4)
Oscar Wilde (1856-1900), văn sĩ Anh, tác giả tập “De Profundis”,
chuyên làm thơ và viết hài kịch (DG)
(5)
Tri thức, hoặc tâm thức, thức giác (intellect) là năng khiếu
hiểu biết bằng giác quan, kể cả suy luận, thuộc phạm vi
kiến thức thông tục. Phật giáo gọi cái intellect đó là
ý, hoặc ý thức, hình thức, cơ trí, mà đặc tánh là phân
biệt và chấp ngã (D.G.)
(6)
Kinh Lăng Nghiêm: Như có người dùng ngón tay chỉ mặt trăng
cho người khác thấy, người này nhân có ngón tay thấy được
mặt trăng; nếu ỷ lại lấy luôn ngón tay làm mặt trăng ắt
lầm ngón tay, và lầm luôn mặt trăng nữa. Tại sao vậy? vì
người ấy chấp ngón tay làm mặt trăng. (D.G.)
(7)
Tác giả ám chỉ ở đây cái mà Huệ Năng gọi là “bổn
lai diện mục” và thường gọi là “bổn tánh” hoặc “chân
như”. Bổn lai là trước sao sau vậy, bất biến vì lẽ bất
sanh; diện mục là mặt mày, là khuôn mặt. Cái “khuôn mặt
ngàn đời” ấy là nguyên lý bất diệt và đại đồng chi
phối toàn thể vũ trụ và nhân sinh. (D.G.)
(8)
Một tông phái của Phật giáo Nhật Bổn do sư Nhật Liên (Nichiren.
1222-1282) khởi xướng và lấy bộ kinh Pháp Hoa làm nòng cốt.
Sư Nhật Liên trải qua nhiều lần bị ám hại và tù đày
vì tư tưởng quá khích và hiếu chiến của sư. (D.G.)
(9)
Đạo có giáo và có tông. Giáo là những phương tiện mượn
để biểu thị, một cách gián tiếp, chân lý nội tại, tức
là tông. Giáo là hình tượng, kinh sách, chữ nghĩa lời nói,
còn tông là tâm, vô hình. Hai câu đầu chủ trương phá tướng,
hai câu sau dạy trực ngộ, thấy tánh. (D.G.)
(10)
Danh số sự tướng là cái bề ngoài dùng làm phương tiện
để diễn đạt chân lý. Phật giáo cho rằng chính những thứ
ấy che khuất sự thực. (D.G.)
(11)
Sư Nghĩa Huyền, ở viện Lâm Tế, tổ khai sáng phái thiền
Lâm Tế, tịch năm 867.
- Vô vị chân nhân: một tên gọi khác của “bổn lai diện
mục”, hoặc chân tánh.
- Cọc phân khô: nguyên tác là càn thỉ quyết.
(12)
Sư Văn Yển, tu ở núi Vân Môn, tổ khai sáng phái Thiền Vân
Môn, tịch 996.
(13)
Pháp từ: con cháu trong đạo. Thiền Tông theo pháp truyền tâm
ấn nên qua các thế hệ tất cả những người đắc đạo
đều dính liền vào nhau như một cây tông chỉ (D.G).
(14)
Đại trí huệ đáo bỉ ngạn: trí huệ lớn đưa qua bờ giác.
(D.G).
(15)
Ruskin: nhà văn, nhà xã hội học và phê bình gia Anh quốc ở
thế kỷ 19, thuộc nhóm préraphaelisme (1819-1900) D.C.
(16)
- Bàng Uẩn, thường gọi là Bàng cư sĩ, được coi là Bồ
Tát cư sĩ.
- Mã Tổ Đạo Nhất (778), thường gọi là Tây Giang pháp chủ,
nổi danh trong giới Thiền về những việc làm và nói năng
cổ quái. Sách xưa tả ông "chân vạm vỡ như trâu, mắt sắc
như cọp, lưỡi dài đến mũi, dưới chân có hai dấu bánh
xe (luân văn). D.C.
(17)
Huệ Năng (638-713): Tất cả ngành Thiền đều phát nguyên từ
vị tổ nầy (D.G)
(18)
Duy Ma Cật (Vimalakirti): vị cư sĩ Bồ Tát chủ tràng trong Bộ
Kinh Duy Ma Cật. (D.G.)
(19)
Trường Sa Cảnh Sầm (thế kỷ thứ 9) đệ tử của Nam Tuyền
- Nam Tuyền Phổ Nguyện (749-835) học trò của Mã Tổ
- Giữa Thạch Đầu (700-790) và Lục Tổ Huệ Năng (638-713)
cách nhau gần 80 năm (D.G.)
(20)
Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm, Bất nhị thi nhân mạc
hiển thi (Mục Châu Trần Tôn Túc).
(21)
Đại Hòa Hồn, tức hồn thiêng của dân tộc Nhật Bổn (D.G.)
(22)
Thiền có phương pháp riêng trong việc thực tập cái gọi
là ngồi thiền, khác với phương pháp thông dụng thường
của Tiểu Thừa gọi là bốn thiền tám định, mà cũng không
liên quan gì đến cách thiền quán, nhập định của các pháp
môn khác. Tôi sẽ có dịp bàn riêng về vấn đề này ở chương
khác.
(23)
Phất tử (phất trần): cái chổi đuổi muỗi làm bằng một
cán tre có gắn lòng đuôi ngựa, các ông tiên thường dùng.
- Hèo: gậy tre ngắn, tiếng chữ là trúc bề
- Trượng: (cũng gọi là tích, côn, bổng) là cây gậy làm
bằng gỗ chiên đàn, có chạm trỗ.
- Đạt Ma Đường: pháp đường, chỗ giảng kinh (D.G.)
(24)
Thượng đường: lên đàn nói pháp
- Viên giác: hoặc bích chi Phật, độc giác Phật, tiếng Phạn
là Pratyekabuddha.
- Đương thể tức không: bổn thể (cái thực) của nó vốn
là cái không (its apparent reality is essentially empty)
- Áo nạp (nạp tăng): danh từ gọi chung các người tu (D.G.)
(25)
Đây nhắc lại câu chuyện của sư Tòng Triển Bảo Phước
thấy một chú tiểu đến liền cầm gậy đập vào trụ cây,
rồi đập vào chú tiểu, chú tiểu la đau, Sư nói: “Sao cái
kia không đau nhỉ?”
(26)
Nguyên văn lời bình của Viên Ngộ, coi phần phụ trương.
(27)
Bích Nham Lục: Tác phẩm gồm có 100 đề tài Thiền gọi là
tắc, trong ấy có lời bình bằng thơ của Tuyết Đậu, và
lời giảng của Viên Ngộ. Tác phẩm này du nhập vào Nhật
ở thời đại Kamakura (Khiêm Thương) và từ đó được coi
là một trong những bộ sách Thiền quan trọng nhất, nhất
là đối với những người thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
- Câu Chi là đệ tử của Thiền sư Thiên Long, ở thời văn
Đường. Lúc đầu Câu Chi ở một cái cốc. Ngày kia có một
ni cô tên là Thực Tế đi thẳng vào cốc, nghinh ngang đầu
đội mũ ni, tay cầm tích trượng, nhiễu ba vòng quanh Thiền
sàn, chỗ Câu Chi đang ngồi. Rồi bảo: “Nói đi, rồi ta giở
nón”. Ni cô lặp lại ba lần, nhưng Câu Chi vẫn không biết
nói gì. Chiều, ni cô toan ra đi, Câu Chi giữ lại, nói: “Trời
tối rồi, xin nán qua đêm”. Ni cô đáp: “Nói đi, rồi ta
ở lại”. Câu Chi không biết nói gì. Ni cô bỏ ra đi.
- Đó là một đòn nặng cho Câu Chi. Ông than: “Ta tuy mang thân
hình trượng phu mà không có cái khí trượng phu”. Sư nhất
quyết tìm thầy học đạo, thâu dọn trong cốc định lên
đường hành cước. Đêm ấy có thần núi đến báo rằng
chớ nên đi, ngày mai có, một nhục thân bồ tát đến đây
điểm hóa cho. Quả nhiên hôm sau có hòa thượng Thiên Long
đến cốc. Câu Chi lạy rước vào, cặn kẽ kể lại hết
sự xấu hổ vừa qua. Nghe xong Thiên Long không nói gì, giơ
lên một ngón tay. Câu Chi thoát nhiên đại ngộ. Từ đó ai
hỏi gì về Thiền, Câu Chi chỉ giơ lên một ngón tay.
- Trong cốc của hòa thượng Câu Chi có một đồng tử. Có
người hỏi đồng tử: “Hòa thượng tầm thường vậy không
biết lấy pháp nào nói cho người”, đồng tử bắt chước
thầy giơ lên một ngón tay. Đồng tử về thuật lại với
thầy, Câu Chi bèn rút dao cắt đứt ngón tay đồng tử. Đồng
tử sợ quá, đâm đầu chạy. Câu Chi rượt theo, lên tiếng
gọi. Đồng tử ngoảnh đầu lại. Câu Chi giơ lên một ngón
tay. Đồng tử hoát nhiên sáng tỏ yếu chỉ của ngón tay Thiền
Thiên Long- Câu Chi.
- Câu Chi có nói: “Ta được Thiên Long truyền cho một ngón
tay Thiền, bình sanh dùng mãi không hết”. (Bích Nham Lục,
tắc 19)
(28)
Đây là một đoạn văn rất hàm súc, chứa đựng tất cả
yếu lý Thiền. Khi nói “bụi chưa dấy lên” là chỉ cái
tánh lý nguyên thỉ, khi bổn thể chưa phát ra hiện tượng;
đó là “bổn lai diện mục”. Khi nói “chém một mối là
chém hết” là nói về đốn giáo, nói hoát nhiên chứng ngộ
chớ không phải ngộ lần hồi. Nguyên văn như sau: “Nhất
trần cửa đại địa thâu, nhất hoa khai thế giới khởi.
Chỉ như trần vị cử, hoa vị khai thời, như bà trước nhãn?
Sở dĩ đạo: như trả nhất khể ti, nhất trảm nhất thiết
trảm; như nhiễm nhất khể ti, nhất nhiễm nhất thiết nhiễm.
Chỉ như kim tiện tương cát đăng tiệt đoạn, vận xuất
tự kỷ gia trân, cao đê phổ ứng, tiền hậu vô sai, các các
hiện thành”. (D.G.)