Trong
khi nền triết học cổ điển Tây Phương với chịu ảnh hưởng
lớn về thần linh, thượng đế thì ở Đông Phương đúng
hơn là Ấn độ, đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ
mà cho đến nay các nhà khảo cổ học, và các nhà khoa học
chưa khám phá được hết mức độ sâu rộng cũng như những
kiến giải về vũ trụ và thế giới chính xác đến độ
bất ngờ đặc biệt là trong các kinh điển Phật Giáo, một
loại tôn giáo “vô thần”.
Thật
vậy, ra đời vào khỏang thế kỉ thứ 6 trước công Nguyên
trong bối cảnh xã hội phân hoá cực kỳ phức tạp của xứ
Ân mà đạo Bà La Môn ngự trị. Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni)
cùng với các đồ đệ chỉ trong vòng vài trăm năm (*) đã
khai hoá một hệ thống tư duy (trí huệ) hoàn toàn mới và
họ đã để lại một kho kinh sách khổng lồ mà qua đó người
ta có thể tìm rút ra được vô vàn những hiểu biết giải
thích về thế giới và vũ trụ vẫn có giá trị cho đến
tận thiên niên kỷ này.
Khi
nói đến tôn giáo sẽ khó tránh cho chúng ta liên tưởng tới
nhiều hình ảnh có tính cách thần linh hay siêu thực xa vời
hay thậm chí mê tín, thụ động. Tuy nhiên, không ai có thể
biết được chính xác những lời dạy ban đầu của Thích
Ca có dính dáng gì đến những hình thức tôn giáo trong đó
kể cả các hoạt động tích cực hay tiêu cực hiên nay của
Phật giáo. Bởi vì ở thời mà đức Phật giảng dạy thì
không được ghi nhận nguyên văn. Chỉ có Những kinh sách được
chép và dịch lại sau này nên chắc khó tránh khỏi sự điều
chỉnh hay sưã chưã của những thế hệ sau đó. Chưa kể
rằng, ngay chính trong thời gian thuyết pháp, Thích Ca đã tuỳ
theo hiểu biết, lòng tin, và kinh nghiêm của từng đối
tương để truyền thụ giáo hoá chứ không cứng ngắt giáo
điều. (Đây có lẽ cũng là nguyên do của việc phân hoá phong
phú nhưng thống nhất trong tư tưởng của Phật giáo ngày
nay)
Tạm
thời bỏ qua các tranh cãi về tôn giáo, khi khảo cứu tham
vấn các kinh điển Phật học, người ta có thể rút ra được
nhiều quan điểm hay giải thích của Phật giáo về thế giới
và con người cũng như nhiều phương pháp phân tích khoa học
đã được dùng đến. Mặc dù các kinh điển tập trung nhiều
trong việc giảng d ạy các phương cách thoát khổ, ta vẫn
tìm thấy khá đầy đủ những luận cứ và quan điểm của
Phật giáo về thể tính vật lý của thế giới và vũ trụ.
Ỏ đây ta chỉ dừng lại trên những ý niệm có liên quan
nhưng không đi xa hơn để tránh lạc khỏi đề tài vật lý
sử.
Giải
thích của Phật giáo về nguồn gốc hình thành,
và
quy luật phát triển chung của vũ trụ:
Một
trong những câu hỏi hóc buá và lâu đời nhất của vật lý
và triết học là vũ trụ do đâu mà có? Nó vận động và
phát triển ra sao? Hầu hết các quan điểm có được từ khi
có câu hỏi trên cho tới khi Phật giáo ra đời đều mang nặng
tính thần quyền và ngay cả đến thiên niên kỉ thứ hai này
chúng ta vẫn còn thấy nhan nhản các lý thuyết dưạ vào niềm
tin lên đấng sáng thế, người có toàn quyền tạo ra vũ trụ.
Vậy mà Phật giáo một tôn giáo tối cổ lại chạy ra khỏi
các giáo điều cứng ngắt và thiết lập nên một hệ thống
nhân sinh quan hoàn toàn vô thần. Theo các kinh điển của
Phật giáo, vạn vật bất kể sinh giới hay vật chất
phải tuân theo những qui luật tác động một cách không thiên
vị lên chúng.
Điều
quan trọng nhất cần đề cập là nguyên lý Nhân-Quả. Nguyên
lý này cho rằng mọi hành vi, vận động đều gây ra các hậu
quả tất yếu của nó. Các hậu quả này trước hay sau sẽ
đến lúc quay ngược lại tác động vào chính chủ thể của
hành vi vận động ban đầu. Đây là nguyên lý bao trùm các
hoạt động của vũ trụ.
So
sánh ra, thì nguyên lí này là một sự mở rông của nguyên
lí tương tác lực và phản lực mà Newton đã phát biểu.
Cái khác ở đây, theo Phật giáo qui luật Nhân -Quả không
chỉ đúng cho thế gíơi vật chất mà nó còn đúng luôn cho
cả thế giới giới tâm lý con người.
Phật
giáo cho rằng mỗi hiện tượng mà ta có thể nhận biết hay
suy diễn ra (hay ngay cả các hiện tượng mà ta chưa đủ khả
năng để quan sát qua các giác quan hoặc qua suy diễn), đã
là kết quả của sự phối hợp từ các nhân tố vận động
(nhân) kết hợp với điều kiện sẵn có của môi trường
(duyên).
Điều
này thì chúng ta đã có thể thấy rất rõ trong thế giới
sống: một hạt giống không thể nảy mầm và phát triển
mạnh mẽ nếu không có các điều kiện thích hợp của môi
trường. Mặc dù, hạt giống có thể tự thân nó mang những
tính trạng rất khoẻ.
Tiếp
xa hơn, luật Nhân-quả không chỉ đứng yên hay tác động
trên một sự kiện cô lập mà nó có tính phổ dụng trong
toàn vũ trụ. Nghiã là bất kể vật thể có kích cỡ nhỏ
hay to có đời sống dài hay ngắn đều phải tuân theo sư chi
phối của luật nhân quả.
Và
chuổi nhân quả luôn luôn xãy ra tác động nhau. Mỗi hậu
quả của các vận động, tác động một lần nưã cùng với
sự biến chuyển mới của môi trường sẽ là tiền đề tạo
điều kiện cho các vận động và tương tác mới …
và tập họp những vận động và tương tác họp thành một
vòng luân chuyển không ngừng nghĩ gọi là “trùng trùng duyên
khởi”
Như
vậy, theo cái nhìn của Phật giáo, vũ trụ là sự vận động
và tương tác lẫn nhau của các hiện tượng tiếp nối không
có bước đầu và cũng không có kết thúc. Các hiện tượng
này liên tục, sinh diệt và chuyển biến theo luật nhân quả.
(Pháp Duyên Khởi)
Quan
điểm duyên sinh trong Phật giáo cho ra một hệ quả là không
có vật thể nào có thể tồn tại độc lập mà chúng nương
tưạ vào nhau tồn tại hài hoà nhau. “Vật này có, cho nên
vật khác có, cái này không thì cái kia cũng không; vật này
sinh, cho nên vật khác sinh, mà cái này diệt thì cái kia cũng
diệt”. (trích - Đại thưà Phật giáo tư tuởng luận –
chương 1 của Kimura Taiken Thích Diễn Bồi dịch).
Ở
đây ta có thể so sánh với việc cho rằng cả vũ trụ này
tồn tại bởi sự tương tác lẫn nhau của vật chất (bằng
các lực vật lý chẳng hạn) và không thể nào có một vật
thể riêng biệt hoàn toàn không tương tác với các vật thể
còn lại.
Các
ảnh hưởng tương tác lẫn nhau của các sự kiện trong đời
sống có khi sâu rộng hơn như chúng ta tưởng. Theo Stephen
Hawking, đã trình bày trong chương 4 của quyển “vũ trụ trong
một vỏ hạt” xuất bản năm 2001 rằng: “Một con bướm
vỗ cánh ở Tokyo có thể gây ra mưa ở công viên trung tâm
ở New-york” đã phần nào chứng thực cho cái ý tưởng duyên
khởi của nhà Phật.
Quan
Điểm của Phật Giáo về Sự chuyển hoá của thế giới vật
lý:
1.
Vai Trò Đấng Sáng Thế và sự thành hoại của vật chất
Kế
đến, phải kể tới nguyên lý Vô Thường: Phát biểu ngắn
gọn của nguyên lý này là Không có vật gì thường tồn vĩnh
cửu hay có thể ở mãi trong trạng thái nhất định.
Một
hệ quả đơn giản là mọi vật có lúc sinh ra thì sẽ có
lúc nó bị tiêu diệt.
Do
đó, trong Phật giáo không tồn một đấng vĩnh hằng.
Nếu có chăng thì đấng vĩnh hằng đó chính là tính không
của vạn vật
Mặc
dù có sự tạm phân chia sinh giới ra làm 6 loại trong đó có
trời, (và tiếp theo là người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỉ,
và điạ ngục) Nhưng ở đây vai trò của trời (các đấng
phạm thiên) không phải là tối hậu mà tất cả đều phải
tuân theo luật nhân quả.
Một
phần cũng do việc phủ nhận sự tồn tại một đấng sáng
tạo của vũ trụ này mà nhiều nhà nghiên cứu đã cho
rằng: “Phật giáo là một khoa hoc”. Ngày nay, nguyên lý vô
thường đã được chứng minh rộng rãi trong các lí thuyết
vật lý hiện đại đặc. Từ một hạt cơ bản cho đến …
vũ trụ bao la cũng đều có thời hạn tồn tại của nó! Ngoài
ra, vật chất luôn luôn chuyển hoá không ngừng.
Mỗi
sự kiện hay sự vật đều có 4 thời kì chính đó là hình
thành (thành), tồn tại và lớn lên (trụ), hao mòn và huỷ
hoại (hoại), và chân như (không) và không gì có thể thoát
khỏi qui luật này.
2.
Vũ trụ vô cùng :
Một
trong các lý thuyết được nhiều khoa học gia tin tưởng nhất
về sự hình thành của vũ trụ đó là thuyết vụ nổ lớn
(big bang). Ủng hộ giả thuyết này, có cả nhà vật lý thiên
tài Stephen Hawking, người được xem là đã có những bước
tiên phong trong nỗ lực thống nhất vật lý lượng tử và
thuyết tương đối . Thuyết này cho rằng vũ trụ bắt đầu
từ một lỗ đen có kích thước cực nhỏ và có mật độ
vật chất ở đó là vô hạn.
Trong
Liên Hoa Kinh, đã có phần đề cập đến chuyện này, theo
đó, các đại sư của Thiên Thai Tông thường dạy rằng "toàn
bộ vũ trụ nằm gọn trong đầu một hạt cải". Như vậy,
rõ ràng triết lý Phật giáo có thể đã thấy được từ
lâu hiện tượng vũ trụ không có kích thước này.
Tuy
nhiên, cũng theo theo quan điểm Phật giáo thì vũ trụ
có số lượng thế giới lớn vô cùng tận. Số lượng thế
giới giống như thế giới chúng ta đang sống thì “nhiều
như cát ở sông Hằng”:
1000
thế giới nhỏ = 1 tiểu thiên thế giới
1000
tiểu thiên thế giới = 1 trung thiên thế giới
1000
trung thiên thế giới= Tam thiên đại thiên thế giới.
Vũ
trụ không chỉ có một Tam Thiên đại thiên thế giới mà
có đến vô số.
Và
theo chu kì “thành, trụ, hoại, không” thì sự khi thế giới
này hình thành cũng sẽ có sự tận diệt của thế giới khác,
cứ như thế luân chuyển không bao giờ dứt.
Triết
học tánh không và Cấu trúc của vật chất:
1.
“Vạn Vật Đều Có Tánh Không !“
Về
luận lý, thì trong Phật học không có sự tồn tại của trạng
thái nhị nguyên. Nghiã là không có sự phân biệt giưã hai
trạng thái 1 và 0, có và không, … Nguyên do của sự phân
biệt này là do chính tự tâm lí con người phân biệt mà ra
(bằng các qui ước và định nghiã). Thế giới tự nó không
có sự tách rời phân biệt. Thay vào đó, trạng thái có và
không chỉ là sự biểu hiện một thực thể. Sự tồn tại
của một hiên tượng (pháp) bất kì phải gắn liền với
môi trường đã tạo ra nó và tự nó không thể tồn tại
độc lập (vạn vật đều không có tự tính).
Có
thể đây là khái niệm khó khăn và được bàn thảo, tranh
cải nhiều nhất cho người làm khoa học. Chúng ta tạm gọi
đây là quan niêm nhất nguyên (hay tánh không). Trong đoạn kế
ta sẽ đề cập thêm
2.
Cấu thành của vật chất và định luật bảo toàn năng lượng
Có
Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng và lâu đời
trong thế giới vật lý. Đó là câu hỏi về sự cấu tạo
của vật chất. Gần như mãi cho đến cuối thế kỷ 20 người
ta mới có được một câu trả lờì tương đối rõ ràng
dựa trên phương trình E = mc² do Einstein phát triển. Cái
ý nghiã triết học nằm trong phương trình này là một sự
khẳng định rằng vật chất đều chỉ là một dạng tích
tụ của năng lượng.
Trong
Phật học, vật chất thì được phân lớp một cách sơ khởi
thành bốn loại (tứ đại) bao gồm: Đất dùng để chỉ
tất cả những vật chất ở thể rắn, nước cho vật chất
thể lỏng, gió cho thể khí, và dạng vật chất cuối cùng,
lửa, chỉ năng lượng chuyển hoá thuần tuý. Các dạng
vất này không tồn tại vĩnh cửu mà có thể bị chuyển hoá
bởi luật vô thường. Theo quan niệm nhất nguyên thì
các thể này chỉ là một (tính không) và tính không này có
tính phổ dụng cho vạn vật. (Nói nôm na theo các thiền học
Phật giáo: ‘vạn vật đều có Phật tính!’ Tức là mọi
vật đều có bên trong nó thể tính của chân lý)
Để
dễ cho các bạn hình dung, thì ta có thể so sánh cách luận
giải đó với luận giải của vật lý hiện đại rằng “vạn
vật cho dù ở bất kì dạng gì đều có thể mô tả ở một
dạng duy nhất đó là năng lượng!”
Đáng
chú ý hơn nưã, khi mô tả trạng thái của vũ trụ thì trong
bộ kinh ngắn (toàn bộ có khoảng hơn 160 chữ): “Bát Nhã
Ba La Mật Đa Tâm Kinh” chỉ ra rõ ràng hơn: “…Thị
chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất
tịnh, bất tăng, bất giảm” ( tạm dịch: vạn vật đều
là tướng không, không sinh ra, không mất đi, không dơ, không
sạch, không tăng, không giảm). Như vậy, bạn nghĩ sao về
sự xác tín của điều này nếu ta liên tưởng tới định
luật bảo toàn năng lượng của vật chất trong vũ trụ mà
các nhà vật lý đang cổ suý?
4.
Bản chất thật của Vạn Vật:
Từ
mấy ngàn năm trước, Phật giáo đã đưa khái niệm liên quan
đến việc phủ nhận sự tồn tại của các dạng nhận thức
từ con người về vật chất (tính “không”). Theo ý
chỉ này thì tất cả các dạng thông tin mà ta nhận thức
về vật chất đều không chính xác. Chẳng hạn, hãy xét hai
khái niệm quan trọng nhất là “sắc” và “tướng”.
Sắc
là thuộc tính màu của vật chất mà chúng ta cảm nhận. Còn
“tướng “ là thuộc tính về hình dáng của vật chất.
Như vậy tại sao lại phủ nhận hai thuộc tính này?
Cho
đến nay thì người ta đã biết khá rõ rằng màu sắc chỉ
là sự thụ cảm của mắt đối với một số bước sóng
ánh sáng khác nhau và nó gần như là thuộc tính của tâm lý
(hai sinh vật khác nhau có thể cảm nhận về màu khác nhau
tuỳ theo kinh nghiệm và bẩm sinh của sinh vật đó)
Cấu
trúc không gian của vật chất cũng tương tự, cấu thành bởi
vô vàn những hạt cơ bản tùy theo khả năng nhận thức của
con người hay cá nhân mà việc thấy biết về vật chất đó
các khác nhau.
Nếu
như đem cọng tóc phẳng trơn lên kính hiển vi điện tử thì
ta sẽ có cảm nhận về hình dáng (tướng) của cọng
tóc sẽ hoàn toàn khác (và có lẽ xấu xí và khá đúng hơn)
với cảm nhận ban đầu.
Do
đó, không thể vinh vào hai thuộc tính “sắc” và “tướng”
mà cho rằng đó là thể tính chân lý của vật chất mà ta
cảm thấy được. Tương tự như vậy cho âm thanh, cảm giác,
nhận thức , …(Duy Thức Luận và Bát Nhã Tâm Kinh).
Cũng
xin nói thêm ở đây việc phủ nhận mọi thứ trong Phật giáo
nhằm mụch đích giáo hoá rằng mọi cái nhìn, thụ cảm, suy
diễn, quan điểm, hiểu biết, hay hành động của con người
đều do tự tâm của chính con người đã dựa vào kinh nghiêm,
bản năng, và các điều kiện tác động của môi trường
mà có (vạn pháp duy tâm tạo) Nhưng những điều này lại
không phải là thể tính chân lý của thế giới. Do đó,
nếu hoàn toàn dưạ vào hay tin vào những thấy biết của
cảm quan sẽ bị sai lầm (vô ngã – vô chấp).
Phương
Pháp Luận -- Khách quan tuyệt đối:
Trong
các nghiên cứu khoa học thì việc tách rời những thiên kiến,
hay định kiến ra khỏi các đánh giá hay thực nghiệm
khoa học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một lý thuyết
càng khách quan bao nhiêu thì càng đem lại kết quả dự đóan
chính xác bấy nhiêu. Tuy nhiên, khó mà một nhà nghiên cứu
có thể hoàn toàn tách rời được các tư tưởng chủ quan
của mình vào trong khoa học.
Thí
dụ việc cho rằng vật nặng hơn sẽ rơi nhanh hơn nếu so
sánh tốc độ rơi của hai vật trong cùng 1 thời điểm và
cùng độ cao đã phổ biến từ rất xa xưa. Mãi cho đến khi
… Galileo kiểm chứng lại rằng nó sai.
Trong
vật lý cổ điển, việc chấp nhận thời gian phẳng lặng
và độc lập với không gian đã được Newton mặc nhiên dùng
trong các chứng minh của mình và cho đến nay thì hiểu biết
này là … không hoàn toàn chính xác.
Ngay
từ khi mới hình thành, các giáo huấn của Phật đã ý thức
rõ ràng về những sai lạc mà con người đã mặc nhiên gán
cho thế giới xung quanh và định kiến cho rằng đó là đặc
tính thực của thiên nhiên.
Trong
phần trên chúng ta đã thấy sự phủ nhận của các giáo huấn
về sắc tướng và các cảm quan của cá nhân con người. Bên
cạnh, Phật giáo còn chỉ rõ hơn nưã về sự sai sót này
nhằm mụch đích dẫn dắt tư tưởng con người đến việc
nhìn nhận sự vật khách quan hơn (trí huệ) thông qua việc
cho rằng “mọi thứ cảm nghĩ hay suy diễn đều là sản phẩm
tâm lý của con người” (Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức
- Duy thức luận).
Từ
đó, để hiểu và đạt được chân lí một cách đúng đắn
thì việc quan trọng nhất là tránh tối đa việc dựa vào
hay trụ vào bất kì một ý kiến, tri kiến, hay nhận thức
nào từ các cơ quan thụ cảm mà cho đó là tuyệt đối (bất
ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vi, xúc,
pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. –Kim Cang kinh)
Như
vậy, thế giới quan Phật giáo tiềm chưá một cái nhìn rất
tương đối về các lý thuyết (pháp). Ngoài ra, việc
khuyên bảo giáo đồ trong con đường đi tìm chân lý cũng
đã ghi rõ là không được dựa vào sắc, âm hay các cảm xúc.
(nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị nhân
hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai – – Xin hiểu thêm
Như Lai ở đây là biểu hiện của chân lý tối thượng của
vạn vật chứ không phải là cá nhân xác thịt của Phật
Thích Ca: “Như Lai giả, tắc chư Pháp như nghiã” -- Kim Cang
Kinh).
Phật
giáo còn cho rằng: Chân lý không từ đâu đến cũng không
đi về đâu; chân lý hiện hữu không có sự áp đặt từ
bên ngoài (“Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ,
cố danh Như lai" - Kinh kim Cang)
Thêm
vào đó để tránh cho các tín đồ về sau trở nên cuồng
tín hay mù quáng, Thích Ca còn dạy thêm: Không nên tin vào một
phát biểu nếuchỉ vì đó là lời nói từ một đạo sư tiếng
tăm, cũng không nên nên tin vào điều đó chỉ vì nếu đó
là điều mà mọi người đều tin làmtheo. Mọi phán quyết
đều nên được kiểm chứng bởi chính trí tuệ của mình.
Như
vậy phương pháp mà Phật giáo dùng trong các luận lí là hoàn
toàn khách quan
Tiện
đây, cũng xin nhắc thêm một phán đoán của Phật: “Trong
một bát nước có chưá hàng vạn sinh linh” Đây đã
là một phán đoán về sự tồn tại của thế giới vi sinh
(vi trùng, vi khuẩn,…) mà bằng mắt trần người thời đó
khó có thể kiểm nghiệm lại được. Sự tiên đoán này thì
hiển nhiên được khẳng định từ khi người ta phát minh
ra kính hiển vi.
Thay
lời kết:
Điểm
nổi bật nhất làm cho Phật giáo đặc sắc so với các tôn
giáo khác là việc có nhiều kết luận hay giáo huấn tương
đồng với khoa học và phương pháp luận hiên đại. Việc
phủ nhận đấng sáng thế và việc cho rằng mọi sự việc
nếu xảy ra đều phải tuân theo các qui luật công bằng
của thiên nhiên (nhân quả) đã đưa vị trí của Phật giáo
lên ngang hàng với một nền khoa học chân chính.
Điều
đáng gây ngạc nhiên để cho chúng ta và các nhà khoa học
tự đặt câu hỏi và tìm cách trả lời là: Phật giáo đã
ra đời từ hơn 2500 năm trước, khi mà con người chỉ có
những công cụ sản xuất thô sơ. Không có dụng cụ
thí nghiệm mà Phật giáo làm thế nào để hoàn bị được
một hệ thống hiểu biết cho đến nay vẫn còn giữ nguyên
giá trị thực dụng của nó?
Để
thay cho lời kết luận của phần này xin trích lại hai câu
nói của nhà vật lý học Albert Einstein:
“Nếu
có một tôn giáo nào mà có thể thoả mãn được các đòi
hỏi của khoa học thì nó chính là Phật giáo.”
Bởi
Vì
“Phật
giáo có những đặc tính mong muốn cho một tôn giáo phổ dụng
của tương lai: Nó vượt quá khả năng thượng đế, tránh
khỏi các giáo điều và các thần linh; nó bao hàm cả bản
năng và tinh thần, và nó dựa trên nhận thức tôn giáo đòi
hỏi mãnh liệt từ kinh nghiệm của vạn vật, từ
bản năng và tinh thần, như là một sự thống nhất đầy
ý nghiã”
“If
there is any religion that would cope with modern scientific needs it would
be Buddhism.”
"Buddhism
has the characteristics of what would be expected in the cosmic religion
for the future: It trancends a personal God, avoids dogma and theology;
it covers both the natural and the spiritual, and it is based on a religious
sense aspiring from the experience of all things, natural and spiritual,
as a meaningful unity." —Albert Einstein
Bài
đuợc hiệu chỉnh vào tháng 2 năm 2007
Ghi
chú :
(*)
Sau
khi Phật Thích Ca qua đời, thì Tăng đoàn Phật giáo thời
bấy giờ đã trải qua 3 kì kiết Tập nhằm cũng cố và điều
chỉnh các giới luật cũng như hoàn thiện kinh điển.
Hầu hết các kinh điển Phật giáo còn sót lại là có từ
3 tạng kinh của kì kiết tập thứ 3 này do ngài Mahinda mang
từ Ấn Độ sang đão Sri-Lanka; kinh viết bằng tiếng Phạn
(Pali) các kinh điển này còn lưu giữ nguyên vẹn
Tài
liệu Tham Khảo:
Kinh
Kim Cang
Bát
Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh
Duy
Thức Luận
http://www.thuvienhoasen.org/index-kinhdien.htm
http://www.buddhanet.net/e-learning/history/s_scripts.htm
http://www.silk-road.com/artl/buddhism.shtml
www.photogrammetry.ethz.ch/research/bamiyan/pub/isprsV_corfu02.pdf
Trung
Luận “Phật Học Phổ Thông bài thứ 9: Vũ Trụ quan Phật
Giáo” của Thích Thiện Hoa.
http://www.thuvienhoasen.org/phathocphothong-05-09.htm
"Lịch
Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không" của Thích Tâm Thiện.
http://www.thuvienhoasen.org/tt-tanhkhong-02.htm
“Nhân
sinh quan của Phật giáo” của Chu Sở
http://www.thuvienhoasen.org/nhansinhcuaphatgiao.htm
"Đại
thưà Phật giáo tư tuởng luận" của Kimura Taiken Thích Diễn
Bồi dịch
04-05-2007
11:23:46