16.
CHÚ-TRÀ-BÁN-THÁC-CA
Tôn
giả Chú-trà-bán-thác-ca là vị La-hán cuối cùng trong mười
sáu vị La-hán. Hiện tại, ngài cùng một ngàn sáu trăm vị
đệ tử trú tại núi Trì Trục. Tên vị La-hán này rất lạ
bởi dịch tiếng Hán là Lộ Biên Sanh (sanh bên đường). Trong
kinh A Di Ðà tên ngài là Châu-lợi-bàn-đà-già. Ðây chỉ do
dịch âm không đồng mà thôi. Vì tên này tương đối
quen thuộc với mọi người hơn nên chúng ta gọi ngài là Châu-lợi-bàn-đà-già.
Hơn
hai ngàn năm trăm năm trước, theo phong tục Ấn Ðộ đương
thời, người phụ nữ mang thai sắp đến ngày “mãn nguyệt
khai hoa” đều phải về lại nhà mẹ mình để sanh. Có một
sự trùng hợp đặc biệt là Châu-lợi-bàn-đà-già và anh
ngài đều sanh giữa đường lúc mẹ chưa kịp về đến nhà
ngoại. Do đó, người đời sau gọi ngài là Tiểu Lộ Biên
Sanh (sanh bên đường nhỏ) và gọi anh Ngài là Ðại Lộ Biên
Sanh (sanh bên đường lớn).
Anh
Ngài tên Bán-thác-ca tư chất thông minh, xuất gia theo Phật
rất sớm, đạt nhiều thành tựu trong tu tập. Lớn lên, ngài
cũng theo anh xuất gia. Mặc dù đã xuất gia nhưng ngài tối
dạ không ai bằng, trí nhớ kém, thường mặc đồ trái, mang
dép trái, sư phụ bảo đi lấy kinh thì ngài lại đi lấy mõ.
- Ðồ
ngốc!
- Ðồ
ngu! – Ngài thường bị chúng điệu mắng.
Bán-thác-ca
thấy em mình ngu như thế, trong lòng rất cảm thông muốn giúp
đỡ nhưng cũng không biết làm cách nào hơn.
Nhiều
năm trôi qua vậy mà chỉ một danh hiệu Phật, ngài niệm không
xong, một câu kinh cũng nhớ không nổi. Thậm chí khi đại
chúng ngồi thiền, cả đến ngồi xếp bằng, ngài làm cũng
không được.
Một
hôm, Bán-thác-ca chịu không được nữa bảo:
- Em
à! Em quả thật quá ngu. Tu tập ngoài ý chí nghị lực còn
cần có trí tuệ thông minh mẫn tiệp. Em đã khờ khạo thế
này thì dứt khoát nên về nhà cuốc đất làm ruộng, trồng
dâu nuôi tằm đi, chứ theo Phật mà như thế này chỉ uổng
phí công phu, sẽ không có kết quả.
- Thưa
anh, em không muốn xa đức Thế Tôn, em cũng không muốn xa anh,
xin cho em tiếp tục ở đây đi. – Châu-lợi-bàn-đà-già khẩn
khoản xin.
- Không
được! Em ở đây chỉ gây nhiều phiền phức cho mọi người.
Em không biết tụng kinh, không biết tọa thiền, không biết
niệm Phật, em nên về nhà đi! – Bán-thác-ca vẫn không đồng
ý.
Thấy
anh kiên quyết không chấp thuận, ngài vô cùng đau khổ. Tuy
không muốn về nhưng lại không dám trái lời anh nên ngài
đành phải thu dọn đồ đạc rời vườn Kỳ thọ Cấp-cô-độc,
nơi chúng Tăng ở và cũng là nơi đức Phật thường
giảng kinh thuyết pháp.
Rời
khỏi vườn, Châu-lợi-bàn-đà-già vừa đi vừa khóc. Khóc
xong, ngài đến ngồi dưới gốc cây Bồ-đề suy tư tự hỏi:
- Sao
mình lại ngu thế này? Sao mình không thông minh như anh nhỉ?
Mình không nên xa đức Thế Tôn, mình không nên về nhà. –
Nghĩ đến cảnh bị đuổi về, ngài tủi thân òa khóc sướt
mướt.
Sự
tình lúc đó may sao gặp đức Phật ra ngoài vừa về. Nghe
trong rừng có người đang khóc, ngài bảo một vị đệ tử
đến đó xem thử là ai.
- Bạch
đức Thế Tôn! Người đang khóc là Châu-lợi-bàn-đà-già.
- Ðến
gọi ông ấy tới đây. - Ðức Phật ôn tồn bảo.
Châu-lợi-bàn-đà-già
đến bên Phật như đứa trẻ thơ được về bên cha. Khi ấy,
những uẩn khúc trong lòng chợt hiện lên, ngài lại khóc nức
nở.
- Có
chuyện gì buồn vậy? Nói cho ta nghe được không? – Ðức
Phật hỏi.
- Dạ,
bạch Thế Tôn! Anh con đuổi con về, không cho con ở đây tu
học nữa... - Châu-lợi-bàn-đà-già vừa nói vừa khóc.
- Sao
vậy?
- Dạ
vì con quá ngu, ngay cả áo mặc cũng không nên, một câu kinh
cũng thuộc không nổi. – Châu-lợi-bàn-đà-già u buồn thưa.
- À,
ra là vậy. – Ðức Phật cười rồi an ủi:
- Châu-lợi-bàn-đà-già
này! Thật ra ông đâu có ngu chút nào đâu!
-
Dạ, thật sao? – Nghe đức Phật nói mình không ngu, Châu-lợi-bàn-đà-già
thấy vui hẳn lên.
- Ðương
nhiên là thật rồi. – Ðức Phật nói nghiêm nghị, nét mặt
không chút trêu đùa khiến Châu-lợi-bàn-đà-già thấy rất
an ủi.
Ðức
Phật từ ái nói tiếp:
- Vậy
là được rồi. Này Châu-lợi-bàn-đà-già! Tạm thời ông
cứ ở lại đây, sau này ta sẽ đích thân đến dạy ông tu
tập!
- Cảm
ơn đức Thế Tôn! Cảm ơn đức Thế Tôn! - Châu-lợi-bàn-đà-già
vội sụp lạy đức Phật, bày tỏ niềm biết ơn vô hạn.
Ngày
đầu đến dạy, đức Phật cầm theo một cây chổi,
hỏi Châu-lợi-bàn-đà-già:
- Này
Châu-lợi-bàn-đà-già, ông biết đây là cái gì không?
- Dạ
đây là... là... - Không ngờ ngay cả chổi mà ngài nói cũng
không ra, còn luống cuống đến toát mồ hôi trán.
- Ðừng
vội, Châu-lợi-bàn-đà-già, đây là cây chổi, ông nói lại
xem thử được không? - Ðức Phật an ủi.
- Cây...
cây...- Châu-lợi-bàn-đà-già chỉ đọc được chữ đầu.
- Cây
chổi!- Ðức Phật nhắc lại.
- Là...
chổi... chổi...- Lần này thì ngài lại quên chữ đầu.
- Ðừng
hấp tấp, ghép hai chữ cây và chổi lại rồi đọc cây chổi,
cây chổi, ông đọc thử xem.
- Cây...
chổi... cây... chổi, cây chổi cây chổi.
- Ðúng
rồi, ông đọc đúng rồi, sau này phải nhớ đây là cây chổi.
– Ðức Phật thấy mừng cho Châu-lợi-bàn-đà-già.
Khích
lệ ngài mấy câu xong, đức Phật hỏi tiếp:
- Cây
chổi dùng làm gì ông biết không?
- Dạ
dùng để quét rác! – Châu-lợi-bàn-đà-già cẩn thận đáp
nhưng tiếng rất nhỏ vì ngài sợ sai.
- Hay
lắm, Châu-lợi-bàn-đà-già! Ta đã nói là ông chẳng hề ngu
chút nào mà! Sau này, ông khỏi phải tụng kinh, ngồi thiền,
mỗi ngày chỉ cần cầm chổi quét vườn cho sạch là được
rồi. – Ðức Phật tấm tắc khen và giao công tác cho ngài.
Nghe
đức Thế Tôn khen, còn nói mình không ngu, Châu-lợi-bàn-đà-già
vui mừng khôn xiết, tín tâm đã mất cũng được khôi phục
lại.
Trước
kia, Bán-thác-ca tuy thường đích thân dạy ngài nhưng nội
dung giảng quá cao siêu phức tạp, nghĩa lý lại thâm áo, do
đó, ngài nghe không hiểu, dù có tâm tha thiết muốn học đi
nữa cũng không thể nào học vô. Còn lần này, đức Phật
đích thân đến dạy, ngài chỉ yêu cầu nhớ hai chữ “cây
chổi” và hiểu công dụng của nó dùng để quét rác là
được rồi.
- Thì
ra cầu học đâu có khó! – Châu-lợi-bàn-đà-già tự nhủ.
Lần
thứ hai vào học, đức Phật hỏi lại:
- Này
Châu-lợi-bàn-đà-già, dùng chổi có thể quét sạch rác được
không?
- Dạ
được, bạch Thế Tôn. – Châu-lợi-bàn-đà-già trả lời
rất chắc chắn vì công việc mỗi ngày của ngài làm là quét
dọn.
- Châu-lợi-bàn-đà-già
này! Ông có biết trong tâm chúng ta cũng có rất nhiều thứ
cấu bẩn không? – Ðức Phật hỏi.
- Thứ
gì nhỉ?- Châu-lợi-bàn-đà-già không rõ, ngài nghĩ đi nghĩ
lại, một lát sau mới nói:
- Bạch
Thế Tôn! Dạ có phải tham, sân, si, mạn, nghi, phẫn hận,
tật đố... khiến tâm chúng ta bất an không?
- Ðúng
rồi! Ông trả lời rất tốt, những thứ đó giống như bụi
trần làm ô nhiễm bản tâm vốn thanh tịnh sáng suốt của
chúng ta. – Ðức Phật kiên nhẫn giảng dạy.
- Dạ,
sao không trừ bỏ chúng? – Châu-lợi-bàn-đà-già hỏi.
Ðức
Phật dạy:
- Mục
đích của ta chính là muốn dạy ông phương pháp trừ bỏ
chúng. Này Châu-lợi-bàn-đà-già! Dùng chổi có thể quét sạch
những thứ cấu bẩn trên đất, cũng vậy, nếu như ông biết
dùng “cây chổi Phật pháp” để quét sạch những uế trược
trong tâm thì một ngày kia tâm ông cũng sẽ sáng suốt thanh
tịnh như gương sáng.
Biện
tài của đức Phật thật hiếm thấy ở đời, ví dụ
ngài nêu vừa rõ ràng đơn giản vừa thiết thực gần gũi
với cuộc sống nên người khác nghe rất dễ hiểu.
- À,
bạch đức Thế Tôn! Con hiểu ý Ngài rồi, có phải Ngài muốn
dạy con trong công việc quét dọn không nên chỉ quét rác suông
mà phải luôn chánh niệm tỉnh giác tịnh hóa nội tâm nữa
phải không?
Sau
khi được đức Phật tận tình chỉ dạy, thoáng chốc Châu-lợi-bàn-đà-già
thông minh hẳn lên.
- Ðúng
vậy, Châu-lợi-bàn-đà-già! Ðó chính là lý do ta bảo ông
quét rác, chỉ cần ông kiên tâm trì chí, dụng tâm nỗ lực
tinh tấn thì có ngày ông sẽ ngẩng đầu lên theo kịp với
chúng bạn, không còn bị người khác chê cười khinh khi. –
Ðức Phật tiếp tục khích lệ.
Từ
đó, Châu-lợi-bàn-đà-già dốc sức chuyên tâm tu tập theo
pháp môn quét rác – quét vườn Kỳ thọ Cấp-cô-độc. Bất
kể gió mưa nóng lạnh, ngày nào ngài cũng làm việc rất siêng
năng. Thật là ông trời không phụ người khổ công, cuối
cùng ngài cũng chứng quả A-la-hán. Câu chuyện của Tôn giả
Châu-lợi-bàn-đà-già chứng tỏ câu “cần cù bù thông minh”
thật chẳng ngoa chút nào.
Vốn
là một người ngu đần ngốc nghếch ai trông cũng thấy chán,
ngay cả cây chổi cũng không biết. Thế mà dưới sự chỉ
dạy của đức Phật, dựa vào ý chí nghị lực và lòng kiên
trì, Tôn giả đã khắc phục cái ngu bẩm sinh, trở thành vị
đại đệ tử, được đức Phật chọn vào trong số mười
sáu vị La-hán lưu lại thế gian hoằng dương Phật pháp.
17.
NAN-ÐỀ-MẬT-ÐA-LA
“Nan-đề-mật-đa-la”,
Trung Quốc dịch là Khánh Hữu. Ngài ra đời sau đức Phật
diệt độ tám trăm năm.
Tôn
giả trú tại thủ đô nước Sư Tử (tức Tích Lan ngày nay).
Toàn nước Sư Tử thời đó không ai không biết ngài là bậc
đại A-la-hán.
Mười
sáu hoặc mười tám vị La-hán được tôn thờ trong các tự
viện Phật giáo ở Trung Quốc là đều do ngài giới thiệu.
Ở phần “Xuất xứ mười sáu vị La-hán”, chúng tôi đã
trình bày rõ ràng rồi. Nhờ Nan-đề-mật-đa-la nói “Pháp
trụ ký” mà chúng ta mới biết được danh tánh và trú xứ
của mười sáu vị La-hán lưu lại nhân gian. Người đời
vì thương nhớ ngài nên đưa ngài vào hàng mười tám vị
La-hán.
Nan-đề-mật-đa-la
thần thông quảng đại. Sau khi nói “Pháp trụ ký” xong,
vì muốn cho mọi người thâm tín không còn nghi ngờ việc
mười sáu vị La-hán lưu lại nhân gian nên ngài liền vận
thần thông bay lên hư không hóa hiện vô số thần tích bất
khả tư nghì ngay trước mặt mọi người. Ai nấy cũng đều
trầm trồ, khen ngợi:
- A,
Mầu nhiệm quá!
- Ôi,
Tôn giả đúng thật là thần thông quảng đại!
- Một
bậc đạo hạnh cao thâm, pháp thuật vô biên như thế thì
lời của ngài nói chắc chắn không sai.
Hiển
thị thần thông xong, ngay trên không trung, Nan-đề-mật-đa-la
dùng chơn hỏa tam muội thiêu thân, Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống
dồn dập như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về nhà
tôn thờ cúng dường.
Tuy
đã thiêu thân nhưng Nan-đề-mật-đa-la không rời nước Sư
Tử. Ngài chỉ bay đến một động đá trên núi để tọa
thiền. Thời gian trôi qua thoáng chốc mà ngài ngồi đó đã
hơn bốn trăm năm. Khi ấy, đúng vào thời vương triều Quý-sương
do vua Ca-nị-sắc-ca thống trị ở bắc Ấn Ðộ.
Khi
xuất định, vì muốn điều hòa huyết mạch thân thể sau
bao năm ngồi bất động, Ngài ôm bát xuống núi vào thành
khất thực.
- Ôi!
Sao lạ vậy, sao phố xá lại lạ thế này? Ðể ta tính xem
rốt cuộc là thế nào. – Nan-đề-mật-đa-la lẩm bẩm.
Nói
rồi, Ngài đưa tay tính một hồi, bỗng nhiên cười ồ lên:
- Ha
ha, thì ra ta ngồi đây đã hơn bốn trăm năm rồi, thảo nào
một số đường ta không còn nhớ.
Chuyện
Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la tiếp tục lưu lại thế gian hiện
còn ghi trong “Lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ”. Ðây là tác
phẩm do vị Cao tăng nổi tiếng Tháp Lạt Na Tháp viết, hoàn
toàn không chút hư dối.
Từ
đó, Nan-đề-mật-đa-la thường xuất hiện khắp nơi, khi thì
trì bát, lúc thì giảng kinh, khi thì cỡi voi, lúc thì cỡi
mây. Thế nên, mãi đến nay, mọi người vẫn còn tin rằng
Tôn giả vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng mười
sáu vị La-hán kia tiếp tục lưu lại thế gian hoằng pháp
độ sanh.
18.
CA-DIẾP
Tôn
giả Ca-diếp sống cùng thời với Phật, là người nước
Ma-kiệt-đà tại Ấn Ðộ. Ngài được người đời sau đưa
vào hàng mười tám vị La-hán.
“Ca-diếp”,
Trung Quốc dịch là Ẩm Quang, vì thân ngài có thể phát ra
ánh sáng. Bất luận đi đến đâu, trên thân ngài luôn phát
ra ánh sáng rực rỡ trang nghiêm. Ẩm Quang hoàn toàn không phải
là uống ánh sáng mà ý nói ánh sáng phát ra trên thânngài
thù thắng hơn ánh sáng trên thân người khác. Khi mọi người
đứng trước ngài, ánh sáng ấy thường làm cho ánh sáng sáng
trên thân họ tự nhiên trở nên u ám thất sắc. Vì sao thân
ngài phát ra được ánh sáng? Câu chuyện tương truyền như
vầy:
Thuở
quá khứ, ngài từng làm người thợ vàng, tuy nhà nghèo nhưng
rất thâm tín Phật pháp.
Có
lần, ngài đem hiến một miếng vàng nhỏ, số vàng duy nhất
mà ngài dành dụm được, để trang sức một bức tượng
Phật, mọi người nhìn vào ai cũng khen rất đẹp. Nhờ công
đức ấy nên đời này sanh làm người, thân ngài phát ra ánh
sáng thù thắng hơn người khác.
Lúc
đầu, cha mẹ đặt tên cho ngài là Tất-bát-la-da, Trung Quốc
dịch là “Thọ Hạ Sanh” (sanh dưới cây).
Vào
tháng nọ, khi Ca-diếp sắp ra đời, một hôm mẹ ngài đang
ngồi hóng mát dưới gốc cây đại thọ thì bỗng nhiên từ
trên trời bay xuống một tấm thiên y rất đẹp, che phủ cả
thân cây. Liền khi ấy, ngài cất tiếng chào đời.
Gia
đình Ca-diếp rất giàu. Có người nói tài sản của họ còn
nhiều hơn cả vua. Vì là con một nên song thân ngài luôn khuyên
ngài sớm lập gia thất. Nhưng ý ngài lại muốn xuất gia học
đạo.
- Con
à, con nên sớm lập gia đình đi! – Hầu như ngày nào ngài
cũng nghe cha mẹ nói như vậy.
Không
nỡ trái ý cha mẹ, Ca-diếp đành nghĩ ra một kế, một mặt
vừa an ủi cha mẹ, mặt khác để tránh việc kết hôn. Ngài
cho người dùng vàng đúc tượng một mỹ nhân, rồi thưa với
song thân.
- Thưa
cha mẹ, không phải con không muốn kết hôn, chỉ vì tìm chưa
ra người con gái nào xứng với tượng mỹ nhân này. Nếu
như có người nào đẹp như vầy thì con bằng lòng lấy người
ấy.
Vốn
thương con tha thiết nên cha mẹ ngài lập tức sai người hầu
trong nhà dùng xe chở tượng mỹ nhân đi khắp nơi trong cả
nước, tuyên bố trước hàng vạn người náo nức đến xem:
- Các
chị em gái chưa chồng, mau đến đây chiêm ngưỡng lễ bái
mỹ nhân vàng, các cô sẽ có niềm vui bất ngờ.
Người
hầu chở tượng mỹ nhân xuất phát từ thành Vương-xá vượt
qua sông Hằng thẳng đến thành Tỳ-xá-ly phía bắc Ấn Ðộ.
Trong
thôn Ca Tỳ Ca thành Tỳ-xá-ly có một cô gái tên Diệu Hiền
quốc sắc thiên hương, hoa nhường nguyệt thẹn. Diệu Hiền
nghe nói trong thôn vừa có người chở đến một tượng mỹ
nhân bằng vàng, trong lòng hiếu kỳ, sẵn có bạn rủ nên
cô cũng đến đó xem.
Khi
đứng trước mặt tượng mỹ nhân, Diệu Hiền tợ như hoa,
như ngọc. Một chuyện lạ xảy ra là nhan sắc của tượng
mỹ nhân vàng kia bỗng nhạt dần, ánh sáng thường ngày biến
mất.
- Cô
nương, xin dừng bước... Người hầu thấy cảnh đó vừa
vui vừa sợ, liền hỏi rõ tên và chỗ ở của Diệu Hiền.
Nghe
được tin, cha mẹ ngài tức tốc đi cả ngày đêm đến dạm
hỏi cho ngài. Do hai nhà đều môn đăng hộ đối nên hôn sự
chỉ nói sơ qua là thành.
Sau
buổi hôn lễ chiều hôm nọ, khách khứa về hết, gian phòng
chỉ còn lại Ca-diếp và Diệu Hiền. Hai người ngồi đối
diện nhau, ai cũng tâm sự trùng trùng, dáng vẻ sầu muộn
không vui. Gần sáng, Ca-diếp chịu không được cất tiếng
hỏi:
- Xin
hỏi, vì sao em không vui?
Diệu
Hiền nức nở khóc:
- Ôi,
ước mơ của em đã tan thành mây khói rồi!
- Ước
mơ gì?
- Em
muốn xuất gia học đạo, nhưng bây giờ...
- Thật sao? – Không đợi Diệu Hiền nói hết, Ca-diếp
cao hứng tiếp lời: Em muốn xuất gia học đạo sao? Hay quá,
tôi cũng có tâm nguyện ấy.
Vì
chí nguyện giống nhau nên sau mười mấy năm chung sống, Ca-diếp
và Diệu Hiền đều xuất gia qui y Phật và lần lượt đắc
quả A-la-hán.
Ca-diếp
là vị Ðầu đà đệ nhất, tu khổ hạnh danh chấn tôn
phong trong hàng đệ tử Phật. Ngài không thích ở trong tịnh
thất. Mỗi ngày ngoài thuyết pháp trì bát, Ngài thường tọa
thiền dưới gốc cây hoặc ngoài đồng trống mặc cho gió
táp mưa sa, nóng lạnh dãi dầu ngài luôn giữù như vậy.
Khi
về già, Ca-diếp vẫn giữ lối tu khổ hạnh ấy. Một hôm,
không nỡ nhìn thấy cảnh tuổi già sức yếu mà cứ đêm
ngày dãi nắng dầm sương, đức Phật cho người gọi
ngài đến bảo:
- Nào,
Ca-diếp đến đây ngồi với ta. Sau này không nên khổ hạnh
vất vả như thế nữa. Ông đã phụng sự quá nhiều cho Phật
pháp rồi, giờ hãy tịnh dưỡng để mọi người tôn kính
cúng dường.
Ca-diếp
khiêm hạ chắp tay cung kính thưa:
- Bạch
đức Thế Tôn! Bản thân con không thấy có gì vất vả cả.
Con nghĩ làm một bậc trượng phu xuất trần đại sĩ cần
phải sống một đời thanh bần, giản dị, mộc mạc, nếu
không thì chí nguyện thú hướng Niết-bàn giác ngộ giải
thoát sao thành tựu được!
Nghe
vậy, đức Phật càng quí trọng Ca-diếp bội phần. Một
hôm, giảng kinh trên hội Linh Sơn, đức Phật không nói
lời nào chỉ cầm một đóa sen đưa lên rồi im lặng nhìn
đại chúng. Khi ấy, cả pháp hội không ai hiểu được tôn
ý của Phật, chỉ có Ca-diếp nhìn Phật mỉm cười liễu
ngộ (ý nói: Bạch đức Thế Tôn! Con đã hiểu tôn ý của
Ngài. Ngài muốn đem giáo pháp vi diệu của Thiền tông trao
cho con và bảo con tiếp tục lưu truyền đến đời sau).
Thấy
Ca-diếp liễu ngộ diệu lý, đức Phật vui mừng bảo:
- Lành
thay, này Ca-diếp! Nay ta đem chánh pháp nhãn tạng vi diệu của
Thiền tông trao cho ông. Ông phải dốc sức xiển dương để
Phật pháp được huy hoàng rực rỡ!
Và
như vậy, Ca-diếp trở thành vị tổ sư khai sáng Thiền tông
Phật giáo.
Lúc
đức Phật Niết-bàn ở thành Câu-thi-na-ca-la, chư đệ tử
như rơi vào cảnh bầy ong mất chúa, không người lãnh đạo.
Khi
đó, Ca-diếp đang giáo hóa ở nước Ðạc-xoa-na-xa. Nghe tin
Phật diệt độ, ngài tức tốc lên đường trở về bảo
với mọi người:
- Các
vị! Xin chớ quá bi thương, muốn báo ơn Phật sau này chúng
ta cần phải đoàn kết hòa hợp. Ðiều quan trọng trước
mắt chúng ta là nghĩ cách làm sao đem thánh giáo một đời
của đức Thế Tôn đã thuyết kết tập, chỉnh lý lại để
bảo tồn đến đời sau.
Chín
mươi ngày sau khi đức Phật niết-bàn, Ca-diếp chủ trì cuộc
đại kết tập Tam tạng thánh điển lịch sử tại thạch
động nổi tiếng Tất-ba-la-diên. Ngày nay, chúng ta còn được
xem Tam tạng giáo lý vĩ đại Kinh, Luật, Luận, thật sự không
thể không cảm tạ ơn đức cao dày khó nhọc của ngài.
Ðức
Phật diệt độ, Ca-diếp lên thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn.
Ngài tiếp tục nỗ lực trong suốt gần ba mươi năm, khi ấy
ngài đã hơn một trăm tuổi.
Thấy
Phật giáo đã hưng thịnh, tiền đồ rực rỡ huy hoàng, ngài
đến chỗ Tôn giả A-nan bảo:
- Này
A-nan! Sau này ông là vị tổ thứ hai của Thiền tông, trách
nhiệm hoằng dương chánh pháp sẽ do ông gánh vác.
A-nan
hỏi:
- Thế
còn ngài?
Ca-diếp
cười đáp:
- Tạm
thời tôi đến núi Kê-túc tọa thiền, tự mình muốn tinh
tấn tu tập thêm.
Cáo
biệt A-nan xong, ngài vận thần thông bay lên không, đến tám
ngôi bảo tháp thờ Xá-lợi của Phật, mỗi tháp đảnh lễ
cúng dường một lần để bái biệt.
Ðảnh
lễ tháp Phật xong, ngài mang y bát lúc sanh tiền của Phật
một mình đi về hướng núi Kê-túc, phía tây nam thành Vương-xá.
Khi đến nơi, ba ngọn núi hình móng gà bỗng mở ra, giữa
khoảng trống xuất hiện một bàn thạch, ngài nhẹ nhàng bước
vào. Lúc ấy, hoa trời tung rơi ba ngọn núi tự nhiên khép
lại.
Ca-diếp
muốn tọa thiền ở đó đợi đến năm mươi sáu ức năm
sau, khi đức Phật Di Lặc hạ sanh, ngài sẽ trở ra tiếp tục
phụng sự Phật pháp.
Trước
đây không lâu, ở Pháp có vị học giả bác sĩ Bách-cách-sâm
(Bergson) đến Ấn Ðộ chiêm bái Thánh địa. Khi lên núi Kê-túc,
ông còn tận mắt thấy Tôn giả Ca-diếp, đồng thời thỉnh
vấn và qui y với ngài.
Ðiều
đó cho thấy, Tôn giả Ca-diếp vẫn còn lưu lại nhân gian
hoằng dương Phật pháp.
19.
QUÂN-ÐỒ-BA-THÁN
Tôn
giả Quân-đồ-ba-thán là vị đại A-la-hán sống cùng thời
với Phật khi Ngài còn tại thế.
Lúc
tám mươi tuổi, đức Phật bảo Ca-diếp:
- Này
Ca-diếp! Ta nay tuổi cao sức yếu, công việc hoằng pháp độ
sanh ở đời cũng sắp kết thúc. Sau khi ta diệt độ, ông,
La-hầu-la, Tân-đầu-lô và Quân-đồ-ba-thán hãy tạm thời
lưu lại nhân gian tiếp tục gánh vác trách nhiệm hoằng dương
chánh pháp để Phật pháp được thịnh hành ở thế gian.
Vì
vậy mà người đời sau đưa ngài vào hàng mười tám vị
La-hán.
Sau
khi xuất gia, vì không chịu tinh tấn tu tập nên Quân-đồ-ba-thán
ngộ đạo hơi muộn. Một hôm, có vị thí chủ tên Tu-ma-già-đà
thỉnh đức Phật cùng chúng đại đệ tử đến nhà thọ
trai. Quân-đồ-ba-thán cũng có trong danh sách được thỉnh.
Nhưng lần đó, Tu-ma-già-đà chỉ thỉnh các bậc A-la-hán ngộ
đạo, trong khi Quân-đồ-ba-thán vẫn còn là một phàm phu chưa
chứng quả.
- Xấu
hổ quá! Ngay cả Sa-mật tám tuổi cũng chứng quả, còn ta
tu hành lâu nay lại không chút thành tựu (Sa-mật là tên một
vị Sa-di). Quân-đồ-ba-thán nghĩ mình thua cả một đứa trẻ
nên trong lòng áy náy khó chịu.
- Ngày
mai mình sẽ không tham dự. – Quân-đồ-ba-thán dặn lòng,
song ngài lại đắn đo:
- Nhưng,
vắng mặt mình, mọi người không phải sẽ càng cười cho
rằng mình nhát gan sao? – Quân-đồ-ba-thán phân vân khó xử.
Tối
đến, ngài tọa thiền một mình trầm tư quán xét tìm nguyên
nhân vì sao mình không chứng quả. Nhờ chú tâm quán tưởng,
chuyên nhất phản tỉnh, cuối cùng ngài hoát nhiên đại ngộ.
Ngày
thứ hai, ngài vui vẻ nhận lời thỉnh mà không còn thấy áy
náy bất an.
Tin
ngài chứng quả thoáng chốc đã truyền khắp nước Ấn Ðộ,
rất nhiều người đến chúc mừng, song vẫn còn một số
người không tin.
Có
người thị phi sau lưng:
- Hứ!
Nhất định là lừa bịp, trông dáng vẻ ông ta chẳng giống
La-hán chút nào.
Có
người mỉa mai:
- Nói
phải lắm! Nếu như ông ta mà chứng quả thì chắc tôi thành
Phật sớm rồi.
Tuy
nghe những lời đàm tiếu thị phi đó, nhưng Quân-đồ-ba-thán
vẫn không chút tức giận, cũng chẳng quan tâm đến lời của
những kẻ vô công rồi nghề. Ngài chỉ nhìn lại công hạnh
tu tập của mình. Thế mà, bọn người thích gây sự vẫn
không chịu buông tha ngài. Họ bàn kế hoạch bắt bí ngài
trước mặt mọi người, rồi nhân đó vạch trần cái mà
họ cho là ngài bày trò lừa bịp giả trang chứng quả.
Trưa
hôm nọ, khí trời nóng bức, Quân-đồ-ba-thán vừa khất thực
được một ít thức ăn tại một gia đình, đang định mang
về thọ trai thì có một tên theo gây khó dễ. Hắn chạy như
bay đến trước giật lấy cái bát trên tay ngài, rồi đem
treo lên một cây đại thọ rất xa.
Treo
xong, hắn cười khoái chí bảo:
- Ðại
A-la-hán, tới lấy đi!
Mọi
người xung quanh chế giễu:
- Ðại
A-la-hán, hãy biểu diễn một chút thần thông biến hoá của
ông để chúng tôi xem cho vui đi nào!
Quân-đồ-ba-thán
vẫn đứng yên lặng một chỗ mỉm cười từ ái không để
ý đến họ.
Bọn
họ lại la ó lên:
- Các
vị! Quân-đồ-ba-thán chẳng có chứng quả chứng quyết gì
cả, ông ta chỉ là một gã lừa bịp.
Có
người to tiếng:
- Các
vị! A-la-hán thật sự bản lĩnh rất cao cường, không cần
đi đến đó cũng có thể lấy được bát, nhưng ông ta có
làm được đâu!
Lúc
này, Quân-đồ-ba-thán cười to lên một tiếng rồi duỗi tay
phải ra đến tận cây thu bát về.
- Ôi!
Hay quá, hay quá!
- Quân-đồ-ba-thán
lợi hại thật, ông ta đúng là La-hán đấy! – Mọi người
vỗ tay hoan hô, hết lời ca ngợi
Song,
Quân-đồ-ba-thán vẫn không chút đắc ý. ngài biết về tinh
xá chắc chắn sẽ bị đức Phật quở trách.
Quả
như vậy, sau khi trở về, ngài bị đức Phật quở:
- Này
Quân-đồ-ba-thán! Trước mặt mọi người mà phô diễn thần
thông là không tốt. Vì sao? Vì họ ít thấy nên lấy làm lạ,
rất dễ sanh đa nghi, vả lại sẽ làm nhiễu loạn lòng người,
gây rối an ninh xã hội. Song, hiện tại ông đã biểu diễn
cho họ thấy rồi, giờ đây trong mắt mọi người ông là
một vị đại tiên. Do đó, sau khi ta diệt độ, ông phải
tiếp tục lưu lại nhân gian thay ta hoằng dương chánh pháp.
- Thưa
vâng, bạch đức Thế Tôn!
Thế
là Quân-đồ-ba-thán vĩnh viễn lưu lại nhân gian, luôn gần
gũi lân mẫn quanh chúng ta, thầm hộ niệm chúng ta tu tập.
20.
ÐẠT-MA-ÐA-LA
Tôn
giả Ðạt-ma-đa-la là người ở núi Hạ lan tỉnh Cam Túc.
Trong các tự viện thờ mười tám vị La-hán, ta thường thấy
bên cạnh ngài, người ta tạc thêm một con hổ. Do đó, có
người gọi ngài là La-hán Phục Hổ. Ngài cũng được người
đời sau đưa vào hàng mười tám vị La-hán.
Thuở
nhỏ, Ðạt-ma-đa-la thường đến chùa chơi vì ngài rất thích
tướng mạo kỳ lạ, ngộ nghĩnh của mười sáu vị La-hán
được tôn thờ tại một cái am trong chùa. Sư phụ trong am
thấy ngài hay đến chơi nên thường theo tán gẫu và kể cho
ngài nghe những chuyện rùng rợn như thăng thiên độn thổ
của các vị La-hán. Ngài nghe xong vừa thích lại vừa sợ.
-
Này cậu bé, cậu có thích La-hán không? –Vị sư phụ hỏi.
-
Dạ thích! – Ðạt-ma-đa-la thành thật đáp.
Vị
sư phụ xoa đầu ngài bảo:
- Vậy
thì nên thường đến lễ bái nghen!
Ngay
trong tánh linh trẻ thơ, Ðạt-ma-đa-la rất sùng bái những
vị La-hán thần thông quảng đại, nên mỗi lần không có
việc gì làm ngài thường đến am, một mình lặng lẽ chiêm
ngưỡng, có khi đứng xem cả buổi chiều.
Dần
dần toàn bộ hình dáng tướng mạo của mười sáu vị La-hán
đều in đậm trong tâm trí ngài; thậm chí khi ngủ, ngài cũng
mơ thấy.
Quá
chí thành tôn kính các vị La-hán, đến nỗi ngài không dám
tiêu xài một đồng nào để đem số tiền dành dụm
được đó đi mua các thứ danh hương hoa quả tốt tươi đến
am cúng dường các vị La-hán.
Một
hôm, đang đứng lễ bái, bỗng nhiên ngài thấy các vị La-hán
huơ tay múa chân, mắt lại chớp chớp như người thật.
Ðạt-ma-đa-la
ngỡ mình hoa mắt, vội đưa tay dụi mắt, định thần nhìn
lại. Lần này, ngài thấy rõ hơn, một số vị còn cười
rất tươi.
Từ
đó, Ðạt-ma-đa-la càng kính ngưỡng tôn thờ những vị La-hán.
Hầu như ngày nào ngài cũng thấy những kỳ tích cảm ứng,
lúc thì nghe các ngài xướng tán, khi thì thấy các ngài bay
ra cửa sổ, lượn mấy vòng trên không rồi bay vào.
Một
hôm, Ðạt-ma-đa-la hỏi một vị La-hán:
-
Thưa ngài! Con phải tu tập thế nào mới thành A-la-hán?
-
Sao! Ngươi cũng muốn làm La-hán à? Ðơn giản thôi, chỉ cần
ngươi siêng đọc sách, làm nhiều việc thiện, tinh tấn ngồi
thiền là được.
-
Xin các ngài dạy con được không?
-
Không vấn đề gì, sau này ngươi hãy gắng tu hành cho tốt!
Ðược
các vị La-hán chỉ dạy, công phu của Ðạt-ma-đa-la tiến
bộ rất nhanh, chẳng bao lâu ngài cũng ngộ đạo chứng quả
A-la-hán.
Còn
về con hổ nằm bên cạnh ngài cũng có một câu chuyện lưu
truyền trong dân gian như sau:
Có
người nói, sau khi chứng quả, Ðạt-ma-đa-la du hóa khắp nơi
thuyết pháp giảng kinh, thấy ai gặp nạn liền ra tay cứu
giúp, giải quyết mọi chuyện.
Một
hôm, trên đường du hóa đến núi Hạ lan tỉnh Cam túc, ngài
ghé vào một gia đình nọ, đang định xin miếng nước uống
thì không biết chuyện gì mà thấy gia đình này lại khóc
lóc thảm thiết.
Ðạt-ma-đa-la
quan tâm hỏi:
-
Có chuyện gì mà cả nhà đều khóc vậy?
-
Dạ, gần đây xuất hiện một con hổ dữ ăn thịt người,
anh em của con đều bị nó ăn hết rồi.
Ðạt-ma-đa-la
an ủi:
- Ðược
rồi, nín đi, để ta thu phục nó!
Ngay
trên con đường nhỏ hổ thường ẩn hiện đi qua, Ðạt-ma-đa-la
đào một cái bẫy, phía trên ngài lấy cỏ phủ kín lại như
không có gì.
Gần
tối, con hổ dữ đó quả nhiên lại xuống núi. Vì không cẩn
thận nó rơi tõm vào trong bẫy sâu.
Hổ
gầm rống vùng vẫy suốt hai ngày đêm trong bẫy, tiếng gầm
càng lúc càng nhỏ, trông biết nó đã sức cùng lực kiệt,
lúc này Ðạt-ma-đa-la mới đến đứng trên bẫy bảo:
- Nếu
ngươi đồng ý không hại người nữa, ta sẽ cho ngươi con
đường sống.
Hổ
gục đầu không nói, có vẻ ăn năn nên Ðạt-ma-đa-la thả
nó đi.
Không
ngờ một tuần sau nó lại xuất hiện, lần này càng hung tợn
hơn, liên tiếp làm hại rất nhiều người.
Sớm
đã liệu trước nó sẽ không dễ sửa đổi như thế nên
Ðạt-ma-đa-la ở lại trong một gia đình dưới núi lặng lẽ
đợi sự tình xảy ra. Lúc này, hung tánh của nó càng bộc
phát dữ dội. Do đó, ngài lại chuẩn bị lên núi thu phục.
Lần
đi này, Ðạt-ma-đa-la mang theo bình bát. Tuy rừng núi hoang
vắng song ngài vẫn không chút sợ sệt.
-
Gừ, gừ....! Tiếng gầm từ xa vẳng tới.
Ðợi
Ðạt-ma-đa-la đi đến gần một tảng đá, hổ thình lình
từ sau tảng đá xông ra. Tuy lách người qua được nhưng do
không cẩn thận ngài bị trượt ngã. Hổ tiếp tục quay đầu
tấn công. Thấy nó vồ tới mà chưa kịp đứng dậy, Ðạt-ma-đa-la
vội ném bình bát ra, một chuyện lạ xuất hiện, bình bát
lập tức phát hào quang biến to ra, hổ vừa nhảy tới thì
rơi gọn vào trong bát. Liền khi ấy, bình bát từ từ thu nhỏ
lại.
- Này
nghiệt súc! Ðây là lần cuối cùng ta tha cho ngươi đi, lần
sau nếu còn tiếp tục hại người nữa thì đừng trách ta.
– Nói xong, Ðạt-ma-đa-la thả hổ đi.
Từ
trong bát được thả ra, hổ trông rất nhỏ. Ðạt-ma-đa-la
niệm mấy câu thần chú cho nó trở lại nguyên hình. Trong
tâm có vẻ vẫn không phục, nó liếc nhìn ngài một cái rồi
uể oải bước đi.
Ba
ngày sau, gia đình gần đó lại đưa tin hổ hại người. Ðạt-ma-đa-la
đành phải một mình lên núi. Nhưng lần này để bắt được
nó thật không đơn giản chút nào, vì chẳng biết từ đâu
nó gọi mấy ngàn con cả lớn nhỏ đến. Khi ngài vừa đi
tới lưng chừng núi thì bị bọn chúng bao vây, con nào cũng
nhe nanh múa vuốt nhìn ngài với ánh mắt hung tợn. Tình huống
lúc này quá nguy cấp. Bỗng con quái hổ giận dữ rống lên,
lát sau mấy ngàn con kia cũng đồng rống lên. Tiếng gầm chấn
động cả núi rừng, đá trên núi lăn xuống dồn dập.
Ðạt-ma-đa-la
không chút hoang mang, vẫn thản nhiên ngồi xuống tọa thiền,
miệng niệm thần chú. Khi ấy, bổng nhiên xuất hiện vòng
lửa đỏ rực bao quanh Ngài.
Hổ
là loài sợ lửa nên đầu tiên những con nhát gan chạy trước,
lát sau cả đám thấy không đủ sức cũng bỏ chạy theo, cuối
cùng chỉ còn lại mình con quái hổ kia. Thấy không kham, nó
cũng cất bước định chuồn, song bị Ðạt-ma-đa-la nhanh chóng
đứng dậy nhảy tới chụp lấy đuôi. Nó quay đầu phản
công, Ðạt-ma-đa-la dùng đôi tay linh hoạt bấm vào đầu.
Bị khóa chặt, nó cố sức giãy giụa đủ cách nhưng không
có cách gì thoát ra được.
Ðợi
nó ngoan ngoãn, Ðạt-ma-đa-la vỗ đầu từ ái bảo:
- Ăn
thịt người là không tốt, đời đời kiếp kiếp về sau
sẽ không được đầu thai làm người. Ngươi nên cải tà
quy chánh, theo làm thị giả về núi tu hành với ta, giúp ta
hoằng dương Phật pháp, cứu độ chúng sanh.
Hiểu
được tiếng người nên nó gật đầu vui vẻ đi theo Ðạt-ma-đa-la.
Do đó, về sau bên cạnh Ðạt-ma-đa-la, người ta thường vẽ
thêm một con hổ nằm, nghe nói đó chính là con quái hổ này.
* *
*
Chuyện
mười tám vị La-hán đến đây đã kết thúc. Các bạn có
cảm thấy thú vị và yêu thích không?
Tương
truyền Bố Ðại Hòa thượng do Bồ-tát Di Lặc hóa thân cũng
được đưa vào hàng mười tám vị La-hán. Giai thoại về
Ngài xin xem truyện “Nụ cười đức Phật Di Lặc” của
“Từ ân Phật giáo nhi đồng tùng thư”, ở đây không giới
thiệu thêm.
Sau
cùng, chắc các bạn sẽ cảm thấy lạ và thắc mắc: “Tổng
cộng không phải chỉ có mười tám vị La-hán thôi sao? Vì
sao trong sách lại giới thiệu đến hai mươi vị? Xuất hiện
thêm hai vị nữa là như thế nào?”
Các
bạn có nhớ phần trước chúng tôi đã nói La-hán trụ thế
thực ra chỉ có mười sáu vị, sau này dần dần được người
đời sau thêm vào hai vị thành mười tám vị. Vấn đề đặt
ra ở đây là vì đối tượng yêu thích, tôn kính, ngưỡng
mộ của mỗi người khác nhau nên hai vị La-hán được thêm
vào cũng không giống nhau. Nếu như để bạn tuyển chọn thì
bạn cho rằng ngoài mười sáu vị La-hán vốn có ra nên thêm
vào hai vị nào?
Phụ trương về “Thập bát La-hán”:
HUYỀN THOẠI DÂN GIAN VỀ MƯỜI TÁM VỊ LA-HÁN
1.
Sự tích thứ nhất được kể trong tập sách viết bằng chữ
Hán của thầy giáo thọ Hoằng Khai, trụ trì chùa Càn an, tỉnh
Bình định, vào năm Tự Ðức thứ tư (1857). Theo sách này
thì nước Triệu có một nàng công chúa tên Hy Ðạt, vốn
chí thành mộ đạo, nàng chuyên niệm danh hiệu đức Phật
A Di Ðà. Năm mười lăm tuổi, nàng ăn một đóa hoa sen vàng,
rồi hoài thai đến sáu năm mới sinh ra mười tám đồng tử.
Các đồng tử ấy về sau được đức Quan Âm hóa độ và
thọ ký để họ trở thành mười tám vị La-hán.
Nội
dung sự tích này khá lý thú, tương đối có giá trị về
mặt văn chương, nhưng cốt truyện lại pha trộn tinh thần
Phật, Khổng, Lão nên ít có giá trị về mặt lịch sử.
2.
Sự tích thứ hai: Tương truyền ngày xưa, tại Trung Quốc có
mười tám tên cướp rất hung dữ. Về sau họ hồi tâm cải
tà quy chánh, nương theo Phật pháp tu hành và đắc giả A-la-hán.
Sự
tích này tương đối có ý nghĩa, nhưng lại có tính cách huyền
thoại, do đó ít được người ta chấp nhận.
Ðạo
Luận (sưu tầm)
Theo
truyền thuyết Trung Hoa
Thuở
xưa, ở ngôi làng nọ có một vị trưởng giả giàu lòng nhân
từ, tôn thờ Tam bảo, tin hiểu nhân quả. Nhà ông ta giàu
có, ruộng vườn mênh mông bát ngát “cò bay thẳng cánh”.
Trong nhà, ông ta có nuôi một con bạch mã để hàng ngày chuyên
chở thóc lúa.
Vào
một đêm, ông trưởng giả cứ trằn trọc bâng khuâng, giấc
ngủ chẳng thành, trạng thái bất an vương vấn mãi trong lòng.
Sẵn đêm khuya cảnh vắng, gió mát trăng thanh, ông ngồi dậy
dạo gót ra vườn, rồi lần hồi đi qua chuồng ngựa, thì
bỗng nhiên có người gọi giật ngược: “Ông trưởng giả!”.
Ông trưởng giả giật mình ngó quanh chẳng thấy ai. “Ông
trưởng giả!” – Tiếng gọi một lần nữa lại phát ra.
Lúc đó, ông mới biết đích thật âm thanh ấy phát ra từ
chuồng ngựa. Chưa kịp trấn tĩnh thì con bạch mã nói tiếp:
“Ông đừng ngạc nhiên, chính tôi gọi ông đấy!” Ông trưởng
giả lắp bắp: “Mày.....mày.... nói được tiếng người
sao?”. Con bạch mã đáp: “Ðúng vậy! Ông đừng lấy làm
lạ, tôi sẽ kể cho ông nghe mọi chuyện”.
Vào
thời quá khứ, tôi đã ăn cắp của ông bảy nắm thóc, nhân
quả báo ứng nên kiếp này phải đọa làm thân ngựa chở
thóc trả nợ cho nhà ông đúng bảy năm. Giờ thì mãn kiếp,
giây lát nữa đây tôi sẽ từ giã cõi đời nhưng vì ơn ông
đối xử với tôi quá tốt, không một chút đòn roi, tôi không
biết làm sao để tỏ lòng tri ân. Vậy tôi mách bảo một
chuyện cho ông biết. Khuya mai, cũng vào giờ này có mười
tám tên tướng cướp, chúng sẽ tấn công gia trang của ông.
Ông phải thiết bày hương án để nghinh đón họ và giải
thích nhân quả để cho họ biết mới mong thoát khỏi đại
nạn.
Dứt
lời, bạch mã từ từ quị xuống nhắm mắt lại, bắt đầu
giấc ngủ ngàn thu. Ông trưởng giả ngậm ngùi xót thương
và làm theo lời bạch mã.
Ðêm
hôm sau, đúng vào giờ tý canh hai, từ xa có tiếng vó ngựa
vọng lại, rồi dần dần rầm rộ trước cửa gia trang ông
trưởng giả. Ngay lập tức, bọn cướp tung cửa xông vào;
nhưng đột ngột tên thủ lĩnh kéo dây cương, làm con ngựa
dừng lại, đưa hai chân, hí lên một tiếng vang dội giữa
đêm khuya thanh vắng. Vì phía trước có một bàn hương án
khói hương nghi ngút chắn ngang, và một ông lão quắc thước
ngồi im lặng bất động, hòa quyện giữa màn sương lạnh
đêm khuya mờ mờ ảo ảo. Cả toán cướp rợn cả người
chưa kịp xử lý ra sao thì ông trưởng giả đứng dậy. “Choảng!”
tên thủ lĩnh tuốt gươm khỏi bao, lưỡi thép già sắc xanh
phản ánh trăng chiếu lên khuôn mặt hắn đầy sát khí. Ông
trưởng giả bình tĩnh thong thả bước đến vái chào tên
thủ lĩnh:
-
Tôi đã chờ các vị từ lâu rồi.
Tên
thủ lĩnh kinh ngạc hỏi dồn:
-
Ông làm sao biết ta đêm nay hạ sơn cướp gia trang mà đón
chờ? Vì sao không tìm cách đối phó mà lại bày trò quái
quỉ gì đây?
Ông
trưởng giả bèn thuật lại đầy đủ câu chuyện của con
ngựa đã mách bảo. Sau giây phút bàng hoàng im lặng, tên thủ
lĩnh xuống ngựa đến trước bàn hương án nói:
-
Chỉ có bảy nắm thóc mà phải chở lúa trả nợ bảy năm
huống gì cuộc đời của ta mười năm gươm không ráo máu,
giết người không gớm tay, tội lỗi cao như núi, nghiệp chướng
sâu như biển. Giờ thì mới hiểu, những thú vui ngắn ngủi
phù du của một kiếp người, trong chốc lát đã dọn đường
cho sự đau khổ triền miên ở cõi bên kia.
Ðoạn
ngước mặt lên trời thở một hơi dài, đôi dòng lệ lăn
tròn trên má. Bất chợt, tên thủ lĩnh rút dao ngắn đâm vào
ngực, móc trái tim bỏ lên bàn rồi ngã xuống, máu loang đỏ
cả mặt đất.
- Ðại
ca! – Mười bảy tên cướp cùng kêu to chạy tới quỳ mọp
xuống đất, hòa trong tiếng khóc nấc nghẹn đớn đau. Biết
đại ca mình đã ăn năn hối lỗi phải đền nợ sám hối
bằng trái tim máu chân thành, nên cuối cùng mười bảy tên
cướp còn lại ấy cũng tự sát theo cái chết cao cả của
đại ca, dâng tiếp mười bảy trái tim lên bàn hương án tạ
tội.
Ðêm
nay trái đất như ngừng quay, thời gian như đứng im lắng
đọng, để tiễn đưa mười tám linh hồn vừa thức tỉnh
sau cơn mê trở về miền Tây phương cực lạc. Có lẽ, nẻo
đường của Bồ-tát là thị hiện và hạnh nguyện, đem hạt
giống Bồ-đề gieo ngay cánh đồng sanh tử khô cằn với những
khổ đau triền miên của chúng sanh. Vì vậy, họ lại mang
sứ mạng của Như lai làm mười tám vị La-hán, quay lại cõi
Ta bà để cứu vớt những chúng sanh với khát vọng cháy bỏng
mong tìm con đường sáng.
Cuộc
đời mười tám vị La-hán có nhiều chi tiết mà ta ngỡ là
hoang đường khó tin, như truyện Liêu Trai Chí Dị. Nhưng sự
thật trên đời có gì đẹp hơn, thi vị hơn cho bằng những
câu chuyện hoang đường, thần thoại, cổ tích, truyền kỳ?
Chính những câu chuyện hoang đường, thần thoại, cổ tích,
truyền kỳ ấy mới nói lên thực tại kỳ bí của con người
và cuộc đời.
Nha
Trang, Long Sơn thân cận thiện xứ.
Như
Giáo
Người
gửi: Tâm Minh 10-04-2004