1.
TÂN-NẦU-LÔ-PHẢ-LA-ÐỌA (TÂN-ÐỘ-LA-BẠT-LA-ÐỌA-XÀ)
Tôn
giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa là vị La-hán đầu tiên trong
mười tám vị La-hán, có chỗ dịch Tân-độ-la-bạt-la-đọa-xa.
Ngài là người nước Câu-thiểm-di1, vốn là một vị đại
thần danh tiếng dưới trướng vua Ưu Ðiền.
Ngài
họ “Phả-la-đọa” tên “Tân-đầu-lô”. Dưới đây, chúng
ta gọi ngài là Tân-đầu-lô.
Tân-đầu-lô
quy y theo Phật rất sớm, do nỗ lực tinh tấn tu tập nên khiến
vua Ưu Ðiền cảm động. Thấy ngài thiết tha với Phật, vua
đồng ý cho ngài từ quan xuất gia.
Nhờ
tư chất thông minh, cộng thêm sự nghiêm mật tinh tấn hành
trì nên ngài chứng quả La-hán rất nhanh. Từ khi biết ngài
chứng quả, vua Ưu Ðiền thường xuyên lui tới viếng thăm.
Theo
lễ nghi nhà Phật “Sa-môn bất bái vương giả”, do vậy,
mỗi lần vua đến, Tân-đầu-lô chỉ chắp tay xá chào. Vì
nghĩ rằng mình cũng là một Phật giáo đồ nên vua không cảm
thấy Tân-đầu-lô thất lễ.
Nhưng
đám cận thần bên vua có một số không tin Phật thì cho rằng
Tân-đầu-lô tự cao ngạo mạn. Do đó, những lúc ở trước
mặt vua thường đâm thọc thị phi:
- Thưa
đại vương! Trong mắt Tân-đầu-lô, ông ta không xem ngài ra
gì cả!
-
Thưa đại vương! Tân-đầu-lô nghĩ mình mới là vua, còn ngài
là thuộc hạ của ông ta!..
Không
chịu được những lời gièm tấu của quần thần, vua nổi
giận quát:
- Ðược!
Lần này ta đến, nếu như ông ta không ra nghinh đón, quì bái
chào hỏi, ta sẽ xử trảm ngay tại chỗ.
Vua
nổi giận lôi đình, hầm hầm dẫn tùy tùng đi thẳng đến
động Tân-đầu-lô ở. Nhưng khi sắp đến nơi thì từ xa
vua đã trông thấy Tân-đầu-lô cung kính đứng trước động
nghinh đón.
- Cung
đón đại vương quang lâm! Xin mời ngài vào! Mời vào! –
Tân-đầu-lô chắp tay cúi chào chín mười lần.
- Ồ,
miễn lễ! Miễn lễ! – Vua Ưu Ðiền thấy Tân-đầu-lô một
mực cung kính như thế, trong lòng rất xấu hổ, vội xuống
ngựa đáp lễ.
Sau
khi vào động, mọi người ngồi lại hàn huyên chuyện cũ
với nhau, riêng vua ấm ức khó chịu hỏi:
- Thưa
tôn giả! Thường ngày trẫm đến, Tôn giả không ra ngoài
động nghinh đón, sao lần này lại ra?
- Thưa
đại vương! Trước kia đại vương đến đây với lòng chí
thành tôn kính Tam bảo nên tôi không cần ra đón. Nhưng lần
này, đại vương ôm hận mà đến, nếu tôi vẫn cứ ngồi
trong động ắt sẽ chuốt lấy họa sát thân. Tôi sợ đại
vương chỉ vì nhất thời giận dữ mà mắc đại tội sát
hại La-hán, tương lai chiêu cảm khổ báo trong địa ngục.
Vì thế, tôi mới vội ra ngoài nghinh đón.
Nghe
Tân-đầu-lô nói, vua xấu hổ vô cùng vội rời tòa cúi đầu
sụp lạy.
Lần
khác, Tân-đầu-lô ôm bát vào thành theo thứ lớp khất thực.
Khi khất thực đến nhà một phụ nữ keo kiệt bủn xỉn,
ngài thấy bà ta đang chiên bánh bao. Ðịnh ôm bát đến nhà
khác, nhưng vì biết bà này là người bủn xỉn, muốn cho
bà ta bố thí gieo chút phước để tương lai có quả báo tốt
nên ngài cố ý đi đến chỗ bà ta.
- Cút
đi lão hòa thượng! – Bà ta chửi bới om sòm.
Mặc
cho bà ta chửi, Tân-đầu-lô vẫn đứng yên bất động, khiến
bà ta càng giận dữ thét:
- Cút
mau, còn đứng đó làm gì mất thời gian, dù thế nào bà cũng
không cho đâu!
Tân-đầu-lô
vẫn bình thản không nói, lặng lẽ đến ngồi trước cửa
nhập định, giả làm như một người chết. Có lẽ vì chưa
từng thấy cảnh thiền định như vậy nên bà ta nhảy thót
lên, than:
- Ði
nhanh đi mà, đừng có chết ở nhà tôi, tôi gánh không nổi
trách nhiệm này đâu. – Vì ở Ấn Ðộ lúc bấy giờ, Hòa
thượng rất được mọi người tôn kính nên bà ta sợ vua
kết tội thì không thể nào tránh khỏi bị mời lên quan phủ.
- Ðược
rồi, được rồi! Ðứng dậy đi, tôi sẽ cho ông một cái,
vậy được chưa, đồ đáng ghét! – Cuối cùng không còn
cách nào hơn bà ta đành đồng ý bố thí.
Khi
ấy, Tân-đầu-lô từ từ tỉnh lại, mở to mắt đứng dậy.
Thấy
Tân-đầu-lô chưa chết, còn vui mừng đứng ngay cửa nhắc
lại lời mình vừa nói và xin bánh, bà ta rất hối hận. Nhưng
đã nói rồi không thể rút lời lại được nên bà ta đành
buộc lòng cho ngài một cái. Song, không nỡ cho mấy cái bánh
vừa to vừa thơm đã chiên sẵn, bà ta cố ý naàu7841?n lại
một cái nhỏ như cái bánh cảo2 rồi
thả vào chảo dầu chiên.
Tân-đầu-lô
thấy bà này hẹp hòi như vậy trong lòng vừa xót thương vừa
buồn cười, nên cố ý dùng thần thông, lúc đầu chỉ có
mấy cái bánh bao nhỏ trên chảo, lát sau mấy cái bánh lớn
hai bên liên tiếp kết lại càng lúc càng nhiều, dù bà ta
cắt xén thế nào bánh cũng kết thành một khối, không thể
nào cắt ra được. Cuối cùng, không còn cách nào hơn, bà
ta đành đem toàn bộ xâu bánh cho Tân-đầu-lô.
- Cảm
ơn bà! Bà thật rộng rãi, cho tôi một lần nhiều chừng này.
– Tân-đầu-lô cười hà hà nói.
- Ðồ
đáng ghét! Cút đi! – Bà ta đau lòng quát.
- Này
thí chủ! Tôi nói thật cho bà biết tôi đã chứng A-la-hán
vốn không ăn cũng không đói không chết, nhưng tôi có mấy
huynh đệ đồng tu, hôm qua ngã bệnh họ không thể ôm bát
ra ngoài khất thực nên mới nhờ tôi giúp. Cảm ơn mấy cái
bánh của bà. – Nói xong, Tân-đầu-lô chắp tay cảm tạ.
- À,
ra là vậy, ông không phải cất riêng để dùng một mình mà
muốn mang về cho các huynh đệ bệnh. Ðây, đây, cầm lấy
đi...
Bà
ta bất chợt xúc động, áy náy nói tiếp:
- Về
đó rồi còn cần bao nhiêu nữa thì cứ đến đây. Ở đây
còn nhiều lắm.
- Cảm
ơn bà, vậy là đủ rồi. Thí chủ cúng dường tài vật vui
vẻ như vậy, phước báo tương lai không thể nghĩ bàn. –
Tân-đầu-lô nói rồi đi.
Một
hôm, ngài cùng Tôn giả Mục-kiền-liên có việc ra ngoài, tình
cờ thấy ông Thọ-đề-già dùng gỗ chiên đàn tốt nhất
đẽo một cái bát, rồi đem bát treo trên cây sào rất cao,
sau đó tuyên bố:
- Ai
có thể không trèo, không dùng thang mà lấy được bát xuống,
tôi sẽ tặng bát cho người ấy.
Tin
này gây xôn xao khắp nơi, vì bát chiên đàn là bảo vật quí
giá, người thường ai cũng mơ có nó. Nhưng bát treo quá cao
họ chỉ đứng nhìn trong thèm muốn mà thôi.
Ấn
Ðộ lúc bấy giờ có rất nhiều bọn ngoại đạo bản lĩnh
cao cường cũng dồn dập kéo đến trước. Song, xét cho cùng
thì pháp thuật của họ còn non kém nên cứ nhảy tới nhảy
lui mãi mà vẫn không tới được cây, rốt cuộc không ai lấy
được bát.
Khi
ấy, Tân-đầu-lô nói với ngài Mục-kiền-liên:
- Này
hiền giả! Ngài là vị đại đệ tử thần thông đệ nhất
của đức Thế Tôn, sao không đến thử xem?
Mục-kiền-liên
đáp:
- Bay
lên để lấy bát chẳng có ý nghĩa gì cao cả. Tôi không thích!
- Nhưng
lấy được bát cũng chứng minh được Phật pháp vi diệu
hơn ngoại đạo chứ! – Tân-đầu-lô không đồng ý với
quan điểm của ngài Mục-kiền-liên.
Thấy
Tân-đầu-lô không tán thành, ngài Mục-kiền-liên đành nói:
- Vậy
thì một mình ngài đến thử đi!
Tân-đầu-lô
liền vận thần thông bay lên không, lượn quanh cây sào bảy
vòng rồi đưa tay lấy bát. Sau đó, từ từ trở xuống đất
trong dáng vẻ nhẹ nhàng hân hoan với tiếng vỗ tay reo hò
của hàng vạn người.
Nhưng
sau khi về đến tinh xá, ngài bị đức Phật quở trách:
- Trước
mặt thiên hạ mà biểu diễn thần thông, không những chẳng
ích lợi gì cho việc hoằng dương Phật pháp, trái lại dễ
làm mọi người ngộ nhận cho rằng tu học Phật pháp cũng
chỉ để biểu diễn thần thông phi thường mà thôi.
- Bạch
đức Thế Tôn! Lần sau con không dám nữa. - Tân-đầu-lô
xấu hổ thưa.
- Ðược
rồi, đừng buồn! Nhưng ông đã biểu diễn rồi mọi người
ai cũng kính phục ông. Vì vậy, ông sẽ phải tiếp tục lưu
lại thế gian, vĩnh viễn không được ra đi để làm phước
điền cho chúng sanh gieo trồng thiện căn.
Tân-đầu-lô
vâng lời Phật dạy nên hơn hai ngàn năm nay, ngài luôn lưu
lại thế gian thay tên đổi họ, tiếp tục không ngừng nỗ
lực hoằng dương Phật pháp, chỉ vì chúng ta phàm phu không
nhận ra ngài thôi.
Ngoài
ra, còn một số tích nữa có thể chứng minh Tân-đầu-lô
vẫn thường cùng sinh hoạt quanh chúng ta:
Vào
thời Ngũ đại, vua nước Ngô Việt là Tiền Lưu rất thâm
tín Phật pháp. Lần nọ, vua tổ chức một pháp hội lớn
chưa từng thấy để cúng dường Tăng chúng các nơi. Quần
thần có người tâu:
- Thưa đại vương! Ngài nên giữ lại một chỗ tốt nhất
chờ đón bậc đại A-la-hán.
- Chờ
ai? – Vua hiếu kỳ hỏi
- Thưa
đại vương! Ðó là Tôn giả Tân-đầu-lô, vì từ xưa đến
nay chỉ cần người nào thiết lễ trai diên cúng dường Tăng
chúng và thành kính cung thỉnh thì không lần nào mà ngài không
đến.
Tuy
bán tín bán nghi, nhưng vua vẫn để dành một chỗ tốt nhất
cho vị khách quý không cho bất kỳ ai ngồi vào đó.
Pháp
hội tiến hành tưng bừng náo nhiệt, mãi đến khi hoàng hôn
buông xuống thì bỗng nhiên xuất hiện một vị Hòa thượng
lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày vừa trắng vừa dài, từ
hướng núi phía tây bay qua cửa sổ, đến ngồi trên chỗ
của khách quý ăn uống vui vẻ. Lát sau, ngài đứng dậy nói
với mọi người:
- Cúng
dường Tam bảo công đức vô lượng! Ha ha, ta là Tân-đầu-lô.
Ta đi đây!
Ấn
Ðộ vào thời vương triều Khổng Tước, vua A-dục là một
Phật tử rất thuần thành. Có lần, vua thỉnh ba mươi vạn
vị Hòa thượng đến hoàng cung thọ trai. Chỗ ngồi trong và
ngoài hoàng cung, chư vị Hòa thượng đã an tọa đầy đủ,
duy chỉ còn lại chỗ tốt nhất vẫn không có ai ngồi.
Vua
A-dục thấy lạ hỏi:
- Sao
chỗ này không ai ngồi?
Các
vị Hòa thượng đáp:
- Ðây
là chỗ của Tôn giả Tân-đầu-lô. Ðại vương hãy chí thành
cung thỉnh, Tôn giả nhất định sẽ đến.
Nghe
xong, vua chắp tay ngưỡng vọng lên trời, chốc lát quả nhiên
thấy Tân-đầu-lô và chúng đệ tử từ từ trên trời bay
xuống.
Công
nguyên năm 490, Lương Võ Ðế bị một cơn bạo bệnh, bất
kỳ danh y nào xem cũng nói không qua khỏi, dường như sắp
băng hà.
Khi
ấy, Lương Võ Ðế hạ chỉ khắp nước:
- Ai
trị lành được bệnh của ta, ta sẽ đem số châu báu trong
nước chia cho một nửa.
Tối
đến, vua nằm mộng thấy một vị Hòa thượng diện mạo
gầy ốm, đôi mắt sáng quắc nói với mình rằng:
- Bệnh
của ông là do ham thích hưởng thụ phú quý, không đoái hoài
gì đến sự đói khát cơ hàn khốn khổ của nhân dân. Do
đó, muốn khỏi bệnh phải khai mở quốc khố, cứu giúp muôn
dân nghèo khổ, cúng dường mười phương Tăng chúng, đồng
thời phải tự mình gieo trồng thiện căn công đức.
Lương
Võ Ðế làm theo lời vị Hòa thượng ấy dạy, không lâu bệnh
quả nhiên khỏi. Vô cùng cảm kích trước ơn cứu mạng của
vị Hòa thượng kia, nhưng không được thấy mặt nên vua lập
một hương án trong vườn hoa chí thành cầu nguyện, hy vọng
vị ân nhân cứu mạng hiện thân. “Hữu cảm tất thành,
hữu cầu tất ứng”, thật vậy đến nửa đêm, Hòa thượng
từ trên trời bay xuống nói với Lương Võ Ðế rằng:
- Ta
chính là Tân-đầu-lô. Sau này, ông nên dốc sức hộ trì Phật
pháp.
Vào
đời Ðông Tấn, pháp sư Ðạo An3
là bậc cao Tăng phiên dịch kinh điển ở Trung Quốc. Trong
lúc dịch, ngài thường ngần ngại cho chỗ dịch của mình
không lột tả hết được bổn ý Phật dạy nên luôn ưu tư
bất an.
Một
hôm, ngài ngưỡng mặt lên trời nguyện:
- Nếu
như chỗ phiên dịch của con không sai lệch ý chỉ Phật pháp
thì xin chư hiền thánh hiển lộ thần tích cho con thấy.
Tối
hôm đó, ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày
trắng nói với ngài rằng:
- Ta
là Tân-đầu-lô ở đất Ấn Ðộ. Lấy tư cách là một vị
đại A-la-hán đắc quả, ta bảo chứng những kinh điển ông
dịch đều rất chính xác.
Căn
cứ vào những giai thoại ngắn trên, ta thấy Tôn giả Tân-đầu-lô
luôn phụng hành di chúc của Phật, vĩnh viễn lưu lại nhân
gian hoằng dương Phật pháp. Và theo ghi chép trong Pháp trụ
ký thì hiện tại, ngài đang cùng một ngàn vị đệ tử trú
tại Tây-cù-đà-ni Châu.
2.
CA-NẶC-CA-PHẠT-SA
Tôn
giả Ca-nặc-ca-phạt-sa là vị La-hán thứ hai trong mười sáu
vị La-hán, có người gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Ðức
Thế Tôn thường xưng tán ngài là vị La-hán phân biệt thị
phi, thiện ác rõ ràng nhất. Hiện tại, ngài cùng năm trăm
vị đệ tử trú ở nước Thấp-di-la.
Khi
chưa xuất gia, Ca-nặc-ca-phạt-sa là người rất tuân thủ
khuôn phép. Dù nói năng hay làm việc, ngài đều nhất nhất
giữ gìn, thậm chí ngay cả một ý nghĩ xấu cũng không dám
nghĩ. Có nhân duyên được xuất gia, tiếp nhận lời Phật
dạy, Ca-nặc-ca-phạt-sa càng nỗ lực tinh tấn tu tập. Nhờ
những thiện căn công đức gieo trồng được lúc trước nên
ngài chứng quả La-hán rất mau.
Sau
khi ngộ đạo, Ca-nặc-ca-phạt-sa du hóa khắp nơi hoằng pháp
độ sanh. Ngài thấy trong sinh hoạt hằng ngày, mọi người
thường vô ý gây nhiều nghiệp ác, tương lai phải chiêu cảm
khổ báo trong địa ngục mà nguyên nhân là do những tạo tác
vô minh của chính bản thân. Cho nên, mỗi khi đến các nơi
thuyết pháp, ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả, thiện
ác để chúng sanh phân biệt rõ ràng cái nào thiện, cái nào
ác.
Có
lần, đi ngang qua thôn trang nọ, ngài thấy một gia đình đang
giết vô số trâu, dê, gà, vịt để làm yến tiệc mừng thọ
nhân ngày sinh nhật. Ca-nặc-ca-phạt-sa cố ý đến trước
nhà hóa duyên.Gia đình này cũng tin Phật nên tiếp đãi ngài
rất thân thiết, nồng hậu.
- Chúc
mừng, chúc mừng! – Ca-nặc-ca-phạt-sa chắp tay chúc phúc.
- Cảm
ơn sư phụ chúc thọ. – Ông cụ vui vẻ đáp lễ.
Nhân
đó, Ca-nặc-ca-phạt-sa chuyển đề tài hỏi:
- Nhưng
mà, này ông cụ! Sao ông muốn tổ chức mừng sinh nhật? Có
phải vì muốn sống lâu trăm tuổi không?
Ông
cụ cười ha hả đáp:
- Ðúng
vậy, con cháu tôi tổ chức mừng thọ đúng là muốn tôi sống
lâu trăm tuổi.
- Nhưng,
này ông cụ! Ông có biết cách tổ chức mừng thọ như thế
chẳng những không làm ông sống lâu, trái lại còn khiến
ông mau chết không? – Ca-nặc-ca-phạt-sa nghiêm giọng hỏi.
- Thật
sao? Sao vậy? – Ông cụ giật mình kinh sợ, nét mặt tươi
cười biến mất.
Ca-nặc-ca-phạt-sa
nghiêm nghị nói:
- Vì
trên đời này chỉ có người có lòng vị tha, nhân ái mới
trường thọ diên niên. Nếu như ích kỷ vì muốn bản
thân mình sống lâu hạnh phúc mà giết hại vô số sinh mạng,
khiến chúng đau đớn rên xiết thống thiết, người tàn nhẫn
như vậy sao có thể trường thọ được?
- Ồ,
ra là vậy, xin hỏi sư phụ, tôi phải làm thế nào mới phải?
– Ông lão hỏi.
- Ðức
Phật từng dạy rằng, sinh nhật là ngày khó khăn của mẹ,
ngày mà mẹ chúng ta chịu nhiều đau đớn khó nhọc. Vì vậy,
bổn phận làm con phải ghi nhớ công ơn trời biển của mẹ,
phải biết chia xẻ cảm thông với nỗi đớn đau của mẹ.
Do đó, hôm nay chẳng những không được ăn uống vui chơi,
trái lại nên tịnh tâm suy niệm ơn đức cha mẹ, quyết chí
tinh tấn tu tập để thành tựu đạo nghiệp. Có như thế
mới an ủi được lòng mẹ trong muôn một.
Nghe
Ca-nặc-ca-phạt-sa giảng dạy, ông lão vô cùng cảm động.
Suốt
cuộc đời, Tôn giả Ca-nặc-ca-phạt-sa du hóa khắp nơi, hoằng
dương Phật pháp. Ngài như ngọn hải đăng soi đường dẫn
dắt chúng sanh trong biển khổ quay về bến bờ thanh tịnh
giải thoát.
3.
CA-NẶC-CA-BẠT-LY-NỌA-XÀ
Tôn
giả Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà là vị La-hán thứ ba trong mười
sáu vị La-hán. Ngài là vị đại đệ tử được đức Phật
giao phó giáo hóa vùng Ðông Thắng Thần Châu.
Ðông
Thắng Thần Châu nằm trong biển Hàm Hải phía đông núi Tu
Di. Tôn Ngộ Không trong “Tây du ký” sinh tại Hoa Quả sơn
nước Ngạo Lai chính là thuộc Ðông Thắng Thần Châu.
Thuở
quá khứ khi còn tu hành hạnh Bồ-tát, Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà
từng đầu thai làm con chim ưng rất thâm tín, ủng hộ Phật
pháp.
Một
hôm, đang đậu nghỉ trên cây, chim nghe mấy vị Hòa thượng
ở dưới nói chuyện.
- Ôi,
đã mười ngày chúng ta không ăn gì rồi.
- Tôi
đói đi không nổi nữa.
- Kỳ
lạ, thần Hộ Pháp già lam đi đâu hết rồi nhỉ?
Nghe
thấy hoàn cảnh đáng thương ấy, chim quyết định hy sinh
thân mình để làm thực phẩm cúng dường các vị hòa thượng.
Vì thế, chim lập tức bay lên không, rồi bổ nhào xuống ngay
trước mặt hai vị Hòa thượng kia.
Cảm
kích trước nghĩa cử cao đẹp đó, các vị Hòa thượng chẳng
những không ăn thịt mà trái lại còn tụng kinh niệm Phật
siêu độ cho chim.
Ðiều
đó cho thấy, Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà xưa nay luôn là bậc
thánh dũng khí ngất trời, tiết nghĩa vẹn toàn, sẵn sàng
xả thân vì nghĩa để cứu giúp muôn loài.
Lúc
bấy giờ, quốc vương nước Tăng-già-la1 ở Nam Hải không
tin Phật pháp. Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà liền nghĩ ra một
cách đến độ ông ta.
Sáng
hôm nọ, đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh
sợ lớn tiếng gọi to:
- Người
đâu đến đây mau! Sao ta không thấy ta, người trong gương
kia là ai?
Quần
thần vội chạy đến nhìn vào gương quả thật chẳng thấy
quốc vương, trong gương là một vị bạch y Ðại sĩ tay cầm
cành dương chi và bình nước cam lồ, khuôn mặt nở nụ cười
từ ái.
Quốc
vương sắc mặt tái nhợt hỏi:
- Người
này là ai?
Trong
quần thần có người tin Phật đến trước cung kính thưa:
- Tâu
đại vương! Xin Người đừng sợ. Vị trong gương là đức
Bồ-tát đại từ bi Quán Thế Âm.
- Ðược
rồi, hãy chiếu theo ảnh trong gương tạc một bức tượng
giống vị Bồ-tát ấy! - Quốc vương hạ lệnh.
Từ
đó về sau, nhân dân nước Tăng-già-la hết lòng tín ngưỡng
Phật giáo.
Khi
sang Ấn Ðộ, pháp sư Huyền Trang trú ở chùa Na-lan-đà2 và
nghe các vị Hòa thượng trong chùa kể câu chuyện:
Sau
khi đức Phật Niết-bàn vài trăm năm, vua Bà-la-a-điệt-đa3
nước Ma-kiệt-đà4 xây dựng chùa Ðại Phật. Hôm nọ, đến
ngày lễ lạc thành chùa, vua thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng
đến cúng dường.
Lúc
mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa
thượng từ không trung bay xuống đứng trên nóc điện Phật.
Cả chúng hội ai cũng cảm thấy kỳ lạ và kinh ngạc.
- Xin
hỏi các ngài từ đâu đến? - Vua hỏi.
- Ta
từ Tây-cù-đà-ni Châu đến. - Vị lông mày trắng đáp.
- Ta
từ Ðông Thắng Thần Châu đến. - Vị kia đáp.
- Các
ngài có phải là hai vị đại A-la-hán Tân-đầu-lô và Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà
không? - Vua hỏi tiếp.
- Ðúng
vậy, chính chúng tôi đây!
- Xin
thỉnh các Ngài xuống. Không ngờ hôm nay đã cách Phật diệt
độ mấy trăm năm rồi mà Phật tử đời sau chúng con vẫn
còn có nhân duyên được thấy các Ngài.- Quốc vương vui mừng,
nét mặt rạng rỡ.
- Này
các vị, mười sáu vị La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại
thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời
sau. - Tân-đầu-lô và Ca-nặc-ca-bạt-ly-nọa-xà cười nói.
Thọ
trai xong, hai ngài bay lên trời, chớp mắt thì biến mất.
4.
TÔ-TẦN-ÐÀ
Tôn giả Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư trong mười sáu
vị La-hán. Hiện tại, ngài cùng bảy trăm vị đệ tử trú
tại Bắc-câu-lô Châu. Bắc-câu-lô Châu còn gọi là Bắc-uất-đơn-việt
nằm phía bắc núi Tu Di.
Cá
tánh Tô-tần-đà tương đối hướng nội. Thường ngày, ngài
tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình, nhưng ít thích
nói chuyện.
Mỗi
lần đức Phật có việc ra ngoài, Tô-tần-đà hiếm khi đi
theo. Ngài chỉ thích ở lại tịnh thất yên lặng đọc
sách hoặc quét dọn sân tinh xá.
Có
người phê bình cách nói chuyện của ngài không hay. Ðức
Phật biết được, Ngài an ủi:
- Này
Tô-tần-đà, cách nói chuyện hay hay không hay không liên quan
gì đến vấn đề giác ngộ, giải thoát. Mọi người chỉ
cần y theo những pháp môn ta đã giảng dạy mà thực hành
thì dù không nói câu nào cũng thành tựu đời sống thanh tịnh
giải thoát.
Có
lẽ đúng thật là ít thích nói chuyện, nên Tô-tần-đà hiếm
khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu. Ngài dành trọn thời
giờ để đọc sách, tọa thiền. Do đó, ngài chứng quả La-hán
rất sớm.
Ðương
thời, vua nước Án-đạt-la1 muốn xây một tinh xá u tịch
thoáng mát tại núi Hắc Phong2, nhưng ngặt nỗi tìm không ra
những tảng đá cực lớn kiên cố. Thấy vậy, Tô-tần-đà
liền vận thần thông chỉ trong một đêm từ bên kia sông
Hằng mang đến vô số đá lớn.
Khi
tinh xá đã xây hoàn thành thì quốc vương lại chau mày than
thở. Hóa ra quốc vương muốn dùng vàng tôn tạo một tượng
Phật lớn đặt trong tinh xá nhưng tiếc thay kho lẫm quốc
gia không có nhiều vàng đến thế.
Khi
ấy, Tô-tần-đà lấy trong đẫy ra một bình nước thuốc.
Chỉ thấy ngài nhỏ vài giọt xuống phiến đá; phiến đá
lập tức biến thành vàng.
Quốc
vương thấy vậy trong lòng rất vui, liền cho gọi một người
thợ giỏi nhất đến lấy vàng tạc tượng Phật để nhân
dân chiêm ngưỡng lễ bái.
Năm
trăm năm sau khi đức Phật diệt độ, Tô-tần-đà hiện thân
nhiều lần tại thành Bà-la-đổ-la nước Kiện-đà-la3 ở
Ấn Ðộ thời bấy giờ.
Có
lần, trên đường du hóa từ nước Ca-thấp-di-la4
đến
nước Kiện-đà-la, ngài gặp một ông Bà-la-môn đang cầm
roi đánh đập con mình. Ðứa bé bị đánh mình đầy vết
roi, la khóc rất đáng thương.
Tô-tần-đà
hỏi Bà-la-môn:
- Dạy
dỗ con cái, việc gì phải dùng tới đánh đập?
- Không
đánh không nên người được!
- Muốn
con cái nên người không phải đánh đập là thượng sách,
mà phải biết tùy theo khả năng, trình độ của con để dạy
mới đúng.
- Không
bao giờ có chuyện đó! - Bà-la-môn không đồng ý.
Tô-tần-đà lấy ví dụ để giải thích:
- Ông
chưa rõ phải không? Ông thử nghĩ xem tại sao cây khế kia
liên tiếp mấy mùa không đơm hoa kết trái và tại sao cây
táo lại ra quả èo ọt như nho? Chúng ta chỉ cần siêng năng
chăm sóc tưới nước, bón phân thì chắc chắn cây khế và
cây táo sẽ đơm hoa kết trái tốt hơn.
Bà-la-môn
nghe lời Tô-tần-đà nói có lý hỏi:
- Như
vậy, ngài bảo tôi phải dạy con như thế nào?
- Theo
tôi thấy, con ông có duyên với Phật, ông nên cho nó xuất
gia. Công đức xuất gia không thể dùng ngôn ngữ văn tự nghĩ
bàn được đâu!
Bà-la-môn
liền chấp thuận cho đứa con yêu quí của mình xuất gia.
Có
thể thấy, sau khi chứng quả, biện tài của ngài chẳng thua
kém ai! Ngay cả ông Bà-la-môn lời lẽ sắc bén kia cũng không
phải là đối thủ của ngài.
5.
NẶC-CỰ-LA
Tôn
giả Nặc-cự-la là vị La-hán thứ năm trong mười sáu vị
La-hán. Hiện tại, ngài cùng hơn tám trăm vị đệ tử trú
tại Nam Thiệm-bộ Châu.
Nam
Thiệm-bộ Châu còn gọi là Nam Diêm-phù-đề nằm trong biển
lớn phía nam núi Tu Di.
Nặc-cự-la
chứng quả rất sớm. Ðương thời, có vị ngoại đạo tên
Uất-đầu-lam-tử, công phu thiền định của ông ta rất cao,
có thể tọa thiền suốt ba tháng.
Có
lần, Uất-đầu-lam-tử nói với Nặc-cự-la:
- Tôi
không tin Phật pháp cũng không cần tu theo phương pháp của
Phật nhưng vẫn đắc được định lực, đạt đến cảnh
giới nhất tâm bất loạn.
- Ồ
không, ông sai rồi! Thiền định nhà Phật không giống cách
tọa thiền của ngoại đạo. Công phu nhà Phật vượt qua sự
quán chiếu bằng trí tuệ, nhẫn nhục thử thách, nghiêm trì
tịnh giới mới đạt được, vả lại khi đạt đến rồi
thì không bao giờ thối chuyển. Còn ông theo phương pháp tu
luyện của ngoại đạo, tuy đạt được định lực, song chỉ
là tạm thời không thể an trú vĩnh viễn trong pháp lạc thanh
tịnh giải thoát, một khi bị hoàn cảnh bên ngoài quấy nhiễu,
định lực sẽ hủy hoại, tán loạn.
- Hừ,
ông còn kém lắm! – Uất-đầu-lam-tử không tin.
Thấy
Uất-đầu-lam-tử không tin, Nặc-cự-la cũng không phản bác
lại. Ngài lặng lẽ bỏ đi. Dù sao thì sự thật sẽ chứng
minh tất cả.
Ðương
thời, vua nước Ma-kiệt-đà rất tôn kính Uất-đầu-lam-tử.
Vua cho rằng pháp thuật và công phu thiền định của ông ta
hơn hẳn Nặc-cự-la nên cứ cách mỗi nửa tháng thì tổ chức
một lần trai diên để cúng dường Uất-đầu-lam-tử. Mỗi
lần đến, ông ta đều bay từ không trung xuống, thần khí
phi thường.
Lần
nọ, vua có việc đi xa có thể phải mất ba tháng mới về.
Sắp đi, vua gọi đến một thể nữ vừa đẹp, vừa biết
hầu hạ dặn cứ cách năm ngày phải luộc rau thật ngon chiêu
đãi Uất-đầu-lam-tử.
Ðược
thể nữ tiếp đãi tận tình chu đáo, Uất-đầu-lam-tử vô
cùng thích thú, trong lòng bỗng nảy ra ý nghĩ: “Thể nữ
này vừa xinh vừa luộc rau ngon, hầu hạ lại hết lòng, nếu
như được bầu bạn luôn bên ta, điều đó há chẳng phải
là sung sướng biết chừng nào sao?!”
Do
mống khởi ý niệm này mà công phu thiền định bấy lâu của
Uất-đầu-lam-tử đều tiêu mất, không bay được nữa. Ông
ta đành đi bộ về lại chỗ mình ở.
Uất-đầu-lam-tử
kinh sợ, thấy không thể coi thường nên vội kiết già tọa
thiền để công lực khôi phục lại. Nhưng khi mới ngồi xuống
thì trong đầu hiện lên toàn giọng nói và hình bóng của
thể nữ, ông ta không thể nhập định được.
Uất-đầu-lam-tử
chạy đến rừng ngồi thì tiếng kêu rú của chim thú vang
lên trong tai. Ông ta chạy đến bên sông thì lại nghe tiếng
huyên náo của các loài cá, ba ba dưới nước. Không nhập
định được, ông ta căm ghét bọn chúng, giận dữ lập một
ác nguyện: “Ta nguyện đời sau đầu thai làm một quái vật,
trên trời quắp hết các loài chim, dưới đất vồ chụp hết
dã thú, trong nước túm bắt tất cả cá, ba ba.”
Vì
khởi ác niệm như thế nên toàn bộ công phu thiền định
trước kia của ông ta đều tiêu mất. Ðáng thương hơn là
sau khi chết, ông ta bị đọa vào địa ngục thọ khổ.
Nặc-cự-la
dùng thiên nhãn thông thấy Uất-đầu-lam-tử đọa địa ngục.
Ngài than, rồi nói với vua:
- Ðó
chính là chỗ pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những
phiền não cơ bản của con người, ông ta chưa diệt trừ hết.
- Ngài
nói sao? - Vua hỏi.
- Tôi
ví dụ phiền não giống như cỏ độc, chúng ta nhổ cỏ phải
nhổ tận gốc, nếu chỉ dùng lưỡi liềm cắt thì không lâu
nó sẽ mọc dài ra lại.
- À,
Ngài nói có lý.
Lúc
này, vua mới hiểu Phật pháp chân chánh đáng quý và phát
khởi niềm tôn kính Tôn giả Nặc-cự-la vô hạn. Từ đó,
vua dốc lòng ủng hộ hoằng dương Phật giáo.
01
1
Nước Câu-thiểm-di: Tên một nước xưa ở Trung Ấn Ðộ,
rộng hơn sáu ngàn dặm. Vị trí toàn nước hiện nay nằm
khoảng hơn 40 km về phía Tây bắc Allahabad.
2
Bánh cảo: Còn gọi bánh xếp, bánh hấp (Hán: Giảo tử, E:
Dumplings). Ðây là món ăn thường dùng của người miền bắc
Trung Quốc. Cách làm là cán bột mì thành hình tròn làm da,
cho thịt, rau... làm nhân, xong xếp lại thành nửa hình tròn.
3
Pháp sư Ðạo An: Ngài người đất Phù Liễu, châu Thường
Sơn, sinh năm Vĩnh Gia thứ sáu nhà Ðông Tấn (312). Có thuyết
nói ngài sinh năm 314 trong một gia đình theo nghiệp Nho. Ngài
viên tịch năm Kiến Nguyên thứ 21 đời Tần thọ 72 tuổi.
03
1
Nước Tăng Già La: Tên một nước thời xưa thuộc Trung Quốc,
còn gọi là nước Sư Tử, đảo Lăng Gia; ngày nay là
nước Tích Lan.
2
Chùa Na-lan-đà: Tên một ngôi chùa lớn ở nước Ma-kiệt-đà
thuộc Trung Ấn Ðộ, nằm cách về phía đông chùa Ðại Giác
thuộc Bồ đề đạo tràng bảy trạm đường do vua Ðế Nhật
xây sau ngày đức Phật Niết-bàn.
3
Vua Bà-la-a-điệt-đa: Theo Tây vực ký quyển 9 thì đây là
vị vua nước Ma-kiệt-đà ở Ấn Ðộ thâm tín Phật pháp,
xây dựng rất nhiều chùa tháp. Nhưng theo Bà Tẩu Ban Ðậu
pháp sư truyện thì đây là vị vua thống trị nước A-du-xà
ở Ấn Ðộ thời ngài Thế Thân. Về cuộc đời vua, theo học
giả V.A.Smith thì đây là vua Sa-mỗ-đà-la-cấp-đa thuộc dòng
vua Cấp-đa.
4
Nước Ma-kiệt-đà: Là một trong mười sáu nước lớn và
là trung tâm văn hóa chính trị thời đức Phật, vị trí hiện
nay là quận Patna, thủ phủ của bang Behar phía đông bắc bộ
Ấn Ðộ.
04
1
Nước Án-đạt-la: còn gọi là vương triều Án-đà-la, là
vương triều thống lĩnh phía nam Ấn Ðộ sau khi vua A-dục
băng hà. Vị vua đầu tiên là Thi-ma-ca, họ là Bà-đa-bà-ha.
Vương triều này có cống hiến rất lớn trong việc chấn
hưng Phật giáo Ðại thừa. Theo Tây Vực ký, quyển 9 thì thủ
phủ là thành Bình-kỳ-la. Ngài Trần Na làm ra bộ Nhân minh
luận chính là ở nước này.
2
Núi Hắc Phong: một ngọn núi nằm ở phía nam Ấn Ðộ.
3
Kiện-đà-la: Tên một nước xưa ở Ấn Ðộ, vị trí hiện
nay thuộc vùng hạ lưu sông Khách-bố-nhĩ (Kabul) phía tây bắc
Ấn Ðộ, phía bắc lưu vực Ngũ hà. Theo Tây Vực ký, quyển
2 thì nước này chiều ngang hơn ngàn dặm, chiều dài hơn tám
trăm dặm, phía đông giáp sông Tín Ðộ, kinh đô là Bố-lộ-sa-bố
tức vùng Bạch-sa-ngõa (Peshawar) thuộc vùng tây bắc Ấn ngày
nay.
4
Nước Ca-thấp-di-la: Nay là nước Kashmir, nằm phía tây bắc
Ấn Ðộ. Ðời Hán gọi là nước Kế Tân, đời Ðường gọi
là Ca-thấp-di-la, thủ đô là Srinagar hiện nay do Ấn Ðộ quản
lý.