18.
Ba Vô Tánh
19.
Năm Hạnh Vị Tu Chứng
20.
Tư Lương Vị
21.
Gia Hạnh Vị
22.
Thông Đạt Vị
XVIII.
BA VÔ TÁNH
Nếu
có ba tánh, tại sao đức Thế Tôn nói: Hết thảy pháp đều
không tự tánh?"
Tụng
rằng:
Chính
nương ba tánh này,
Lập
ba không tánh kia.
Nên
Phật "mật ý" nói:
Hết
thảy pháp không tánh"
Trước
là tướng không tánh,
Kế,
không tự nhiên tánh.
Sau,
do lìa tánh trước,
Là
tánh chấp ngã pháp.
Ðây
thắng nghĩa các pháp,
Cũng
tức là chơn như.
Vì
thường như tánh nó,
Tức
thực tánh Duy thức.
Luận
rằng: Chính nương nơi ba tánh trước đây mà lập ra ba không
tánh sau này, đó là Tướng không tánh, Sanh không tánh, Thắng
nghĩa không tánh. Cho nên Phật "mật ý" nói "hết thảy pháp
đều không có tự tánh", chứ chẳng phải nói "tánh" hoàn
toàn không có.
Trong
bài Tụng nói "mật ý" là biểu thị lời nói ấy chẳng phải
với nghĩa rốt ráo. Nghĩa là hai tánh Y tha và Viên thành sau
tuy có thể chẳng phải không, nhưng có kẻ ngu đối với hai
tánh đó vọng chấp thêm trên nó tánh ngã và tánh pháp thật
có. Chính sự vọng chấp ấy gọi là Biến kế sở chấp.
Vì
để trừ cái vọng chấp ấy mà đức Thế Tôn đối với
cái "có" của Y tha và Viên thành, và cái "không" của Biến
kế, Ngài nói chung là "không tánh".
- Thế
nào là nương ba tánh này mà lập ra ba không tánh kia?
- Ðó
là nương tánh Biến kế sở chấp đầu mà lập ra "Tướng
không tánh"; vì do thể tướng của nó hoàn toàn chẳng có,
giống như hoa đốm giữa hư không.
Nương
tánh Y tha thứ hai mà lập ra "Sanh không tánh". Vì Y tha khởi
là nương các duyên mà sanh ra, giống như sự huyễn, không
phải như vọng tình chấp có tánh tự nhiên, nên giả sanh
nói "Sanh không tánh", chứ chẳng phải nói tánh Y tha hoàn toàn
không.
Nương
nơi tánh Viên thành sau hết mà lập ra "Thắng nghĩa không tánh".
Nghĩa là chính thắng nghĩa đó vì do xa lìa tánh Biến kế
sở chấp về ngã pháp trước đó mà giả nói là "Thắng nghĩa
không tánh", chứ không phải "tánh thắng nghĩa" hoàn toàn không.
Ví như thái hư không, tuy biến khắp các sắc, nhưng lại được
hiển bày bởi các sắc không tánh.
Tuy
Y tha khởi chẳng phải là thắng nghĩa, cũng được gọi là
Thắng nghĩa không tánh, song vì sợ lạm đồng với tánh Y
tha thứ hai cho nên ở đây không nói (không nói Y tha là thắng
nghĩa không tánh mà chỉ nói nương Y tha lập "Sanh không tánh").
Tánh
Viên thành thật này chính là nghĩa thù thắng của các pháp,
là thắng nghĩa đế của hết thảy pháp.
Nhưng
thắng nghĩa đế lược có bốn thứ:
1.
Thế gian thắng nghĩa, đó là năm uẩn, mười hai xứ, mười
tám giới v.v...
2.
Ðạo lý thắng nghĩa, đó là bốn Diệu đế.
3.
Chứng đắc thắng nghĩa, đó là chơn như được hiển lộ
hai không.
4.
Thắng nghĩa thắng nghĩa, đó là pháp giới nhất chơn.
Chữ
"Thắng" nghĩa được nói ở trong bài tụng là chỉ cho Thắng
nghĩa thứ tư, vì đây là nghĩa lý của đạo phẩm tối thắng
tu chứng, và để giản biệt khác với ba Thắng nghĩa đầu
nên tụng nói lời đó.
Thắng
nghĩa này của các pháp cũng chính là chơn như. Chơn là chơn
thật, biểu thị chẳng phải hư dối; như là như thường,
biểu thị không biến dịch. Nghĩa là tánh chơn thật nơi tất
cả ngôi vị đều thường như tánh nó (tùy duyên bất biến)
cho nên gọi là chơn như. Chính là nghĩa lặng không hư vọng.
Trong
bài tụng nói chữ "cũng", là để hiển thị thắng nghĩa,
còn có nhiều tên như Pháp giới, Thật tế v.v... như trong
các bộ luận tùy theo nghĩa giải rộng.
Thắng
nghĩa này chính là thực tánh Duy thức. Tánh Duy thức lược
có hai thứ:
- Một
là tánh hư vọng, tức tánh Biến kế sở chấp.
- Hai
là tánh chơn thật, tức là tánh Viên thành thật. Vì để
giản biệt khác với hư vọng cho nên nói Thật tánh.
Lại
có hai tánh:
1.
Thế tục, tức là Y tha khởi.
2.
Thắng nghĩa, tức Viên thành thật. Vì để giản biệt khác
vói thế tục, cho nên nói Thật tánh.
Ba
bài tụng trên chung lại hiển thị rằng, trong các Khế kinh
nói chữ "vô tánh" chẳng phải là nói với nghĩa thật rốt
ráo. Những người có trí không nên dựa theo đó bác luôn
rằng hết thảy pháp đều không tự tánh.
XIX.
NĂM HẠNH VỊ TU CHỨNG
- Ðối
với Duy thức tướng, Duy thức tánh đã được thành lập
như vậy. Ai? Qua bao nhiêu vị thứ? Như thế nào được ngộ
nhập?
- Ai
có đủ hai chứng tánh Ðại thừa, trải qua năm vị thứ lần
lần ngộ nhập.
Những
gì là hai thứ chủng tánh Ðại thừa? Ðó là:
a.
Chủng tánh vốn tánh có sẵn, tức là pháp nhân vô lậu, pháp
nhĩ sẵn có, từ vô thủy lại, y phụ nơi bản thức.
b.
Chủng tánh do huân tập thành, tức do nghe Chánh pháp từ pháp
giới bình đẳng lưu xuất, nghe rồi suy nghĩ, suy nghĩ rồi
tụ tập, huân tập thành chủng tánh.
Phải
có đủ hai chủng tánh Ðại thừa đó mới có thể dần dần
trải qua năm vị thứ ngộ nhập Duy thức.
- Sao
gọi là năm vị thứ ngộ nhập Duy thức?
1.
Tư lương vị - Tu tập thuện theo giải thoát phần (Niết bàn)
của Ðại thừa.
2.
Gia hạnh vị - Tu tập thuận theo quyết trạch phần (kiến
đạo) của Ðại thừa.
3.
Thông đạt vị - Là các Bồ tát trụ địa vị thấy đạo.
4.
Tu tập vị - Là các Bồ tát trụ ở địa vị tu đạo.
5.
Cứu kính vị - Là trụ địa vị Vô thượng chắnh đẳng
Bồ đề.
- Thế
nào là dần dần ngộ nhập Duy thức?
Ðó
là các Bồ tát đối với lý Duy thức tướng, tánh; ở trong
Tư lương vị, tin hiểu sâu xa; ở trong Gia hạnh vị, dần
dần khắc phục diệt trừ sở thủ, năng thủ, nhờ đó dần
phát sanh trí chơn kiến đạo; ở trong Thông đạt vị, thông
đạt đúng như thật lý Duy thức tướng, tánh; ở trong Tu
tập vị, thì đúng như lý đã thông đạt, nhiều lần tu tập
khắc phục dứt trừ các chướng; đến Cứu kính vị,
thì
ra khỏi mọi chướng, được tròn sáng, tận đời vị lai
giáo hóa hữu tình, khiến học cũng ngộ nhập được Duy thức
tướng, tánh.
XX.
TƯ LƯƠNG VỊ
- Thứ
nhất, Tư lương vị, tướng nó như thế nào?
Tụng
rằng:
Cho
đến chưa khởi thức,
Cấu
trụ tánh Duy thức,
Ðối
hai thủ tùy miên,
Còn
chưa thể phục diệt.
Luận
rằng: Từ khi phát tâm đại Bồ đề thâm sâu vững chắc,
cho đến khi chưa khởi lên thức thuận theo phần quyết trạch
của Gia hạnh vị, một mặt chuyên cầu trụ tánh chơn thắng
nghĩa của Duy thức, ngang trong giai đoạn ấy, đều thuộc
vào Tư lương vị. Vì tâm hướng tới Vô thượng chánh đẳng
Bồ đề, mà tu tập các thứ Tư lương thù thắng và vì chúng
hữu tình mà siêng năng cầu giải thoát, do đó cũng gọi là
thuận theo phần giải thoát.
Bồ
tát ở địa vị này còn dựa vào bốn lực thù thắng là
nội nhân, thiện hữu, tác ý và tư lương, nên đối với
nghĩa lý Duy thức tuy có tin hiểu sâu sắc, nhưng chưa có thể
hiểu rõ cả năng thủ, sở thủ đều không. Vì phần nhiều
còn trụ ở cửa ngoài (sự tướng) mà tu hạnh Bồ đề, cho
nên đối với tùy miên của hai thủ còn chưa có công sức
khắc phục, trừ diệt khiến cho nó không khởi lên hai thủ
hiện hành.
Trong
bài Tụng nói "hai thủ" chính là nói hai thứ chấp thủ về
hai thủ, tức chấp thủ Kiến phần năng thủ và chấp thủ
Tướng phần sở thủ. Tập khí của hai thủ tức gọi là
Tùy miên của hai thủ. Nó theo đuổi loài hữu tình và ẩn
ngủ trong Tạng thức, hoặc theo chúng hữu tình làm tăng thêm
mê lầm tội lỗi, nên gọi là Tùy miên. Ðó cũng chính là
chủng tử của sở tri chướng và phiền não chướng.
Phiền
não chướng là chấp thật ngã Tát ca gia kiến (thân ngã kiến)
theo Biến kế sở chấp. Kiến này đứng đầu của 128 Căn
bản phiền não và các Tùy phiền não từ nó tương tợ lưu
xuất ra. Chúng đều làm rối loạn bức não thân tâm loài
hữu tình và làm chướng ngại Niết bàn, cho nên gọi là Phiền
não chướng.
Sở
tri chướng là chấp thật pháp Tát ca gia kiến (pháp ngã kiến).
Kiến này đứng đầu của kiến, nghi, vô minh, ái, nhuế, mạn
v.v... chúng che lấp cảnh sở tri tánh không điên đảo, và
làm chướng ngại Bồ đề, cho nên gọi là Sở tri chướng.
Sở tri chướng này quyết định không tương ưng với thức
Dị thục thứ tám, vì thức này quá vi tế liệt nhược; vì
thức này không tương ưng với vô minh và tuệ (mà sở tri
chướng thì là vô minh là liệt tuệ); và vì thức này cũng
khởi với trí phẩm pháp không.
Trong
7 chuyển thức, thì tùy sự thích hợp mà có sở tri chướng
này hoặc ít hoặc nhiều, giống như Phiền não chướng.
Năm
thức nhãn, nhĩ, v.v... vì không có tánh phân biệt, nên không
tương ưng với kiến, nghi v.v... của pháp chấp. Ngoài kiến,
nghi, còn các phiền não khác, do ý lực dẫn khởi, nơi năm
thức đều có.
Sở
tri chướng này chỉ tương ưng với tâm bất thiện và vô
ký. Luận nói: "Vô minh (Sở tri chướng) chỉ có tánh bất
thiện và vô ký", vì si (bất thiện) và vô si (thiện) không
tương ưng nhau.
Trong
Phiền não chướng chắc chắn có sở tri chướng, vì phiền
não chướng nhất định dùng Sở tri chướng làm chỗ nương.
Hai
chướng thể không khác nhau mà dụng thì có khác. Cho nên hai
thứ tùy miên này tùy theo năng lực của Thánh đạo hơn hoặc
kém mà dứt trừ nó có trước, có sau.
Trong
4 thứ vô phú vô ký (là oai nghi, công xảo, biến hóa, Dị
thục), sở tri chướng này thuộc Dị thục sanh. Còn các thứ
oai nghi vô ký kia thể dụng bạc nhược không thể chấp lấp
cảnh sở tri, làm chướng ngại Bồ đề. Ðây gọi là Sở
tri chướng là vô phú, là đối với Nhị thừa mà nói, nếu
đối với Bồ tát thì Sở tri chướng cũng là hữu phú.
- Nếu
trong Sở tri chướng gồm có kiến, nghi v.v... thế tại sao
trong Khế kinh nói chủng tử Sở tri chướng là vô minh trụ
địa?
- Vì
trong Sở tri chướng thì vô minh tăng thạnh hơn, nên gọi chung
là vô minh, chứ không phải không có kiến, nghi, như trong loại
chủng tử Phiền não chướng nếu thuộc ác kiến thì lập
làm kiến ái trụ địa, nếu thuộc về Dục, Sắc, Vô sắc
giới thì lập làm dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa,
hữu ái trụ địa, chứ đâu phải trong các trụ địa đó
không có mạn, vô minh v.v...
Hai
chướng như vậy, nếu là phân biệt khởi, thì nhiếp về
kiến đạo đoạn; nếu là nhậm vận (câu sanh) khởi thì nhiếp
về tu đạo đoạn.
Nhị
thừa chỉ đoạn được phiền não chướng, Bồ tát mới đoạn
được cả hai chướng. Nhưng vĩnh viễn đoạn được chủng
tử hai chướng, thì chỉ có Thánh đạo ở mười địa mới
làm được. Còn khắc phục hiện hành hai chướng, thì cả
hữu lậu đạo trước khi đăng địa cũng làm được.
Bồ
tát trụ trong Tư lương vị này, tuy khắc phục được hai
chướng hiện hành phần thô, nhưng đối với hai chướng hiện
hành phần tế và hai tùy miên của hai chướng đó, thì vì
sức chỉ quán còn yếu kém nên chưa thể dẹp dứt được.
Ở
Tư lương vị này tuy chưa chứng được tánh chơn như Duy thức,
nhưng nương vào sức hiểu biết thù thắng, tu các thắng hạnh
(Lục độ), nên nó cũng được nhiếp vào địa vị giải
hạnh.
- Thắng
hạnh tu ở đây, tướng nó như thế nào?
-Lược
có hai thứ là phước và trí. Trong các thắng hạnh nều do
tuệ làm tánh thì gọi là trí, ngoài ra thì gọi là phước.
Như sáu Ba la mật đa, tướng chung thì đều gồm cả phước
và trí; theo tướng riêng thì năm Ba la mật đầu là phước
đức; Ba la mật thứ sáu là trí tuệ. Hoặc Ba la mật đầu
chỉ là phước đức; một Ba la mật chót là trí tuệ; hai
Ba la mật tinh tấn, thiền định thì thông cả phước và trí.
- Lại
có hai thứ, là tư lợi và lợi tha. Khi tu tập thắng hạnh,
tùy theo sức ý lạc mà hết thảy thắng hạnh thông cả tư
lợi, lợi tha.
Nói
theo tướng sai biệt, thì sáu Ba la mật và các pháp Bồ đề
phần đều nhiếp về hạnh tự lợi; còn bốn nhiếp sự,
bốn vô lượng tâm v.v... đều nhiếp về hạnh lợi tha. Những
hạnh tu như thế nhiều vô biên, đều là thắng hạnh được
tu tập ở Tư lương vị này.
Ở
Tư lương vị này tuy chưa dẹp trừ được hai chướng, khi
tu thắng hạnh, dầu có ba sự thối thất, nhưng có thể lấy
ba sự để tôi luyện tâm mình, khiến được dõng mãnh không
bị thối thất việc tu chứng. Ba sự đó là:
1.
Nghe nói Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rộng lớn sâu xa,
tâm liền thối khuất, bèn dẫn việc của người khác đã
tu, đã chứng đại Bồ đề, để tôi luyện tâm mình được
dõng mãnh không còn thối thất.
2.
Nghe nói bố thí Ba la mật v.v... rất khó thực hành, tâm liền
thối thất, bền thức tỉnh ý ưa thích của mình có thể
tu hạnh bố thí v.v... để tôi luyện tâm mình, khiến dõng
mãnh không còn thối thất.
3.
Nghe nói quả chuyển y viên mãn của các đức Phật rất khó
chứng đạt, tâm liền thối khuất, bèn dẫn điều thiện
thô thiển của người đem so với nhân tu thù diện của mình
để tôi luyện tâm mình, khiến dõng mãnh không thối khuất.
Do
ba sự đó mà tôi luyện được tâm mình trong việc tu các
thắng hạnh.
XXI.
GIA HẠNH VỊ
- Thứ
hai, Gia hạnh vị, tướng nó như thế nào?
Tụng
rằng:
Hiện
tiền lập chút vật,
Cho
là tánh Duy thức.
Vì
còn có sở đắc,
Chưa
thực trụ Duy thức.
Luận
rằng: Bồ tát trước hết ở vô số kiếp đầu, khéo dự
bị lương phước đức và trí tuệ, việc thuận theo phần
giải thoát đã được viên mãn, lại còn muốn tiến lên để
vào Kiến đạo, trụ tánh Duy thức, nên tiếp tu bốn Gia hạnh,
khắc phục diệt trừ hai thủ, đó là tu Noãn, Ðảnh, Nhẫn,
Thế đệ nhất. Bốn thứ này gọi chung là phần quyết trạch.
Vì thuận hướng đến phần quyết trạch chân thật, và vì
gần đến Kiến đạo, cho nên lập tên Gia hạnh, chứ không
phải ở Tư lương vị trước đó không có Gia hạnh.
Bốn
pháp Noãn, Ðảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất là nương bốn tầm
tư và bốn như thật trí, theo vị thứ trước sau mà lập.
Bốn
tầm tư (suy tầm, tư sát) là tầm tư danh, tầm tư nghĩa, tầm
tư tự tánh, tầm tư sai biệt. Bốn thứ đó đều là giả
có không thật.
Như
thật biết khắp bốn thứ danh, nghĩa v.v... đó, lìa thức
không có và thức chấp thủ lìa bốn tướng đó cũng không
có (sở thủ năng đều không); đó gọi là trí như thật.
Danh và nghĩa tướng khác nhau cho nên tầm tư riêng; còn tự
tánh và sai biệt của danh và nghĩa tướng đồng nhau, nên
hợp lại mà tầm tư.
- Nương
minh đắc định, phát sanh tầm tư bậc hạ, quán thấy không
có tướng sở thủ, lập làm "Noãn vị". Nghĩa là ở địa
vị này quán bốn pháp sở thủ là danh, nghĩa, tự tánh, sai
biệt, đều do tự tâm biến hiện, giả thi thiết nói là có,
nhưng kỳ thật không có gì nắm bắt được. Ban đầu đạt
được hành tướng sáng trước tiên của mặt trời tuệ,
nên đặc tên là "minh đắc". Tức là đạt được tướng
ban đầu của lửa đạo (tướng nóng) nên cũng gọi là Noãn.
- Nương
minh tăng định, phát khởi tầm tư bậc thượng, quán thấy
không có sở thủ, lập làm "Ðảnh vị". Nghĩa là ở địa
vị này vẫn quán bốn pháp danh, nghĩa, tự tánh, sai biệt
đều do tự tâm hiện biến, giả thi thiết cho là có, nhưng
kỳ thật không có gì nắm bắt được. Tướng sáng của lửa
tuệ sáng dần lên, nên gọi là "Minh" tăng. Tột đỉnh của
địa vị tầm tư, nên gọi là Ðảnh (đầu).
- Nương
Ấn thuận định, phát khởi trí như thật bậc hạ, đối
với "không sở thủ" quyết định ấn nhập giữ gìn, và đối
trong "không năng thủ" cũng tùy thuận vui nhẫn. Ðã không có
cảnh thật lìa thức năng thủ, thì đâu có thức thật lìa
khỏi cảnh sở thủ. Sở thủ, năng thủ, cho do đối đãi
mà có. Khi Ấn nhập tùy thuận, chấp nhận, chung gọi là nhẫn.
Ấn nhập "không sở thủ" trước và tùy thuận "không năng
thủ" sau, cho nên gọi là "Ấn thuận", nhẫn chịu cảnh và
thức đều không, nên cũng gọi là Nhẫn.
- Nương
Vô gián định, phát khởi trí như thật bậc thượng, ấn
nhập cả hai thủ đều không, lập làm pháp "Thế đệ nhất".
Nghĩa là nhẫn bậc thượng trước kia chỉ ấn nhập "năng
thủ không", nay pháp thế đệ nhất này cả hai không đều
ấn nhập. Từ đây liên tục không gián đoạn, thì chắc chắn
nhập vào Kiến đạo, nên gọi là "Vô gián". Ở trong pháp
của loài dị sanh thì đến đây là pháp tối thắng hơn cả,
nên gọi là Thế đệ nhất.
Như
thế Noãn và Ðảnh là nương thức năng thủ mà quán cảnh
sở thủ là không; đến khi khởi lên nhẫn bậc hạ thì ấn
chứng tướng không của cảnh; khi chuyển vị sanh trung nhẫn
thì đối với thức năng thủ cũng thấy nó là không như cảnh,
thuận vui nhẫn có thể theo đó; đến khi nhẫn bậc thượng
khởi lên thì ấn chứng năng thủ không. Lên đến Thế đệ
nhất pháp thì Ấn chứng cả năng thủ, sở thủ đều không.
Tuy
nhiên, ở địa vị trên còn thấy có tướng "không" để chứng,
nên chưa chứng thực. Vì vậy nói Bồ tát ở địa vị này,
hiện tiền còn lập ra chút vật mà cho đó là tánh thắng
nghĩa Duy thức, là do chưa trừ được hai tướng không và
có, và còn mang theo tướng để quán tâm, còn có sở đắc,
cho nên chẳng phải thật an trụ chơn Duy thức; khi tướng
kia diệt rồi, mới thật an trụ. Nương theo nghĩa đó, nên
có tụng rằng:
Bồ
tát ở trong định,
Quán
ảnh chỉ là tâm,
Tướng
nghĩa đã diệt trừ,
Thẩm
quán chỉ tự tưởng.
Như
vậy trụ nội tâm,
Biết
"sở thủ" chẳng có.
Biết
"năng thủ" cũng không,
Sau
chứng vô sở đắc.
Ở
Gia hạnh vị này chưa khiến trừ được sự ràng buộc của
tướng có, tướng không, nên đối với sự ràng buộc của
hai thô trọng chướng cũng chưa thể dứt. Chỉ có thể dẹp
trừ hai chướng phân biệt hiện hành, vì hai chướng phân
biệt hiện hành trái với Kiến đạo; còn hai chướng câu
sanh hiện hành và hai chướng tùy miên, vì tâm còn hữu lậu,
quán còn sở đắc, có phân biệt, cho nên chưa hoàn toàn dẹp
trừ, chưa hoàn toàn dứt hết.
Bồ
tát ở địa vị này, đối với an lập đế (4 đế) và phi
an lập đế (nhị không chơn như) đều học tập quán sát,
để dẫn phát sanh hai kiến là chơn kiến đạo và tướng
kiến đạo trong đương lai, và để dẹp hai chướng phân biệt.
Phi an lập đế là cảnh sở quán chính của Bồ đề, chứ
không phải như Nhị thừa chỉ quán an lập đế.
Bồ
tát phát khởi các thiện căn Noãn, Ðảnh v.v... lúc tu phương
tiện, tuy thông cả các cõi Thiền đều phát được, nhưng
phải nương thiền thứ tư mới được viên mãn, vì nương
nơi chỗ tối thắng mới nhập vào Kiến đạo. Và chỉ nương
thân người ở cõi Dục mới phát khởi thiện căn này; còn
các cõi khác thì tâm tuệ và tâm nhàm chán còn kém, khó phát
sanh được.
Ðịa
vị Gia hạnh này cũng nhiếp thuộc giải hạnh địa, vì chưa
chứng được chơn thắng nghĩa của Duy thức.
XXII.
THÔNG ÐẠT VỊ
- Thứ
ba là Thông đạt vị, tướng nó như thế nào?
Tụng
rằng:
Nếu
khi đối sở duyên
Trí
đều không sở đắc,
Bấy
giờ trụ Duy thức,
Vì
lìa hai tướng thủ.
Luận
rằng: Nếu khi Bồ tát đối với cảnh sở duyên, trí không
phân biệt, hoàn toàn không sở đắc, không chấp thủ các
tướng hý luận, bấy giờ mới gọi là thật an trụ tánh
chơn thắng nghĩa Duy thức, tức là chứng Chơn như. Trí và
Chơn như bình đẳng, đều lìa cả tướng năng thủ và sở
thủ, vì năng thủ, sở thủ đều là tướng hý luận do tâm
phân biệt có sở đắc hiện ra.
- Có
người cho rằng ở trí này không có hai phần Kiến và Tướng,
vì nói không có tướng sở thủ, năng thủ.
- Có
người cho rằng ở trí này có đủ hai phần tướng và kiến,
vì trí có mang theo tướng chơn như kia mà khởi, gọi đó là
duyên tướng kia. Nếu không cần có tướng chơn như kia mà
cũng gọi là duyên tướng chơn như kia, thì lẽ ra trí duyên
sắc cũng là trí duyên thanh, còn nếu không có kiến phần
thì không thể duyên được, làm sao có thể nói là trí duyên
chơn như? Không thể cho rằng tánh chơn như không phải
kiến phần mà cũng gọi là năng duyên. Cho nên, nên chấp nhận
trí này chắc chắn có kiến phần.
- Có
người cho rằng ở trí này kiến phần thì có, tướng phần
thì không, vì nói không có tướng khả thủ, ấy là không
chấp thủ tướng. Tuy có kiến phần mà không phân biệt,
nên nói chẳng phải năng thủ, chứ không phải năng thủ hoàn
toàn không có. Tuy không có tướng phần nhưng có thể nói
trí này có mang theo tướng chơn như mà khởi, không phải lìa
chơn như. Như khi tự chứng phần duyên kiến phần, đó
là không biến ra tướng phần mà duyên, đây cũng vậy. Biến
ra tướng phần mà duyên, là không phải thân chứng. Như trí
hậu đắc thì nó có phân biệt. Cho nên, nên chấp nhận ở
trí căn bản chứng chơn như này có kiến phần, không
có tướng phần.
Tu
Gia hạnh liên tục không gián đoạn, đến khi trí không phân
biệt này phát sanh thì thể hội chơn như, gọi đó là địa
vị thông đạt. Vì mới bắt đầu chiếu rõ chơn lý, nên
cũng gọi là Kiến đạo.
- Nhưng
Kiến đạo này lược có hai thứ:
- Một
là chơn kiến đạo. Chính là trí không phân biệt nói ở đây,
nó thực chứng chơn lý do hai không hiển lộ, thực đoạn
được tùy miên chủng tử của hai chướng phân biệt. Tuy
tâm trải qua nhiều sát na việc mới rốt ráo, nhưng vì trước
sau tương tợ nhau, nên gọi chung là nhất tâm.
- Có
người cho rằng trong chơn kiến đạo này, hai không dần dần
chứng, hai chướng dần dần đọan, vì có cạn sâu thô tế
khác nhau.
- Có
người cho rằng trong chơn kiến đạo này, hai không chứng
ngay một lần, hai chướng dứt ngay một lần, vì do năng lực
ý lạc, có sức kham năng làm như vậy.
- Hai
là tướng kiến đạo. Ðây lại có hai:
1.
Quán phi an lập đế có ba bậc tâm:
a.
Trí bên trong khiến trừ cái bệnh lấy hữu tình giả làm
duyên, nó có thể dứt được phần mềm của loại phân biệt
tùy miên.
b.
Trí bên trong khiến trừ cái bệnh lấy các pháp giả làm duyên,
nó có thể dứt được phần vừa của loại phân biệt tùy
miên.
c.
Trí khắp khiến trừ tất cả bệnh lấy hữu tình và các
pháp giả làm duyên, nó có thể dứt hết thảy phân biệt
tùy miên.
Hai
trường hợp trước gọi là "pháp trí", vì duyên nội thân
và nội pháp riêng. Trưòng hợp thứ ba gọi là "loại trí"
vì hiệp chung lại mà duyên.
Ðây
là bắt chước chơn kiến đạo, trong đó kiến phần duyên
"hai không" mà tự dứt được hai chướng thông qua vô gián
đạo, giải thoát đạo; duyên riêng và duyên chung mà kiến
lập gọi là tướng kiến đạo.
- Có
người cho rằng cả ba trí trên đều là chơn kiến đạo,
vì tướng kiến đạo thì duyên Tứ đế, chứ không quán phi
an lập đế.
- Có
người cho rằng ba trí này là tướng kiến đạo, vì chơn
kiến đạo thì không duyên từng cảnh riêng.
2.
Duyên an lập đế (Tứ đế) có mười sáu tâm. Ðây lại có
hai:
a.
Nương theo pháp quán sở thủ, năng thủ, mà lập riêng pháp
và loại gồm có mười sáu tâm. Nghĩa là quán Khổ đế có
bốn tâm:
- Khổ
pháp trí nhẫn, tức quán tánh chơn như của Khổ đế trong
ba cõi, chính thức đoạn được 28 thứ hoặc phân biệt tùy
miên khi thấy được Khổ đế của ba cõi.
- Khổ
pháp trí, tức là khổ pháp trí nhẫn kia tiếp tục không gián
đoạn quán tánh chơn như của Khổ đế như trước, mà chứng
được giải thoát khỏi phiền não đã đoạn trước đó.
- Khổ
loại trí nhẫn, tức là khổ pháp trí trước đó tiếp tục
không gián đoạn mà phát sanh tuệ vô lậu, đối với pháp
nhẫn và pháp trí đều riêng chứng bên trong. Những Thánh
pháp tiếp sau pháp nhẫn, pháp trí này đều thuộc vào loại
đây.
- Khổ
loại trí, tức khổ loại trí nhẫn kia không gián đoạn mà
phát sanh trí vô lậu, thẩm định ấn khả đối với loại
trí nhẫn trước đó.
Như
với Khổ đế có bốn tâm, nên biết đối với Tập đế,
Diệt đế, Ðạo đế cũng đều có bốn tâm như vậy.
Trong
mười sáu tâm này, tám thứ thuộc pháp nhẫn, pháp trí thì
quán chơn như, còn tám thứ thuộc loại nhẫn, loại trí thì
quán chánh trí. Ðây chính là bắt chước đạo vô gián, đạo
giải thoát trong chơn kiến đạo có sai khác về kiến
phần và tự chứng phần mà kiến lập, gọi là tướng kiến
đạo.
b.
Nương pháp quán cảnh Tứ đế ở hạ giới, thượng giới
mà riêng lập mười sáu tâm gồm tám pháp, tám loại. Nghĩa
là quán Tứ đế ở cõi hiện tiền (cõi Dục) và không hiện
tiền (cõi Sắc, Vô sắc) mỗi đế đều có hai tâm là hiện
quán nhẫn (vô gián đạo) và hiện quán trí (giải thoát đạo)
theo chỗ thích hợp, bắt chước kiến phần quán Tứ
đế thông qua vô gián đạo, giải thoát đạo trong chơn kiến
đạo, dứt được 112 thứ hoặc phân biệt tùy miên thuộc
loại kiến đạo đoạn, đó gọi là Tướng kiến đạo.
Nếu
nương vào Thánh giáo đạo lý đã quảng bố mà nói Tướng
kiến đạo có chín thứ tâm. Ðây chính là nương nơi (tướng
kiến đạo duyên an lập đế) trước kia có hai lần mười
sáu tâm, lập riêng thành hai thứ Chỉ và Quán, tức pháp và
loại, đều có nhẫn và trí. Pháp có bốn cách quán, loại
có bốn cách quán thành tám tâm, trong đó có "Chỉ" tương
ưng, chung lại làm một tâm thành chín tâm. Tuy trong kiến đạo
có đủ cả Chỉ và Quán, nhưng đối với nghĩa thấy đạo
thì quán thuận hơn chứ không phải chỉ. Cho nên ở đây Quán
và Chỉ khi khai ra, khi hiệp lại không đồng. Do đó chín tâm
này gọi là Tướng kiến đạo.
Các
Tướng kiến đạo đều nương Chơn kiến đạo mà giả nói.
nó từ Thế đệ nhất pháp không gián đoạn khởi sanh và
giả nói nó là dứt tùy miên hai chướng, chứ không phải
thực như vậy. Vì sau Chơn kiến đạo mới sanh Tướng kiến
đạo, sau phi an lập đế mới khởi an lập đế, mà tùy miên
của hai chướng phân biệt thì ở Chơn kiến đạo đã dứt
hết.
Trước
Chơn kiến đạo chứng Duy thức tánh, sau Tướng kiến đạo
chứng Duy thức tướng. Trong hai kiến đạo đó, Chơn kiến
đạo thắng hơn, cho nên bài Tụng nói riêng rằng: "Trí đều
không sở đắc".
Trước
Chơn kiến đạo nhiếp thuộc Căn bản trí, sau Tướng kiến
đạo, nhiếp thuộc Hậu đắc trí.
- Các
Hậu đắc trí có hai phần Tướng và Kiến chăng?
- Có
thuyết nói: Ðều không có, vì đã xa lìa hai thủ.
- Có
thuyết nói, ở trí Hậu đắc này, Kiến phần thì có, Tướng
phần thì không, vì luận nói trí này có phân biệt, vì Thánh
trí đều có thể trực tiếp chiếu cảnh, nhưng vì không chấp
trước mà nói lìa hai thủ.
- Có
thuyết nói trí này có đủ cả hai phần Kiến và Tướng,
luận nói trí này chỉ tư duy tướng chơn như tương tợ mà
không thấy được tánh chơn như chơn thật. Lại nói trí Hậu
đắc này phân biệt được tự tướng, cọng tướng của
các pháp, quán căn tánh sai khác của loài hữu tình mà vì
họ nói pháp. Lại nói trí Hậu đắc này hiện ra thân hình
quốc độ để nói Chánh pháp cho các loài hữu tình. Nếu
không biến hiện ra sắc, tiếng v.v... tương tợ, thì đâu
có được các việc hiện thân nói pháp? Nếu chuyển chỗ
dựa của sắc uẩn rồi thì không còn hiện sắc, vậy chuyển
chỗ dựa của bốn uẩn thì lẽ ra không còn có thọ.
Lại
trí Hậu đắc này không biến ra cảnh tưong tợ để duyên,
lìa pháp tự thể thì lẽ ra chẳng phải là sở duyên. Nếu
chẳng phải là sở duyên mà duyên, như vậy khi duyên sắc
cũng là duyên tiếng. Lại duyên không pháp như duyên quá khú
vị lai, lý ưng là không có duyên sở duyên, vì thể quá khứ,
vị lai không thật, không có tác dụng làm duyên. Do đó trí
Hậu đắc, có đủ cả hai phần Kiến, Tướng.
- Hai
kiến đạo này và sáu Hiện quán nhiếp thuộc nhau như thế
nào?
Sáu
hiện quán là:
1.-
Tư hiện quán - Tức là tuệ được thành tựu bởi "Tư Tâm
sở" tương ưng với hỷ thọ bậc cao. Tư tuệ này có thể
quán sát tướng chung của các pháp, dẫn sanh ra khả năng
quán sát các pháp khi ở trong Gia hạnh đạo như Noãn, Ðảnh,
v.v... tác dụng của tư tuệ này rất mạnh, nên đặc biệt
lập làm hiện quán chứ các thiện căn Noãn, Ðảnh v.v... không
thể phân biệt pháp một cách rộng rãi, lại chưa chứng chân
lý cho nên chẳng phải là hiện quán.
2.
Tín hiện quán - Tức là duyên theo Tam Bảo thế và xuất thế
gian, sanh lòng tin thanh tịnh quyết định, nó giúp cho hiện
quán khiến không bị thối chuyển, nên đặt tên là Tín hiện
quán.
3.
Giới hiện quán - Tức là vô lậu giới, trừ cấu uế của
sự phá giới, khiến cho quán trí càng thêm sáng, nên cũng
gọi là hiện quán.
4.
Hiện quán trí đế hiện quán - Tức là tất cả trí căn bản
và trí hậu đắc vô phân biệt duyên phi an lập đế.
5.
Hiện quán biên trí đế hiện quán – Tức là các trí duyên
an lập đế của thế gian và xuất thế gian tiếp theo sau hiện
quán trí đế hiện quán.
6.
Cứu cánh hiện quán - Tức là trí ở địa vị cứu cánh,
như tận trí v.v...
- Chơn
kiến đạo này thu nhiếp một phần hiện quán thứ tư.
- Tướng
kiến đạo này thu nhiếp một phần hiện quán thứ tư, thứ
năm.
Hiện
quán thứ hai, thứ ba, tuy cùng khởi với tướng, kiến đạo,
song nó không phải tự tánh của kiến đạo, cho nên không
thu nhiếp nhau.
Khi
Bồ tát đạt được hai kiến đạo này thì được sanh vào
nhà Như Lai, trú địa vị cực hỷ, khéo thông đạt pháp giới,
được các thứ bình đẳng, thường sanh vào trong hội chúng
của chư Phật, đối với hàng trăm môn pháp đã đưọc tự
tại, tự biết không bao lâu chứng đại Bồ đề, có thể
làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh tận đời vị lai.