X.
THỨC BIẾN HIỆN THỨ HAI
(tiếp
theo)
Nhiễm
ô ý (thức Mạt na) này tương ưng với thọ nào?
Có
ba thuyết:
1.
Có người cho rằng nó chỉ tương ưng với hỷ thọ; vì nó
hằng âm thầm chấp ngã bên trong sanh ưa thích.
2.
Có người bảo không phải vậy; vì nếu phải chấp nhận
hỷ thọ cho đến cõi trời Hữu Ðảnh vẫn có tương ưng
với Mạt na, là trái ý với lời Thánh (Thánh giáo nói thức
Mạt na có ở ba cõi mà hỷ thọ thì chỉ có ỏ ngang Nhị
Thiền). Nên nói Mạt na này tương ưng với bốn thọ. Nghĩa
là khi sanh cõi ác thì nó tương ưng với ưu thọ, vì duyên
quả báo khổ do nghiệp bất thiện dẫn sanh. Khi sanh ở cõi
người, cõi trời Dục giới, Sơ Thiền, Nhị Thiền thì tương
ưng vói hỷ thọ, vì duyên với cõi có hỷ là quả báo của
thiện nghiệp. Khi sanh ở Tam Thiền thì tương ưng với lạc
thọ, vì duyên với cõi có lạc, là quả báo của thiện nghiệp.
Khi sanh ở Tứ Thiền cho đến cõi Hữu Ðảnh thì tương ưng
với xả thọ, vì duyên với cõi chỉ có xả là quả báo của
thiện nghiệp.
3.
Có người cho thuyết trên không đúng; vì Mạt na từ vô thỉ
lại, nhậm vận một loại duyên Tạng thức bên trong mà chấp
ngã, hằng không chuyển dịch, nên không tương ưng với các
thọ biến dị kia. (Khổ, lạc thọ cứ thay đổi gọi là thọ
biến dị). Lại Mạt na này nếu với Tạng thức có nghĩa
gì khác thì luận đều đã có nói riêng, vậy nếu nó tương
ưng với bốn thọ thì luận cũng nên nói riêng. Nay luận đã
không nói riêng, thì quyết định Mạt na đồng với Tạng
thức chỉ tương ưng với xả thọ. Cho nên biết tương ưng
với Mạt na chỉ có xả thọ.
- Khi
ở địa vị chưa chuyển y thì nó tương ưng với Tâm sở
như trên kia đã nói, còn khi ở địa vị đã chuyển y thì
nó chỉ có 21 Tâm sở cùng với nó khởi lên, đó là năm Biến
hành, năm Biệt cảnh và 11 thiện, và giống như đệ bát thức
khi ở địa vị chuyển y thì chỉ có xả thọ cùng khởi,
vì Mạt na nhậm vận sanh khởi và thường khởi tánh bình
đẳng đối với cảnh sở duyên.
- Mạt
na và Tâm sở của nó nhiếp thuộc về tánh gì?
- nhiếp
vào tánh hữu phú vô ký. Vì Mạt na tương ưng với bốn phiền
não là pháp ô nhiễm, hay làm chướng ngại Thánh đạo, che
lấp tự tâm, nên gọi là hữu phú; và vì nó không phải thiện
hay bất thiện, nên gọi là vô ký. Giống như các phiền não
ở hai cõi Sắc và Vô sắc bị định lực nhiếp phục ẩn
tàng (không khởi hiện hành) nên nhiếp thuộc vào tánh vô
ký, và những nhiễm pháp hiện hành tương ưng với thức Mạt
na do Mạt na là chỗ nương của nó rất vi tế, nhậm vận
sanh khởi (câu sanh) nên nó cũng thuộc vô ký như Mạt na. Nếu
khi nó đã chuyển y, thì chỉ có thiện tánh.
- Mạt
na và Tâm sở của nó hệ thuộc vào địa nào trong chín địa?
- Tùy
đệ bát thức sanh ở địa nào thì nó hệ thuộc ở địa
ấy, như đệ bát thức sanh cõi Dục (Sơ địa) thì hiện hành
Mạt na và Tâm sở tương ưng với nó hệ thuộc vào cõi Dục,
cho đến khi đệ bát thức sanh cõi Hữu Ðảnh, nên biết cũng
thế. Vì Mạt na nhậm vận hằng duyên Tạng thức ở tự địa
(chính nơi hiện sanh đến) mà chấp Tạng thức đó làm nội
ngã, chứ không duyên Tạng thức ở tha địa (nơi địa khác)
mà chấp làm nội ngã, nếu khởi Dị thục Tạng thức sanh
vào tha địa, khi Dị thục Tạng thức đó hiện tiền ở địa
kia, thì gọi là sanh ở địa kia. Nhiễm ô Mạt na cũng duyên
Tạng thức ở địa kia mà chấp ngã, tức hệ thuộc ở địa
kia, đó gọi là "Bỉ sở hệ"; hoặc bị hệ thuộc theo các
phiền não ở địa kia, nên cũng gọi là "Bỉ sở hệ". Nếu
đã chuyển y, tức không còn hệ thuộc.(28)
- Mạt
na nhiễm ô này tương tục từ vô thỉ, đến địa vị nào
thì dứt hẳn? hoặc tạm dứt?
- Ở
địa vị A la hán , Diệt tận định và Xuất thế đạo thì
nó không có.
A la
hán đây chỉ cho quả vị Vô học trong Tam thừa. Ở địa
vị này cả chủng tử lẫn hiện hành nhiễm ô ý đều dứt
hẳn, cho nên nói 'không có". Hoặc ở trong địa vị Hữu học,
khi nhập Diệt định và xuất thế đạo (khi quán vô ngã)
đều có thể tạm thời đè bẹp và đoạn diệt nhiễm ô
ý, cho nên cũng nói "không có". Nghĩa là nhiễm ô ý từ vô
thỉ lại, vi tế, một loại nhậm vận sanh khởi (câu sanh)
dùng các hữu lậu đạo (không quán sát vô ngã) không thể
đè bẹp và đoạn dứt, phải nhờ Thánh đạo (quán hai không)
của Ba thừa mới có khả năng đè bẹp và đoạn dứt.
Trí
căn bản liễu giải về chơn vô ngã (xuất thế vô lậu đạo)
là trái nghịch với ngã chấp. Tiếp đó trí đẳng lưu của
trí chơn vô ngã kia là hậu đắc trí vô lậu, khi nó hiện
tiền, cũng làm trái nghịch Mạt na nhiễm ô ý. - Cả trí chơn
vô ngã và trí hậu đắc đều là vô lậu,nên gọi là xuất
thế đạo.
Lại,
Diệt định đã là đẳng lưu của Thánh đạo (do vô lậu
hậu đắc trí mà nhập Ðịnh diệt tận), nó rất tịch tịnh
nên ở Diệt định cũng tạm không có nhiễm ô ý, song vì
chưa dứt hẳn chủng tử cho nên khi ra khỏi Diệt định và
xuất thế đạo thì nó lại hiện hành, cho đến khi chưa thể
dứt sạch.
Nhưng
loại phiền não tương ưng vơi nhiễm ô ý này là loại phiền
não câu sanh, chẳng phải do kiến đạo đoạn trừ. Vì nó
là nhiễm ô, nên cũng chẳng phải thuộc về phi sở đoạn.
Phiền não này rất vi tế nên bao nhiêu chủng tử của nó
cùng với phiền não hạ hạ phẩm (chỉ phẩm 81 Tư hoặc)
của cõi Hữu Ðảnh), khi đoạn thì đồng lúc chóng đoạn.
Vì thế lực nó ngang nhau, phải khi Kim Cang dụ định hiện
tiền thì mới chóng đoạn chủng tử này mà thành A la hán;
cho nên ở địa vị Vô học, vĩnh viễn không còn khởi nhiễm
Vô ý.
Nếu
hàng Vô học Nhị thừa hồi hướng theo Ðại thừa, từ khi
sơ phát tâm Bồ đề cho đến lúc chưa thành Phật, tuy họ
thật là Bồ tát đó nhưng cũng gọi là A la hán. Vì ba nghĩa:
Ứng cúng, Vô sanh, Sát tặc bằng nhau như A la hán, nên không
nói riêng.
- Trong
đây có người cho rằng Mạt na chỉ có phiền não chướng,
vì Thánh giáo đều nói ở ba địa vị là A la hán, Diệt định
và Xuất thế đạo không còn có Mạt na (vì không còn phiền
não chướng); lại vì nói bốn hoặc thường tương ưng và
vì Mạt na là chỗ nương tạp nhiễm cho thức thứ sáu.
- Có
người cho thuyết trên trái với giáo lý, vì kinh nói nơi địa
vị xuất thế có Mạt na (có tịnh Mạt na hằng tư lương
lý vô ngã). Vì ý thức không khi không ô nhiễm cũng giống
như khi có ô nhiễm, đều phải có chỗ nương câu sanh riêng
(là Mạt na) mới được.
Luận
nói: "Tạng thức quyết định hằng cùng một thức cùng khởi",
đó là thức Mạt na; còn khi ý thức khởi lên có Tạng thức
với hai thức cùng khởi, đó là Ý thức và Mạt na. Nếu khi
một thức trong năm thức khởi lên, thời có Tạng thức với
ba thức cùng khởi, đó là một trong năm thức, cùng với Ý
thức và Mạt na. Cho đến cả năm thức đồng khởi lên
thời có Tạng thức với bảy thức cùng khởi, đó là năm
thức cùng Ý thức và Mạt na. Nếu ở trong Diệt định không
có thức thứ bảy, thì bấy giờ Tạng thức chỉ khởi một
mình, không có thức khác cùng khởi, liền không phải luôn
luôn quyết định Tạng thức có một thức cùng khởi như
luận vừa nói. Khi ở địa vị Thánh đạo (Ý thức quán vô
lậu) nếu không có Mạt na thì bấy giờ Tạng thức chỉ cùng
khởi với một thức thứ sáu. Thế làm sao luận có thể nói
nếu khi Ý thức khởi lên thì bấy giờ Tạng thức quyết
định có hai thức cùng khởi là Ý thức và Mạt na thức.
Luận
Hiển Dương nói: "Mạt na hằng cùng tương ưng với bốn phiền
não (là ở địa vị ô nhiễm) hoặc lật ngược hạnh ỷ
thị cao cử tương ưng với Mạt na thì thành hạnh bình đẳng
(ở địa vị thanh tịnh)". Cho nên biết Mạt na có mặt xuyên
suốt cả nhiễm và không nhiễm. Nếu do luận này nói: "Ở
địa vị A la hán không có nhiễm ô ý" mà bảo không có luôn
cả thức thứ bảy, thì cũng nên do Luận này nói: " Ở địa
vị A la hán xả bỏ A lại da là xả bỏ luôn cả thức thứ
tám". Nhưng đây đã không thể có việc A lại da là bỏ luôn
thức thứ tám, như vậy kia làm sao lại có việc bỏ nhiễm
ô ý là bỏ luôn thức thứ bảy?
Lại
các luận nói: "Chuyển thức thứ bảy được trí bình đẳng".
Trí này cũng như các trí: "Thành sở tác, Diệu quan sát, Ðại
viên cảnh, chắc chắn phải có tịnh thức tương ưng để
làm chỗ nương cho nó (thức thứ bảy) nếu thức thứ bảy
không có thì trí bình đẳng kia cũng không. Vì không thể lìa
thức thứ bảy sở y mà có trí bình đẳng năng y vậy. Không
thể nói rằng trí bình đẳng y chỉ nơi sáu chuyển thức,
vì luận chấp nhận trí bình đẳng tánh hằng hành của chư
Phật cũng như trí viên cảnh không gián đoạn.
Lại
ở địa vị Vô học, nếu không có thức thứ bảy, thì thức
thứ tám kia không có Câu hữu y. Nhưng thức thứ tám có Câu
hữu y này như các thức khác.
Lại
như khi chưa chứng Bố đặc già la vô ngã thì ngã chấp kia
vẫn thường hằng hiện hành, vậy cũng nên khi chưa chứng
pháp vô ngã thì pháp ngã chấp kia vẫn hằng hành. Mạt na
này nếu ở trong ba vị Vô học, chưa chứng nhân vô ngã, chưa
chứng pháp vô ngã thì không có, vậy ngã chấp và pháp chấp
kia nương nơi thức nào mà có? Nó không thể nương đệ bát
thức, vì ở đệ bát thức không có Tuệ tâm sở (mà ngã,
pháp chấp đã thuộc tuệ Tâm sở).
- Do
đó hãy nên tin ở ba địa vị là Nhị thừa thánh đạo, Diệt
định và Vô học, thức thứ bảy này vẫn hằng hành, vì
ở đó chưa chứng đắc pháp vô ngã.
Lại
trong các luận, lấy năm đồng pháp (là năm thức đồng có
năm căn làm chỗ nương thì thức thứ sáu cũng đồng như
năm thức phải có chỗ nương) mới sanh khởi được để
chứng minh có thức thứ bảy làm chỗ nương cho thức thứ
sáu. Lúc Thánh đạo khởi lên và ở địa vị Vô học, nếu
không có thức thứ bảy thanh tịnh làm chỗ nương cho thức
thứ sáu thanh tịnh, thì lập tôn
lập
nhân đều bị lỗi. Hoặc có thể năm thức cũng không có
chỗ nương, nhưng năm thức đã hằng có chỗ nương, thì thức
thứ sáu cũng phải thế.
Thế
cho nên quyết định có Mạt na ý không nhiễm ô hằng khởi
hiện tiền ở ba địa vị nói trên. Còn bài tụng nói: Mạt
na kia ở ba địa vị không có" là chỉ dựa nơi Mạt na nhiễm
ô mà nói, vì ở ba địa vị trên kia không còn Mạt na chấp
ngã nữa. Cũng giống như nói ở bốn địa vị (ba Vô học
vị của Ba thừa và Phật vị) không có thức A lại da, chứ
không phải nói không có thức thứ tám.
- Mạt
na này sai biệt có ba thứ:
1.
Tương ưng với Ngã kiến Bố đặc già la.
2.
Tương ưng với Pháp ngã kiến.
3.
Tương ưng với Bình đẳng tánh trí.
Thứ
nhứt: Mạt na tương ưng Ngã kiến, nó tương tục ở trong
tất cả loại Dị sanh, ở địa vị Nhị thừa Hữu học,
ở một hạng Bồ tát đang còn ở địa vị Tâm hữu lậu
từ Thất địa trở lại, ở các địa vị đó thức Mạt
na thường duyên thức A lại da khởi lên ngã kiến Bố đặc
già la (tức nhân ngã chấp).
Thứ
hai: Mạt na tương ưng Pháp ngã kiến, nó tương tục trong tất
cả loài Dị sanh, Thanh văn, Duyên giác, và một hạng Bồ tát
còn ở địa vị mà trí của pháp không không hiện tiền (trí
thành tựu được do quán pháp không. Khi trí này chưa hiện
ra được, gọi là không hiện tiền). Ở các các địa vị
này thức Mạt na thường duyên thức Dị thục mà khởi lên
pháp chấp.
Thứ
ba: Mạt na tương ưng Bình đẳng tánh trí, nó tương tục trong
tất cả Như Lai và Bồ tát ở địa vị Kiến đạo và Tu
đạo có trí quả pháp không hiện tiền. Ở các địa vị
này thức Mạt na thường duyên với thức Dị thục hoặc Vô
cấu tịnh thức mà khởi lên trí Bình đẳng tánh.
- Khi
ở địa vị có Bố đặc già la Ngã kiến khởi lên thì cũng
có Pháp ngã kiến hiện tiền. Vì ngã chấp chắc chắn nương
pháp chấp mà khởi. Như đang đêm vì có lầm tưởng ác thú
mới tưởng ra đó là người. Ngã kiến, Pháp kiến tuy tác
dụng khác nhau nhưng không trái nhau, đồng nương môt Tuệ
tâm sở. Ví như nhãn thức, thể tuy là một (dụ Tuệ tâm
sở) nhưng có nhiều tác dụng thấy sắc xanh, vàng v.v... mà
không trái nhau.
Nhị
thừa Hữu học và khi có Thánh đạo hoặc Diệt định hiện
tiền, Bồ tát đốn ngộ ở địa vị tu đạo và Bồ tát
tiệm ngộ sau khi từ Nhị thừa Hữu học hồi tâm, nếu có
được trí quả hiện tiền, do ngộ lý sanh không, thì ở các
địa vị này, chỉ khởi pháp chấp, vì ở đây ngã chấp
đã bị đè bẹp. Nhị thừa Vô học và hồi tâm tiệm ngộ
Bồ tát, khi trí quả pháp không không hiện tiền, thì cũng
chỉ khởi lên pháp chấp, vì ở đây ngã chấp đã dứt sạch.
Các
Bồ tát từ Bát địa trở lên dù đốn ngộ hay tiệm ngộ,
ngã chấp vĩnh viễn không còn hiện hành, hoặc vì đã dứt
sạch, hoặc vì đã đè bẹp. Nếu khi trí quả pháp không hiện
tiền thì dù đệ Bát địa trở lên, vẫn còn khởi pháp chấp,
vì trí quả sanh không và pháp chấp không trái nhau. Như Khế
kinh nói: Bồ tát từ Bát địa trở lên, tất cả phiền não
không còn hiện hành, chỉ có sở tri chướng là chỗ nương
của ngã chấp thì đang còn". Sở tri chướng đây là hiện
hành sở tri chứ không phải chủng tử sở tri. Nếu không
vậy, còn chủng tử sở tri thì cũng có thể đang còn chủng
tử phiền não.
Mạt
na tương ưng với pháp chấp đối với Nhị thừa tuy gọi
là không ô nhiễm, nhưng đối với Bồ tát nó vẫn gọi là
ô nhiễm, vì nó làm chướng ngại trí pháp không của Bồ
tát. Do đó cũng gọi Mạt na ở Bồ tát địa là hữu phú
vô ký. Còn đối với Nhị thừa thì gọi nó là vô phú vô
ký, vì pháp chấp đó không chướng ngại trí sanh không của
Nhị thừa.
Mạt
na này nhiếp vào Dị thục sanh, vì từ thức Dị thục hằng
thời sanh khởi, cho nên gọi là Dị thục sanh, mà không phải
Dị thục quả. Tên Dị thục sanh này được dùng chỉ chung
tất cả những Tâm tâm sở không phải là chơn Dị thục,
cũng như danh từ tăng thượng duyên, là chỉ cho những gì
không nhiếp vào Nhân duyên, Ðẳng vô gián duyên, Sở duyên
duyên thì thu nhiếp cả vào Tăng thượng duyên. (29)
Làm
sao biết thức thứ bảy này có tự thể riêng ngoài nhãn thức
v.v...?
Do
Thánh giáo và Chánh lý làm định lượng mà biết. Nghĩa là
đức Bạt già phạm (Phật) ở trong các kinh nói về tâm, ý
và thức với ba nghĩa khác nhau. Tập nhóm và khởi lên gọi
là tâm, tư lường gọi là ý, liễu biệt gọi là thức. Ba
nghĩa đó tuy chung cả tám thức đều có, nhưng tùy mặt trỗi
hơn mà hiển thị khác nhau. Thức thứ tám gọi là tâm, vì
nó nhóm tập chủng tử các pháp và khởi lên các pháp. Thức
thứ bảy gọi là ý, vì nó duyên Tạng thức hằng thầm tư
lường Tạng thức mà chấp làm ngã. Còn sáu thức kia gọi
là thức, vì nó liễu biệt riêng theo sáu cảnh thô động
gián đoạn khác nhau. Như bài tụng trong kinh Nhập Lăng già
nói:
Tạng
thức gọi là tâm,
Tánh
tư lường gọi là ý,
Liễu
biệt tướng các cảnh,
Chung
gọi đó là thức.
Lại
nhiều nơi trong kinh Ðại thừa nói có thức thứ bảy riêng,
cho nên ở đây nói có riêng (không phải như Tiểu thừa nói
ý thức thứ sáu khi trôi về quá khứ thi gọi là ý, chứ
không có thức thứ bảy riêng). Các kinh Ðại thừa là chí
giáo lượng. Trước đã nói rộng cho nên đây không chứng
minh.
Trong
kinh Giải Thoát cũng nói riêng thức thứ bảy. Như bài Tụng
nói:
Nhiễm
ô ý thường có,
Các
hoặc cùng sanh diệt,
Nếu
giải thoát các hoặc,
Chẳng
phải đã, sẽ có.
Kinh
kia tự giải thích bài Tụng rằng: Có nhiễm ô ý từ vô thỉ
lại, cùng với bốn phiền não hằng cùng sanh, cùng diệt,
đó là ngã kiến, ngã ái, ngã mạn và ngã si. Khi có đạo
đối trị, dứt sạch phiền não thì ý này từ đó được
giải thoát. Bấy giờ phiền não tương ưng với ý này, không
phải chỉ trong hiện tại không có, mà cũng không có luôn
trong quá khứ và vị lai. Vì quá khứ, vị lai là vô tự tánh.
Các
Thánh giáo như thế, ở các bộ đều có, sợ nhàm chán dông
đài, cho nên ở đây không thuật hết. (30)
- Trên
đây dẫn Thánh giáo, bây giờ sẽ hiển bày Chánh lý. (Có
sáu lý là: Hằng hành vô minh, làm duyên sanh thức, tư lương
gọi ý, định vô tâm sai khác, trời Vô tưởng ô nhiễm, ba
tánh ô nhiễm):
1.
Như Khế kinh nói: "Bất cộng vô minh vi tế hằng thường hiện
hành, che lấp nghĩa chân thật" (nghĩa chân thật tức là chơn
như do hai không hiển lộ). Nếu không có thức thứ bảy này
thì Bất cộng vô minh kia không có (vì không có chỗ nương).
Nghĩa là hàng Dị sanh ở trong tất cả phần vị thiện ác,
vô ký hằng khởi lên Bất cộng vô minh mê lý, làm che lấp
nghĩa chơn thật, che mắt tuệ của bậc Thánh, như bài Tụng
nói:
Tâm
chơn nghĩa sắp sanh,
Nó
thường làm chướng ngại,
Cùng
đi trong mọi phần
(trong
mọi tâm thiện ác vô lý),
Gọi
Bất cộng vô minh
Cho
nên Khế kinh nói: "Loài Dị sanh thường ở trong đêm dài bị
vô minh che mờ, say mê buộc tâm chưa từng tỉnh giác". Nếu
nói ở địa vị Dị sanh có khi tạm không khởi vô minh bất
cộng tức là trái với nghĩa kinh vừa nói. Vì nếu cùng ở
địa vị loài Dị sanh mà vô minh mê lý có hiện hành không
hiện hành, là không đúng lý.
Nếu
nói vô minh bất cộng này dựa nơi thức thứ sáu thì không
được. Vì vô minh này nếu dựa thức thứ sáu thì nó như
thức thứ sáu có gián đoạn, và thức thứ sáu như vô minh
này hằng ô nhiễm. Nếu chấp nhận có Mạt na thì không có
lỗi này.
Nhiễm
ô ý hằng tương ưng với bốn phiền não trong đó có vô minh
cùng khởi, sao riêng vô minh lại gọi là bất cộng? Có ba
ý kiến:
a.
Có ý kiến cho rằng Mạt na tương ưng với ngã kiến, ngã
mạn, ngã ái, ba thứ này không phải là căn bản phiền não,
chỉ riêng vô minh là căn bản nên gọi là bất cộng, thì
có lỗi gì?
b.
Có ý kiến cho rằng kia nói là trái với giáo lý; vì trong
các tùy phiền não thuần túy không hề nói đến kiến, mạn,
ái là tùy phiền não, vì ba thứ kiến, mạn, ái này nhiếp
thuộc trong mười căn bản phiền não. Nơi nơi đều nói nhiễm
ô thường tương ưng với bốn phiền não, nên nói trong bốn
thứ đó, vô minh là chủ, nên tuy nó có cùng khởi với ba
thứ kia cũng được gọi vô minh là bất cộng. Từ đời vô
thỉ thường hôn mê bên trong, chưa từng tỉnh giác đều do
có si (vô minh) tăng mạnh hơn.
hỏi:
- Vậy si này cùng khởi với kiến, mạn, ái, thì nên gọi
là tương ưng?
Ðáp:
- Nếu khi khởi lên mà thứ não làm chủ, thì cũng gọi nó
là bất cộng, như vô minh, cũng không có lỗi gì.
c.
Có ý kiến cho rằng si này gọi là bất cộng, vì chỉ ở
thức Mạt na này có, chứ các thức khác không có, như mười
tám pháp bất cộng của Phật.
Hỏi:
- Nếu vậy thì những phiền não chỉ tương ưng với các thức
khác, ở trong thức Mạt na này không có nó, thì cũng gọi
phiền não đó là bất cộng hay sao?
Không,
chỉ nương theo nghĩa thù thắng mà lập tên bất cộng, chứ
không phải theo nghĩa không, hoặc có ở trong thức này hoặc
trong thức kia mà gọi là bất cộng. Nghĩa là vô minh tương
ưng với thức thứ bảy, từ vô thỉ thường hiện hành làm
chướng ngại trí chứng chơn nghĩa (trí chứng chơn như). Tác
dụng ấy rất mạnh mà ở các thức khác không có, cho nên
chỉ riêng vô minh ở thức Mạt na này mới gọi là bất cộng.
Hỏi:
- Ðã vậy thì ba thứ kiến, mạn, ái cùng khởi với nó cũng
nên gọi là bất cộng?
Ðáp:
- Không, vì vô minh này là chủ, nên được riêng gọi là bất
cộng. Hoặc chấp nhận ba thứ kia khi làm chủ cũng được
gọi là bất cộng, nay chỉ đối với các thứ si tương ưng
với các thức khác mà nói si tương ưng với Mạt na này là
bất cộng vô minh.
- Bất
cộng vô minh tóm có hai thứ:
a.
Hằng hành bất cộng vô minh - Ở các thức kia không có, chỉ
có ở thức Mạt na.
b.
Ðộc hành bất cộng vô minh - Ở thức Mạt na này không có,
chỉ có ở thức thứ sáu.
Cho
nên Luận Du già nói vô minh có hai: Nếu nó cùng tham, sân v.v...
đồng khởi, gọi là độc hành vô minh. Nếu là chủ độc
hành vô minh thì chỉ do kiến đạo đoạn trừ. Như Khế kinh
nói: "Bậc Thánh Hữu học đã dứt hẳn bất cộng (độc hành)
vô minh, nên không tạo nghiệp mới. Còn nếu độc hành vô
minh mà không phải chủ thì cũng do tu đạo dứt trừ, vì nó
cùng phẩn, hận v.v... tương ưng thì đều thông do kiến đạo
tu đạo đoạn trừ.
Hằng
hành bất cộng vô minh (vô minh ở thức thứ bảy) thì ở
các bộ phái Tiểu thừa không có; còn Ðộc hành bất cộng
vô minh (vô minh ở thức thứ sáu) thì ỏ cả Ðại, tiểu
thừa đều có nó.
2.
Lại Khế kinh nói: "Nhãn và sắc làm duyên, phát sanh nhãn thức,
rộng nói cho đến ý và pháp làm duyên phát sanh ý thức".
Nếu không có Mạt na, thì ý (ý và pháp) kia không có. Nghĩa
là như ngũ thức phải có nhãn, nhĩ căn v.v... làm câu hữu
y tăng thượng riêng biệt. Ý thức đã là nhiếp thuộc trong
sáu thức, thì phải nên chấp nhận Ý thức cần có sở y
như vậy, nhưng nếu Mạt na không có thì sở y của Ý thức
kia đâu có. Không thể nói sắc (tâm khối thịt) làm chỗ
nương cho Ý thức, vì ý không phải sắc. Ý thức nếu nương
sắc thì như năm thức (chỉ có tự tánh phân biệt) chứ không
có hai thứ phân biệt là tùy niệm và kế đạt. Cũng không
thể nói năm thức không có Câu hữu y. Năm thức cùng năm
căn cùng lúc sanh khởi như mầm và bóng (mầm nương hạt giống
mà có, mầm và hạt giống cùng lúc có, ảnh nương hình mà
hiện, ảnh và hình cùng có một lúc).
Lại
thức và căn phải cùng duyên một cảnh, ví như Tâm Tâm sở
quyết định cùng khởi.
- Do
lý lẽ này, phải công nhận (cực thành) ý thức cũng như
nhãn thức v.v... phải có chỗ nương riêng và theo nương đó
mà đặt tên chỗ nương đó không phải nhiếp thuộc Ðẳng
vô gián duyên mà là Câu hữu y Tăng thượng duyên. Vì công
nhận (cực thành) sáu thức, mỗi thức đều thuộc một căn.
3.
Lại Khế kinh nói: "Tư lường gọi là Ý" . Nếu không có thức
Mạt na này thì ý tư lường kia không có. Nghĩa là nếu khi
ý thức hiện tiền, đẳng vô gián ý đã diệt không còn nữa,
vì quá khứ, vị lai là không có, thì cái tác dụng tư lường
kia chắc không thành được, làm sao kinh nói tư lường gọi
là Ý? Nếu cho đó là giả nói thì cũng không đúng. Không
có sự tư lường chính thức thì giả tư lường nương vào
đâu mà có được. Nếu bảo Ý thức trước khi hiện tại,
từng có tư lường nay tuy đã diệt cũng gọi là Ý, nhưng
bấy giờ gọi là Thức chứ đâu gọi là Ý được.
- Cho
nên biết riêng có thức Mạt na thứ bảy hằng thẩm tư lường,
chính danh là Ý. Hoặc nương nơi thức thứ bảy mà giả lập
ý đẳng vô gián diệt, tên là Ý.
4.
Lại Khế kinh nói: "Vô tưởng và Diệt định, nếu không có
nhiễm ô ý này thì hai định này không khác nhau".
Nghĩa
là hai định này đều diệt sáu thức và các Tâm sở của
nó. Số tâm thể được diệt để thành hai định giống nhau.
Nếu không có việc nhiễm ô ý có mặt trong tưởng vô định
và không có mặt trong Diệt định thì hai định có ý gì khác
nhau? Nếu bảo khi tu gia hạnh nương ở nơi ba cõi, chín địa,
thân căn hai bên khác nhau, nên hai định khác nhau thì cũng
không đúng; vì chính nguyên nhân làm cho khác nhau này là do
có thứ Mạt na. Thức Mạt na nếu không có thì nguyên nhân
làm cho hai định khác nhau kia cũng không có. Cho nên quyết
định phải có riêng Mạt na ý này.
5.
Lại Khế kinh nói: "Loài hữu tình ở cõi trời Vô tưởng
suốt trong một đời dứt hết không còn sáu thức Tâm, Tâm
sở. Nếu ở đó không có thức Mạt na này thì loài hữu
tình kia có thể là không còn bị ô nhiễm". Nghĩa là hữu
tình kia trong thời gian lâu dài không có sáu chuyển thức,
nếu cũng không có thức Mạt na này thì câu sanh ngã chấp
cũng không. Không thể ở nơi nào lại có loài hữu tình có
đủ mọi điều ràng buộc, mà trong một đời của họ hoàn
toàn không có ngã chấp. Nếu cõi trời kia không có ngã chấp
thì giống như Niết bàn, làm sao họ lại bị Thánh hiền chê
trách?
- Nếu
chấp ngã của trời Vô tưởng sau một nữa sơ bán kiếp mới
diệt, lúc nữa hậu bán kiếp mới có, nên không bị lỗi
như trên. Nếu nói vậy, thì ở giữa khoảng trung gian dài
499 kiếp mà không có ngã chấp thì như Niết bàn, là có lỗi.
- Nếu
nói quá khứ và vị lai có ngã chấp, nên không bị lỗi đó?
Nhưng có quá khứ vị lại kia chẳng phải hiện tại chẳng
phải hằng như Niết bàn, là có lỗi. Thường thì đồng như
không có ngã chấp.
Lại,
quả Dị thục vô tưởng sở đắc đã không, thì hữu tình
năng đắc vô tưởng báo cũng không. Dị thục vô tưởng là
pháp Bất tương ưng, nó là giả lập, trước kia đã bác rồi.
Tạng
thức không có thì việc huân tập cũng không; còn nói các
pháp khác không phải Tạng thức mà thọ huân (để trở thành
Dị thục vô tưởng) điều đó phi lý, đã biện rồi.
Cho
nên cần có có riêng thức Mạt na nhiễm ô hằng khởi ngã
chấp trong khi sanh ở cõi trời Vô tưởng. Do đó Thánh Hiền
đồng chê bai trời Vô tưởng đó.
6.
Lại Khế kinh nói: "Loại Dị sanh trong lúc có tâm thiện, nhiễm
hoặc vô ký, luôn luôn có mang theo ngã chấp. Nếu không có
thức Mạt na thì ngã chấp ấy không có". Nghĩa là loài Dị
sanh trong khi tâm có đủ ba tánh thiện, ác vô ký khởi lên,
tuy bên ngoài khởi tạo các nghiệp mà bên trong hằng
chấp ngã. Do chấp ngã nên dù sáu thức có khởi lên việc
bố thí v.v... cũng không thể vong tướng. Nên luận Du già
nói: "Nhiễm ô Mạt na là chỗ nương cho sáu thức, khi Mạt
na nhiễm ô chưa diệt thì sự buộc ràng của Tướng phần
và Kiến phần trong sáu thức không được giải thoát.Khi Mạt
na nhiễm ô diệt rồi thì ràng buộc của cảnh tướng được
giải thoát". Nói sự ràng buộc của cảnh tướng là nói do
nhiễm ô Ý mà sáu thức đối với cảnh tướng không
thể nhận rõ nó như sự huyễn, chẳng phải có chẳng phải
không, do đó mà Kiến phần và Tướng phần cứ buộc chặt
chặt nhau không được tự tại, cho nên gọi là tướng phược.
Y theo nghĩa này có bài tụng:
Nhiễm
ô Ý như vậy,
Là
chỗ nương của thức.
Ý
này khi chưa diệt,
Thức
bị buộc khó thoát.
Lại
trong lúc tâm thiện hoặc vô phú vô ký, nếu không có thức
thú bảy chấp ngã thì tâm thiện và vô ký đó không phải
là hữu lậu. Vì các phiền não tương ưng với sáu thức trong
tự thân hữu tình không cùng khởi lên với tâm thiện hoặc
vô phú vô ký kia. Nếu bảo do duyên phiền não của quá khứ,
vị lai làm duyên trói buộc mà thành hữu lậu thì lý không
thể có được, vì không thể do phiền não của người khác
mà làm cho người này thành hữu lậu, cũng như không thể
do người khác giải thoát mà làm cho người này thành vô lậu.
Lại
không thể nói ngoài Tâm, Tâm sở riêng có tùy miên là pháp
Bất tương ưng hành uẩn tương tục khởi lên trong khi có
tâm thiện và vô phú vô ký, để làm cho tâm thiện và vô
phú vô ký trở thành hữu lậu, vì thứ tùy miên đó không
thật có, điều đó đã được cực hành.
Lại
cũng không thể nói từ chủng tử hữu lậu sanh ra tâm thiện
và vô phú vô ký kia, cho nên tâm thiện và vô phú vô ký kia
trở thành hữu lậu. Vì hữu lậu do Mạt na cho nên, nếu không
có Mạt na chấp ngã thì chủng tử của tâm thiện và vô phú
vô ký kia trước không có nhân để khiến nó thành hữu lậu,
nên cũng không phải do chủng tử hữu lậu khiến thiện tâm
và vô phú vô ký hiện hành thành hữu lậu được. Vì không
thể bậc Hữu học tâm vô lậu hiện hành, mà vì do còn chủng
tử hữu lậu trước đó mà tâm vô lậu hiện hành cũng trở
thành hữu lậu. Tuy hoặc do phiền não trong sáu thức dẫn
khởi ra việc bố thí, nhưng phiền não này dã qua mất không
còn cùng khởi với việc bố thí, cho nên phiền não đó không
phải là nhân chính của hữu lậu. Vì chữ "hữu lậu" là
biểu thị việc bố thí đó với lậu cũng sanh khởi một
lần (ý nói chỉ do Mạt na chấp ngã cùng sanh với việc bố
thí v.v... mới gọi là hữu lậu).
Lại
nghiệp vô ký không do phiền não dẫn phát, tại sao nó lại
thành hữu lậu? (ý nói vì có Mạt na chấp ngã, cho nên nó
thành hữu lậu).
Nhưng
các hữu lậu là do Mạt na chấp ngã cùng với hiện hành phiền
não trong tự thân, cùng sanh cùng diệt, làm tăng ích cho nhau,
mới thành hữu lậu, do đó huân thành chủng tử pháp hữu
lậu, để sau đó hiện khởi lên, đó là nghĩa của hữu lậu.
Nơi loài Dị sanh đã vậy, nơi hàng Hữu học cũng vậy.
Hữu
lậu ở hàng Vô học (Vô học còn Dị thục thức) tuy không
phải cùng khởi với thức thứ bảy hữu lậu, nhưng từ chủng
tử hữu lậu trước kia khởi lên, cho nên thành hữu lậu.
Như vậy thì đối với lý không trái.
- Do
có Mạt na hằng khởi chấp ngã mới làm cho pháp thiện và
vô phú vô ký thành hữu lậu. Mạt na này nếu không thì hữu
lậu kia quyết không có. Cho nên biết riêng có thức thứ bảy
này.
Chứng
minh có thức Mạt na, lý lẽ rất nhiều. Ðây theo các nghĩa
nhiếp thuộc lý Ðại thừa lược thuật sáu ý đó, những
người có trí nên theo đó tin học.
- Nhưng
có kinh trong đó chỉ nói sáu thức, nên biết kinh đó nói
là theo phương diện lý tùy chuyển. Hoặc theo chỗ nương là
sáu căn mà nói sáu thức. Nhưng thức loại riêng biệt thật
có tám thứ. (31)