VI.
PHÁ CÁC THỪA GIÁO CHẤP PHÁP
- Các
thừa giáo khác chấp " lìa ngoài thức thật có các pháp như
sắc, hương v.v..." Như thế nào các pháp này chẳng phải có?
- Vì
các pháp sắc, hương, bất tương ưng hành và pháp vô vi của
Tiểu thừa kia chấp, đúng lý chẳng phải thật có.
Vì
sắc v.v... được Tiểu thừa chấp gồm có hai thứ:
Một
là sắc có đối ngại, do cực vi tạo thành.
Hai
là sắc không đối ngại, chẳng phải do cực vi hợp thành.
Sắc
có đối ngại kia, chắc chắn không thật có, vì cực vi năng
thành ra sắc ấy chẳng phải thật có. Nghĩa là các cực vi
nếu có chất ngại thì hẳn như cái bình, là giả chẳng phải
thật. Nếu không chất ngại thì hẳn như phi sắc, làm sao
có thể tập hợp thành sắc như bình, áo v.v...?
Lại
các cực vi nếu có phương hướng và phần vị, thì chắc
chắn có thể phân tích, tức chẳng phải thật có. Nếu không
có phương hướng và phần vị, thời như phi sắc, làm sao
hòa hợp lại thành thô sắc, để khi ánh sáng chiếu vào thì
hiện ra bóng, như khi mặt trời chiếu vào cây trụ, có bóng
và sáng hiện ra hai bên Ðông, Tây? Phía Ðông tiếp nhận lấy
ánh sáng, phía Tây phát ra bóng, chỗ nhận ánh sáng và chỗ
hiện ra bóng đã không đồng, thì cực vi kia chắc chắn có
phương hướng và phần vị.
Lại
nếu khi mắt thấy và thân xúc chạm các vật như vách tường
v.v... thì chỉ được thấy và xúc chạm phần bên này, chứ
không thấy và xúc chạm phần bên kia, các vật ấy do chính
cực vi hòa hợp thành ra. Vậy cực vi ấy chắc chắn có phương
hướng và phần vị.
Lại
các cực vi, tùy ở chỗ nào, chắc chắn có trên, dưới, Ðông,
Tây sai khác nhau. Không như vậy thì cực vi như phi sắc không
còn có nghĩa hòa tập chung. Hoặc cho rằng cực vi thiệp nhập
vào nhau, nên không thành thô sắc. Do đó cực vi này quyết
chắc có phương hướng và phần vị. Lại đã chấp sắc có
đối ngại chính là các cực vi. Nếu cực vi không có phương
hướng và phần vị, thì sắc có đối ngại đó cũng như
cực vi không có cách ngại, nhưng nếu không cách ngại thì
không phải sắc có đối ngại.
Thế
nên, cực vi của các ông chấp quyết chắc có phương hướng
và phần vị. Vì có phương hướng và phần vị tức có thể
phân tích, đã có thể phân tích thì nhất địng không phải
thật có.
Cho
nên chấp sắc có đối ngại và thật có, không thành.
hỏi:
- Ngũ thức há không phải có sắc làm sở y, sở duyên đó
sao?
Ðáp:
- Tuy không phải không sắc, nhưng sắc đó là do thức biến.
Nghĩa là thức sanh khởi, do năng lực nhân duyên bên trong nội
thức, biến hiện ra tướng tương tợ về mắt và sắc, lấy
ngay tướng đó làm căn sở y và cảnh sở duyên. Nhưng các
căn nhãn, nhĩ đây không thể được biết bằng hiện lượng,
chỉ dựa qua tác dụng phát sanh thức của nó mà so sánh biết
nó có. Và nó chỉ là một thứ công năng, không phải do sắc
bên ngoài tạo nên.
Sắc
có đối ngại bên ngoài, về lý đã không thành, thế nên
nó chỉ là do nội thức biến hiện. Do công năng phát sinh
nhãn thức mà gọi nó là nhãn căn v.v... Nó là chỗ nương
gá phát sanh nhãn thức v.v...
Cái
duyên về sở duyên bên ngoài của nhãn thức, về lý chẳng
phải thật có, nên phải chấp nhận do tự thức biến hiện
làm cái duyên về sở duyên, nghĩa là cái tướng dẫn sanh
ra thức tương tợ với nó. Các ông chấp nó là cái duyên
về sở duyên là không đúng, vì chẳng phải chỉ có khả
năng làm phát sanh mà cho là cái duyên về sở duyên. Chớ bảo
nhân duyên v.v... cũng là cái duyên về sở duyên của thức
(Sở duyên duyên của thức phải có đủ hai nghĩa. Một là
có khả năng phát sanh thức; hai là làm đối tượng cho thức
duyên. Năm căn chỉ có khả năng phát sanh năm thức chứ không
làm đối tượng cho năm thức duyên, thì không thể gọi năm
căn là Sở duyên duyên. Nếu năm căn chỉ một nghĩa là phát
sanh thức mà gọi nó là Sở duyên duyên, thì Nhân duyên, Ðẳng
vô gián duyên cũng có khả năng phát sanh thức, vô lẽ cũng
cho đó là Sở duyên duyên cả sao?)
Hoặc
cho khi năm thức nhãn, nhĩ v.v... liễu biệt sắc, thanh, nó
chỉ duyên với tướng sắc thanh hòa hợp, tương tợ tướng
cực vi kia cũng không đúng, vì không phải tướng sắc, thanh
hòa hợp lại có thật thể riêng, khác với cực vi. Vì khi
phân tích tướng sắc thanh hòa hợp ấy, thì cái thức duyên
các tướng sắc thanh hòa hợp tương cực vi kia nhất định
không phát sanh nữa.
Tướng
hòa hợp kia đã không thật có, nên không thể nói nó là cái
duyên của năm thức. Chớ bảo rằng mặt trăng thứ hai lại
có thể làm duyên phát sanh năm thức, (mặt trăng thứ hai do
mắt lòa mà có, nó chỉ làm đối tượng trông thấy [sở
duyên] chứ nó không phải có thật, làm duyên phát sanh ra thức)
Lại
chẳng phải các cực vi ở vị trí hòa hợp nhau lại là có
thể làm sở duyên cho năm thức, vì trên năm thức không thấy
có tướng cực vi (cực vi chỉ có với ý thức).
Lại
chẳng phải các cực vi sẵn có tướng hòa hợp, vì khi nó
không hòa hợp thì không có tướng hòa hợp đó.
Lại
chẳng phải ở vị trí hòa hợp với khi không hòa hợp, thể
tướng các cực vi khác nhau. Cho nên ở vị trí hòa hợp cũng
như không hòa hợp, cực vi của sắc v.v... chẳng phải là
cảnh sở duyên của năm thức.
- Có
người chấp "mỗi mỗi cực vi của sắc v.v... khi không hòa
tập thì không phải là cảnh sở duyên của năm thức, nhưng
khi ở vị trí hòa tập, lần lượt giúp nhau phát sanh ra thô
tướng thì làm cảnh sở duyên cho thức, Tướng đó thật
có làm cảnh sở duyên.
Lối
chấp này không đúng. Vì ở vị trí hòa tập cũng với khi
chưa hòa tập, thể tướng cực vi là một. Và vì cực vi của
các vật bình, bồn, bằng nhau thì thức duyên theo tướng đó
phải không khác nhau mới được. Và ở vị trí hòa tập,
mỗi mỗi cực vi bỏ tướng tròn vi tế sẵn có của nó.
Lại
chẳng phải thức duyên tướng thô lại duyên tướng vi tế.
Chớ bảo rằng thức duyên các cảnh này lại duyên các cảnh
khác, một thức lại duyên tất cả cảnh. Chấp nhận có cực
vi còn bị lỗi như thế, huống không có cực vi thật ở ngoài
thức (mà lại chấp có cực vi ở ngoài thức sao?).
Do
đó biết chắc tướng sắc tương tợ từ tự thức biến
hiện ra làm cái duyên sở duyên. Vì kiến phần nương nơi
đó phát sanh, đồng thời mang theo tướng đó.
Nhưng
khi thức biến, tùy lượng lớn nhỏ, kíp hiện ra một tướng,
chứ không phải riêng biến làm nhiều cực vi rồi hợp lại
thành một vật.
Vì
người ta chấp thô sắc có thật thể, nên Phật nói cực
vi để khiến họ phân tích trừ bỏ, chứ chẳng phải Phật
bảo các sắc có cực vi thật. Các vị tu Du già dùng tuệ
giả tưởng đối với tướng sắc thô, lần lượt phân tích,
cho đến khi không phân tích được nữa, giả nói đó là cực
vi. Tuy là cực vi vẫn còn có phương hướng và phần vị,
nhưng không thể phân tích được. Nếu phân tích tiếp thì
sẽ có tướng gần như hư không hiện ra, không còn gọi là
sắc, cho nên nói cực vi là ranh giới cùng cực của sắc.
Do
đó nên biết các sắc có đối ngại đều do thức biến hiện
chứ không phải do cực vi hợp thành.
Các
sắc không đối ngại, vì cùng là một loại này, nên cũng
không phải thật có. Hoặc vì không đối ngại giống như
Tâm, Tâm sở, quyết chắc không phải thật sắc.
Các
sắc có đối ngại, hiện có sắc tướng, lấy lý suy xét,
lìa thức còn không có, huống sắc không đối ngại, hiện
không có sắc tướng mà lại có thể bảo đó là sắc pháp
thật có ư? (11)
Hỏi:
- "Biểu sắc, Vô biểu sắc", há không phải thật có?
Ðáp:
- Chúng chẳng phải thật có. Vì sao? Vì như biểu sắc của
thân, nếu là thật có thì lấy gì làm thể tánh? Nếu nói
lấy hình lượng làm thân thì tức không phải thật có, vì
hình lượng có thể phân tích cho đến cực vi thì không thể
còn có dài ngắn v.v... Nêú nói lấy động tác làm thân, cũng
không phải thật có, vì vừa sanh liền diệt, không có nghĩa
động chuyển, vì pháp hữu vi diệt là tự diệt, không cần
đợi nhân (duyên) mới diệt. Diệt nếu còn phải đợi nhân
thì không thành diệt. Nêú nói có sắc mà không phải hiển
sắc, không phải hình sắc, mà là do tâm dẫn sanh cử động
tay chân, gọi là thân biểu nghiệp, cũng không đúng lý. Vì
sắc đó nếu là động, thì bị phá như nghĩa trước. Nếu
là nhân của động thì tức là gió, song gió không biểu thị,
không thể gọi là biểu. Lại nếu gió đây là thân xúc, thì
xúc không thông có tánh thiện ác (mà thân nghiệp thì đủ
thiện ác). Lại nếu là hương, vị, thì không phải hiển
sắc, do với xúc mà biết. Thế nên Thân biểu nghiệp, chẳng
phải thật có.
Nhưng
do tâm làm nhân, do bản thức biến hiện ra sắc tướng nơi
tay chân, sanh diệt tiếp nối, chuyển từ vị trí này đến
vị trí khác, như tuồng có động tác, biểu thị cái tâm,
giả gọi đó là thân biểu.
Ngữ
biểu nghiệp cũng không phải thật có tánh âm thanh, lấy làm
ngữ biểu, vì âm thanh trong một sát na không biểu thị được
chi hết, còn nhiều sát na nối tiếp thì lại không thật.
Lại sắc có đối ngại bên ngoài trước đây đã phá. Nhưng
nhân nơi tâm thứ sáu mà bản thức biến ra tợ âm thanh, sanh
diệt tiếp nối, như tuồng có biểu thị, giả danh nói là
ngữ biểu, thì không trái lý.
Biểu
sắc đã không thật, thì Vô biểu sắc đâu có thật. Nhưng
y theo tâm tư nguyện vọng, có phần hạn giữa thiện ác riêng
biệt, giả lập tên là Vô biểu. Về lý cũng không trái. Nghĩa
là vô biểu đây hoặc y nơi chủng tử "Tư" tăng trưởng có
khả năng phát ra thân và ngữ thiện ác mà lập. Hoặc y nơi
"Tư tâm sở" hiện hành trong khi Thiền định, có khả năng
ngăn dứt thân ngữ ác mà lập. Thế nên đó là giả có.
Hỏi:
- Trong kinh đức Thế Tôn nói có ba nghiệp. Nay bác thân nghiệp
như thế, há không trái kinh?
Ðáp:
- Ðây không phải bác là không, mà chỉ nói nó không phải
là thật sắc. "Tư tâm sở" phát động nơi thân, gọi là thân
nghiệp, "Tư tâm sở" phát động ra ngữ, gọi là ngữ nghiệp.
"Thẩm tư lự" và "Quyết định tư" tương ưng với ý, tác
động ý, gọi là ý nghiệp. "Tư tâm sở" khởi ra nơi thân,
ngữ, có sự tạo tác, gọi là nghiệp. Thân và ngữ là đường
đi của Thẩm lự tư và Quyết định tư. Lại nghiệp nhân
thiện ác đó sanh ra quả Dị thục khổ, lạc, nên cũng gọi
là đạo, gọi chung là nghiệp đạo. Cho nên bảy nghiệp đạo
(thân ba nghiệp, miệng bốn nghiệp) trước cũng đều lấy
"Tư" làm tự tánh. Hoặc thân biểu, ngữ biểu (không phải
nghiệp ) do "Tư tâm sở' phát động, giả nói là nghiệp. Nó
là con đường của "Tư" đi qua, nên gọi là nghiệp đạo.
Do
đó nên biết thật không có sắc bên ngoài, mà chỉ do nội
thức biến sanh ra tợ như sắc bên ngoài.(12)
- Bất
tương ưng hành pháp cũng không thật có. Vì sao? Vì pháp Bất
tương ưng hành như "đắc", "phi đắc" v.v... nó chẳng như
Sắc, Tâm và Tâm sở, có thể có tướng rõ ràng. Không thể
có pháp Bất tương ưng hành khác với sắc, Tâm và Tâm sở
mà tự có tác dụng được. Do đó nên biết pháp Bất tương
ưng hành, chẳng phải thật có. Chỉ y nơi phận vị của Sắc,
Tâm và Tâm sở mà giả lập, nó nhất định không thể khác
với sắc, Tâm và Tâm sở mà có thật thể thật dụng (tôn),
vì nó nhiếp vào hành uẩn (nhân), như Sắc, tâm (dụ). Hoặc
vì nó không nhiếp vào Tâm, Tâm sở và sắc, Vô vi, thì ví
như cái pháp hoàn toàn không, nên nó nhất định không phải
thật có. Hoặc vì nó không nhiếp vào các thật pháp khác,
thì cũng như các giả pháp khác, chẳng phải có thật thể.
Luận
chủ: - Vả, kia (Tiểu thừa) như thế nào mà biết "đắc",
"phi đắc" khác với sắc, tâm, riêng có thật thể tác dụng?
Tiểu
thừa đáp: - Do Khế kinh nói vậy. Như kinh nói: "Bố đặc
già la (phàm phu, hữu tình) thành tựu thiện ác, Thánh giả
thành tựu mười pháp vô học" (Tám chánh đạo, thêm chánh
giải thoát, chánh tri phàm phu). Lại nói: "Hàng Dị sanh không
thành tựu Thánh pháp, các A la hán không thành tựu phiền não".
Chữ "thành tựu", "không thành tựu" ở đây, là hiển tỏ
nghĩa "đắc" và "phi đắc".
Luận
chủ: - Kinh không nói: "đắc, phi đắc" khác với sắc, tâm
riêng có thật thể thật dụng. Nên sự dẫn chứng trên không
thành. Kinh cũng nói: "Luân Vương thành tựu bảy báu". Há phải
chính là thành tựu tha nhân và phi tình? (Năm báu đầu là
tha thân, hai báu sau thuộc phi tình). Nếu bảo đối với bảy
báu có sức tự tại, mà giả nói là "thành tựu", thì đối
với pháp thiện ác làm sao không chấp nhận giả nói
như thế, mà cứ chấp là thật có "đắc"? Nếu bảo bảy
báu ở ngay hiện tại nên có thể giả nói "thành tựu", sao
biết riêng pháp thiện ác được thành tựu lại lìa hiện
tại mà có? Nếu lìa hiện tại thời pháp thiện ác thật
đúng lý chẳng phải có. Hiện tại chắc chắn có hạt giống
thiện ác v.v...
Lại,
"đắc" đối với các pháp, có công dụng gì thù thắng? Nếu
nói "đắc" có khả năng làm nhân cho pháp sanh khởi, thì lẽ
ra nó cũng có thể làm nhân sanh khởi pháp vô vi? Lại tất
cả vật vô tri không có "đắc" thì lẽ ra vĩnh viễn không
khởi, và những vật chưa được hoặc đã mất thì lẽ ra
vĩnh viễn không sanh (nhưng thực tể nó vẫn khởi sanh). Nếu
bảo do "Câu sanh đắc" làm nhân mà khởi lên, thời hai thứ
sanh (là sanh và sanh sanh) của ngươi chấp thành vô dụng.
Lại
nếu lấy cái nhân đủ ba tánh thiện, ác, vô ký làm Câu sanh
đắc, thì thiện, ác, vô ký nên khởi ra một lần, nếu phải
chờ duyên khác nó mới khởi, thì "đắc' trở thành vô dụng.
Nếu "đắc" đối với pháp, chính là cái nhân không mất,
loài hữu tình nhờ đó mà thành tựu thiện, ác. Nhưng các
pháp thiện ác thành được đều không lìa khỏi hữu tình.
Nếu khỏi hữu tình thì không có gì thật. "đắc". Cho nên
"đắc" đối với các pháp trở thành vô dụng.
"Ðắc
đã không thật có, thì "phi đắc" cũng vậy.
Nhưng
nương các pháp có thể thành tựu nơi hữu tình, mà theo phận
vị giả lập có ba thứ thành tựu: Một là chủng tử thành
tựu. Hai là tự tại thành tựu. Ba là hiện hành thành tựu.
Ngược lại đây, giả lập tên "chẳng thành tựu" (phi đắc).
Loại này tuy nhiều, nhưng đây đối với địa vị chưa hại
vĩnh viễn chủng tử lậu hoặc do kiến sở đoạn trong ba
cõi mà giả lập "phi đắc' và gọi là "Dị sanh tánh" (phàm
phu) vì chưa thành tựu được các Thánh pháp vậy.
Lại
làm sao (Tiểu thừa) biết ngoài Sắc, Tâm, Tâm sở, thật có
pháp "đồng phận"? – Vì Khế kinh nói. Như Khế kinh nói:
"Ðây là thiên đồng phận, đây là nhân đồng phận, cho đến
nói rộng" (là phần đồng nhau giữa trời và trời, người
và người).
Luận
chủ: - Kinh này không nói khác với Sắc, Tâm, Tâm sở thật
có pháp đồng phận riêng, nên sự dẫn chứng trên không thành.
Nếu
nói trí đồng, ngôn ngữ đồng là nhân nơi "đồng phận"
mà khởi, nên biết thật có "đồng phận". Nếu thế thời
lý đáng cỏ cây cũng nên có đồng phận (theo định nghĩa,
đồng phận chỉ để nói về loài hữu tình). Lại nhân nơi
"đồng phận" mà khởi trí biết đồng, ngôn ngữ đồng, thì
"đồng phận" lại nên có "đồng phận" khác nữa. Nhưng kia
đã không vậy, thì đây sao lại vậy được?
Lại
nếu bảo do "đồng phận" làm nhân mới khởi sự việc đồng,
ý muốn đồng, nên biết thật có "pháp đồng phận". Nói
vậy cũng không đúng lý. vì do tập quán về trước làm nhân
mà khởi sự việc đồng, cần gì phải chấp thật có pháp,
"đồng phận" riêng làm nhân.
Nhưng
y nơi phận vị sai biệt của thân tâm tương tợ giữa các
hữu tình mà giả lập "đồng phận".
Lại
làm sao biết khác với Sắc, Tâm, Tâm sở thật có "mạng căn"?
(Tiểu thừa đáp) do Khế kinh nói. Như Khế kinh nói: " Có sức
sống, hơi nóng và thức là ba" (thọ, noãn, thức), nên biết
có "mạng căn" được gọi là sức sống.
Luận
chủ: - Kinh này không nói khác với Sắc, Tâm thật có thọ
thể, nên dẫn chứng đó không thành.
Lại
trước đã thành lập nghĩa "sắc (noãn) không lìa thức, nên
biết ở đây xa lìa thức cũng không có mạng căn" (vì mạng
căn là một phần của sắc).
Lại,
nếu "mạng căn" thật có khác với thức, thì nó cũng giống
như thọ và tưởng v.v... chẳng phải thật "mạng căn".
Hỏi:
- Nếu không có ba pháp nhu vậy, tại sao kinh nói có ba pháp
thọ, noãn, thức?
Luận
chủ: - Vì nghĩa có sai khác nên nói có ba, như nói bốn chánh
đoạn (chỉ có tinh tấn mà vì nghĩa có sai khác nên nói là
bốn).
Hỏi:
- (Ðã không có thức) thì ở địa vị vô tâm, thọ và noãn
lẽ phải không có?
Ðáp:
- Ðâu phải kinh không nói thức chẳng lìa thân đó sao?
Hỏi:
- Nếu (thức không lìa thân) như vậy, thì sao gọi đó là
địa vị vô tâm?
Ðáp:
- Ở địa vị kia chỉ diệt chuyển thức mà gọi là vô tâm,
chứ không phải diệt A lại da thức. Lý do có thức A lại
da này, sau đây sẽ nói rõ. Chính thức A lại da này đủ làm
cái thế cho ba cõi, sáu thú, bốn loài sanh. Ðó là quả Dị
thục biến khắp hằng tương tục, chứ khỏi phải nhọc chấp
riêng có "mạng căn" thật làm gì?
Nhưng
y nơi chủng tử thân sanh ra thức thứ tám này, nó do công
năng sai biệt của nghiệp trước dẫn dắt dến nơi chốn
và tồn tại trong thời gian nhất định, mà giả lập đó
là "mạng căn" thôi.
Lại,
làm sao (Tiểu thừa biết hai "định vô tâm" (là Vô tưởng
định và Diệt tận định) và quả Dị thục trời Vô tưởng
khác với Sắc, Tâm, Tâm sở, có thật tự tánh? (Tiểu thừa
đáp) - Nếu không thật có hai định vô tâm và quả Dị thục
Vô tưởng thì không thể ngăn Tâm, Tâm sở làm cho không hiện
khởi (Luận chủ). Nếu ở địa vị vô tâm, có pháp thật
khác với Sắc, Tâm, có khả năng ngăn Tâm, Tâm sở không
cho khởi, mà gọi là định vô tâm. Nếu thế, khi vô sắc,
lẽ phải có pháp vô sắc riêng khác với Sắc, Tâm, làm chướng
ngại sắc, mà được gọi là Vô sắc định hay sao? Kia đã
không thế, thì đây sao lại thế?
Lại,
làm ngăn ngại tâm, cần gì phải có thật pháp, như đê điều,
là pháp giả cũng có thể ngăn ngại được. Nghĩa là khi tu
định, đối với định có sự gia công, mhàm chán Tâm, Tâm
sở thô động, phát tâm kỳ nguyện thù thắng, ngăn Tâm, Tâm
sở, khiến Tâm, Tâm sở dần dần vi tế, nó huân vào Dị
thục thức, thành chủng tử nhàm chán tâm một cách cực mạnh,
do sự làm tổn hại và uốn dẹp chủng tử tâm đó, mà tâm
thô động tạm thời không hiện hành, và nương nơi phận
vị tâm không hiện hành đó mà giả lập hai định vô tâm.
Vì chủng tử này lành nên định cũng gọi là lành
Người
tu định Vô tưởng trước hết cầu quả vị Vô tưởng, huân
thành chủng tử chiêu cảm thức Dị thục ở cõi trời
Vô tưởng, ở đây những tưởng thô động dựa thức Dị
thục không còn hiện hành. Ngay nơi phận vị đó mà lập là
định Vô tưởng. Dựa thức Dị thục mà lập, nên được
gọi tên Dị thục.
Cho
nên biết ba pháp "Vô tưởng định", "Diệt tận định", "Vô
tưởng dị thục" (Vô tưởng quả), cũng không phải thật
có.
(Hết cuốn một của bản Hán)
- Lại
làm sao biết "các tướng hữu vi" khác với Sắc, Tâm, có tự
tánh thật? (Tiểu thừa đáp) Do Khế kinh nói vậy. Như Khế
kinh nói: "Có tướng hữu vi của ba pháp hữu vi" (pháp hiện
biết như Sắc, Tâm; pháp hiện thọ dụng như bình, áo; pháp
có tác dụng như năm căn). Cho đến nói rộng.( Luận chủ)
Kinh này không nói khác với Sắc, Tâm thật có tướng hữu
vi sanh, trụ v.v... nên lời dẫn chứng trên không thành. Không
phải vì chuyển thanh thứ sáu (tám cách thay đổi tiếp vĩ
ngữ ở danh từ, đại danh tư, hình dung từ trong Phạn ngữ,
gọi là tám chuyển thanh, là thể thanh, nghiệp, cụ, vị, tùy,
thuộc, ư, hô thanh. Hoặc gọi tám cách là thể cách tức chủ
ngữ. Dụng cách hay thọ cách, tác cách, dữ cách, đoạt cách,
sở hữu cách, y cách, hô cách. thanh thứ sáu là "thuộc thanh"
hay "thuộc cách", tức chữ "của" trong câu "của pháp hữu
vi", là biểu thị thể khác nhau giữa pháp hữu vi và tướng
hữu vi). Vì thể của Sắc, Tâm chính là Sắc, Tâm, chẳng
phải thể của năng tướng (là bốn tướng hữu vi sanh
trụ, dị, diệt) nhất định khác với sở tướng (là pháp
hữu vi Sắc, Tâm). Vì không thể bảo tướng cứng, ướt
(năng tướng) khác với đất, nước (sở tướng) v.v... Nếu
tướng của hữu vi khác với thể của sở tướng (là pháp
hữu vi Sắc, Tâm), thì thể của tướng vô vi phải nên khác
với sở tướng pháp vô vi (như chơn như v.v...).
Lại,
bốn tướng "sanh, trụ, dị, diệt", nếu thể nó đều thật
có thì nên phải trong tất cả thời một lượt phải khởi
lên tác dụng. Nếu vì bốn tướng trái nhau mà dụng không
thể cùng hiện có được, thời bốn thể cũng trái nhau, làm
sao cùng hiện có được?
Lại,
dụng của trụ, dị, diệt cũng không cùng khởi, vì năng tướng
là trụ, dị, diệt và sở tướng là Sắc, Tâm, thể cùng
sẵn có, thì dụng cũng nên như thế, vì không có tánh riêng.
Nếu bảo dụng của sanh, trụ, dị, diệt kia phải đợi nhân
duyên mới khởi, đã đợi nhân duyên, thì lẽ ra nó không
phải sẵn có. Lại, chấp có tướng sanh, trụ, dị, diệt
là vô dụng.
Lại,
sở tướng là Sắc, Tâm hằng có mà còn đợi sanh trụ đến
hợp, thì lý ưng pháp vô vi sẵn có cũng đợi sanh trụ đến
hợp, vì cái nhân của phápp vô vi kia và pháp hữu vi
đây không thể khác nhau vậy.
Lại,
đời quá khứ, vị lai chẳng phải hiện có, chẳng phải thường,
giống như không hoa, không thật, có tánh. Sanh ra gọi là có,
thi đâu phải ở vị lai, diệt mất gọi là không, thì lý
đáng không phải hiện tại. Diệt nếu chẳng phải không,
thì sanh nên chẳng phải có.
Lại,
"diệt" trái với "trụ" làm sao có thể chấp cho đồng thời,
"trụ" không trái với 'sanh", làm sao lại khác thời. Cho nên
biết lối chấp bốn tướng hữu vi sanh, trụ, dị diệt là
thật có kia, tới lui gạn hỏi thấy đều phi lý.
Nhưng
pháp hữu vi, do sức nhân duyên nên vốn không nay có, tạm
có lại hoàn không, vì để biểu thị nó khác với pháp vô
vi, nên giả lập bốn tướng. Vốn không nay có, ngay khi có
gọi là "sanh". Sanh tạm dừng gọi là "trụ", trong khi trụ
trước sau khác nhau, lại lập tên "dị". tạm có lại không,
ngay khi không thì gọi là "diệt". Ba tướng sanh, trụ, dị
trước là có, đồng ở hiện tại, một tướng diệt sau là
không, nên thuôc về quá khứ.
Hỏi:
- Tướng "diệt" là vô pháp, sao cho đó là tướng của hữu
vi?
Ðáp:
- Vì nó biểu thị về sau không, nên cho là tướng, đâu có
lỗi gì. Tướng "sanh" biểu thị hữu pháp từ trước chưa
có, tướng "diệt" biểu thị hữu pháp về sau không có. Tướng
"dị" biểu thị pháp đó không ngừng một chỗ, tướng "trụ"
biểu thị pháp đó tạm thời có tác dụng. Cho nên bốn tướng
này đối với pháp hữu vi tuy đều gọi là biểu thị, nhưng
sự biểu thị khác nhau. Dựa vào sát na biểu thị đó, mà
giả lập bốn tướng. Hoặc y vào phận vị trong một thời
kỳ cũng được giả lập bốn tướng.
Lúc
đầu có gọi là sanh, lúc sau không gọi là diệt. Sanh rồi
nói tiếp tương tợ gọi là trụ, chính khi nối tiếp mà chuyển
biến gọi là dị.
Thế
nên bốn tướng đều là giả lập.
- Lại,
làm sao biết khác với Sắc, Tâm thật có "danh, cú, văn thân"
để diễn tả? (Tiểu thừa đáp) Do Khế kinh nói vậy. Như
Khế kinh nói: "Phật có được danh, cú, văn thân hy hữu".
Luận
chủ - Nhưng kinh này không nói khác với Sắc, Tâm có danh cú,
văn thân thật nên lời dẫn chứng trên không thành. Nếu danh,
cú, văn khác với âm thanh mà thật có, thì nó giống như sắc,
thanh v.v... không thật có khả năng thuyên biểu diễn tả.
Nghĩa là âm thanh sanh ra "danh, cú, văn", thì âm thanh này chắc
đã có âm vận khuất khúc đủ để thuyên biểu, chứ cần
gì "danh" nữa? Nếu bảo chính âm vận khuất khúc trên âm
thanh là danh, cú, văn mà là thật có khác với âm thanh, vậy
thì lý đáng hình lượng khuất khúc nơi sắc ta thấy đó
cũng khác với sắc mà riêng có thật thể sao? Nếu bảo âm
vận khuất khúc nơi âm thanh giống như âm thanh dây đàn không
thể thuyên biểu được, thì âm thanh ngôn ngữ của hữu tình
cũng như âm thanh dây đàn vô tình kia, chẳng thể sanh ra "danh"
v.v...
Vả
lại, ai nói âm thanh dây đàn, không có khả năng thuyên biểu?
Nếu âm thanh dây đàn có khả năng thuyên biểu, vậy
âm thanh của gió, linh cũng có tác dụng thuyên biểu sao? –
Nhưng đây cũng như kia không riêng sanh ra "danh, cú, văn thân"
thật.
Nếu
cho rằng chỉ âm thanh ngôn ngữ mới có khả năng sanh
ra "danh, cú" v.v... thế tại sao không chấp nhận chỉ có ngôn
ngữ mới có khả năng thuyên biểu? Do lẽ gì biết chắc
khả năng thuyên biểu chính là ngôn ngữ? Làm sao biết khác
với ngôn ngữ riêng có năng thuyên? Ngôn ngữ không khác năng
thuyên, là việc trời, người đều biết, còn chấp năng thuyên
khác với ngôn ngữ, thì chỉ có trời mới ưa thôi.
Nhưng
y theo phận vị sai biệt của âm thanh ngôn ngữ mà giả lập
"danh, cú, văn thân". Danh diễn tả tự tánh, cú diễn tả nghĩa
sai biệt, còn văn tức là chữ, chỗ nương của danh và cú.
Ba thứ danh, cú, văn lìa âm thanh tuy không có thật thể, song
bên danh, cú, văn giả bên âm thanh thật khác nhau. Do danh, cú,
văn cũng chẳng phải chính âm thanh. Do danh, cú, văn là "pháp
vô ngại giải", âm thanh là "từ vô ngại giải", cảnh giới
có khác nhau. Âm thanh và danh, cú nhiếp vào uẩn, xứ, giới
cũng khác nhau. (Âm thanh nhiếp về sắc uẩn, thanh xứ, thanh
giới, còn danh, cú nhiếp về hành uẩn, pháp xứ, pháp giới).
Và
y theo cõi Ta bà này mà nói danh, cú, văn nương âm thanh giả
lập, chứ không phải tất cả các cõi khác đều thế. Có
những cõi Phật cũng nương theo ánh sáng, hoặc diệu hương,
diệu vị mà giả lập danh, cú, văn.
- Có
người chấp:""Tùy miên khác với Tâm, Tâm sở và nhiếp vào
Bất tương ưng hành uẩn". Lối chấp này cũng phi lý. Gọi
là Tùy miên (chủng tử) tham, sân cũng giống như hiện hành
tham, sân, chẳng nhiếp vào Bất tương ưng hành uẩn.
- Ðối
với người chấp thật có những pháp Bất tương ưng hành
khác, thì cứ chuẩn theo lý lẽ trên, đều ngăn trừ được.
- Hoặc
chấp các "pháp vô vi", lìa Sắc, Tâm chắc chắn thật có.
- Theo
lý không thể đưọc. Vả pháp quyết chắc là có, lược có
ba thứ:
1.
Pháp hiện biết được, như Sắc, Tâm.
2.
Pháp hiện thọ dụng được, như bình, áo v.v... hai pháp này
người đời đều biết là có, không đợi phải so sánh lý
do.
3.
Pháp có tác dụng, như mắt tai v.v... do mỗi thứ mắt, tai
có tác dụng mà chứng biết là có. Còn pháp vô vi không phải
người đời cũng biết chắc có. Lại phép vô vi không có
tác dụng như mắt, tai. Giả sử chấp nhận vô vi có tác dụng,
thì vô vi phải vô thường, thế nên không thể chấp vô vi
nhất định có.
- Nhưng
các vô vi là tính được biết, là tính được hiển lộ của
Sắc, Tâm, giống như Sắc, Tâm, không thể chấp lìa Sắc,
Tâm có tính vô vi.
Lại,
Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, thể
nó là một hay là nhiều? Nếu thể là một và biến khắp
mọi nơi, mà vì thể của hư không dung thọ hết các sắc
pháp, vậy hư không tùy theo pháp năng hợp với nó mà thể
nó trở thành nhiều, (nếu thể hư không là một thì) hợp
chỗ này tất không hợp chỗ khác. Nếu không như vậy thì
các pháp phải biến khắp lẫn nhau. Nếu bảo hư không không
hợp với các pháp, thì hư không không có thể dung thọ, giống
như các pháp vô vi khác.
Lại,
trong sắc có hư không chăng? Nếu có thì lộn xộn, không có
thì hư không không biến khắp.
Nếu
chấp Trạch diệt vô vi là một, thì khi kiết sử của trong
một bộ, một phẩm lậu hoặc được đoạn trừ, (kiến hoặc
do mê Bốn đế thành bốn bộ 88 hoặc sử, tư hoặc một bộ
81 phẩm), tất phải được trạch diệt đối với kiết sử
của các bộ, các phẩm hoặc khác. Khi một pháp vì thiếu
duyên không sanh được thì tất cả phải được phi trạch
diệt đối với tất cả pháp. Vì kia chấp các pháp vô vi
đồng một thể, thì lý phải như vậy.
Nêu
chấp ba pháp vô vi thể là nhiều nên có nhiều phẩm loại,
tất nó giống như sắc pháp, chứ không phải thật là pháp
vô vi. Và hư không lại không phải biến khắp dung thọ.
- Các
bộ phái khác chấp lìa Tâm, Tâm sở thật có pháp vô vi. Chuẩn
theo trên đây để phá.
Lại,
các pháp vô vi, vì chấp nhận nó không có nhân quả, thì giống
như sừng thỏ, chẳng phải khác với tâm mà thật có được.
- Nhưng
Khế kinh nói: "Có các pháp vô vi như hư không vô vi v.v... lược
có hai ý:
1.
Y theo thức biến, giả đặt là có. Nghĩa là từng nghe nói
đến tên hư không, theo đó phân biệt có các tướng hư không
v.v... rồi do sức tập quen mãi nên khi tâm sanh in tuồng có
tướng hư không vô vi hiện ra. Tướng sở hiện ấy trước
sau nối tiếp không thay đổi, giả nói là thường.
2.
Y theo pháp tánh, giả đặt là có. Nghĩa là có tính chơn như
do "không, vô ngã" hiển lộ, chẳng phải có, chẳng phải không,
bặt dứt đường tâm suy miệng nói, cùng với hết thảy pháp
chẳng phải một chẳng phải khác. Là chơn lý của các pháp,
nên gọi là pháp tánh hay gọi là chơn như vô vi, do sức giản
trạch dứt hết các ô nhiễm rốt ráo chứng hội, nên gọi
là trạch diệt; không do sức giản trạch, mà bản tánh vốn
thanh tịnh, hoặc vì thiếu duyên mà được hiển lộ, nên
gọi là phi trạch diệt; sự thọ khổ vui diệt hết, nên gọi
là bất động diệt vô vi; do thọ và tưởng không hiện hành,
nên gọi là thọ tưởng diệt vô vi. Năm vô vi sau đều nương
chân như vô vi mà giả lập.Và chân như cũng là danh từ giả
thi thiết, vì để ngăn sự bác không, cho nên nói là có. Vì
ngăn sự chấp có, cho nên gọi là không. Không thể bảo là
như huyễn, cho nên gọi là thật. Lý không phải hư vọng điên
đảo, nên gọi là chân như. Không đồng với các Tông phái
khác chấp lìa Sắc, Tâm có cái pháp chân thường, gọi là
chân như, cho nên biết các pháp vô vi, không chắc thật có.
- Ngoại
đạo và các thừa giáo khác chấp có các pháp khác với Tâm,
Tâm sở, các pháp đó chẳng phải có thật tánh (tôn), vì
là sở thủ vậy (nhân), như Tâm, Tâm sở (dụ). Cái biết
của Tâm, Tâm sở năng thủ lấy các pháp kia, cũng không duyên
đến các pháp kia (tôn), vì là năng thủ (nhân), như cái biết
của Tâm, Tâm sở duyên nơi tướng phần của Tâm, Tâm sở
(dụ).
- Song
các Tâm, Tâm sở là pháp y tha khởi, cũng như việc huyễn,
không phải thật có, chỉ vì để khiến trừ cái bịnh vọng
chấp thật có cảnh ở ngoài Tâm, Tâm sở, nên nói "Duy có
thức". Nếu lại chấp "Duy thức" là thật có, thì cũng như
chấp ngoại cảnh, đều là pháp chấp. (13)
-
Nhưng các "pháp chấp" lược có hai thứ:
Một
là câu sanh pháp chấp.
hai
là phân biệt pháp chấp.
- Câu
sanh pháp chấp là từ vô thỉ đến nay do hư vọng huân tập
thành cái sức nhân bên trong, thường cũng sanh một lần với
thân, không đợi phải có tà giáo và tà phân biệt, nó vẫn
tự chuyển sanh, cho nên gọi là câu sanh. Câu sanh này lại
có hai: Một là thường tương tục, đó là thức thứ bảy
duyên kiến phần thức thứ tám, khởi lên tướng đó trên
tự thức thứ bảy, rồi chấp cho đó lá pháp thật. Hai là
có gián đoạn, đó là thức thứ sáu duyên tướng ngũ uẩn,
thập nhị xứ, thâp bát giới do thức biểu hiện, tướng
đó hoặc chung hoặc riêng hiện lên trên tự thức thứ sáu
rồi chấp lấy đó cho là pháp thật. Hai thứ pháp chấp này
vi tế khó đoạn. Về sau ở trong Thập địa thường thường
tu tập quán "Pháp không" một cách rốt ráo mới có thể đoạn
trừ được.
- Phân
biệt pháp chấp thì còn do sức ngoại duyên hiện tại, nó
không cùng sanh một lần với thân, phải đợi có tà giáo
và tà phân biệt rồi mới sanh khởi, cho nên gọi là phân
biệt. Thứ phân biệt pháp chấp này chỉ có ở thức thứ
sáu. Thứ này cũng có hai: Một là duyên theo tướng uẩn, xứ,
giới của tà giáo nói, rồi khởi tướng ấy trên tự tâm
mà phân biệt so đo, chấp cho đó là pháp thật. Hai là duyên
theo tướng tự tánh, minh đế v.v... của tà giáo, rồi khởi
tướng ấy trên tự tâm mà phân biệt so đo, chấp cho đó
là pháp thật. Hai thứ pháp chấp này thô phù dễ đoạn. Khi
nhập vào Sơ địa, quán tánh "Pháp không chân như" của hết
thảy pháp, bèn có thể đoạn trừ.
- Những
pháp chấp đã nói như trên, nếu là pháp ngoài tâm thì pháp
đó hoặc có hoặc không, nếu là pháp ở trong tâm thì pháp
đó đều có (pháp ở ngoài tâm là sơ sở duyên nên hoặc
có hoặc không khi chấp nó là có thật; còn pháp ở trong tâm
là tướng phần của thức biến, là thân sở duyên nên luôn
có, khi chấp nó).
Cho
nên biết pháp chấp là đều duyên theo tợ pháp hiện ra trên
tự tâm mà chấp cho là thật có. Nhưng tướng tợ pháp đó
là từ duyên sanh, chỉ có một cách như huyễn. Pháp được
chấp cho là thật, vì chỉ do hư vọng kế đạt, quyết chắc
là không có. Cho nên đức Thế Tôn nói: Từ Thị nên biết,
các pháp của thức duyên, chỉ do thức hiện. Nó là Y tha khởi,
giống như việc huyễn".
Như
vậy, ngoại đạo và các thừa giáo chấp có ngã và pháp lìa
thức; ngã, pháp ấy đều không phải thật có. Cho nên Tâm,
Tâm sở chắc chắn không dùng sắc pháp bên ngoài làm sở
duyên duyên. Cái dụng của duyên là phải nương nơi pháp có
thật thể (mà ngã và pháp không có thật thể, cho nên không
phải là duyên của tâm). Ngay nhóm Tâm, Tâm sở hiện tại
này cũng không phải là thân sở duyên duyên của nhóm Tâm,
Tâm sở kia (tôn), ví như không phải sở duyên (dụ), vì nhiếp
vào nhóm tâm khác (nhân). Ðồng tụ Tâm sở cũng không phải
thân sở duyên (tôn), vì tự thể khác nhau (nhân), ví như các
cái không phải sở thủ khác (dụ).
Do
đó nên biết thật không có ngoại cảnh, chỉ có nội thức
sanh tợ như ngoại cảnh. Thế nên Khế kinh có bài kệ rằng:
"Ngoại cảnh như kẻ ngu phân biệt, nó thật đều không, chỉ
do tập khí nhiễu loạn ô trược tâm, nên mới có tướng
tương tợ như ngoại cảnh hiện ra".
Hỏi:
- Có người nạn rằng: Nếu không có thật ngã, thật pháp
lìa ngoài thức thì giả ngã, giả pháp cũng không có. Vì giả
tất phải nương nơi sự thật, sự tương tợ và đức tánh
chung mà lập, như có lửa thật (sự thật), có người nóng
như lửa (sự tương tợ). Có đức tướng đỏ rực (pháp
chung) mới có thể giả nói người ấy như là lửa. Giả nói
nhười ấy như trâu v.v... Nên biết cũng thế. Ngã và pháp
nếu không thật có thì dựa vào đâu để giả nói. Vì không
giả thuyết thì nói tương tợ cũng không thành, làm sao nói
tâm biến chuyển sanh ra cảnh tương tợ như cảnh bên ngoài?
Luận
chủ: - Kia nạn như thế là phi lý. Nói ngã và pháp lìa thức
mà có, trước đã phá rồi, vì y theo loại hay y theo thật
để giả nói lửa, đều không thành.
- Y
theo "loại" mà giả nói, lý không thành. Vì cái tính đỏ rực
mà có sức đốt cháy không phải đồng loại lửa và người
đều có. Nếu không có đức tính đồng loại chung cho cả
hai bên mà vẫn giả nói người kia như lửa, thì cũng có thể
nơi nước giả nói là lửa. Nếu bảo tính đỏ rực, tuy không
phải là sức đốt cháy, nhưng vì nó không lìa nhau, nên có
thể giả nói; nói thế không đúng, vì hiện thấy giữa người
và đức tính đỏ rực của lửa vốn lìa nhau. Nơi loài đỏ
rực đã không có đức tính đốt cháy của lửa, lại xa lìa
nhau giữa loại và đức, thế mà có người đối với người
vẫn nói người kia như lửa. Cho nên biết giả nói không phải
nương nơi loại mà thành.
- Y
theo nơi "thật" mà giả nói, lý cũng không xong. Vì đức tính
đỏ rực đốt cháy không phải chung có giữa lửa và người.
Nghĩa là đức tính đỏ rực ở nơi lửa và ở nơi người
khác nhau, vì chỗ nương khác nhau, nó không cùng mà giả nói,
thì cũng có lỗi như trước. Nếu bảo người và đức tính
đỏ rực của lửa tương tợ nên có thể giả nói thì cũng
không đúng lý. Vì nói lửa ở nơi người chứ không phải
ở nơi đức tính. Do đó biết giả thuyết không phải y nơi
thật mà thành.
Lại,
nếu bảo giả tức phải nương sự thật mới lập, thì cũng
không đúng lý. Vì sự thật tức là tự tướng, nó không
phải là cảnh giới của giả trí biết tới và giả thuyên
(ngôn, cú, văn) nói tới, vì giả trí và giả thuyên không
thể chứng biết được tự tướng. Giả trí và giả thuyên
chỉ biết được cọng tướng của các pháp. Cũng không phải
lìa ngoài cọng tướng này, có cách gì khác để thiết đặt
tự tướng làm chỗ nương của giả. Nhưng giả trí và giả
thuyên phải y nơi âm thanh mà khởi, chỗ âm thanh không với
tới, thì giả trí và giả thuyên không khởi lên được. Do
năng thuyên và sở duyên (nói và được nói) đều chẳng phải
tự tướng. Cho nên biết giả thuyết không dựa vào sự thật.
Do
đó biết chỉ y nơi sự tương tợ mà thành giả nói. Tương
tợ nghĩa là cọng tướng tăng thêm, chứ không phải tướng
có thật. Ngôn thanh dựa vào tướng tương tợ tăng thêm đó
mà khởi ra, cho nên không thể nói giả phải nương thật mới
có. Thế nên lối cật nạn của người kia không đúng lý.
- Nhưng
y nơi thức biến mà giả nói tợ ngã, tợ pháp để đối
trị người vọng chấp có thật ngã thật pháp. Như trong Khế
kinh nói kệ: "Vì đối trị kẻ ngu phu chấp có thật ngã pháp,
cho nên nơi tướng biến hiện của thức, giả nói danh từ
ngã, pháp". (14)
- Các
tướng do thức biến hiện tuy nhiều thứ, nhưng thức năng
biến phân loại có ba:
Một
là thức Dị thục, tức thức thứ tám, có nhiều tính dị
thục.
Hai
là thức Tư lương, tức thức thứ bảy, thường thẩm xét
tư lương.
Ba
là thức Liễu biệt cảnh, tức sáu thức trước, liễu biệt
cảnh tướng thô phù. Trong bài tụng đầu có chữ "cập" (và)
là tỏ sự hợp sáu thức trước làm một loại thức Liễu
biệt cảnh.
Ba
thức này đêù gọi là thức năng biến. Năng biến có hai
thứ:
- Một
là nhân năng biến, tức hai thứ nhân tập khí là Ðẳng lưu
và Dị thục (tức là danh ngôn huân tập, hữu chí huân tập
hay nghiệp tập khí nói ở đoạn sau), trong thức thứ tám.
Ðẳng lưu tập khí do chủng tử ba tánh thiện, ác, vô ký
trong bảy chuyển thức trước huân tập ba chủng tử thiện,
ác vô ký trong thức thứ tám khiến sanh trưởng. Dị thục
tập khí, do hai tánh thiện, ác hữu lậu trong sáu thức trước
huân tập chủng tử thiện, ác hữu lậu trong thức thứ tám
làm cho sanh trưởng.
- Hai
là quả năng biến, tức do thế lực của hai tập khí trên
mà có tám thức tự chứng phần sanh, (từ tự chứng phần)
hiện ra các tướng (tướng phần và kiến phần). Bởi do Ðẳng
lưu tập khí làm nhân duyên, nên sanh ra thể và tướng của
tâm thức sai biệt, gọi là quả đẳng lưu, vì quả giống
nhân. Do Dị thục tập khí làm cái duyên tăng thượng chiêu
cảm sanh ra thức thứ tám hằng tương tục, thù đáp lại
thế lực của dẫn nghiệp, gọi là chơn Dị thục, và chiêu
cảm sanh ra sáu thức trước, thù đáp lại mãn nghiệp, vì
nó từ chơn Dị thục khởi lên, nên gọi là Dị thục sanh,
chứ không gọi chơn Dị thục, vì nó gián đọan. Chính chơn
Dị thục và Dị thục sanh, chung gọi là Dị thục quả. Vì
quả khác nhân vậy. Nhưng trong bài Tụng đây chỉ nói về
bản thức thứ tám bị thức thứ bảy chấp ngã, nó chấp
trì chủng tử tạp nhiễm lại có thể biến ra quả thức
Dị thục mà gọi là Dị thục, chứ không phải nói tất cả
Dị thục nơi sáu thức trưóc. (15)
VII.
THỨC BIẾN HIỆN THỨ NHẤT
- Tuy
đã lược nói ba tên năng biến, nhưng chưa biện giải rộng
ba tướng năng biến. Vậy thức năng biến đầu, tướng có
như thế nào?
Tụng
đáp:
Ðầu,
thức A lại da.
Dị
thục, Nhất thiết chủng.
Không
thể biết chấp, thọ.
Xứ,
liễu. Tương ưng xúc,
Tác,
ý, thọ, tưỏng, tư.
Và
chỉ có xả thọ.
Tánh
vô phú vô ký.
Tánh
xúc cũng như thế,
Hằng
chuyển như nước, dốc,
A la
hán bỏ hết.
Luận
rằng: Thức năng biến đầu, theo Ðại và Tiểu thừa giáo
gọi là A la da. Thức này có đủ ba nghĩa năng tàng, sở tàng,
chấp tàng. Nghĩa là vì nó cùng với cac pháp tạp nhiễm làm
duyên lẫn nhau, và vì loài hữu tình ưa chấp nó làm tự ngã
bên trong. Tên A lại da này chính là biểu thị tự tướng
sở hữu của thức Năng biến thứ nhất, bởi nhiếp trì cả
nhân quả làm tự tướng của nó. Tự tướng của thức thứ
tám này tuy có nhiều phần vị (nên có nhiều nghĩa), nhưng
nghĩa Tàng thức được xả bỏ trước tiên và vì tội lỗi
nó rất nặng, cho nên nghiêng theo mà nói tên A lại da trước
tên Dị thục và Nhứt thiết chủng.
Thức
thứ tám này là quả Dị thục trong các cõi các thú, các loại
sanh do nghiệp thiện, bất thiện dẫn đến, gọi là chơn Dị
thục. Vì lìa thức thứ tám này, thì không thể riêng có quả
Dị thục thù thắng về mạng căn, chúng đồng phận, cùng
sanh tử uẩn, hằng thời tương tục. – Tên Dị thục này
chính là biểu thị "quả tướng" sở hữu của thức Năng
biến thứ nhất. Quả tướng của thức thứ tám này tuy có
nhiều vị, nhiều chủng, nhưng vì nghĩa Dị thục có tánh
cách đặc biệt không chung với bảy thức trước, nên nghiêng
theo mà gọi tên là thức Dị thục.
Lại,
thức thứ tám có khả năng chấp thọ duy trì chủng tử
các pháp không để mất, cho nên lại gọi là thức Nhất thiết
chủng. Vì lìa thức này, các pháp Sắc, Tâm khác không có
được khả năng cùng khắp chấp thọ duy trì chủng tử
các pháp. Tên Nhất thiết chủng này chính là biểu thị "nhân
tướng" sở hữu của thức Năng biến thứ nhất. Nhân tướng
của thức này tuy có nhiều thứ, nhưng tính cách duy trì chủng
tử của nó là đặc biệt không chung với bảy thức trước,
nên nghiêng theo mà gọi tên là thức Nhất thiết chủng.
Thức
Năng biến thứ nhất thể tướng tuy nhiều, nhưng nói tóm
tắt chỉ có ba tướng như thế. (16)