Ðạo Ðức Học
Của Giải Thoát
Trần
Tuấn Mẫn
Ðạo
đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào
lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác,
giữa điều được làm và điều bị cấm làm, nhằm nêu ra
một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các
hành động. Ðạo đức học nhằm nêu định cứu cánh của
mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức
mục đích, lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách
giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.
Khi
bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ
bản: "Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và
đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?". Câu hỏi kép gồm
hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế
sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế
đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế
thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn
liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm,
bổn phận... Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị
của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không?
Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế...? Từ
đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức
học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành
các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy
nhiên, duy cảm v.v...
Ước
vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và
phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu
cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn
bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo
đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy
những
luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra
mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng
tối cao... Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa
ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức
học cho mọi người.
Ðức
Phật dạy: "Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn,
cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và luật của ta chỉ có một
vị là vị giải thoát". Ngài còn dạy: "Này các Tỳ kheo, xưa
cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ". Trong lần
chuyển pháp luân đầu tiên tại Benares, giảng về Tứ Ðế
Ðức Phật xác định đây là khổ, nêu nguyên nhân của khổ,
nói đến sự chấm dứt khổ (giải thoát, Niết bàn) và con
đường diệt khổ. Thế là Ngài đã tuyên bố mục đích của
mọi hành động của con người và của giáo lý của Ngài
là nhằm giải thoát khỏi khổ đau. Ðối chiếu ý nghĩa này
với định nghĩa chung về đạo đức học đã nêu, ta có thể
nói toàn bộ giáo lý của Ðức Phật là một giáo lý đạo
đức, hay Phật học là đạo đức học, một đạo đức học
xây dựng trên giải thoát, do một người đã giải thoát truyền
dạy, lấy giải thoát làm cứu cánh, lấy giải thoát làm chuẩn
tắc để đánh giá các hành động. Xác định nền tảng giải
thoát này là xác định toàn bộ ý nghĩa, đối tượng, mục
đích, phương pháp của đạo đức học Phật giáo.
Xác
định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải
thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã
nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo
đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận
rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên
tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy
đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là
giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia
(mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải
thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện
hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là
nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo
khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu
hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : "Giải thoát là giá
trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức."
Dù
Phật giáo không hề muốn bị xếp như một triết thuyết
như duy nghiệm, duy lý, duy cảm v.v... nhưng Phật giáo, đạo
đức học Phật giáo, không thể không là đối tượng nghiên
cứu cho các nhà triết học và không thể tránh khỏi sự sắp
xếp phân loại của các nhà nghiên cứu đạo đức. Thế thì
hãy tạm gọi đạo đức học Phật giáo là đạo đức học
Duy giải thoát mà phương Tây có thể nên gọi bằng một từ
triết học mới nào đó, đại loại như "Emancipisme"! Và như
vậy, vấn đề muôn thuở của đạo đức học nói chung như
lương tâm hay ý thức đạo đức, tức cái khả năng nhận
biết giá trị đạo đức của các hành động được đạo
đức học Phật giáo gọi là ý thức giải thoát, hay ở mức
độ cao gọi là trí giải thoát. Trí giải thoát lại còn được
xem là nguồn gốc của lương tâm, của ý thức đạo đức
tức là của chính nó, hiểu theo lập luận của E.Kant khi ông
gọi nguồn gốc ấy là lý trí thuần túy thực tiễn, cái
nhân tố phát khởi những mệnh lệnh quyết định. Nếu Descartes
đẩy ý thức đạo đức lên thành các tác phẩm của thượng
đế, nếu Spencer đẩy lùi nó vào cái thói quen do di truyền
thì đạo đức học Phật giáo gọi nó là dư y của ý thức
giải thoát, một thiện nghiệp trong quá khứ và có thể được
vun đắp thêm trong hiện tại.
Nói
đến giải thoát là nói đến tự do. Thông thường giải thoát
được hiểu là trạng thái được sau khi thoát khỏi sự ràng
buộc, sự trở ngại, khổ đau, mất tự do; tự do là trạng
thái thoải mái, có thể tự mình quyết định hành động
của mình, tự mình chọn lựa... Như vậy giải thoát và tự
do có thể được xem là đồng nghĩa, nhất là khi ở bình
diện tuyệt đối, Giải thoát và Tự do đồng nghĩa với Niết
Bàn, là Niết bàn là Phật. Ở bình diện tương đối của
thế gian, giải thoát và tự do chỉ có thể được thực hiện
trong giới hạn. Một hành động như tìm nước uống để
thỏa mãn cơn khát, làm một việc thiện để đạt được
niềm vui tự nội... đều có giá trị giải thoát tương đối.
Tự do chọn nghề, tự do nghỉ ngơi... là những tự do tương
đối vì người ta không thể tự do lấy của cải của người
khác, không thể tự do vượt khỏi những hạn chế của cơ
thể để thực hiện những điều không tưởng, không thể
tự nhiên mà thoát được sinh, già, bệnh, chết... Cái kinh
nghiệm giải thoát có thể thực hiện hàng ngày, qua từng
công việc bình thường hoặc sâu đậm hơn, qua thiền định.
Niềm vui, niềm hạnh phúc đạt được trong khi làm việc thiện,
trong khi thiền định sẽ giúp ta phát triển ý thức đạo
đức, đánh giá đúng đắn các hành động và truy tìm những
hành động mang lại giải thoát, hạnh phúc.
Trước
khi bàn tiếp hãy nhận định về cái thuật ngữ nổi cộm
trong đạo đức học, đó là từ hạnh phúc (le bonheur). Người
ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi hành động đích thực của
con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là
gì? Câu trả lời cũng thường dễ dàng không kém: Hạnh phúc
là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần! Nhưng những yêu
cầu vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau
tùy theo hoàn cảnh, cá tính, thời gian v.v... Có phải những
yêu cầu ấy là tiền bạc, sức khỏe, vợ con, sự tiện nghi...
và là sự được khen, được yêu, được lao động, được
thực hiện lý tưởng được gần gũi Thượng đế...? Nếu
thế thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn mãi mãi là mối trnh
cãi. Ðạo đức học Phật giáo nêu rõ cái kinh nghiệm cơ
bản về hạnh phúc là sự lạc thọ, tức sự thọ nhận cái
cảm giác an vui, cái hoan hỷ tâm vậy. Ðạo đức học Phật
giáo đồng nghĩa hạnh phúc với giải thoát, hiểu hạnh phúc
là phù hợp với con đường giải thoát. Ðến đây, giáo lý
vô ngã của Ðức Phật đóng vai trò quan trọng trong đạo
đức học Phật giáo. Vì vô ngã là bản chất của hết thảy
mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô
ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của
các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ đau,
trở ngại cho sự giải thoát. Khi ta thực hiện vô ngã thì
ta thấy có hạnh phúc, tức thấy có giải thoát. Vậy vô ngã
có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát. Trong một nghĩa
hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình, vị
tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần đạo đức xã hội mà
mọi người đều xem là thiện hạnh.
Trở
lại việc đánh giá hành động: Ðạo đức học Phật giáo
lấy tiêu chuẩn giải thoát, vô ngã để đánh giá một hành
động và cái chủ thể đánh giá là ý thức giải thoát. Do
mức độ tu tập, hành trì, ý thức này có thể cao, thấp
khác nhau. Lương tâm, ý thức đạo đức hay ý thức giải
thoát mang tính tự do trong chính nó và như đã nói nó có thể
bị sai lầm, bị yếu kém khiến một cá nhân bị thối thất
hay chịu nhận khổ đau. Cho nên sự tu tập mới được đạo
đức học Phật giáo đề cao, đấy là ý nghĩa tích cực của
đạo đức học Phật giáo. Chúng ta thông cảm với nhận định
hơi vội vàng của J.P. Sarter: "Tự do là nguồn gốc độc nhất
của giá trị" (La liberté est I'unique source de la valeur), "Kết
quả là, tự do của tôi là nền tảng độc nhất của các
giá trị, và không có gì. tuyệt đối không có gì khiến tôi
phải chấp nhận một giá trị thế này, thế nọ, một thang
giá trị thế này, thế nọ". Hay của S. de Beauvoir: " Con người
thì tự do, nhưng con người tìm thấy luật tắc của mình
trong chính sự tự do của mình nữa." Sự tự do ấy, nếu
không phải là tuyệt đối tức cứu cánh giải thoát thì ít
ra cũng phải là trạng thái của một người đã đạt nhiều
tiến bộ trong tu tập, đang tiến gần đến giải thoát để
có thể có nền tảng vững vàng trong sự phán đoán giá trị!
Ðấy là sự tự do ở một bậc chân tu chứ không phải là
tự do ở bất cứ người nào như Sartre và De Beauvoir quan niệm.
Ðức
Phật là bậc đã đạt trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con
đường giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của
Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức như
La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge... hay của các triết gia
đạo đức như Epicure, Aristote, Kan, Max Scheler... Ðạo đức
học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú
trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt
giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là
khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi
hoạt động con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Ðạo
đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực,
cụ thể và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người
lên đường diệt khổ, khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện,
cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con
người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó
tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát
tối hậu.
Trích
Tập Văn Phật Ðản , số 16, 1991