Giải Thoát Trong
Phật Giáo
HT. Thích
Thiện Siêu
Giải
thoát
Giải
thoát là một thắng đức trong ba đức của Phật: Pháp Thân,
Bát Nhã, Giải thoát. Nếu như ba thắng đức ấy hoàn toàn
viên mãn thì gọi là Phật. Vậy nên giải thoát hoàn toàn
và tuyệt đối là sự chung kết của Phật Ðà, cũng là chỗ
xu hướng chung của mọi loài chúng sanh. Không những nhân loại
mà loại nào cũng thế vì đang ở trong mê lầm đau khổ nên
đều có quan niệm lánh khổ tìm vui, mong cầu giải thoát.
Cũng vì vậy người đời thường gọi Ðạo Phật là đạo
giải thoát chung cho tất cả chúng sanh, hay gọi là tôn giáo
của chúng sanh đau khổ.
Nhưng
trừ các bậc đã cứu cánh giác ngộ, thì chúng sanh mấy ai
đặng giải thoát? Tuy hết sức mong cầu mà vẫn luôn luôn
sống trong cảnh ngộ ngang trái khổ đau. Nguyên do vì chúng
sanh chỉ biết tìm giải thoát nơi bên ngoài mà không tìm giải
thoát chính ở nơi mình. Chính ta là nguyên nhân, là hình ảnh
của đau khổ, mà ta cũng là nguyên nhân là hình ảnh của
giải thoát. Nếu không thâm nhập sự thật ấy thì chưa thể
giải thoát chơn thật hoàn toàn. Thế nên bản hoài của Phật
xuất thế là cốt dạy chúng sanh diệt bỏ mê lầm, giác ngộ
chân lý, và đem an vui đến cho mọi loài. Ngài không quan tâm
đến sự khoái lạc huy hoàng của một đế vương, không dừng
chân trong rừng khổ hạnh, cũng không thỏa mãn với những
cõi trời Tứ thiền, Tứ không mà các hàng ngoại đạo đều
cho là nơi rốt ráo cuối cùng của đạo họ. Bao nhiêu nỗi
vui đẹp ở những chỗ ấy đối với Ngài đều là cái vui
trá hình, chưa phải là dứt hẳn được mê lầm, giải thoát
ngoài vòng luân hồi sanh tử.
Mục
đích của người theo đạo Phật là sự giải thoát nên Phật
tử không được chú trọng việc cầu tài, cầu phúc, cầu
quả báo tốt đẹp ở nhân thiên. Mà cần phải phát tâm hướng
mạnh về giải thoát, thì sự tu hành mới càng lâu càng bền,
càng khó càng dai và có ngày mới đạt được mục đích cuối
cùng như chư Phật. Trái lại như Ngài Lục Tổ nói trong Kinh
Pháp Bảo Ðàn: "Nếu tự tánh chân thật đang mê thì phước
nào cứu đặng?" Nhưng giải thoát hoàn toàn là thế nào? Muốn
hiểu, trước cũng nên biết thế nào là giải thoát chưa viên
mãn.
Giải
Thoát Hoàn Cảnh
Hoàn
cảnh bên ngoài vẫn gây nên đau khổ, cho nên tất cả chúng
sanh đều cần đến sự giải thoát cho mình trong đời sống
hiện tại, nghĩa là được sống với quyền sống rộng rãi
thiêng liêng của mình đang ở giữa cõi trần này, mà không
bị kềm hãm trong sự bất công mạnh hiếp yếu, khôn hiếp
dại, lớn hiếp bé v.v... Có hai cách giải thoát khỏi những
ràng buộc đau khổ của hoàn cảnh đối với bản thân:
1.
Cải tạo hoàn cảnh vật chất cho thật hết sức tốt đẹp
như xứ Bắc Câu Lô Châu theo trong kinh Phật dạy. Nhân loại
ở đây chẳng có đâu bằng, vì ở đây nhân loại đã đến
trình độ văn minh vật chất cực điểm. Ðồ ăn mặc khí
dụng lúc nào cũng sẳn sàng để cho người ta dùng tùy ý,
không cần làm việc mà không thiếu thốn, không lập cơ quan
cai trị mà vẫn đặng thuận hòa an ninh, cho đến sanh con đẻ
cái chỉ do công chúng nuôi, không nhọc nhằn cha mẹ cấp dưỡng.
Họ đẹp đẽ, họ mạnh mẽ, họ giàu sang, họ trường thọ,
không bị điều chi đau khổ. Nhưng Phật kết luận sanh về
Bắc câu lô châu là một cái nạn, vì ở đấy người chỉ
biết đắm say theo vật dụng không phát đạo tâm và thường
phải sa đọa.
2.
Không chú trọng đến hoàn cảnh bên ngoài như những người
xuất gia trong Phật giáo, họ ẩn mình vào nơi thanh vắng của
chùa chiền, rừng núi, thâu hẹp đời sống vật chất mà
mở rộng đời sống tinh thần. Vật chất phồn hoa đối với
họ là mồi ngon của dục vọng, trợ lực của cạnh tranh,
và nhân đó chúng sanh sẽ gieo trồng ác nhân mà sẽ nhận
lấy ác quả, vật chất đã không hay nên cần phải xa lìa
để huân tu về đạo lý. Ðến khi đời sống vật chất trở
nên món đồ phụ thuộc hẳn, thì không cần lợi danh vinh
nhục gì bên ngoài đến ràng buộc và lay chuyển. Sánh với
hạng trên thì hai đàng khác nhau, một bên tìm sống trong vật
chất đầy đủ, một bên không quan tâm đến vật chất bên
ngoài. Cả hai đều mới đến phương diện của giải thoát,
giải thoát về hoàn cảnh.
Giải
Thoát Về Tự Tâm
Tuy
đã vượt khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh chi phối
bên ngoài nhưng bên trong còn bao nhiêu giống phiền não si mê
thì vẫn chưa thoát hết nỗi thống khổ lớn lao và vững
chắc do chúng gây nên, đấy là vì thấy có ta và có mọi
vật. Tại sao mà giận? Tại thấy có ta và có mọi vật, tức
đã nhận không làm có, nhận giả thành chơn nên mới có đau
khổ. Chúng sanh hàng ngày, suốt từ sáng đến tối, thức
cũng như ngủ chỉ sống với giả tướng giả danh chứ chưa
bao giờ được chứng nhập với sự thật. Trái lại còn cho
bao nhiêu giả ảnh ấy là thật, dùng ý thức phân biệt, để
đòi hỏi tham lam, giận hờn và nghi hoặc. Không nhận sự
vật một cách khách quan lại thêm vào chủ quan và tư kiến
nên mãi mãi mê lầm. Tất cả phiền não từ đó mà ra thì
tất cả buộc ràng đau khổ cũng từ đó mà sanh trưởng,
nếu quan sát biết rõ ràng tất cả, dù hiện tượng, trừu
tượng, khái niệm v.v... đều là giả dối, biến tướng của
thức tâm, thì mê lầm bị tiêu diệt, trí tuệ hiện ra ứng
hợp với thật lý thật sự, và đồng thời những đứa con
đẻ của mê lầm như phiền não, như nghiệp, như khổ đều
bị tiêu tan mà giải thoát luân hồi sanh tử. Nghĩa là giải
thoát tất cả nhiễm ô trược ác, tất cả những gì của
tam giới chúng sanh hiện đang chịu...
Giải
Thoát Hoàn Toàn
Dứt
bỏ mọi điều triền phược nơi tự tâm, thoát khỏi chốn
lao tù ba cõi là một công trình lớn lao thiết thực, nhưng
chưa phải là tuyệt đối hoàn toàn, chưa phải đã phá hết
mê lầm thầm kín nhỏ nhiệm, đến đó chỉ phá được mê
lầm về nhân ngã mà vẫn còn mê lầm về pháp ngã, nên phần
trí giải cũng như phần thực hành còn ở trong vòng tương
đối cả. Trí giải tương đối vì còn thấy có giải thoát
và chưa giải thoát, đau khổ và an vui, Niết bàn và sanh tử,
thực hành tương đối chỉ vì cải thiện hành vi xấu xa nơi
mình mà tự giải thoát hành vi cá nhân còn e dè chướng ngại,
chưa đủ năng lực tự tại ra vào chỗ uế trược khổ não,
cũng như ra vào chỗ thanh tịnh an vui để hành động những
công việc lợi lạc vị tha mà không bị nhiễm trước. Trái
lại giải thoát hoàn toàn và tuyệt đối thì trí thức không
còn bị thời gian và không gian hạn chế, không còn bị tâm
lý sanh lý tầm thường chi phối. Trí tuệ đã chứng nhập
nhân tướng của sự vật rồi nên tất cả cảnh giới đều
vô ngại hiện ra trong trí Bát nhã viên dung, ngoài trí không
có cảnh, ngoài cảnh không có trí , cảnh trí đều như như
thì đối với uế cũng như với tịnh, ở trong sanh tử cũng
tức an trú Niết bàn không thấy có chi sai khác phải bị buộc
ràng, hay tìm cách giải thoát ra ngoài ba cõi. Như kinh Duy Ma
Cật nói: "Không xa lìa văn tự tức là tướng giải thoát".
Nhưng được giải thoát ấy chỉ là các vị Pháp thân Bồ
Tát và các Ðức Phật. Chư Phật tức như Chân như tự tánh
mà luôn luôn khởi diệu dụng độ sanh, thi hành tất cả thiện
sự, dù ở địa ngục, dù ở chư Thiên, dù ở Niết bàn hay
sanh tử, cũng như hoa sen sinh ở trong bùn. Giải thoát tất
cả mà không thấy có tướng giải thoát, tự tại trong công
việc lợi tha, không phân biệt thân sơ, không có nhân ngã,
tuy hướng dẫn mọi người mà mọi người không nhục, trên
tất cả chúng sanh mà chúng sanh không cảm thấy nặng nề,
thế thì còn chi ràng buộc mà không phải là giải thoát hoàn
toàn tuyệt đối? Trở lại với trên kia, thấy hạnh phúc
khoái lạc của phàm phu chưa phải là giải thoát, cho đến
cảnh giới của Niết bàn xuất ly sanh tử của nhị thừa
cũng chưa phải giải thoát hoàn toàn, chỉ duy có Ðức Phật
mới được như thế. Nhưng nếu trong hành vi cũng như ý nghĩ
của ta mà có được đôi phần đức tính của cái chơn giải
thoát ấy thì mới thật là ta có giải thoát, thiệt an vui
và lợi ích thực sự cho tất cả mọi người mọi loài.
Trích
Tập Văn Phật Ðản, số 20, 1991