MỤC
LỤC
Lời
nói đầu
Chương
một: Tâm Vương (Citta)
1)
Bất thiện tâm (Akusalacitta)
2)
Vô nhân tâm (Ahetukacitta)
3)
Tịnh quang tâm (Sobhanacitta)
4)
Sắc giới tâm (Rùpàvacaracitta)
5)
Vô sắc giới tâm (Arùpàvacaracitta)
6)
Siêu thế tâm (Lokuttaracitta)
Chương
hai: Các Loại Tâm Sở
PHẦN
MỘT: Các loại Tâm sở (Cetasika)
1)
7 Biến hành tâm sở (Sabbacittasàdhàranà)
2)
6 Biệt cảnh tâm sở (Pakinnakacetasika)
3)
14 Bất thiện tâm sở (Akusalacetasika)
4)
25 Tịnh quang tâm sở (Sobhanacetasika)
PHẦN
HAI: Những tâm sở nào đã hiện hành trong những tâm nào
1)
7 Biến hành tâm sở
2)
6 Biệt cảnh tâm sở
3)
14 Bất thiện tâm sở
4)
25 Tịnh quang tâm sở
PHẦN
BA: Loại tâm nào có những loại tâm sở nào và bao nhiêu tâm
sở
1)
Với Siêu thế tâm
2)
Với Ðại hành tâm
3)
Với Dục giới Tịnh quang tâm
4)
Với Bất thiện tâm
5)
Với Vô nhân tâm
Chương
ba: Linh tinh (Pakinnaka)
1)
Phân loại theo thọ
2)
Phân loại theo nhân
3)
Phân loại theo công tác
4)
Phân loại theo căn môn
5)
Phân loại theo đối tượng
6)
Phân loại theo trú căn
Chương
bốn: Lộ trình của tâm (Cittavìthi)
1)
Lộ trình của tâm qua 5 căn
2)
Lộ trình qua ý môn
3)
Lộ trình của An chỉ tốc hành tâm
4)
Ðồng sở duyên tâm
5)
Tốc hành tâm
6)
Các loại chúng sanh
7)
Các địa giới
Chương
năm: Ra ngoài loại hình (Vìthimutta)
1)
Bốn địa
2)
Các loại kiết sanh thức (Patisandhi)
3)
Thọ mạng trên sắc giới thiên
4)
Thọ mạng trên vô sắc giới thiên
5)
Bốn loại nghiệp
6)
Nguyên nhân của chết
7)
Nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng
8)
Lộ trình tâm của một người sắp chết.
9)
Giòng tâm thức
Chương
sáu: Sắc (Rùpa)
1)
Tóm lược (Samuddesa)
2)
Phân loại các Sắc pháp (Rùpavibhàgo)
3)
Sắc sinh khởi (Rùpasamutthàna)
4)
Tổng hợp các Sắc (Kalàpa-Yojanà)
5)
Diễn biến Sắc pháp (Rùpavattikàmo)
6)
Niết Bàn (Nibbàna)
Chương
bảy: Tập yếu những danh từ Abhidhamma
(Samuccaya-Sangaha-Vibhàgo)
1)
Tạp loại tập yếu (Missako sangaho)
2)
Tổng quát tập yếu (Sabbasangaho)
Chương
tám: Duyên khởi và Duyên hệ
1)
Trợ duyên tập yếu (Paccaya sangaho)
2)
Duyên hệ duyên (Patthanapaccayo)
Chương
chín: Nghiệp Xứ hay Ðối tượng Tu hành
Phụ
lục:
Đối
chiếu Pàli - Việt
Đối
chiếu Việt - Pàli
LỜI
NÓI ÐẦU (Tập Một)
Văn
học Abhidhamma có thể xem là môn Tâm Lý Học của Phật giáo
vì bốn vấn đề được đem ra giải thích cặn kẽ hoàn toàn
thuộc về con người và đặc biệt là phần tâm thức. Bốn
pháp được đề cập là Citta (tâm), Cetasika (tâm sở), Rùpa
(Sắc) và Nibbàna (Niết bàn). Tâm, Tâm sở, Niết bàn dĩ nhiên
thuộc về tâm thức, nhưng Sắc pháp ở đây nói nhiều về
thân thể con người và sự liên lạc giữa thân thể ấy với
tâm thức. Ðạo Phật không bao giờ tách rời Tâm và Sắc
vì cả hai đều tương quan liên đới. Chia chẻ theo 2 pháp
thời Nàma (danh) thuộc về Tâm pháp và Rùpa (Sắc) thuộc về
Sắc pháp. Nói đến 5 Uẩn, thời Rùpakkhandha (Sắc uẩn) thuộc
về Sắc pháp còn 4 Uẩn còn lại thuộc về Tâm pháp v.v...
Ðiểm
nói bật nhất trong môn học Abhidharma là sự phân tích rất
tinh tế và tỉ mỉ các tâm và tâm sở, và theo Pàli Abhidhamma,
có đến 89 hay 121 tâm (Citta) và 52 tâm sở (Cetasika). Ðúng
với truyền thống "phân tích tông" (Vibhajavàda, một tên khác
của Thượng Tọa Bộ), Pàli Abhidhamma chia chẻ các loại tâm
thành Dục giới tâm; Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm, Siêu
thế tâm (theo cảnh giới), hoặc thành Bất thiện tâm, Vô
nhân tâm, Tịnh quang tâm (theo khả năng hướng thiện hay không
hướng thiện), hoặc theo Thiện tâm, Dị thục tâm, Duy tác
tâm (theo khả năng tái sanh một đời sau hay không); hoặc theo
Hữu nhân, Vô nhân tâm (nếu đứng về phương diện căn nhân
chi phối các tâm ấy) v.v... Phần tâm sở lại tế nhị hơn,
và chúng ta được biết khi nhãn thức khởi lên thời ít nhất
có 7 Biến hành tâm sở cùng khởi một lần, tức là Xúc,
thọ, trưởng, tư, mạng căn, nhứt tâm và tác ý. Còn tế
nhị hơn là những băng thống kê tỉ mỉ tìm tòi số lượng
các tâm sở hiện hành trong một tâm và những tâm sở nào
được tìm thấy trong những loại tâm nào. Chúng ta không ngờ
hỷ tâm sở có mặt trong 51 tâm, xả tâm sở khởi lên trong
70 tâm, và một tâm giản dị như tiếu sanh tâm cũng có đến
12 tâm sở cùng khởi lên một lần (xúc, thọ, tưởng, tư,
nhứt tâm, tác ý, mạng cặn, tầm, tứ, hỷ, tinh tấn, thắng
giải). Một sự cống hiến đặc biệt của Pàli Abhidhamma
cho môn Tâm lý học là sự giải thích về Cittavìthi hay lộ
trình của tâm. Mỗi khi có một sự kích thích ở ngoài ngang
qua 5 căn thời cả một số tâm tiếp diễn liên tục, khởi
lên, diệt xuống lâu cho đến 16 tâm sát-na.
1.
Bhavangacalana: Hữu phần chuyển động.
2.
Bhavangupaccheda: Hữu phần dừng nghỉ.
3.
Pancadvàràvajjana: Ngũ môn hướng tâm.
4.
Cakkhuvinnàna: (Nhãn thức hay một trong 4 thức khác).
5.
Sampaticchana: Tiếp thọ tâm.
6.
Santìrana: Suy đạc tâm.
7.
Votthapana: Xác định tâm.
8-14.
Javana: Tốc hành tâm.
15-16.
Tadàlambana: Ðồng sở duyên tâm.
Như
vậy từ khi Hữu phần rung động cho đến Ðồng sở duyên
tâm có đến 16 tâm sát-na, và nếu chúng ta cộng thêm một
tâm sát-na nữa, thời gian cần thiết để đối tượng ở
ngoài tiếp xúc với nội căn, thời chúng ta thấy đời sống
một lộ trình của tâm có đến tất cả 17 tâm sát-na và
có 7 loại tâm khởi lên rồi diệt xuống trong một lộ trình
(Từ Ngũ môn hướng tâm đến Ðồng sở duyên tâm). Thật
là một sự khám phá hy hữu, và sự phân tích thật vô cùng
tế nhị và khúc chiết.
Tập
Abhidhamma không những giải thích sự diễn tiến của tâm thức
khi bị kích thích bởi ngoại trần hay nội tâm, ngang qua 5
căn hay ngang qua ý căn (Pavattana), mà còn miêu tả Kiết sanh
thức (Patisandhi) liên hệ từ đời này qua đời khác. Ở đây
chúng ta thấy rõ cả sự cố gắng để giải thích trạng
thái tái sanh của con người, những sức mạnh gì đã khiến
con người sau khi chết phải đi đầu thai một đời nữa để
thỏa mãn sự đòi hỏi, sự tham sống của kiếp người. Vẫn
biết vấn đề này vượt ngoài sự nhận thức của con người
vì chúng ta không nhớ đến khi chúng ta lâm chung hay đi đầu
thai, nhưng sự cắt nghĩa ở đây có thể xem là hợp lý, khoa
học nhất, dựa vào thực tế mà trình bày, và đây cũng là
một sự cống hiến đặc biệt nữa của Abhidhamma cho vấn
đề sống chết của con người, một vấn đề mà các nhà
triết gia bao giờ cũng boăn khăn tìm hiểu.
Lama
Govinda, một tu sĩ Phật giáo người Ðức trong quyển The Psychological
Attitude of Early Buddhist Philosophy (Thái độ tâm lý của triết
học đạo Phật nguyên thủy) đã xem văn học Abhidhamma như
môn tâm lý học và triết học của đạo Phật. Còn ông Egerton
C. Baptist trong quyển Abhidhamma for the Beginners (Abhidhamma cho những
người sơ cơ) thì so sánh môn học Abhidhamma như môn siêu hình
học của Phật giáo. Nếu siêu hình có nghĩa là vấn đề
tìm hiểu Thượng đế và vấn đề tạo thiên lập địa thì
môn học Abhidhamma không thể là môn siêu hình học, vì hai
vấn đề này không được đề cập đến. Ðúng với truyền
thống thực tiễn của Kinh tạng không muốn đề cập đến
những vấn đề không liên hệ với đời sống thực tại,
đối tượng của môn học Abhidhamma là vấn đề tâm linh và
hoàn cảnh thực tại của con người đang sống. Nhưng nếu
chúng ta định nghĩa siêu hình là những vấn đề vượt khỏi
sự hiểu biết hiện tại cạn cợt và có giới hạn của
chúng ta, thời Abhidhamma có thể xem là môn siêu hình vì Sắc
giới tâm, Vô sắc giới tâm và Siêu thế tâm vượt ngoài
sự hiểu biết hiện tại của con người. Muốn chứng được
Sắc giới tâm, phải tu các pháp thiền ở Sắc giới, muốn
hiểu Vô sắc giới tâm phải tu các pháp Thiền ở Vô Sắc
giới, và muốn đạt đến các quả thánh, phải tu quán (vipassanà)
về Ba pháp ấn. Ở đây chúng ta thấy rõ siêu hình không dựa
trên lòng tin không bằng chứng vào tưởng tượng và dự đoán
mà chỉ là trạng thái tâm thức chưa được phát giác ra,
bởi vì kinh nghiệm cá nhân của con người chưa đạt tới,
và khi đã đạt tới, thời siêu hình đã trở thành kinh nghiệm
cá nhân. Nói một cách khác, đạo Phật không bác bỏ siêu
hình, nếu phần siêu hình được phát giác trên con đường
kinh nghiệm cá nhân. Phần này chỉ bị bác bỏ khi nào chỉ
được hình thành trên con đường của tưởng tượng và dự
đoán. Ở đây, theo tạng Abhidhamma, siêu hình là một khái
niệm hoàn toàn tương đối mà ranh giới tùy thuộc ranh giới
kinh nghiệm cá nhân của mình và tùy thuộc vào hình thức
và tầm lực của nhận thức. Ðức Phật nhiếp phục siêu
hình với những vấn đề nan giải của siêu hình, không phải
chỉ không biết đến siêu hình, mà chính với thái độ tích
cực và thiết thực, nghĩa là nhờ ở sự tu tập và tiềm
lực của nhận thức, đức Phật thu nhỏ dần ranh giới của
siêu hình, và như vậy siêu hình trở thành kinh nghiệm.
Nói
đến đạo đức học tức là giới vức thứ ba của triết
học, Abhidhamma cũng là môn luân lý học của đạo Phật, vì
tất cả lời dạy trực tiếp hay gián tiếp của đức Phật
đều hướng con người đến giải thoát và giác ngộ. Tiêu
chuẩn đạo đức ở đây không phải là lời phán xét của
đức Phật, cũng không phải dựa vào truyền thống hay tập
tục của một thời đại nào. Tiêu chuẩn thiện ác ở đạo
Phật tùy thuộc ở con người và 12 Bất thiện trong tâm Abhidhamma
được định nghĩa là những tâm khiến con người đi xa đích
giải thoát và giác ngộ, 18 Vô nhân tâm (ahetukacitta) là những
tâm lưng chừng, không tới cũng không lui, và 59 Tịnh quang
tâm (sobhanacitta) là những tâm khiến con người tiến dần
đến mục tiêu giải thoát và giác ngộ. Ở đây, chúng ta
cũng phải nhận rõ thái độ của nhà triết gia Ðông phương
không những trình bày lý thuyết của mình mà còn phải sống
theo lý thuyết ấy trên thực tế và kinh nghiệm. Tri hành hợp
nhất, trí đức song tu là những tiêu chuẩn bất di bất dịch
cho những triết gia Ðông phương và do vậy đạo đức học
không bao giờ rời khỏi phần triết học trong tạng Abhidhamma.
Tìm cho ra phần luận lý trong tạng Abhidhamma không phải dễ
dàng vì văn học Abhidhamma tuy đã có sự cố gắng hệ thống
hóa những tư tưởng chính của đức Phật, sự phát triển
này về luận lý học chưa đến mực độ trở thành một
hệ thống riêng biệt về luận lý như Nhơn minh học (Hetuvidyà)
của Ðại thừa. Nhưng đạo Phật bao giờ cũng chú trọng
đến lý trí, suy luận, thực tu thực chứng lẽ dĩ nhiên bao
giờ cũng kính trọng những nguyên tắc căn bản của pháp
suy luận và do vậy chúng ta có thể nói phần luận lý lúc
nào cũng tiềm tàng trong tạng Abhidhamma.
Một
vấn đề nữa cũng rất quan trọng trong khi đề cập đến
Abhidhamma là sự liên lạc giữa Kinh tạng và Luận tạng, và
sự sai khác giữa hai tạng ấy. Dầu Kinh tạng là phần tử
hấp dẫn nhất trong Ba tạng, và được xem là nguyên thủy
nhất, Kinh tạng vẫn là sự sưu tầm những lời dạy của
đức Phật cho từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng cá
nhân lẻ tẻ, nhiều khi không có liên hệ tương quan. Abhidhamma
tạng là cả một sự cố gắng hệ thống hóa những lý thuyết
và phương pháp tiềm tàng và rải rác trong Kinh tạng, và đặc
biệt đặt những hệ thống ấy trên một bối cảnh chung
và nhờ vậy giúp chúng ta có một khái niệm tổng quát và
quán xuyến về đạo Phật. Chúng ta không thể lấy những
điều kiện lịch sử để phán đoán giá trị của Abhidhamma,
vì rất có thể những phần tử quan trọng của Abhidhamma được
hình thành một lần với Kinh tạng. Phần lớn các nhà học
giả đều đồng ý rằng tạng Abhidhamma được tổ chức và
phát triển từ các Matrikà, nghĩa là những công thức đã
có sẵn trong kinh tạng, và như vậy tạng Abhidhamma vẫn có
thể được xem là tạng có tánh cách nguyên thủy. Vả lại
chính trong Kinh tạng, cũng có những loại kinh hoặc bộ kinh
mang nặng đặc chất Abhidhamma hơn là Kinh tạng, như kinh Sangìtisutta
trong bộ Dìghanikàya và tập Niddesa trong bộ Khuddakanikàya.
Và như Lama Govinda đã nói, "chính trong thời đức Phật tại
thế, vẫn không có một đạo Phật tuyệt đối, một hình
thức giáo điều của sự thật, mà chỉ có một sự hướng
dẫn về phương hướng và phương pháp có thể đưa đến
sự tự chứng cá nhân. Khi nào Abhidhamma còn phụng sự được
lý tưởng này bằng cách chỉ cho chúng ta rõ, một ít nét
đại cương của tư tưởng Phật giáo, thì vấn đề tạng
Abhidhamma được kiết tập sớm hay muộn không có gì quan trọng
cả".
Về
phương pháp diễn đạt, tạng Abhidhamma chú trọng đặc biệt
về một hệ thống gọi là Patisambhidà (Vô ngại giải hay
Pratisamvit, một hệ thống của luận lý phân tích). Hệ thống
này được chia thành bốn ngành. 1) Phân tích về ý nghĩa (Nghĩa
vô ngại giải, Attha) của các danh từ (hay vật, vì danh từ
định nghĩa sự vật). 2) Phân tích về pháp (Dhamma, Pháp vô
ngại giải). Chữ pháp được tập Vibhanga và ngài Buddhaghosa,
định nghĩa là sự hiểu biết về những nguyên nhân của
sự vật. 3) Phân tích về văn phạm (Từ vô ngại giải, Nirutti),
4) Phân tích về Patibhàna (Biện vô ngại giải). Nhưng trong
bộ luận chữ Hán Tsa-tsi, Attha lại có nghĩa là sự hiểu
biết về những danh từ riêng và chung, và Dhamma có nghĩa là
các Ðồng nghĩa. Trong tập Niddesa, các danh từ được giải
thích bằng một danh sách dài các chữ Ðồng nghĩa (Dhamma)
và các chữ khác được dùng những định nghĩa thông thường
(Attha). Còn địa phương ngữ và những hình thức đặc biệt
cũng cần giải thích và đó chính là Nirutti. Ngoài ra, còn
có sự giải thích về giáo lý và ở đây cần phải có sức
biện tài (Patibhàna).
Một
đặc tánh nữa của tạng Abhidhamma mà các luận sư cho là
rất đặc biệt là sự cố gắng của tạng Abhidhamma giải
thích sự vật theo đệ nhứt nghĩa đế (Paramatthasacca), chớ
không theo tục đế (Sammutisacca) như trong Kinh tạng. Như khi
nói đến cái bàn, là theo tục đế, nhưng khi nói đến những
cơ năng, những đặc tánh tạo thành cái bàn là nói đến
Ðệ nhứt nghĩa đế. Trong Kinh tạng, đức Phật thường dùng
những danh từ đàn ông, đàn bà, hữu tình, tự ngã. Trái
lại trong Abhidhamma, những danh từ như năm uẩn, mười hai
xứ, mười tám giới được dùng. Nói đến người thời có
sự sai khác giữa đàn ông đàn bà, con nít người lớn, người
thông minh kẻ ngu dốt và như vậy nằm trong phạm vi Tục đế.
Khi nói đến năm uẩn hay mười hai xứ, thời không có sự
phân biệt trên và con người chỉ là sự tụ họp của năm
uẩn hay năm pháp.
Khi
chúng tôi bắt đầu dịch tập này, chúng tôi gặp một sự
khó khăn lớn là có nhiều danh từ chưa bao giờ được dịch
ra chữ Hán và như vậy chúng tôi phải tự dịch theo nghĩa,
hoặc dịch theo ý. Với những danh từ như Pìti (Hỷ), Vitakka
(Tầm), Vicàra (Tứ), thời không có gì khó khăn vì chữ Hán
đã dùng nhiều lần. Nhưng Citavìthi (Tâm lộ hay lộ trình
của tâm), Parikamma (chuẩn bị), Upacàra (cận hành), Anuloma
(thuận thứ), Gotrabhù (chuyển tánh), Appanà (an chỉ) v.v...
toàn là những danh từ mới mẻ, phải tự dịch ra. Ðể tiện
tìm hiểu và khảo cứu, chúng tôi cho in hai tập ngữ vựng,
Pàli - Việt và Việt - Pàli, toàn những danh từ chuyên môn.
Khi gặp chữ Pàli, muốn tìm chữ dịch ra tiếng Việt thì
tìm ngữ vựng Pàli - Việt. Khi gặp chữ Việt mà muốn tìm
chữ Pàli tương đương thì tìm ngữ vựng Việt - Pàli. Vì
đây không phải là tự điển, nên chúng tôi chỉ cho in những
danh từ chuyên môn mà thôi.
Trong
khi dịch và giải thích tập này, chúng tôi chia mỗi đoạn
văn thành bốn phần:
I.
Pàli văn, tức là bản văn chính.
II.
Thích văn, là dịch những chữ Pàli khó ra Việt văn.
III.
Việt văn, là bản dịch Pàli văn ra Việt văn.
IV.
Thích nghĩa, là giải thích đoạn văn trên.
Sự
trình bày này giúp nhiều cho những người mới biết riêng
Pàli cũng như những ai muốn nghiên cứu sâu vào vấn đề.
Riêng đối với những người chỉ muốn hiểu tiếng Việt
cũng có thể học hỏi nghiên cứu không có gì khó khăn. Tập
này cũng có dụng ý giúp cho sinh viên Vạn Hạnh học chứng
chỉ Abhidhamma và sinh viên Văn khoa Sài Gòn học chứng chỉ
Triết Ấn, vì khi nào có sách học thời rất dễ cho sự tìm
hiểu và chính nhờ sự hiểu biết về căn bản của tập
này, sinh viên mới có sự hiểu biết căn bản để nghiên
cứu các tác phẩm khác.
Quyển
Abhidhammatthasangaha này là quyển sách căn bản cho những ai
muốn tham học tạng A-tỳ-đàm và trở thành quyển sách đầu
giường cho chư Tăng Miến Ðiện, Tích Lan, Thái Lan v.v... Không
những tập này cho chúng ta những hiểu biết căn bản về
môn học Abhidhamma, tập này có thể xem là chìa khóa độc
nhất mở cửa cho chúng ta vào tham cứu bảy tập Abhidhamma
chính thống, mà sự trình bày, cùng những danh từ chuyên môn
khó hiểu và khô khan đã làm chán ngán thất vọng những kẻ
sơ cơ muốn tìm hiểu tạng này. Ngài Anurudha đã thành công
khi ngài chẩn mạch được căn bệnh cổ truyền và khéo hệ
thống hóa tư tưởng và triết học Abhidhamma một cách gọn
ghẽ súc tích, khiến cho tập này trở thành một quyển sách
đầu giường cho các Tăng ni Phật tử muốn nghiên cứu Luận
tạng A-Tỳ-đàm. Tập này đã được dịch ra tiếng Miên,
Thái, Tích Lan, Miến Ðiện, Ấn Ðộ, Anh, Pháp v.v... chỉ trừ
có tiếng Việt và bản dịch này là để bổ khuyết sự thiếu
sót ấy.
Về
phần giải thích, chúng tôi y cứ vào hai bản Abhidhammatthasangaha
của Ðại Ðức Narada, người Tích Lan và Ðại Ðức Kashyap,
Viện Trưởng Viện Phật Học Nalanda người Ấn. Ngài Narada
dịch rất sát nguyên văn và phần chú thích chú trọng nhiều
về ngữ nguyên các danh từ cùng những giải thích truyền
thống. Ngài Kashyap trái lại dịch rất thoát nguyên văn và
thích nắm giữ những khái niệm chính của từng mục, từng
đoạn. Dung hòa hai phương pháp và kết nạp và trích lựa
tinh hoa của hai tập trên, tập "Thắng pháp Tập yếu" bằng
tiếng Việt này là sự cố gắng để phụng sự Phật học
nước nhà nói chung và Ban Tu Thư Viện Ðại Học Vạn Hạnh
nói riêng. Chúng tôi cũng có hy vọng tập này sẽ mở đầu
cho một sự so sánh giữa tập Pàli Abhidhamma và Tạng Sanskrit
Abhidhamma, và tập Pàli Abhidhammatthasangaha và tập Sanskrit Abhidharmakosa,
một sự so sánh rất hào hứng, đầy những khám phá mới
lạ và thích thú.
Tập
Abhidhammatthasangaha có đến 9 chương và chúng tôi dịch đến
chương thứ V. Còn bốn chương sau, chúng tôi sẽ cho dịch
tiếp.
Mùa
Phật Ðản 2510
Tỳ
kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện
Trưởng Viện Ðại Học Vạn Hạnh
-ooOoo-
LỜI
NÓI ÐẦU (Tập Hai)
Bản
dịch quyển "Abhidhammasangaha" (Thắng Pháp Tập Yếu Luận) tập
II nay mới được in xong, dầu chúng tôi dịch xong đã khá
lâu, nguyên do chính vì vấn đề ấn loát khó khăn, nhất là
in chữ Pàli, vật liệu khan hiếm đắt đỏ, và trách nhiệm
của một vị Viện Trưởng khá đa đoan phiền toái.
Tập
II này đề cập đến hai Thắng pháp còn lại là Rùpa (Sắc)
và Nibbana (Niết Bàn) được phân chia như sau:
Chương
VI: Sắc Pháp
Chương
VII: Các danh từ Abhidhamma phân loại theo Bất thiện, Thiện
và Bất thiện, liên hệ với Giác ngộ.
Chương
VIII: Duyên khởi và Duyên hệ
Chương
IX: Tu tập và đối tượng Tu tập,
Cũng
như tập I, chúng tôi có in bản chính Pàli, tiếp theo là Thích
văn, Dịch văn và Thích nghĩa, chúng tôi y cứ vào hai bản
Abhidhammatthasangaha của Ðại Ðức Nàrada, Tích Lan và Ðại
Ðức
Kashyap, Viện Trưởng Viện Ðại học Nalandà, Ấn Ðộ.
Chúng
tôi gặp rất nhiều khó khăn về các danh từ Abhidhamma chuyên
môn, những danh từ chuyên môn có chữ Hán tương đương thời
chúng tôi dùng chữ Hán đã được Việt hóa, còn những danh
từ không có chữ Hán tương đương, chúng tôi phải tạm thời
dịch theo nghĩa để chờ đợi tìm được những danh từ chính
xác hơn. Bao giờ cũng vậy, đi tiên phong trong vấn đề nào
cũng có những khó khăn trong bước đầu, và ở đây tìm được
những danh từ Việt hay Việt hóa sát nghĩa với nguyên văn
là cả một vấn đề thiên nan vạn nan. Chúng tôi sẵn sàng
chấp nhận những khó khăn ấy để mở đường cho những
dịch phẩm về sau về Pàli Abhidhamma.
Sài
Gòn, ngày 15 tháng 12 năm 1973
Tỳ
kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện
Trưởng Viện Ðại Học Vạn Hạnh
Xem
Thêm:
DANH
TỪ ĐỐI CHIẾU HÁN - VIỆT - PALI
Vi
Diệu Pháp Toát Yếu, Narada Maha Thera - Phạm Kinh Khánh Việt
dịch