PHẦN
HAI
PHIÊN
DỊCH KINH VĂN
勝
鬘 師 子 吼 一 乘 大 方 便 方 廣 經
THẮNG
MAN SƯ TỬ HỐNG NHẤT THỪA ĐẠI PHƯƠNG TIỆN
PHƯƠNG
QUẢNG KINH
ŚRĪMĀLĀ-SIṂHANĀDA-SŪTRA
宋
中 印 度 三 藏 求 那 跋 陀 羅 譯
TỐNG
TRUNG ẤN ĐỘ TAM TẠNG CẦU-NA-BẠT-ĐÀ-LA Hán dịch
TUỆ
SỸ Việt dịch & Chú thích
CHƯƠNG
MỘT:
PHẨM
TÍNH SIÊU VIỆT CỦA NHƯ LAI[283]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ,[284] trong rừng cây Kỳ-đà,
vườn Cấp cô độc.[285]
Lúc
bấy giờ, Vua Ba-tư-nặc[286] và Mạt-lỵ phu nhân[287] tin hiểu
chánh pháp chưa bao lâu,[288] cùng thảo luận nhau rằng:
«Con
gái chúng ta,[289] Thắng Man phu nhân, vốn thông tuệ, lợi căn,
thông minh đỉnh ngộ, nếu thấy được Phật tất hiểu Pháp
một cách nhanh chóng, tâm thông tỏ, không nghi ngờ. Vậy ta
hãy kịp thời sai phái người tín cẩn[290] khơi mở đạo
ý[291] của nó .»
Phu
nhân tâu rằng: «Nay thật đúng lúc.»
Vua
và Phu nhân liền viết thư cho Thắng Man, tán thán một cách
vắn tắt vô lượng phẩm tính siêu việt của Như Lai, rồi
khiến nội nhân, tên là Chiên-đề-la,[292] làm sứ giả đem
thư đến nước A-du-xà,[293] vào nội cung, kính cẩn trao thư
cho Thắng Man. Thắng Man được thưư, hoan hỷ cúi đầu tiếp
nhận. Bà đọc thư, ghi nhớ kỹ, phát tâm hy hữu, bèn nói
các bài kệ cho Chiên-đề-la nghe như sau:
Ta
nghe: âm thanh Phật,[294]
Chưa
từng có trên đời.
Lời
ấy nếu chân thật,
Ta
sẽ tưưởng thưưởng ngươươi.[295]
Cúi
lạy Phật Thế Tôn,
Xuất
hiện vì thế gian;
Xin
cũng thươương tưưởng con,
Cho
con thấy tôn nhan.
Tâm
niệm ấy vừa phát,
Phật
hiện giữa hưư không;
Với
tịnh quang sáng chói,
Rạng
ngời tối thắng thân.
Thắng
Man cùng quyến thuộc
Cúi
đầu lạy sát chân.
Bằng
cả tâm thanh tịnh
Tán
thán công đức Phật.
Như
Lai diệu sắc thân,
Thế
gian không gì hơn,
Tối
thắng, bất tư nghì;
Con
cúi đầu đảnh lễ.
Sắc
Như Lai vô tận,
Trí
tuệ cũng không cùng;
Hết
thảy Pháp thường trụ,
Con
chí thành quy y.
Hàng
phục tâm xấu ác,[296]
Và
bốn loại thuộc thân,[297]
ĐĐã
đến cõi nan phục;[298]
Con
kính lạy Pháp vương.
Biết
hết thảy nhĩ diệm,[299]
Trí
tuệ thân tự tại,[300]
Nhiếp
trì tất cả Pháp,[301]
Con
cúi đầu đảnh lễ.
Kính
lễ đấng không lường,[302]
Kính
lễ đấng vô tỉ,[303]
Kính
lễ pháp vô biên,[304]
Kính
lễ siêu tư duy;[305]
Thương
xót che chở con
Cho
lớn hạt giống Pháp.
ĐĐời
này và đời sau,[306]
Mong
Phật thường nhiếp thọ.[307]
(…)[308]
Ta
an lập con từ lâu,[309]
ĐĐời
trước đã từng khai giác;
Ngày
nay lại nhiếp thọ con,[310]
Các
đời vị lai vẫn vậy,
Công
đức con thành tựu,
ĐĐời
này và đời kia,
Gốc
rễ lành như vậy,
Cúi
mong nhiếp thọ con.[311]
Bấy
giờ Thắng Man phu nhân cùng với các quyến thuộc cúi đầu
lạy sát chân Phật. Phật ở ngay giữa chúng mà thọ ký[312]
cho Bà rằng:
«Con
đã ca ngợi các phẩm tính chân thật siêu việt của Như Lai.
Bằng vào các thiện căn ấy, trải qua vô lượng a-tăng-kỳ-kiếp,[313]
con sẽ là Tự Tại vương[314] ở giữa chư thiên và nhân loại.
Trong tất cả những nơi thọ sanh, nơi nào cũng thường gặp
gỡ thấy Ta không khác gì lúc này đang ca ngợi Ta. Rồi con
lại cúng dường vô lượng a-tăng-kỳ đức Phật, qua hai vạn
a-tăng-kỳ kiếp, sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai,[315]
Ứng cúng, Chánh biến tri. Quốc độ của Phật ấy không có
ác thú,[316] không có các sự khổ của già, bệnh, suy vi, ưu
não, không thích ý; cũng không có tên gọi của nghiệp đạo
ác bất thiện.[317] Chúng sanh ở trong các quốc độ ấy có
sắc, lực, thọ mạng, và các phương tiện hưởng thọ ngũ
dục thảy đều khoái lạc, hơn hẳn chư thiên cõi Tha hóa
Tự tại.[318] Các chúng sanh ấy đều thuần nhất là Đại
thừa. Những chúng sanh nào tu tập các thiện căn thảy đều
tập hợp về đó.»
Khi
Thắng Man phu nhân được thọ ký, có vô luợng chúng sinh,
chư thiên và nhân loại, phát nguyện muốn sanh về nước ấy.
Thế tôn thọ ký rằng tất cả đều sẽ được vãng sanh
về đó.
CHƯƠNG
HAI:
MƯỜI
ĐẠI THỌ[319]
Bấy
giờ Thắng Man phu nhân sau khi nghe thọ ký, cung kính đứng
dậy, xin tiếp thọ mười đại thọ[320] rằng:
«Bạch
Thế Tôn kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
đối với những giới đã thọ, con sẽ không bao giờ khởi
tâm vi phạm.»[321]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
đối với các bực tôn trưởng, con sẽ không bao giờ khởi
tâm kiêu mạn.»[322]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
đối với chúng sanh con sẽ không bao giờ khởi tâm phẫn hận.»[323]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
đối với sắc đẹp và những thứ trang cụ bên ngoài nơi
người khác, con sẽ không bao giờ khởi tâm ganh tị.»[324]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
đối với các pháp nội hay ngoại, con sẽ không bao giờ khởi
tâm keo kiệt.»[325]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
con sẽ không bao giờ vì mình mà thọ nhận, súc liễm tài
vật.[326] Nếu có thọ nhận cái gì, là vì để thành thục
các chúng sanh nghèo khổ.»
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
con sẽ không bao giờ vì riêng mình mà thực hành bốn nhiếp
pháp.»[327]
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
con sẽ vì hết thảy chúng sanh, bằng tâm không ái nhiễm,[328]
tâm không mệt mỏi,[329] tâm không hạn ngại,[330] mà luôn
luôn nhiếp thọ chúng sanh.»
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
nếu gặp những chúng sanh cô độc,[331] bị giam cầm trong
ngục tối,[332] tật bệnh, đủ mọi thứ ách nạn khốn khổ,
con sẽ không bao giờ rời bỏ dù chốc lát; mà phải mong sao
cho họ được an ổn, bằng hành vi thiết thực,[333] khiến
cho thoát khỏi mọi thống khổ, sau đó mới rời bỏ.»
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến thành tựu Bồ-đề, nếu
gặp các trường hợp ác luật nghi[334] như săn bắn hay chăn
nuôi, và các sự phạm giới,[335] con sẽ không bao giờ bỏ
qua; khi nào có đủ năng lực, gặp những chúng sinh như vậy
ở nơi này hay ở nơi kia, đối với những hạng cần phải
chiết phục[336] con sẽ chiết phục, đối với những hạng
cần phải nhiếp thọ[337] con sẽ nhiếp thọ. Vì sao vậy?
Vì do sự chiết phục và nhiếp thọ mà Chánh pháp tồn tại
lâu dài. Do Chánh pháp tồn tại lâu dài mà chư thiên và nhân
loại được sung mãn, các ác đạo sẽ giảm thiểu, có thể
tùy chuyển[338] theo bánh xe chánh pháp mà Như Lai đã chuyển
vận.[339] Do thấy sự lợi ích ấy nên không bao giờ con bỏ
sự nhiếp thọ.»
«Bạch
Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ-đề,
con sẽ không bao giờ quên mất nhiếp thọ Chánh pháp.[340]
Vì sao, vì quên mất pháp là quên mất Đại thừa; quên mất
Đại thừa là quên mất ba-la-mật. Quên mất ba-la-mật thì
không còn ý hướng nơi Đại thừa.»[341]
«Nếu
Bồ tát không có quyết định[342] ở nơi Đại thừa, sẽ
không thể thành tựu ý hướng nhiếp thọ Chánh pháp,[343]
chứng nhập tùy sở thích,[344] vĩnh viễn không đủ khả năng
siêu việt địa vị phàm phu.[345] Bởi vì con thấy có vô lượng
sự sai lầm to lớn như vậy và lại cũng thấy vô lượng
phước lợi của Bồ tát ma-ha-tát nhiếp thọ Chánh Pháp trong
đời vị lai, cho nên tiếp thọ mười đại thọ này. Kính
mong Thế Tôn, đấng Pháp chủ,[346] hiện tiền làm chứng cho
con. Cúi mong[347] Phật Thế Tôn hiện tiền chứng tri. Nhưng
các chúng sanh có thiện căn mỏng manh có thể dựng lên màn
lưới hoài nghi.[348] Vì rằng mười đại thọ ấy thật khó
đạt đến cứu cánh.[349] Các chúng sinh ấy vì vậy mà lâu
dài mất những nghĩa lợi, những điều hữu ích, không được
an lạc.[350] Để an ổn các chúng sanh ấy, nay đối trước
Phật, con nói lên những thệ nguyện chân thật này. Nếu mười
đại thọ này sẽ được con thực hiện đúng như đã nói,
và do thệ nguyện này, con mong rằng ngay giữa đại chúng này,
các hoa trời mưa xuống, các âm nhạc trời nổi lên.»
Ngay
khi vừa nói lời này, thì từ hư không mưa tuôn xuống các
hoa trời, trổi lên các loại âm thanh vi diệu cõi trời rằng:
«Thật
như vậy! Thật như vậy! Những điều Phu nhân nói là chân
thật, không thay đổi.»
Tất
cả những ai trong chúng hội, khi trông thấy các đóa hoa vi
diệu, và nghe các âm thanh ấy, thảy đều dứt trừ hết mọi
nghi hoặc; hoan hỷ, phấn khởi không lường, cùng phát thệ
rằng:
«Mong
cho chúng tôi luôn luôn thường gặp gỡ Thắng Man, cùng chung
tu hành.»[351]
ĐĐức
Thế Tôn thọ ký cho tất cả đại chúng đều được như
nguyện.
CHƯƠNG
BA:
BA
ĐẠI NGUYỆN[352]
Lúc
bấy giờ Thắng Man phu nhân đối trước Phật mà phát ra ba
đại nguyện[353] rằng:
«Bằng
những nguyện lực chân thật này, con mong đem lại an ổn cho
vô lượng vô biên chúng sanh.»
«Do
thiện căn ấy,[354] tất cả mọi đời con đều có được
Chánh pháp trí.[355] Đây là đại nguyện thứ nhất.»[356]
«Sau
khi đã có Chánh pháp trí, bằng tâm không mệt mỏi[357] con
sẽ giảng cho tất cả chúng sanh. Đây là đại nguyện thứ
hai.»[358]
«Đối
với sự nhiếp thọ Chánh pháp,[359] con xả bỏ thân, mạng
và tài sản[360] để hộ trì Chánh pháp. Đây là đại nguyện
thứ ba.»[361]
Bây
giờ, đức Thế Tôn liền ghi nhận ba đại nguyện ấy cho
Thắng Man phu nhân. Cũng như hết thảy sắc đều nhập vào
không giới;[362] cũng vậy, hằng sa các thệ nguyện của Bồ
tát thảy đều nhập vào trong đại nguyện này. Ba đại nguyện
này là chân thật, là quảng đại.
CHƯƠNG
BỐN:
NHIẾP
THỌ[363]
Lúc
bấy giờ, Thắng Man phu nhân bạch Phật:
«Nay
con nhờ oai thần của Phật[364] để nói về điều phục đại
nguyện,[365] chân thật, không đổi khác.»
Phật
bảo Thắng Man phu nhân:
«Con
hãy tùy ý nói.»
Thắng
Man phu nhân bạch Phật:
«Hằng
sa các nguyện mà Bồ tát có, thảy đều thâu nhập vào trong
một đại nguyện; đó là nhiếp thọ Chánh pháp.[366] Nhiếp
thọ Chánh pháp thật sự là đại nguyện.»[367]
Phật
tán thán Thắng Man phu nhân:
«Lành
thay! Lành thay! Trí tuệ phương tiện[368] rất sâu xa, rất
mầu nhiệm, do con đã gieo trồng lâu dài các gốc rễ thiện.
Chúng sanh trong đời vị lai, những ai đã gieo trồng thiện
căn lâu dài mới có thể thấu hiểu những điều con nói.
Sự nhiếp thọ Chánh pháp mà con đã nói, đó cũng là những
gì mà chư Phật trong quá khứ, trong vị lai, trong hiện tại,
đã nói, sẽ nói và đang nói. Nay, Ta đã thành tựu vô lượng
Bồ-đề cũng thường nói sự nhiếp thọ Chánh pháp ấy. Như
vậy, công đức của sự nhiếp thọ Chánh pháp mà Ta đã nói
thật không biết được biên tế. Trí tuệ biện tài của
Như Lai cũng không có biên tế. Vì sao? Vì sự nhiếp thọ chánh
pháp ấy có đại công đức, đại lợi ích.»
Thắng
Man bạch Phật:
«Con
sẽ nương nhờ thần lực của Phật để diễn thuyết thêm
ý nghĩa rộng lớn của sự nhiếp thọ Chánh pháp.»
Phật
nói: «Con hãy nói đi.»
Thắng
Man bạch Phật:
«Ý
nghĩa rộng lớn của sự nhiếp thọ Chánh pháp ấy là, vốn
thật là vô lượng, thành đạt hết thảy Phật pháp, thâu
tóm tám muôn bốn ngàn pháp môn. Cũng như vào thời kiếp mới
sáng thành[369] khắp nơi giăng bủa mây lớn, mưa xuống các
loại mưa màu sắc và đủ các thứ trân bảo; cũng vậy, sự
nhiếp thọ Chánh pháp mưa xuống những cơn mưa vô lượng
phước báo và vô lượng thiện căn.»
«Bạch
Thế Tôn, lại nữa, cũng như vào thời kiếp vừa mới sáng
thành, có khối nước lớn[370] nảy sanh ba nghìn đại thiên
giới tạng,[371] và bốn trăm ức đủ các loại lục địa;
cũng vậy, sự nhiếp thọ chánh pháp xuất sanh vô lượng giới
tạng của Đại thừa, oai lực thần thông của hết thảy
Bồ tát, sự an ổn khoái lạc của tất cả chúng sanh, sự
như ý tự tại của hết thảy chúng sanh, sự an lạc của
xuất thế gian, và những gì chư thiên cùng nhân loại vốn
chưa từng có được kể từ kiếp vừa sáng thành; thảy đều
xuất hiện từ trong đó.»[372]
«Lại
nữa, cũng như cõi đất lớn duy trì bốn loại gánh nặng.[373]
Những gì là bốn? Một là biển cả; hai là núi non; ba là
thảo mộc; bốn là chúng sinh. Cũng vậy, thiện nam tử hay
thiện nữ nhân nhiếp thọ Chánh pháp, an lập cõi đất lớn,
có khả năng gánh vác bốn trách nhiệm trọng đại cũng giống
như cõi đất ấy.[374] Những gì là bốn? Đó là, bằng thiện
căn của nhân loại và chư thiên mà thành thục các chúng sinh
nào vốn xa lìa thiện tri thức, không học hỏi, không đạo
đức;[375] với những ai mong cầu Thanh văn thì trao cho Thanh
văn thừa;[376] những ai mong cầu Duyên giác thì trao cho Duyên
giác thừa;[377] những ai mong cầu Đại thừa thì trao cho Đại
thừa. Đó gọi là thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp
thọ Chánh pháp, an lập cõi đất lớn, có khả năng gánh vác
trách nhiệm trọng đại.»
«Bạch
Thế Tôn, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp thọ Chánh
pháp như vậy, an lập cõi đất lớn, có khả năng gánh vác
trách nhiệm trọng đại, làm người bạn không cần mời gọi[378]
cho tất cả chúng sinh, với tâm đại bi, an ủi, thương xót
chúng sinh, làm người mẹ đạo pháp[379] cho đời.»
«Lại
nữa, như cõi đất lớn có bốn loại bảo tạng.[380] Những
gì là bốn? Một là vô giá, hai là thượng giá, ba là trung
giá, bốn là hạ giá. Đó là bốn bảo tạng của cõi đất
lớn. Cũng vậy, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp thọ
chánh pháp, thiết lập cõi đất lớn, thành đạt bốn loại
đại bảo vô thượng của chúng sinh.[381] Những gì là bốn?
Thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp thọ Chánh pháp, đối
với chúng sinh không học hỏi, không đạo đức, thì đem thiện
căn công đức của nhân thiên mà trao cho; với những ai mong
cầu Thanh văn thì trao Thanh văn thừa; những ai mong cầu Duyên
giác thì trao Duyên giác thừa; những ai mong cầu Đại thừa
thì trao cho Đại thừa. Chúng sinh có được đại bảo cũng
vậy; đều do bởi thiện nam tử, thiện nữ nhân nhiếp thọ
Chánh pháp mà có được công đức kỳ diệu, hiếm có này.»
«Bạch
Thế Tôn, đại bảo tạng tức là nhiếp thọ Chánh pháp.[382]
Bạch Thế Tôn nói rằng nhiếp thọ Chánh pháp; ấy là, nhiếp
thọ Chánh pháp không khác biệt Chánh pháp; Chánh pháp tức
là nhiếp thọ Chánh pháp.»[383]
«Bạch
Thế Tôn, ba-la-mật không khác biệt nhiếp thọ Chánh pháp;
nhiếp thọ Chánh pháp tức là ba-la-mật. Vì sao? Thiện nam
tử hay thiện nữ nhân nhiếp thọ Chánh pháp, với những ai
cần bố thí để thuần thục; thì con sẽ thuần thục bằng
bố thí, cho đến xả bỏ thân mạng, chi thể, tùy theo tâm
ý của những kẻ ấy để làm cho thuần thục,[384] khiến
cho chúng sinh được thuần thục ấy đứng vững trong chánh
pháp.[385] Đó gọi là đàn-ba-la-mật.»[386]
«Đối
với những ai cần được thuần thục bằng sự trì giới,
bằng sự thủ hộ sáu căn,[387] thanh tịnh thân, khẩu ý nghiệp,
cho đến làm ngay thẳng bốn oai nghi,[388] tùy theo tâm ý của
những kẻ ấy để làm cho thuần thục, khiến cho những chúng
sinh được thuần thục ấy đđứng vững trong Chánh pháp.
Đó gọi là thi ba-la-mật.»[389]
«Đối
với những ai cần được thuần thục bằng nhẫn nhục; nếu
bị những chúng sinh ấy mạ lỵ, hủy nhục, phỉ báng, khủng
bố, thì con sẽ bằng tâm không oán hận, tâm lợi ích, năng
lực nhẫn đệ nhất, cho đến nhan sắc không thay đổi, tùy
theo tâm ý của những kẻ ấy mà làm cho thuần thục, khiến
cho chúng sinh được thuần thục ấy đứng vững trong Chánh
pháp. Đó gọi là sằn-đề ba-la-mật.»[390]
«Đối
với những ai cần được thành tựu bằng tinh tấn, thì đối
với chúng sanh ấy con sẽ không khởi tâm giải đãi, phát
sinh tâm đại dục,[391] tinh tấn đệ nhất, cho đến cả trong
bốn oai nghi, tùy theo tâm ý của những kẻ ấy mà làm cho
thuần thục, khiến cho chúng sinh được thuần thục ấy đứng
vững trong Chánh pháp. Đó gọi là tỳ-lê ba-la-mật.»[392]
«Đối
với chúng sinh cần được thành tựu bằng thiền định, đối
với chúng sinh ấy bằng tâm không loạn động, tâm không hướng
ngoại, đệ nhất chánh niệm, cho đến trong một thời gian
lâu dài mà vẫn hoàn toàn không quên mất những gì đã được
nói, tùy theo tâm ý của những kẻ ấy mà làm cho thuần thục,
khiến cho chúng sinh được thuần thục ấy đứng vững trong
Chánh pháp. Đó gọi là thiền ba-la-mật.»[393]
«Đối
với chúng sinh cần được thuần thục bằng trí tuệ; khi
con được các chúng sinh ấy hỏi tất cả nghĩa, thì bằng
tâm vô úy,[394] con sẽ diễn nói tất cả các luận,[395] tất
cả các công xảo cứu cánh minh xứ,[396] cho đến đủ loại
các công xảo khác nhau,[397] tùy theo tâm ý của những kẻ
ấy mà làm cho thuần thục, khiến cho chúng sinh được thuần
thục ấy đứng vững trong Chánh pháp. Đó gọi là bát-nhã
ba-la-mật.»[398]
«Vì
vậy, bạch Thế Tôn, ba-la-mật không khác nhiếp thọ Chánh
pháp; Chánh pháp không khác ba-la-mật. Nhiếp thọ Chánh pháp
tức là ba-la-mật.»
«Bạch
Thế Tôn, con nay nương thần lực của Phật để nói thêm
đại nghĩa.»[399]
Phật
nói: «Con hãy cứ nói.»[400]
Thắng
Man bạch Phật:
«Được
nói là nhiếp thọ Chánh pháp; nhiếp thọ Chánh pháp là không
khác biệt nhiếp thọ Chánh pháp,[401] không khác biệt nhiếp
thọ Chánh pháp là nhiếp thọ Chánh pháp. Thiện nam tử, thiện
nữ nhân tức là nhiếp thọ Chánh pháp. Vì sao? Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhân nhiếp thọ Chánh pháp, vì nhiếp thọ
Chánh pháp mà xả bỏ ba phần. Những gì là ba phần? Tức
là thân, mạng và tài sản.[402] Thiện nam tử, thiện nữ nhân
do xả bỏ thân mà cho đến biên tế đời sau của sinh tử[403]
sẽ xa lìa các sự già, bịnh, chết,[404] thành tựu Pháp thân
của Như Lai với phẩm tính không hủy hoại, thường trụ,
không biến dịch, bất khả tư nghì.[405] Do xả bỏ mạng mà
cho đến biên tế đời sau của sinh tử sẽ rốt ráo xa lìa
sự chết, thành tựu công đức[406] vô biên, thường trụ,
bất khả tư nghị, thông ñaït tất cả Phật pháp sâu xa.[407]
Do xả bỏ tài sản mà cho đến biên tế đời sau của sinh
tử sẽ thành tựu các công đức tròn đầy không cùng tận,
không giảm thiểu, cứu cánh thường trụ, bất khả tư nghì,
mà không một chúng sinh nào có được,[408] được sự cúng
dường thù thắng của tất cả chúng sinh.
«Bạch
Thế Tôn, thiện nam tử, thiện nữ nhân xả bỏ ba phần để
nhiếp thọ Chánh pháp như vậy, thường được hết thảy
chư Phật thọ ký, được hết thảy chúng sanh chiêm ngưỡng.»
«Bạch
Thế Tôn, lại nữa, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp
thọ Chánh pháp, khi Chánh pháp gần tiêu diệt, bấy giờ tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di kết thành bè đảng, tranh
tụng, phá hoại, ly tán, thì thiện nam tử, thiện nữ nhân
ấy bằng sự không siểm khúc, không dối trá, không hư ngụy,[409]
mến mộ chánh pháp,[410] nhiếp thọ chánh pháp, tham dự trong
những bằng hữu của chánh pháp.[411] Những ai tham dự trong
những bằng hữu của chánh pháp sẽ được các đức Phật
thọ ký.»
«Bạch
Thế Tôn, con thấy sự nhiếp thọ Chánh pháp có sức mạnh
lớn như vậy. Phật là con mắt chân thật, là trí chân thật,
là gốc rễ của pháp, là bậc thấu suốt pháp, là nơi nương
tựa của chánh pháp,[412] tất nhiên cũng biết và thấy như
vậy.»
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn đối với năng lực tinh tấn to lớn
của nhiếp thọ Chánh pháp mà Thắng Man phu nhân đã nói, Ngài
khởi tâm tùy hỷ nói rằng:
«Thật
như vậy, Thắng Man, thật như những điều con đã nói về
năng lực tinh tấn to lớn của sự nhiếp thọ Chánh pháp.
Cũng như một bộ phận thân thể[413] bị đại lực sĩ vừa
mới đụng chạm đến chút xíu[414] đã cảm thấy đau đớn
nhiều. Cũng vậy Thắng Man, một phần nhỏ của nhiếp thọ
chánh pháp khiến cho Ma[415] khổ não. Ta không thấy một pháp
nào khác mà khiến cho Ma khổ não như một phần nhỏ của
sự nhiếp thọ Chánh pháp.»
«Lại
nữa, như con trâu chúa,[416] có hình sắc không thể sánh, hơn
hẳn các trâu khác. Cũng vậy, một phần nhỏ nhiếp thọ Chánh
pháp của Đại thừa hơn hẳn hết thảy thiện căn của Nhị
thừa, vì là rộng và lớn vậy.»
«Lại
nữa, như núi chúa Tu-di,[417] tráng lệ khác thường hơn hẳn
các núi. Cũng vậy, Đại thừa xả bỏ thân mạng, tài sản
bằng tâm nhiếp thủ[418] mà nhiếp thọ Chánh pháp hơn hẳn
tất cả thiện căn của những vị mới an trụ Đại thừa[419]
mà không xả bỏ thân mạng và tài sản, huống nữa là Nhị
thừa, vì là rộng và lớn vậy.»
«Cho
nên, này Thắng Man, nên bằng sự nhiếp thọ Chánh pháp mà
khai thị chúng sinh, giáo hoá chúng sinh, kiến lập chúng sinh.»[420]
«Như
vậy, này ThắngMan, sự nhiếp thọ Chánh pháp có một lợi
ích lớn như vậy, có phước báo lớn như vậy, có kết quả
lớn như vậy. Này Thắng Man, Ta trải qua a-tăng-kỳ a-tăng-kỳ
kiếp[421] nói về công đức nghĩa lợi[422] của nhiếp thọ
Chánh pháp mà không hết được biên tế. Cho nên nhiếp thọ
Chánh pháp có vô lượng vô biên công đức.»
CHƯƠNG
NĂM:
NHẤT
THỪA[423]
ĐĐức
Phật bảo Thắng Man:
«Nay
con lại hãy nói thêm về sự nhiếp thọ Chánh pháp mà hết
thảy chư Phật đều nói.»
Thắng
Man bạch Phật:
«Lành
thay! Bạch Thế Tôn, con kính vâng lời dạy.»
Rồi
bạch Phật:
«Bạch
Thế Tôn, nhiếp thọ Chánh pháp tức là Đại thừa.[424] Vì
sao? Bởi vì Đại thừa xuất sinh hết thảy thiện pháp của
thế gian và xuất thế gian, Thanh văn, Duyên giác.»
«Bạch
Thế Tôn, cũng như từ hồ A-nậu-đại[425] xuất phát tám
con sông lớn,[426] cũng vậy, từ Đại thừa xuất sinh hết
thảy thiện pháp của thế gian và xuất thế gian, Thanh văn,
Duyên giác.»
«Bạch
Thế Tôn, lại nữa, cũng như hết thảy hạt giống[427] đều
nương vào đất mà sinh trưởng; cũng vậy, hết thảy thiện
pháp của thế gian và xuất thế gian, Thanh văn, Duyên giác,
đều nương nơi Đại thừa mà được tăng trưởng. Cho nên,
Bạch Thế Tôn, an trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa,
tức là an trụ Nhị thừa[428] và nhiếp thọ hết thảy thiện
pháp thế gian và xuất thế gian của Nhị thừa.»
«Như
Thế Tôn đã nói, có sáu xứ.[429] Những gì là sáu? Đó là:
Chánh pháp trụ, Chánh pháp diệt, Ba-la-đề-mộc-xoa, Tỳ-ni,
Xuất-gia và Thọ cụ túc giới. Sáu xứ ấy được nói vì
mục đích Đại thừa.»
«Vì
sao? Chánh pháp trụ,[430] ấy là vì Đại thừa mà nói. Đại
thừa trụ cho nên nói Chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt,[431]
ấy là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa diệt cho nên Chánh
pháp diệt.»
«Ba-la-đề-mộc-xoa[432]
và Tỳ-ni,[433] hai pháp ấy, tên gọi khác nhưng ý nghĩa là
một. Tỳ-ni tức là cái học của Đại thừa.[434] Vì sao?
Vì nương Phật xuất gia, mà thọ cụ túc, cho nên nói rằng
oai nghi giới của Đại thừa[435] là Tỳ-ni, là xuất gia,[436]
là thọ cụ túc.[437] Cho nên A-la-hán[438] không có xuất gia,
thọ cụ túc. Vì sao? Vì A-la-hán nương Như Lai mà xuất gia,
thọ cụ túc.[439] A-la-hán quy y theo Phật, A-la-hán có sự sợ
hãi. Vì sao vậy? Vì A-la-hán vẫn còn an trụ với ý tưởng
sợ hãi đối với hết thảy vô hành;[440] như có người cầm
gươm muốn đến hại mình, cho nên A-la-hán không có sự an
lạc tuyệt đối.[441] Vì sao? Bạch Thế Tôn, vì là nương
tựa bậc không cần nương tựa.[442] Cũng như chúng sinh vì
không nơi nương tựa cho nên sợ hãi cái này cái kia. Do sợ
hãi[443] nên tìm đến quy y. Cũng vậy, A-la-hán có sự sợ
hãi cho nên nương tựa Như Lai.»
«Bạch
Thế Tôn, A-la-hán và Bích-chi Phật có sợ hãi; cho nên, A-la-hán
và Bích-chi-Phật vì còn sinh pháp tàn dư[444] chưa diệt tận
nên còn có sự sinh; vì còn phạm hạnh dư tàn chưa thành tựu
nên không thuần nhất;[445] vì phận sự[446] không cứu cánh
nên còn có những điều cần làm; vì chưa vượt qua cái kia[447]
nên còn có những cái phải đoạn trừ. Vì không đoạn trừ
nên cách Niết-bàn giới[448] còn xa. Vì sao vậy? Duy chỉ có
đức Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác,[449] mới chứng
đắc Niết-bàn, vì đã thành tựu hết thảy công đđức.[450]
A-la-hán và Bích-chi-Phật không thành tựu hết thảy công đức;
nói rằng chứng đắc Niết-bàn, đó là phương tiện của
Phật.
«Duy
chỉ Như Lai mới chứng đắc Niết-bàn, vì đã thành tựu
công đức không thể nghĩ bàn. A-la-hán và Bích-chi-Phật thành
tựu công đức có thể nghĩ bàn; nói là chứng đắc Niết
Bàn, đó là phương tiện của Phật.»
«Duy
chỉ Như Lai mới chứng đắc Niết-bàn, vì đã đoạn trừ
hết thảy những sai lầm cần phải đoạn trừ,[451] thành
tựu đệ nhất thanh tịnh. A-la-hán và Bích-chi còn có lỗi
lầm tàn dư, chưa phải là đệ nhất thanh tịnh; nói rằng
chứng đắc Niết-bàn, đó là phương tiện của Phật.»
«Duy
chỉ có Như Lai mới chứng đắc Niết Bàn, được hết thảy
chúng sinh chiêm ngưỡng, vượt trên cảnh giới A-la-hán, Bích-chi-Phật
và Bồ tát. Cho nên, A-la-hán, Bích-chi-Phật và Bồ tát cách
Niết-bàn giới còn xa.»
«Nói
rằng, với A-la-hán và Bích-chi-Phật, quán sát sự giải thoát
và sự cứu cánh của bốn trí,[452] đạt đến chỗ yên nghỉ;[453]
đấy cũng là phương tiện của Như Lai, còn có dư tàn, chưa
phải là liễu nghĩa.»[454]
«Vì
sao? Có hai loại chết. Những gì là hai? Chết bởi phần đoạn
và chết bởi biến dịch bất tư nghị.[455] Chết bởi phần
đoạn là chúng sinh hư ngụy.[456] Chết bởi bất tư nghị
biến dịch, là ý sinh thân[457] A-la-hán, Bích-chi Phật, Đại
lực[458] Bồ tát cho đến cứu cánh Bồ-đề.»
«Trong
hai loại chết, do sự chết phần đoạn mà nói rằng trí của
A-la-hán và Bích-chi Phật nhận biết ‹Sự sinh của ta đã
hết›.[459] Do chỉ chứng đạt được quả hữu dư[460] cho
nên nói rằng ‹hạnh đã vững.›[461] Vì là điều mà phàm
phu, trời, người không thể hoàn thành, là điều mà bảy
bậc học nhân[462] trước đây chưa làm và vì đoạn trừ
phiền não hư ngụy,[463] cho nên nói ‹Điều cần làm đã
làm xong›.[464] Vì A-la-hán và Bích-chi-Phật đã đoạn trừ
phiền não không còn có thể tái sinh đời sau nữa cho nên
nói ‹Không còn tái sinh đời sau›[465] nhưng không phải là
đoạn tận hết thảy phiền não, cũng không phải là đoạn
tận hết thảy sự thọ sinh[466] để nói rằng ‹Không còn
tái sinh đời sau›.»
«Vì
sao? Vì có phiền não mà A-la-hán và Bích-chi Phật không thể
đoạn trừ được.»
«Phiền
não có hai loại. Những gì là hai? Là trụ địa phiền não
và khởi phiền não. Trụ địa phiền não có bốn.[467] Những
gì là bốn? Đó là, kiến nhất xứ trụ địa,[468] dục ái
trụ địa,[469] sắc ái trụ địa[470] và hữu ái trụ địa.[471]
Bốn trụ địa này sinh ra hết thảy khởi phiền não.[472]
Khởi tức là sát-na tương ứng sát-na tâm.[473] Bạch Thế
Tôn, vô minh trụ địa[474] vô thủy không tương ưng với tâm.[475]
Bạch Thế Tôn năng lực bốn trụ địa này là nơi nương
tựa[476] cho hết thảy phiền não hiện khởi;[477] so với vô
minh trụ địa, thì không thể bằng toán số, thí dụ mà mô
tả được.»
«Bạch
Thế Tôn, như vậy là sức mạnh của vô minh trụ địa; đối
với bốn trụ địa thuộc hữu ái,[478] vô minh trụ địa
có sức mạnh lớn hơn hết. Cũng như Ma Ba-tuần[479] đối
với Tự Tại thiên[480] có sắc, lực, thọ mạng và đám quyến
thuộc thảy đều tự tại trổi vượt; cũng vậy, sức mạnh
của vô minh trụ địa, đối với bốn trụ địa thuộc hữu
ái, sức mạnh của nó tối thắng, là sở y của hằng hà
sa số phiền não tạp nhiễm, và cũng khiến cho bốn loại
phiền não tồn tại lâu dài, không phải là cái mà trí của
A-la-hán và Bích-chi-Phật có thể đoạn trừ được, duy chỉ
trí Bồ-đề của Như Lai mới có thể đoạn trừ. Như vậy
bạch Thế tôn, vô minh trụ địa có sức mạnh rất lớn.»
«Bạch
Thế Tôn, lại nữa, như thủ là duyên, nghiệp hữu lậu là
nhân,[481] sinh ra ba hữu;[482] cũng vậy, vô minh trụ địa là
duyên, nghiệp vô lậu là nhân[483] mà sinh ra ba loại ý sinh
thân của A-la-hán, Bích-chi Phật, và Đại lực Bồ tát. Ba
loại ý sanh thân này của ba địa vị kia cùng với nghiệp
vô lậu đều y trên vô minh trụ địa, có duyên chứ không
phải không có duyên.[484] Cho nên ba loại ý sanh thân và nghiệp
vô lậu duyên vô minh trụ địa.»[485]
«Như
vậy, bạch Thế Tôn, bốn trụ địa, như hữu ái trụ địa,
không đồng với nghiệp[486] của vô minh trụ địa. Vô minh
trụ địa khác biệt và ở ngoài[487] bốn trụ địa, được
đoạn trừ nơi Phật địa,[488] được đoạn trừ bởi trí
Bồ-đề của Phật.[489] Vì sao? Vì A- la-hán và Bích-chi Phật
đoạn trừ bốn loại trụ địa, mà vô lậu chưa diệt tận,
không được tự tại lực, cũng không thể tác chứng.[490]
Vô lậu chưa diệt tận[491] tức là vô minh trụ địa.»[492]
«Bạch
Thế Tôn, A-la-hán, Bích-chi Phật và Bồ tát tối hậu thân[493]
bị che lấp và trở ngại[494] bởi vô minh trụ địa cho nên
đối với pháp này pháp kia[495] không biết, không thấy. Vì
không biết và không thấy cho nên những gì cần đoạn trừ
thì không được đoạn trừ, không được rốt ráo.[496] Do
không đoạn trừ nên nói là giải thoát với khuyết điểm
còn tàn dư,[497] không phải là giải thoát với sự dứt lìa
hết thảy khuyết điểm; gọi là thanh tịnh hữu dư chứ không
phải là thanh tịnh tất cả; gọi là thành tựu công đức
hữu dư chứ không phải là công đức tất cả. Vì thành tựu
giải thoát hữu dư, thanh tịnh hữu dư, công đức hữu dư
cho nên biết khổ hữu dư,[498] đoạn tập hữu dư, chứng
diệt hữu dư, tu đạo hữu dư.[499] Đó gọi là đạt được
một phần Niết-bàn.[500] Đạt được một phần Niết Bàn,
gọi là hướng Niết-bàn giới. Nếu biết hết thảy khổ,
đoạn hết thảy tập, chứng hết thảy diệt, tu hết thảy
đạo, đối với thế gian vô thường bại hoại, đối với
thế gian vô thường bịnh hoạn mà chứng đắc thường trụ
Niết-bàn;[501] đối với thế gian không được che chở, không
nươơng tựa mà che chở và là làm nơi nương tựa. Vì sao?
Vì pháp không có hơn kém mà chứng đắc Niết-bàn;[502] vì
trí tuệ bình đẳng mà chứng đắc Niết-bàn; vì giải thoát
bình đẳng mà chứng đắc Niết-bàn; vì thanh tịnh bình đẳng
mà chứng đắc Niết-bàn. Cho nên Niết- bàn chỉ có một vị,
vị bình đẳng, gọi là vị giải thoát.»
«Bạch
Thế Tôn nếu vô minh trụ địa không được đoạn trừ, không
được cứu cánh thì không thể đạt được hương vị duy
nhất,[503] hương vị bình đẳng,[504] tức vị giải thoát.»[505]
«Vì
sao? Vì nếu vô minh trụ địa không được đoạn trừ, không
được cứu cánh, thì các pháp cần đoạn trừ nhiều hơn
số cát sông Hằng không được đoạn trừ, không được cứu
cánh;[506] các pháp cần chứng đắc nhiều hơn số cát sông
Hằng không được chứng đắc, cần chứng ngộ không được
chứng ngộ. Cho nên, vô minh trụ địa tích tụ mà sinh ra phiền
não hiện khởi[507] của hết thảy phiền não thuộc tu đoạn.[508]
Nó sinh ra phiền não hiện khởi của tâm,[509] phiền não hiện
khởi của chỉ,[510] phiền não hiện khởi của quán,[511] phiền
não hiện khởi của thiền,[512] phiền não hiện khởi của
chánh thọ,[513] phiền não hiện khởi của phương tiện,[514]
phiền não hiện khởi của trí, phiền não hiện khởi của
quả, phiền não hiện khởi của đắc, phiền não hiện khởi
của lực, phiền não hiện khởi của vô úy, các phiền não
hiện khởi nhiều hơn cát sông Hằng như vậy được đoạn
trừ bởi trí Bồ-đề của Như Lai;[515] tất cả đều nương
trên vô minh trụ địa mà được thiết lập. Hết thảy phiền
não hiện khởi sinh khởi do nhân là vô minh trụ địa, duyên
là vô minh trụ địa.»
«Bạch
Thế Tôn, đối với khởi phiền não này, tâm sát-na tương
ưng sát-na.[516] Bạch Thế Tôn tâm không tương ưng với vô
thủy vô minh trụ địa.»[517]
«Bạch
Thế Tôn, các pháp được đoạn bởi trí Bồ-đề của Như
Lai dù có nhiều hơn số cát sông Hằng, tất cả đều được
duy trì, được thiết lập bởi vô minh trụ địa. Cũng như
hết thảy hạt giống đều nương trên đất mà sinh, mà tồn
tại,[518] tăng trưởng; nếu đất bị hủy hoại thì chúng
cũng bị hủy hoại theo. Cũng vậy, các pháp nhiều hơn số
hằng sa được đoạn trừ bởi trí Bồ-đề của Như Lai,
hết thảy đều nương trên vô minh trụ địa mà sinh, mà tồn
tại và tăng trưởng. Nếu vô minh trụ địa bị đoạn trừ
thì các pháp nhiều hơn số hằng sa được đoạn trừ bởi
trí Bồ-đề của Như Lai cũng bị đoạn trừ theo.»
«Như
vậy, hết thảy phiền não, tùy phiền não[519] được đoạn
trừ, thì các pháp nhiều hơn số cát sông Hằng mà Như Lai
sở đắc đều được thấu suốt vô ngại, với hết thảy
trí và kiến,[520] lìa hết thảy khuyết điểm,[521] được
hết thảy công đức, là Pháp vương, Pháp chủ, mà được
tự tại bước lên địa vị tự tại đối với hết thảy
pháp,[522] là Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, với tiếng
rống sư tử chân chánh:[523] ‹Sự sinh của ta đã dứt, phạm
hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tiếp
thọ đời sau nữa›. Cho nên, bạch Thế Tôn, tiếng rống
sư tử, y trên liễu nghĩa, là sự xác nhận một cách tuyệt
đối.»[524]
«Bạch
Thế Tôn trí không tiếp thọ đời sau[525] có hai loại.[526]
Như Lai bằng năng lực điều ngự vô thượng[527] mà hàng
phục bốn loại Ma,[528] ra khỏi hết thảy thế gian, được
hết thảy chúng sinh chiêm ngưỡng, chứng đắc Pháp thân bất
khả tư nghị, được tự tại đối với pháp vô ngại[529]
trên tất cả mảnh đất sở tri;[530] bên trên không còn phận
sự cần làm, không còn địa vị cần chứng nào nữa; đầy
đủ möôøi năng lực,[531] dũng mãnh mà bước lên địa vị
vô úy vô thượng bậc nhất; đối với hết thảy nhĩ diệm,
quán sát bằng vô ngại trí, không do ai khác, với nhận thức
rằng ‹Sau đời này không còn đời nào nữa› mà cất tiếng
rống sư tử.»
«Bạch
Thế Tôn, A-la-hán, Bích-chi-Phật[532] vượt qua sự sợ hãi
về sinh tử, lần lượt đạt được sự an lạc của giải
thoát, bèn nghĩ rằng: ‹Ta đã xa lìa sợ hãi về sinh tử,
không còn tiếp thọ sự khổ sinh tử›. Bạch Thế Tôn, A-la-hán,
Bích-chi-Phật khi quan sát liền chứng đắc địa vị không
còn tiếp thọ đời sau, quán nơi yên nghĩ bậc nhất, là Niết-bàn
địa.»[533]
«Bạch
Thế Tôn, địa vị mà vị ấy chứng đắc trước kia, không
ngu si đối với pháp, không do ai khác, và tự biết là chỉ
đạt được địa vị hữu dư, rồi tất sẽ chứng đắc
vô thượng chánh đẳng giác.[534] Vì sao? Thanh văn và Duyên
giác thừa đều quy vào Đại thừa. Đại thừa ấy tức Phật
thừa. Cho nên Ba thừa vốn là Một thừa. Chứng đắc Một
thừa là chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.[535]
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề tức là Niết-bàn giới.[536]
Niết-bàn giới tức là Pháp thân của Như Lai. Được cứu
cánh Pháp thân thì cứu cánh Một thừa không khác Như Lai,
không khác Pháp thân. Như Lai tức Pháp thân. Được cứu cánh
Pháp thân tức cứu cánh Một thừa. Cứu cánh tức là vô biên
không đoạn.»[537]
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tồn tại với thời gian không có giới hạn.
Như Lai, bậc ÖÙng cúng, Chánh đẳng giác tồn tại với suốt
cùng hậu tế.[538] Như Lai là đại bi không giới hạn và an
ủi thế gian cũng không giới hạn. Đại bi vô hạn, an ủi
thế gian vô hạn, nói như vậy gọi là nói toàn thiện. Nếu
gọi rằng Như Lai là pháp vô tận, là pháp thường trụ, là
nơi nương tựa của hết thảy thế gian, đó cũng gọi là
nói về Như Lai một cách toàn thiện. Cho nên, đối với thế
gian chưa được cứu độ, đối với thế gian không nơi nương
tựa mà làm nơi vô tận quy y, thường trụ quy y, cho đến
suốt cùng hậu tế, đó chính là Như Lai, Ứng cúng, Chánh
đẳng giác vậy.»
«Pháp
tức là thuyết Nhất thừa đạo.[539] Tăng tức là các chúng
của Ba thừa. Hai sự quy y ấy không phải là quy y rốt ráo,
mà gọi là quy y phần ít. Vì sao? Thuyết Nhất thừa đạo
pháp, chứng đắc Pháp thân cứu cánh, bên trên không còn nói
đến pháp Nhất thừa[540] nữa.»
«Các
chúng Ba thừa có sợ hãi mà quy y Như Lai, cầu mong xuất ly,
tu học, hướng Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên
hai sự quy y ấy không phải là quy y cứu cánh, đó là sự
quy y có hạn. Nếu có chúng sinh được Như Lai điều phục
mà quy y Như Lai, được thấm nhuần[541] bởi pháp, sinh tâm
tin vui mà quy y Pháp và Tăng. Đó là hai quy y. Không phải rằng
hai sự quy y này là quy y Như Lai.[542] Quy y đệ nhất nghĩa
là quy y Như Lai. Đệ nhất nghĩa[543] của hai sự quy y này
là cứu cánh quy y Như Lai. Vì sao? Như Lai không khác biệt với
hai sự quy y này. Như Lai tức là ba quy y. Vì sao? Thuyết Nhất
thừa đạo, Như Lai thuyết bằng bốn vô úy,[544] thành tựu
sư tử hống. Nếu Như Lai tùy theo xu hướng của chúng[545]
mà phương tiện thuyết giảng, tức thị Đại thừa chứ không
có hai thừa.[546] Ba thừa đều nhập vào một thừa. Một thừa
tức là thừa của đệ nhất nghĩa.»[547]
CHƯƠNG
SÁU:
VÔ
BIÊN THÁNH ĐẾ[548]
«Bạch
Thế Tôn, Thanh văn và Duyên giác khi bắt đầu quán Thánh đế,[549]
bằng một trí[550] mà đoạn trừ các trụ địa,[551] bằng
một trí mà chứng thực công đức của bốn đoạn tri,[552]
và cũng biết rõ nghĩa của bốn pháp ấy.»[553]
«Bạch
Thế Tôn, không có trí thượng thượng xuất thế gian[554]
nào mà là tiệm chí của bốn trí và tiệm chí của bốn duyên.»[555]
Bạch Thế Tôn, pháp không tiệm chí là trí thượng thượng
xuất thế gian. Bạch Thế Tôn, như kim cang dụ,[556] là trí
đệ nhất nghĩa. Trí đệ nhất nghĩa không phải là trí Thánh
đế sơ khởi[557] của Thanh văn và Duyên giác vốn không đoạn
trừ vô minh trụ địa.[558] Thế Tôn, bằng vô nhị Thánh đế
trí[559] mà đoạn trừ các trụ địa.
«Bạch
Thế Tôn, đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, bằng
bất tư nghị Không trí,[560] vốn không phải lả cảnh giới
của Thanh văn và Duyên giác, mà đoạn trừ hết thảy phiền
não tạng.[561] Thế Tôn, trí tuệ cứu cánh nếu hủy hoại
tất cả vỏ cứng phiền não, thì được gọi là trí đệ
nhất nghĩa. Trí Thánh đế sơ khởi không phải là trí cứu
cánh, mà là trí tuệ hướng đến A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.»
«Bạch
Thế Tôn, ý nghĩa ‹Thánh›[562] không phải là hết thảy
Thanh văn và Duyên giác. Thanh văn và Duyên giác thành tựu công
đức hữu hạn. Thanh văn và Duyên giác thành tựu một phần
ít công đức, do đó mà được gọi là ‹Thánh›.»
«Bạch
Thế Tôn, nói là ‹Thánh đế›, đó không phải là đế[563]
của Thanh văn và Duyên giác; và cũng không phải là công đức
của Thanh văn và Duyên giác. Thế Tôn, đế ấy tối sơ được
chứng tri bởi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, sau đó
vì chúng sinh đang bị bọc trong vỏ trứng vô minh mà được
khai thị, diễn thuyeát; do đó được gọi là ‹Thánh đế›.»
CHƯƠNG
BẢY:
NHƯ
LAI TẠNG[564]
«Thánh
đế, đó là nói nghĩa sâu xa, vi tế, khó biết, không phải
là cảnh giới tư lương. Đó là sở tri của bậc trí, là
điều mà hết thảy thế gian không thể tin. Vì sao? Đây là
nói tạng sâu thẳm của Như Lai. Như Lai tạng là cảnh giới
của Như Lai, không phải là điều hết thảy Thanh văn và Duyên
giác có thể biết. Ở nơi cảnh vực Như Lai tạng mà nói
ý nghĩa Thánh đế. Cảnh vực Như Lai tạng[565] sâu thẳm cho
nên nói Thánh đế cũng sâu thẳm, vi tế, khó biết, không
phải là cảnh giới tư lương; là sở tri của bậc trí, là
điều mà hết thảy thế gian không thể tin.»[566]
CHƯƠNG
TÁM:
PHÁP
THÂN[567]
«Nếu
đối với Như Lai tạng đang bị quấn chặt bởi phiền não
tạng mà không nghi hoặc, thì đối với Pháp thân vốn siêu
xuất vô lượng phiền não tạng cũng không nghi hoặc. Đối
với thuyết của Như Lai tạng, Pháp thân của Như Lai, cảnh
giới Phật bất tư nghị và phương tiện thuyết,[568] mà tâm
đạt đến quyết định[569] ấy tức là đã tin và hiểu hai
thánh đế. Thế nào được nói là thuyết nghĩa của hai Thánh
đế? Đó là thuyết tác Thánh đế nghĩa và vô tác Thánh đế
nghĩa.»[570]
«Thuyết
tác thánh đế nghĩa, đó là thuyết bốn thánh đế có hạn
lượng.[571] Vì sao? Vì không phải nhân bởi người khác mà
có thể biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng hết
thảy diệt, tu hết thảy đạo.[572] Cho nên, bạch Thế Tôn,
có hữu vi sanh tử và vô vi sanh tử. Niết-bàn cũng vậy, có
hữu dư và vô dư.»[573]
«Thuyết
vô tác thánh đế nghĩa, là thuyết về ý nghĩa bốn thánh
đế vô lượng.[574] Vì sao? Có thể bằng tự lực[575] mà
biết hết thảy thọ khổ,[576] đoạn hết thảy tập, chứng
hết thảy thọ diệt, tu hết thảy thọ diệt đạo.»
«Như
vậy, có tám Thánh đế, nhưng Như Lai chỉ nói bốn Thánh đế.
Bốn vô tác thánh đế nghĩa như vậy duy chỉ Như Lai, bậc
Ứng cúng, Ñaúng chánh giác mới tác sự cứu cánh,[577] chứ
không phải là tác sự cứu cánh của A-la-hán và Bích-chi Phật.
Vì sao? Vì không thể chứng đắc Niết bàn với các pháp hạ,
trung và thượng.»[578]
«Vì
sao Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng, Chánh giác, đối với
bốn vô tác Thánh đế tác sự đã cứu cánh? Vì hết thảy
Như Lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác biết tất cả khổ vị
lai; đoạn tất cả tập vốn được duy trì bởi các phiền
não và tùy phiền não; diệt tất cả uẩn[579] của ý sanh
thân; chứng ngộ tất cả sự diệt khổ.»[580]
«Bạch
Thế Tôn, không phải vì pháp hoại diệt[581] mà gọi là khổ
diệt.[582] Nói là khổ diệt vì rằng từ vô thủy vốn là
vô tác, không sinh khởi, không đoạn tận, lìa xa sự diệt
tận, thường trụ, tự tánh thanh tịnh, lìa hết thảy phiền
não tạng.»[583]
«Bạch
Thế Tôn, do thành tựu Phật pháp bất tư nghì vượt quá số
cát sông Hằng, vốn không ly, không thoát, không dị biệt,
do thế mà nói là Pháp thân Như Lai.»
«Như
vậy, bạch Thế Tôn, Pháp thân của Như Lai không lìa phiền
não tạng, cho nên gọi là Như Lai tạng.»
CHƯƠNG
CHÍN:
NGHĨA
KHÔNG CHE LẤP CHÂN THẬT[584]
«Bạch
Thế Tôn, trí của Như Lai tạng,[585] là Không trí của Như
Lai.»[586]
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng là điều mà hết thảy A-la-hán, Bích-chi
Phật, Đại lực Bồ tát vốn không từng thấy, vốn không
từng nắm bắt được.»[587]
«Bạch
Thế Tôn, có hai Không trí của Như Lai tạng.»[588]
«Bạch
Thế Tôn, Không Như Lai tạng[589] là hết thảy phiền não tạng,
hoặc lìa, hoặc thoát, hoặc dị biệt.[590] Bạch Thế Tôn,
Bất không Như Lai tạng là Phật pháp vượt quá số cát sông
Hằng, không lìa, không thoát, không dị biệt, bất tư nghị.»[591]
«Bạch
Thế Tôn, đối với hai Không trí này, các Đại Thanh văn chỉ
có thể tin nơi đức Như Lai.[592] Không trí của Thanh văn và
Bích-chi-Phật vận chuyển trong bốn cảnh giới không điên
đảo.[593] Cho nên hết thảy A-la-hán và Bích-chi-Phật vốn
không từng thấy, vốn không từng chứng đắc hết thảy khổ
diệt;[594] duy chỉ Phật mới chứng đắc,[595] hủy hoại hết
thảy phiền não tạng, tu hết thảy khổ diệt đạo.»[596]
CHƯƠNG
MƯỜI:
MỘT
ĐẾ[597]
«Bạch
Thế Tôn, trong bốn thánh đế này, ba là vô thường, một
là thường.[598] Vì sao? Vì ba đế thuộc vào tướng hữu vi.[599]
Những gì thuộc vào tướng hữu vi, là vô thường; những
gì vô thường, là pháp hư vọng.[600] Những gì là pháp hư
vọng, không phải là đế,[601] không phải là thường, không
phải là chỗ quy y. Do đó, khổ đế, tập đế, đạo đế
không phải là đệ nhất nghĩa đế,[602] không phải là thường,
không phải là chỗ quy y.»[603]
CHƯƠNG
MƯỜI MỘT:
MỘT
SỞ Y[604]
«Một
khổ diệt đế lìa tướng hữu vi.[605] Lìa tướng hữu vi,
nên là thường. Thường nên, không phải là pháp hư vọng.[606]
Không phải là pháp hư vọng nên là đế, nên là thường,
là chỗ quy y. Cho nên diệt đế là đệ nhất nghĩa đế.»[607]
CHƯƠNG
MƯỜI HAI:
ĐIÊN
ĐẢO VÀ CHÂN THẬT[608]
«Bất
tư nghì, là diệt đế,[609] vượt ngoài đối tượng[610] của
hết thảy tâm thức của chúng sinh, và cũng không phải cảnh
giới trí tuệ[611] của hết thảy A-la-hán và Bích-chi-Phật.
Cũng như người mù bẩm sinh không thấy được các sắc, con
nít bảy ngày không thấy được mặt trời. Khổ diệt đế
cũng như vậy, không phải là sở duyên của tâm thức của
hết thảy phàm phu, cũng không phải là cảnh giới trí tuệ
của hai thừa. Thức của phàm phu là sự điên đảo của hai
kiến chấp.[612] Trí của hết thảy A-la-hán và Bích-chi-Phật
thì vốn thanh tịnh.[613] Biên kiến,[614] là phàm phu đối với
năm thủ uẩn[615] mà thấy là ngã, vọng tưởng chấp trước,[616]
sinh ra hai kiến chấp, đó gọi là biên kiến; tức là thường
kiến và đoạn kiến. Thấy rằng các hành là vô thường,[617]
ấy là đoạn kiến chứ không phải chánh kiến. Thấy rằng
Niết-bàn là thường, ấy là thường kiến chứ không phải
chánh kiến.»[618]
«Do
vọng tưởng kiến chấp cho nên chủ trương như vầy: đối
với các căn ở nơi thân,[619] phân biệt, tư duy[620] thấy
rằng trong hiện tại chúng hủy hoại,[621] mà không thấy dòng
tương tục của sự hữu,[622] do đó khởi lên đoạn kiến.
Vì vọng tưởng kiến chấp vậy. Đối với tâm tương tục[623]
mà ngu tối, không tỏ rõ, không biết cảnh giới ý thức có
gián đoạn trong từng sát-na,[624] nên khởi thường kiến.
Vì do vọng tưởng kiến chấp vậy.»
«Vọng
tưởng kiến chấp này, đối với nghĩa kia,[625] hoặc thái
quá hoặc bất cập, phát sinh phân biệt với những ý tưởng
dị biệt,[626] hoặc cho là đoạn hoặc cho là thường.»
«Chúng
sanh điên đảo, đối với năm thủ uẩn vốn vô thường mà
tưởng là thường, vốn khổ mà tưởng là lạc, vô ngã tưởng
là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh. Tịnh trí của hết thảy
A-la-hán, Bích-chi-Phật, hoặc có chúng sanh do tin lời Phật,
đối với cảnh giới của nhất thiết trí[627] và Pháp thân
của Như Lai vốn chưa từng được thấy, mà khởi lên ý tưởng
về thường, lạc, ngã, tịnh; đấy không phải kiến chấp
điên đảo, cho nên gọi là chánh kiến. Vì sao? Pháp thân của
Như Lai là thường ba-la-mật,[628] ngã ba-la-mật, tịnh ba-la-mật
và lạc ba-la-mật. Đối với Pháp thân của Phật mà thấy
như vậy thì gọi là chánh kiến.[629] Ai có chánh kiến tức
là con chân thật của Phật, từ miệng Phật sinh, từ Chánh
pháp sinh, từ Pháp mà hóa sinh,[630] thừa hưởng di sản của
pháp.»[631]
«Bạch
Thế Tôn, tịnh trí ấy là trí ba-la-mật[632] của hết thảy
A-la-hán, và Bích-chi Phật. Tịnh trí ấy tuy là tịnh trí nhưng
đối với diệt đế kia vẫn chưa phải là cảnh giới, huống
chi là bốn y trí.[633] Vì sao? Ba thừa sơ nghiệp[634] mà không
ngu mê đối với pháp[635] thì sẽ có thể giác ngộ, sẽ chứng
đắc nghĩa ấy. Chính vì thế mà Thế Tôn nói bốn y cho họ.
Bạch Thế Tôn, bốn y này là pháp thế gian.
«Bạch
Thế Tôn, một y là tất cả y chỉ, là tối thượng xuất
thế gian đệ nhất nghĩa y, đó là diệt đế.»[636]
CHƯƠNG
MƯỜI BA:
TỰ
TÁNH THANH TỊNH[637]
«Bạch
Thế Tôn, sinh tử y trên Như Lai tạng,[638] và do Như Lai tạng
mà nói rằng không thể biết được bản tế.[639] Bạch Thế
Tôn, có Như Lai tạng cho nên có sinh tử, đó gọi là khéo
nói.»
«Bạch
Thế Tôn, sinh tử; sinh tử là các thọ căn rụng xuống,[640]
và căn không cảm thọ[641] thứ tự tiếp nối,[642] khởi lên,
đó gọi là sinh tử.»
«Bạch
Thế Tôn, sinh và tử, hai pháp này tức là Như Lai tạng. Do
ngôn thuyết của thế gian nên nói là có sinh có tử. Tử là
căn hủy hoại,[643] sinh là các căn mới khởi lên, chứ không
phải rằng Như Lai tạng có sinh có tử.[644] Như Lai tạng vốn
lìa ngoài tướng hữu vi. Như Lai tạng vốn thường trụ, không
hủy hoại. Cho nên, Như Lai tạng là sở y, là khả năng duy
trì, là khả năng kiến lập.[645] Bạch Thế Tôn, là Phật
pháp vốn không xuất ly, không thoát, không đoạn trừ, không
thể nghĩ bàn. Bạch Thế Tôn, làm sở y, duy trì, thiết lập
các pháp hữu vi bên ngoài vốn có tính cần được đoạn,
được giải thoát, có biến dị, chính là Như Lai tạng.»
«Bạch
Thế Tôn, nếu không có Như Lai tạng thì không thể có sự
nhàm chán khổ lạc và mong cầu Niết-bàn. Vì sao? Đối với
sáu thức và tâm pháp trí,[646] bảy pháp này không đình trụ
trong từng sát-na, không gieo trồng các khổ,[647] cho nên không
thể nhàm chán khổ mà mong cầu Niết-bàn.»[648]
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng không có giới hạn nguyên thủy,[649]
là pháp không sinh khởi, không hoại diệt, có gieo trồng các
khổ nên có nhàm chán khổ mà mong cầu Niết-bàn.»
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng không phải là ngã, không phải là chúng
sinh, không phải mạng, không phải nhân cách.»[650]
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng không phải là cảnh giới cho những
chúng sinh rơi vào thân kiến,[651] chúng sinh điên đảo, chúng
sanh loạn ý chấp không.»[652]
«Bạch
Thế Tôn, Như Lai tạng là pháp giới tạng, là Pháp thân tạng,
là tạng xuất thế gian thượng thượng, là tạng tự tánh
thanh tịnh.[653] Như Lai tạng với tự tánh thanh tịnh này tuy
bị ô nhiễm bởi phiền não khách trần[654] và phiền não
hiện khởi,[655] nhưng vẫn là cảnh giới bất tư nghị của
Như Lai. Vì sao? Thiện tâm sát-na[656] không phải là bị nhiễm
ô bởi phiền não.[657] Bất thiện tâm sát-na cũng không phải
là bị nhiễm ô bởi phiền não. Phiền não không xúc tâm;
tâm không xúc phiền não,[658] vậy đâu có thể pháp không
xúc[659] mà có thể nhiễm ô tâm được.»
«Bạch
Thế Tôn, nhưng có phiền não, có tâm bị phiền não nhiễm
ô. Tự tánh thanh tịnh mà có ô nhiễm, thật là khó thấu
triệt.[660] Duy chỉ Phật Thế Tôn, là con mắt của sự thật,
là trí tuệ chân thật, là căn bản của Pháp, là bậc thấu
suốt pháp, là nơi nương tựa của chánh pháp,[661] mới có
thể biết và thấy như thật.»
Thắng
Man sau khi diễn thuyết pháp khó hiểu này, và thưa hỏi Phật.
Phật tùy hỷ nói rằng:
«Thật
như vậy! Thật như vậy, tự tánh thanh tịnh tâm mà có nhiễm
ô; thật sự khó thấu triệt. Có hai pháp khó thấu triệt,
đó là tự tánh thanh tịnh khó thấu triệt, và tâm ấy bị
phiền não nhiễm ô cũng khó thấu triệt. Hai pháp này, chỉ
con và các Bồ tát ma-ha-tát, những người đã thành tựu đại
pháp, mới có thể nghe và chấp nhận. Còn các Thanh văn khác
duy chỉ tin lời Phật nói.»
CHƯƠNG
MƯỜI BỐN:
CON
ĐÍCH THỰC[662]
«Nếu
đệ tử của Ta là hạng tùy tín tăng thượng,[663] sau khi
y vào minh tín,[664] bằng tùy thuận pháp trí[665] mà đạt đến
cứu cánh. Tùy thuận pháp trí tức là quán sát thi thiết căn
và cảnh giới của ý giải;[666] quán sát nghiệp báo,[667]
quán sát giấc ngủ của A-la-hán,[668] quán sát sự an lạc
của tâm tự tại và sự an lạc của thiền;[669] quán sát
thánh tự tại thông của A- la-hán, Bích-chi Phật và Đại
lực Bồ tát.[670]
«Thành
tựu năm quán sát thiện xảo này, đệ tử Ta, sau khi Ta diệt
độ, trong đời vị lai, là hạng tùy tín tăng thượng, sau
khi y minh tín, bằng thuận pháp trí mà đạt cứu cánh của
tự tính thanh tịnh trong tâm đang bị phiền não ô nhiễm ấy.
Sự cứu cánh đó là nhân để vào Đại thừa đạo. Tin đức
Như Lai có đại lợi ích như vậy, không xuyên tạc nghĩa lý
sâu thẳm.»
CHƯƠNG
MƯỜI LĂM:
THẮNG
MAN SƯ TỬ HỐNG[671]
Bấy
giờ Thắng Man phu nhân bạch Phật rằng:
«Còn
có những lợi ích lớn hơn nữa. Con nay muốn nương oai thần
của Phật nói thêm về ý nghĩa ấy.»
Phật
nói: «Con hãy cứ nói.»
Thắng
Man lại bạch Phật rằng:
«Có
ba hạng thiện nam tử và thiện nữ nhân đối với nghĩa sâu
thẳm,[672] không tự gây tổn thương,[673] mà sinh công đức
lớn, vào Đại thừa đạo. Những gì là ba? Đó là,[674] hoặc
có thiện nam tử và thiện nữ nhân tự thành tựu pháp trí
sâu thẳm.[675] Hoặc có thiện nam tử và thiện nữ nhân thành
tựu tùy thuận pháp trí.[676] Hoặc có thiện nam tử và thiện
nữ nhân đối với pháp sâu xa không thể tự mình, nhưng ngưỡng
suy[677] Thế Tôn rằng: ‹Đây không phải là cảnh giới của
con, duy chỉ Phật mới biết đến›. Đó gọi là hạng thiện
nam tử và thiện nữ nhân ngưỡng suy Như Lai.
«Trừ
các thiện nam tử và thiện nữ nhân này ra,[678] các chúng
sinh đối với các pháp sâu thẳm mà[679] chấp chặt vọng
thuyết, trái ngược Chánh pháp, tập nhiễm hạt giống hủ
bại[680] của ngoại đạo; những hạng ấy cần phải bằng
sức của vua, sức của trời, rồng, quỷ thần mà chiết phục.»
Bấy
giờ Thắng Man phu nhân cùng các quyến thuộc cúi đầu lễ
chân Phật. Đức Phật nói rằng:
«Lành
thay! Lành thay! Thắng Man, đối với chánh pháp sâu thẳm, phương
tiện mà thủ hộ, hàng phục phi pháp,[681] khéo léo được
thích nghi.[682] Con do đã gần gũi trăm nghìn ức chư Phật
mới có thể nói được nghĩa đó.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn phóng ra quang minh thù thắng rọi
khắp đại chúng, tự thân cất lên hư không cao bằng bảy
cây đa-la,[683] chân bước đi trong hư không, rồi trở lại
nước Xá-vệ.
Đồng
thời, bấy giờ Thắng Man phu nhân cùng với quyến thuộc chắp
tay hướng về Phật, chiêm ngưỡng không biết chán, mắt không
chút rời. Khi Phật qua khỏi tầm mắt, mọi người hoan hỷ
phấn khởi; mỗi người tự mình ca ngợi công đức của Như
Lai, nhất tâm niệm Phật. Sau đó trở vào trong thành, đi đến
vua Hữu Xứng[684] mà tán thán Đại thừa. Trong thành, con gái
từ bảy tuổi trở lên đều được giáo hóa bằng Đại thừa.
Đại vương Hữu Xứng cũng giáo hóa con trai trong thành từ
bảy tuổi trở lên bằng Đại thừa. Nhân dân cả nước đều
hướng về Đại thừa.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn vào rừng Kỳ-hoàn,[685] nói với Tôn giả
A-nan và niệm tưởng đến Thiên đế Thích. Tức thời, Thiên
đế Thích cùng với quyến thuộc bỗng nhiên hiện đến, đứng
trước Phật. Bấy giờ Thế Tôn diễn nói rộng kinh này cho
Thiên đế Thích và A-nan. Sau khi nói xong, Ngài bảo Thiên đế
Thích rằng:
«Ông
hãy thọ trì đọc tụng kinh này. Kiều-thi-ca,[686] giả sử
có thiện nam tử hay thiện nữ nhân đã trải qua hằng hà
sa kiếp tu hạnh Bồ-đề, hành sáu pháp ba-la-mật; và lại
có thiện nam tử, thiện nữ nhân khác nghe, tiếp thọ, đọc
tụng, cho đến cầm nắm kinh này và quảng diễn, phước đức
nhiều hơn những người trước; hà huống diễn thuyết rộng
rãi cho người khác. Vì vậy, Kiều-thi-ca, ông hãy đọc tụng
kinh này; phân biệt, quảng diễn cho chư thiên cõi trời Tam
thập tam.»
Thế
Tôn lại nói với A-nan:
«Ngươi
cũng hãy thọ trì đọc tụng kinh này và diễn nói rộng cho
bốn chúng.»
Bấy
giờ Đế Thích bạch Phật:
«Bạch
Thế Tôn, phải gọi kinh này tên là gì? Và phụng trì như
thế nào?»
Phật
bảo Đế Thích:
«Kinh
này thành tựu vô lượng vô biên công đức. Hết thảy Thanh
văn và Duyên giác đều không thể quán sát và thấy biết
một cách rốt ráo. Kiều-thi-ca, nên biết rằng kinh này vi
diệu sâu thẳm, là tụ công đức lớn. Nay Ta sẽ lược cho
các ngươi biết danh hiệu. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, hãy
khéo suy nghiệm.»
Bấy
giờ Đế Thích và trưởng lão A-nan bạch Phật rằng:
«Lành
thay! Thế Tôn, kính vâng lời dạy.»
Phật
nói:
«Kinh
này có tên là ‹Tán thán công đức đệ nhất nghĩa chân
thật của Như Lai›,[6