PHẦN
HAI
PHIÊN
DỊCH KINH VĂN
勝
鬘 師 子 吼 一 乘 大 方 便 方 廣 經
THẮNG
MAN SƯ TỬ HỐNG NHẤT THỪA ĐẠI PHƯƠNG TIỆN
PHƯƠNG
QUẢNG KINH
ŚRĪMĀLĀ-SIṂHANĀDA-SŪTRA
宋
中 印 度 三 藏 求 那 跋 陀 羅 譯
TỐNG
TRUNG ẤN ĐỘ TAM TẠNG CẦU-NA-BẠT-ĐÀ-LA Hán dịch
TUỆ
SỸ Việt dịch & Chú thích
TIỂU
DẪN:
LỊCH
SỬ TRUYỀN DỊCH
Bản
Hán dịch đầu tiên của kinh này, theo Minh Không 明空,[271]
là bản dịch của Tam tạng pháp sư Đàm-ma 曇摩, dưới triều
An đế nhà Tấn (397-418 s.tl.), với nhan đề: Thắng Man sư
tử hống nhất thừa phương tiện kinh 勝鬘師子吼一乘方便經.
Hiện nay chúng ta không thấy vết tích gì của bản dịch xưa
nhất này.
Bản
dịch kế đó, được lưu truyền rộng rãi nhất, là của
Cầu-na-bạt-đà-la 求那跋陀羅 (Gunabhadra), trong khoảng niên
hiệu Nguyên gia (424-453 s.tl.), triều Lưu Tống. Căn cứ trên
bản dịch này, chúng ta hiện có 4 bản chú giải :
l.
Thắng Man Bảo khốt 勝鬘寶窟[272] của Cát Tạng 吉藏. Sư
là người chuyên học Trung luận 中論 và Bách luận 百論,
khởi xướng Tam luận tông Trung hoa, phát triển tư tưởng
tánh không của Long Thọ mà La-Thập và Tăng Triệu đã xiển
dương từ trước.
2.
Thắng Man nghĩa ký 勝鬘義記[273] của Tuệ Viễn 慧遠, đời
Tùy. Bản chú giải này chỉ thấy còn có phần đầu, đến
hết chương iii.
3.
Thắng Man kinh Thuật ký 勝鬘經述記[274] của Khuy Cơ 窺基,
đời Đường. Sư là một cao đồ của Huyền Tráng, cực lực
xiển dương tông chỉ Duy thức của Vô Trước và Thế Thân.
4.
Thắng Man kinh nghĩa sớ 勝鬘經義疏[275] của Thánh Đức Thái
tử 聖德太子[276] Nhật bản. Sau khi chú giải xong kinh này,
Suy Cổ Thiên hoàng (Nữ hoàng) và các cung nữ phát nguyện
thọ mười đại thọ như được Thắng Man phu nhân nói ở
trong kinh.
6.
Thắng Man kinh sớ nghĩa tư sao 勝鬘經義疏私鈔.[277] Niên
hiệu Đại lịch thứ 7 (772), đời Đường, bản chú giải
của Thánh Đức Thái tử được truyền vào Trung quốc và
Minh Không dựa theo đó viết sớ nghĩa.
Các
bản sớ giải dưới đây được phát kiến ở Đôn hoàng[278]
7.
Thắng Man nghĩa ký 勝鬘義記,[279] thiếu phần đầu. Giải
thích từ câu «nhất thiết pháp thường trụ» trong bài kệ
tán Phật của Thắng Man phu nhân. Ở cuối sách có thự danh
là Tuệ Chưởng Uẩn.
8.
Thắng Man kinh sớ 勝鬘經疏,[280] thiếu phần đầu. Giải
thích từ nhóm từ «tâm đắc vô nghi» trong lời đối thoại
của vua Ba-tặc-nặc với vương phi Mạt-lị. Cuối sách có
ghi: Chiếu Giang sư sớ.
9.
Hiệp chú Thắng Man kinh 挾注勝鬘經,[281] thiếu phần đầu.
Giải thích từ đoạn Phật bảo Thắng Man phu nhân nói về
Nhiếp thọ Chánh pháp. Không rõ tác giả.
Hai
bản sớ giải sau đây được ấn hành trong Đại Nhật bản
Phật giáo toàn thư.
10.
Thắng Man kinh sớ tường huyền ký 勝鬘經疏詳玄記, 18 quyển,
Ngưng Nhiên. Bản chú giải này dựa trên Nghĩa sớ của Thánh
Đức Thái tử.
11.
Thắng Man kinh hiển tông sao 勝鬘經顯宗鈔, 3 quyển, Phổ
Tịch.
Các
bản liệt kê dưới đây coi như thất truyền:
12.
Thắng Man kinh sớ 勝鬘經疏, 2 quyển, Nguyên Hiểu 元曉 soạn.
13.
Thắng Man kinh sớ 勝鬘經疏, 2 quyển Tuần Luân 循倫.
14.
Thắng Man kinh chú 勝鬘經注, 1 quyển, Tăng Phức 僧馥.
15.
Thắng Man kinh sớ 勝鬘經疏, 1 quyển, Tĩnh Mại 靖邁.
16.
Thắng Man kinh nghĩa ký 勝鬘經義記, 1 quyển, Phan 攀 (?).
Cuối
cùng, cho đến đời Đường, triều Vũ hậu, vào niên hiệu
Thần long thứ 2 (707), Bồ-đề-lưu-chí 菩提流志 dịch một
phần lớn các kinh thuộc bộ Đại bảo tích.[282] Bộ này
gồm 49 hội, l20 quyển. Thắng Man thuộc hội 48, được gọi
là «Thắng Man phu nhân hội 勝鬘夫人會.» Toàn bản không
phân chia chương mục như bản Tống của Cầu-na-bạt-đà-la.
Văn nghĩa cũng có nhiều đoạn trái ngược với bản Tống.
Bản
dịch Việt văn này chính yếu dựa trên bản Hán của Cầu-na-bạt-đà-la.
Trong khi đối chiếu với bản dịch của Bồ-đề-lưu-chí,
những điểm khác biệt giữa hai bản sẽ được ghi nhận
ở phần chú thích của mỗi chương trong bản dịch Việt.
[271]
Thắng Man kinh sớ nghĩa tư sao 勝鬘經疏義私鈔, Tục tạng
kinh (chữ Vạn), tập 30.
[272]
Đại 34, No 1744.
[273]
Tục tạng kinh (chữ Vạn), tập 30.
[274]
Tục tạng kinh, nt.
[275]
Đại 56, No 2185.
[276]
Shōtoku Taishi, thời đại Asukaji; nhiếp chánh từ năm 593.
[277]
Đại 85, No 2761.
[278]
In bổ khuyết vào ấn bản Đại chánh, tập 85, «Cổ dật
bộ.»
[279]
Đại 85, No 2761.
[280]
Đại 85, No 2762.
[281]
Đại 85, No 2763.
[282]
Đại bảo tích kinh (Mahāratnakūṭa-sūtra), 120 quyển, Bồ-đề-lưu-chi
dịch. Đại 11 No 310.