CHƯƠNG
KẾT:
THẮNG
MAN, NHÂN CÁCH LÝ TƯỞNG
Bằng
tất cả kinh nghiệm phong phú về cuộc sống, bằng tất sự
hiểu biết bao la mang đến từ chất liệu của cuộc sống,
và với một trái tim luôn luôn rung động trước nỗi thống
khổ của chúng sinh, bằng tất cả chứng nghiệm tâm linh ấy,
cho đến lúc Bồ tát trực nhận ra rằng trong ta tồn tại
bất biến Pháp thân của Như Lai; Pháp thân được nhận thức
cùng với bốn phẩm tính siêu việt là thường ba-la-mật,
lạc ba-la-mật, ngã ba-la-mật, tịnh ba-la-mật; thì cũng chính
lúc ấy Bồ tát tự xác nhận ta là con đích thực của Như
Lai, là người thừa kế sự nghiệp của Như Lai.
Rồi
từ đó, trở lại với nhận thức thường nghiệm của chúng
sinh, Bồ tát cũng xác nhận rằng hạnh phúc là bản chất,
là tự thể của Như Lai tạng. Ở đây quy chiếu Như Lai tạng
vào tự tánh thanh tịnh. Nói một cách đơn giản tự tâm của
mỗi chúng sanh là nguồn hạnh phúc vô biên cho chính đời
sống của nó. Hạnh phúc không phải là những cảm nghiệm
có được do đuổi bắt các hưởng thụ từ thế giới bên
ngoài. Cứu cánh của nhất thừa, hay mục đích cao cả và
cuối cùng của mọi lẽ sống, là sự an lạc, là hạnh phúc
tuyệt đối chân thật, thì hạnh phúc ấy đã có sẵn tự
tâm.
Như
vậy, triết lý Nhất thừa và Như Lai tạng của Thắng Man
đã được xác lập một cách cụ thể; phát xuất từ tâm
tình dung tục, từ tâm tư còn vương mắc nhiều hệ lụy.
Nhưng cũng chính từ những hệ lụy đó, từ những ràng buộc
của ân ái đời thường đó mà Thánh thai được gieo phôi,
được nuôi dưỡng, được chăm sóc với vô cùng thận trọng,
với vô cùng trân trọng và yêu thương.
Quá
trình nuôi lớn Thánh thai của Bồ tát trải dài theo thời
gian và những nhịp sóng trầm luân của sinh tử, và Thánh
thai ấy chính là tự tâm của mỗi chúng sanh, được cưu nang
ngay chính trong tự tâm của mỗi chúng sinh, tự tâm vốn thanh
tịnh không ô nhiễm. Với bản chất của tự tâm như vậy,
sự ô nhiễm hay không ô nhiễm của nó là điều vượt ngoài
khả năng suy luận của trí tuệ. Nó chỉ có thể được cảm
nghiệm bằng tình yêu chân thật, bằng tâm lượng bao dung
của bà mẹ. Tình yêu đi liền với sự tin tưởng. Người
có thể thực hành Bồ tát đạo theo Thắng Man phải là hạng
người có đức tin nhiệt thành và vững chắc. Đức tin còn
dao động là vì tình yêu chưa sâu đậm. Nơi nào có gốc rễ
bền chắc của tín tâm, nơi đó được biết là có sự tác
động của tình yêu.
Gốc
rễ tín tâm càng lúc càng bền chặt; tình yêu càng lúc càng
tỏa rộng bóng mát. Từ một tâm tư nhỏ hẹp, từ tâm thức
thường nghiệm đuổi bắt hình ảnh hư ảo của thực tại,
dần dần được thăng hoa, được chuyển hóa. Thức tự biến
đổi bản chất, chuyển y thành trí tuệ vô phân biệt, thì
tình yêu từ những rung động vị kỷ, tự lợi hẹp hòi,
cũng được chuyển hóa để trở thành tâm đại bi rộng lớn,
như tấm lòng bao dung của mẹ hiền ôm tất cả đàn con trẻ
dại vào lòng mình.
Nhân
cách của Thắng Man, hay sự xác định hạng người có xu hướng
như thế nào có thể thực hành trọn vẹn Bồ tát đạo theo
Thắng Man như thế được tìm thấy trong hai chương cuối cùng
của kinh : «chương xiv. Con đích thực của Như Lai», và «chương
xv. Thắng Man phu nhân sư tử hống.» Chẳng khác nào sư tử
con bị mẹ sẩy thai vào giũa đàn nai; lớn lên cùng be-be với
đàn nai ngơ ngác. Nhưng khi phát hiện ra nòi giống đích thực
của mình, sư tử con bắt đầu cất tiếng rống, làm khiếp
sợ đàn nai. Từ đó, sư tử con không còn cảm giác mơ hồ
như mất mẹ, tuy bấy giờ không còn mẹ bên cạnh; không còn
cảm giác mơ hồ như là lạc lõng bơ vơ giũa đàn nai tuy gần
nhưng xa lạ.
Chương
xiv là sự khẳng định của Phật về tín căn như là động
lực chủ yếu của Bồ tát đạo. Trong Chương xv Thắng Man
phu nhân triển khai ý nghĩa đó. Phu nhân nói: «Hoặc có thiện
nam hay thiện nữ nào không thể tự mình thấu suốt được,
nhưng ngưỡng mộ Thế tôn, tự nghĩ rằng: đây không phải
là cảnh giới của mình, chỉ Phật mới biết được. Đây
gọi là những thiện nam hay thiện nữ ngưỡng mộ Như Lai.»
Nói
một cách khác, cảnh giới của Phật thừa vốn cao cả, tuyệt
đối, vượt ngoài tầm mức trí tuệ của con người, nhưng
bằng vào đức tin nhiệt thành thì có thể nương theo đức
tin đó mà bước vào Bồ tát đạo. Thiếu tình yêu và đức
tin thì mọi sự nghiệp trên thế gian dù hết sức nhỏ cũng
là điều khó khăn vượt ngòai khả năng, nhưng với một tình
yêu rộng lớn, với một đức tin kiên cố, thì tất cả không
có gì là khó khăn và nặng nhọc cả.
Ý
nghĩa này được khai triễn thực tế trong phần kết của
kinh. Sau khi đức Phật biến mất khỏi hư không. Thắng Man
phu nhân trở vào nội cung, bằng tình yêu mà cảm hóa được
chồng mình là vua Hữu Xứng, và cũng bằng tình yêu ấy mà
cảm hóa nhân dân trong phạm vi lãnh thổ của mình, thậm chí
con nít mới lên bảy cũng có thể thực hành Bồ tát đạo.
Thế
giới chưa bao giờ thiếu vắng tình mẹ. Nhưng có bao giờ
Bà Mẹ Thắng Man xuất hiện trong đời thường giữa đàn
con dại đang lạc đường trong sa mạc sinh tử nóng bỏng này?