CHƯƠNG
IX:
PHÁP
THÂN
1.
NHƯ LAI THƯỜNG HAY VÔ THƯỜNG
Đập
vỡ vỏ trứng vô minh, để thấu triệt căn nguyên thế giới,
thấu suốt tất cả biên tế tối sơ và tối hậu của sinh
tử, bấy giờ Như Lai tạng không còn bao phủ trong vô số
phiền não ô nhiễm, và Thánh thai mà Bồ tát nuôi lớn trong
suốt quá trình tu dưỡng của mình đến đây đã được hiển
lộ. Đó là sự xuất hiện của Pháp thân, bản thân của
chân lý.
Thắng
Man phu nhân nói:
«Bạch
Thế Tôn, do thành tựu Phật pháp bất tư nghị vượt quá
số cát sông Hằng, vốn không ly, không thoát, không dị biệt,
do thế mà nói Pháp thân Như Lai.»
Ca
ngợi những phẩm tính siêu việt của Như Lai; ca ngợi trí
tuệ vô biên, Phật pháp vô biên, cảnh giới bất khả tư
nghị nơi đức Phật; đối với một người phàm phu, tất
cả giống như một người nghèo ngồi tính những bảo vật
vô giá đang được cất giữ trong hoàng cung. Tính toán, hay
tưởng tượng, nhiều lắm thì cũng chỉ thỏa mãn sự hiếu
kỳ hay thèm khát nhất thời mà thôi. Nhưng nếu người nghèo
đó biết rằng bản thân là một hoàng thái tử đang lỡ vận.
Thế thì sự tính toán không đơn giản chỉ là những tưởng
tượng hiếu kỳ. Sự tính toán ấy có thể làm cho một ngày
nào đó giang sơn phải thay ngôi đổi chủ. Cũng thế, ca ngợi
Pháp thân Như Lai đối với những vị đã phát bồ-đề tâm
là nói lên những ước nguyện không cùng tận của mình.
Thế
nhưng, các chúng Thanh văn ít khi ca ngợi Phật, và nếu có
thì cũng tán thán vùa phải. Đức Thích Tôn, đối với các
chúng Thanh văn, trước sau như nhất vẫn chỉ là một con người
sinh ra với tất cả hệ lụy và khổ đau, sợ hãi, như tất
cả những con người khác. Nhưng, đó là một con người phi
thường. Một người đã chiến thắng khổ đau.
Thế
rồi, cho đến một lúc, đức Thích Tôn cũng phải chết. Ngài
sẽ đi vào thế giới vĩnh cửu của hư vô, hay đi vào một
thế giới tịch diệt vô ngôn nào đó? Đối với các vị
Đại Thanh văn, đó không phải là những thắc mắc gay cấn.
Vì đó là quy luật.»[239] Tuy vậy, đối với các đệ tử
chưa chứng Thánh quả, sự vắng bóng vĩnh viễn của đức
Thích Tôn cũng như sự vắng bóng của người cha già thân
yêu đối với đàn con trẻ dại. Điều đó không phải không
để lại trong lòng những ấn tượng tiếc thương vô hạn.
Trong tâm tư phàm tục, thương yêu và gần gũi là hai ý niệm
không thể tách rời. Cho nên, mặc dù Phật đã từng nhắc
nhở «Pháp và Luật mà Ta đã giảng dạy và thiết chế, sau
khi Ta diệt độ, sẽ là Đạo sư của các ngươi»[240] các
Phật tử Đại thừa tuy cách Phật khá xa về sau vẫn không
nguôi với hoài vọng về hình ảnh đấng Đạo sư tôn quý.
Những lời dạy của Ngài, những pháp môn tu tập mà Ngài
để lại, vẫn còn rực sáng trong tâm họ, nhưng đồng thời
chính bản thân của Ngài cũng từ trong những lời dạy ấy
cũng phải trở nên sáng ngời và bất diệt.
Vậy
thì, «có thật sự đức Phật vĩnh viễn biến mất sau khi
nhập Niết-bàn?»[241] Câu hỏi được gặp rất nhiều lần
trong kinh điển nguyên thủy, nhưng Phật không hề trả lời
dứt khoát. Các chúng đệ tử cũng bằng lòng với sự im lặng
đó.
Cho
nên, Thuần-đà trong kinh Niết-bàn nguyên thủy hài lòng với
công đức bố thí của mình, nhưng Thuần-đà xuất hiện trong
kinh Niết-bàn Đại thừa, trước biến cố trọng đại đã
dám thách thức trí tuệ của Bồ tát Văn-thù:
«Thưa
ngài Văn-thù, ngài biết mà nói thế, hay không biết mà nói
thế, rằng Như Lai cũng đồng với các hành vô thường? Như
Lai là bậc Chí tôn… diệt trừ phiền não… chiến thắng
Ma quân… thành tựu vô lượng công đức chân thật… sao
lại có tuổi thọ ngắn thế?… Cho nên, không thể nói Như
Lai cũng đồng với hết thảy các hành.»[242]
Khi
biết chắc sau bữa cúng dường cuối cùng của mình, đức
Phật sẽ nhập Niết-bàn, Thuần-đà bỗng nhiên tự thấy
hoang mang, im lặng; rồi cất cao tiếng khóc, kêu gào: «Khổ
thay, khổ thay! Thế gian này trống rỗng!» Đức Phật giảng
giải: «Các hành là vô thường, là pháp sinh diệt. Sau khi
sinh, chúng diệt. Sự vắng lặng của chúng là an lạc.»[243]
Tất
cả những ai suy tư trong giới hạn con người đều có thể
hiểu tâm trạng Thuần-đà lúc bấy giờ.
Một
cách thực tế, ý nghĩa Niết-bàn là thế nào?
Pháp
hoa nói: «Vì mục đích dắt dẫn chúng sinh mà Ta thị hiện
Niết-bàn địa. Ta nói đó là phương tiện. Thật sự Ta không
hề biến mất trong thời gian này. Ta vẫn ở đây thuyết pháp.»[244]
Ý
tưởng về một Phật thân biến hóa như vậy không phải là
điều xa lạ trong kinh điển nguyên thủy. Phật có lần nói
với A-nan: Ngài đã nhiều lần xuất hiện trong các hội chúng
sát-đế-lị, bà-la-môn, cho đến chư thiên Đao-lị, chư thiên
trên cõi Phạm thiên. Ngài xuất hiện với dung sắc, với y
phục, với cử chỉ tập quán y như họ. Trong khi Ngài thuyết
pháp, họ không biết Ngài là ai, từ đâu đến. Sau khi thuyết
pháp xong, Ngài biến mất; họ cũng không biết Ngài là ai,
biến mất đi đâu.[245]
Dù
sao, đối với một vị Đại Thanh văn, thấy Phật hay không
thấy Phật, không phải là điều quan trọng. Quan trọng chính
là có hiểu và có thấy được pháp hay không.[246] Nhưng đối
với một vị Bồ tát sơ phát tâm, ước vọng được gặp
mặt đấng mà mình tôn sùng, kính ngưỡng là nguồn khích
lệ vô cùng cần thiết.
2.
TÍN TÂM VÀ PHẬT TÍNH
Chúng
ta nói, Bồ tát khởi đầu sự nghiệp với chí hướng cao
xa, với thệ nguyện không cùng tận. Nhưng chúng ta cũng nên
biết rằng Bồ tát bắt đầu phát khởi tâm nguyện Bồ-đề
với tâm tư rất thân và rất gần gũi với người thường.
Cho nên, Thắng Man phu nhân khi vừa nghe nói về Phật, vừa
sinh lòng kính ngưỡng thì ước vọng đầu tiên của Bà là
muốn được chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật. Mặc dù kinh
Kim cang có nói: Những ai thấy Phật qua dung sắc; nghe Phật
qua âm thanh; những người ấy đi theo con đường tà vạy,
không thấy Phật.[247] Nhưng, cái mầu nhiệm đầu tiên ngay
sau khi Bà vừa mới biết đến Phật chính là hóa thân Phật
với ánh sáng rạng ngời. Tất nhiên điều đó có thể hiểu
một cách hình ảnh, mà cũng có thể hiểu cụ thể. Đó là
sắc thân mầu nhiệm, thuần khiết, siêu việt thế gian; không
phải chỉ «đãy da hôi thối» chứa đầy những hữu lậu,
ô nhiễm bất tịnh. Đó là sắc thân mầu nhiệm xuất sinh
từ kho tàng trí tuệ vô biên, là nguồn lưu chuyển thường
hằng của Pháp tính thường trụ.
Những
điều mà Thắng Man phu nhân ca ngợi về sắc thân mầu nhiệm
và trí thân siêu việt của Phật không phải là những điều
khoa đại. Chúng cũng đơn giản như khi người ta ca tụng vầng
trán cao rộng của một nhà thông thái, đôi mắt rực sáng
tinh anh của một nguời đầy nghị lực.
Từ
tâm tình ngưỡng mộ rất người thường ấy, Thắng Man phu
nhân phát Bồ-đề tâm, lập Bồ tát nguyện, bước thẳng
lên con đường Bồ tát hành. Sự kiện diễn ra rất đơn giản,
nhưng quá trình chuyển đổi tâm tính, từ phong cách tư duy
của một chúng sinh phàm phu cho đến tâm nguyện bao la hoằng
vĩ của Bồ tát, quá trình chuyển đổi ấy diễn ra không
đơn giản. Dù cho ngay sau khi Phu nhân vừa mới phát Bồ-đề
tâm Phật thọ ký liền rằng Bà sẽ thành Phật.
Chỉ
trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng theo sự tính toán
của các nhà luận giải Đại thừa, thì thời gian đó đã
trải dài thành hai vô số kiếp. Thời gian dài hay ngắn tùy
theo tâm lượng, nhưng con số cũng cần thiết để hình dung
những đức tính cao vời, và những công hạnh hoằng vĩ mà
Bồ tát đã thành tựu. Từ khi phát Bồ-đề tâm, cho đến
khi tin chắc rằng «Ta là con đích thực của Như Lai, kẻ thừa
tự gia nghiệp của Như Lai», cần phải một vô số kiếp.
Thời gian không đủ dài thì tâm tư chưa đủ chín, và công
đức tích lũy không nhiều. Bấy giờ Bồ tát vào Sơ địa,
với một niềm hoan hỷ vô biên. Con đường vô lậu của bậc
Thánh bấy giờ mới thực sự được thấy rõ là đang trải
dài ra trước mắt.
Từ
đó Bồ tát tích cực tu tập, tích lũy công hạnh từ thực
hành các ba-la-mật, các nhiếp pháp, cho được thành tựu trọn
vẹn. Trải qua một số kiếp nữa, bấy giờ Bồ tát mới
thôi hết dao động giữa sinh tử và Niết-bàn; hết nhìn thấy
nỗi khổ trầm luân mà thỉnh thoảng sợ hãi, có khi cảm
thấy chán nãn, bất lực, muốn chứng nhập Niết-bàn cho nhanh
chóng. Bằng ý sinh thân, chịu chìm nỗi với chúng sinh trong
đại dương sinh tử khốn nạn, nhưng không hề sợ hãi, không
hề có ý tưởng thoát ly, thủ chứng Niết-bàn để yên nghĩ.
Đó
là Bồ tát vào Bất động địa. Phật bảo Thắng Man:
«Bằng
vào các thiện căn ấy, trải qua vô lượng a-tăng-kỳ kiếp
con sẽ là Tư tại vương ở giữa chư thiên và nhân loại.»[248]
Vận
dụng công hạnh một cách thong dong. Thọ sinh một cách tự
tại. Và chính từ địa vị này trở lên, Bồ tát mới thực
sự nhìn thấy Pháp thân Phật; nói theo mô tả của Hoa nghiêm:[249]
nhận biết được mười thân của Phật.
Từ
đây trở đi, còn một vô số kiếp nữa thì thành Phật.
Trọn
cả con đường thời gian thăm thẳm ấy được bắt đầu
từ một cái nhìn, một cái thấy. Từ đó khơi lòng kính yêu
vô hạn. Từ kính yêu, tâm tư mở rộng cho tin và hiểu. Phật
bảo Thắng Man phu nhân:
«Nếu
đệ tử của Ta là hạng tùy tín tăng thượng, sau khi y vào
minh tín, bằng tùy thuận pháp trí mà đạt đến cứu cánh.»
Phật
chỉ cho Thắng Man bằng cách nào, bằng tâm tư nào, để có
thể thể hiện tâm tình nguyện vọng của Bồ tát.
Trước
hết, căn vào tín tâm. Vì, tín tăng thượng, nghĩa là tâm
có ưu thế hơn hết. Đây cũng là chỗ khác biệt với các
chúng Thanh văn.[250] Trong hàng Thanh văn có vị không có trí
tuệ nhạy bén nên chỉ y trên tín tâm, nghe và tin những điều
được Phật giảng giải, rồi cứ theo đó mà tu tập cho đến
khi thấy được Thánh đế. Nhưng cũng có vị do trí tuệ nhạy
bén, sau khi nghe, đủ khả năng tự mình quán sát, phân tích,
rồi theo đó mà tu tập để thấy được Thánh đế.
Những
vị tu tập Bồ tát đạo không phải tất cả đều không có
trí tuệ nhạy bén. Trái lại, trí tuệ còn là yếu tố chủ
đạo trong sự phát triển Bồ tát đạo. Nhưng vì các giáo
pháp như Chân như, Thật tính, Tính không, Như Lai tạng, không
thể chỉ hiểu và chấp nhận bằng tư duy và lý luận suông
mà được. Do đó, để có thể hiểu và thâm nhập các giáo
lý này, nhân cách Phật và Bồ tát, nói chung là năng lực
gia trì hay hộ trì, thật vô cùng cần thiết. Vì vậy, Đại
trí độ nói biển Phật pháp mênh mông nhưng có thể thâm
nhập bằng tín. Hoa nghiêm[251] cũng nói: «Tín là căn nguyên
của đạo, là mẹ của công đức, nuôi lớn hết thảy thiện
pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dòng nước ái
dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết-bàn.»
Ở
Thắng Man, để tu tập những giáo lý được thuyết giảng
trong đó, tín tâm cũng rất cần thiết. Vì, như lời Thắng
Man phu nhân nói:
«Bạch
Thế Tôn… Tự tính thanh tịnh mà có ô nhiễm, thật là khó
thấu triệt. Duy chỉ Phật Thế Tôn, là con mắt của sự thật,
là trí tuệ chân thật, là căn bản của Pháp, là bậc thấy
suốt Pháp, là nơi nương tựa của Chánh pháp, mới có thể
thấy và biết như thực.»
3.
TỰ TÍNH THANH TỊNH
Sư
kiện thật khó hiểu, vì Như Lai tạng vốn là tính thanh tịnh
nhưng làm sao để có thể bị quấn chặt trong các lớp vỏ
phiền não, vô minh. Đối với phàm phu, để có thể chấp
nhận điều đó, rồi nỗ lực tu hành cho tới khi phá vỡ
vỏ trứng mà tự mình chui ra ngoài, khởi đầu chỉ có thể
dựa vào tín tâm mà thôi. Tin vào lời nói của đấng mà mình
tôn thờ, kính ngưỡng. Thắng Man nói:
«Nếu
đối với Như Lai tạng đang bị bọc kín trong vỏ phiền não
mà không nghi hoặc, thì đối với Pháp thân vốn siêu xuất
vô lượng phiền não tạng cũng không nghi hoặc.»
Tin
rằng Pháp thân hiện hữu, tức là tin rằng Như Lai tính hay
Phật tính cũng thường hằng hiện hữu trong mỗi chúng sinh.
Nếu không tin được như thế thì không thể phát Bồ-đề
tâm, không có ý hướng mong cầu thành Phật. Như vậy, Bồ
tát đạo không có ý nghĩa gì cả.
Ở
đây, Như Lai tạng chỉ có thể được nhận thức, được
xác tín là hiện hữu, bằng vào Không trí, là tuệt quán chiếu
Không tính nơi hết thảy các pháp. Bằng trí tuệ quán chiếu
này, tuy nói Như Lai tạng bị bọc kín trong vỏ phiền não,
nhưng phiền não vốn không có tự tính, không thực hữu. Nhận
thức về sự hiện hữu của Như Lai tạng trong trường hợp
này được gọi là Như Lai tạng không trí, tức nhận thức
về Không tính nơi tự thể Như Lai tạng.
Nếu
phân tích tâm thể, thì tâm vốn không tương ưng với phiền
não. Tâm là dòng chảy liên tục, lưu chuyển từ đời này
sang đời khác. Tự thể của tâm sinh rồi diệt, diệt rồi
sinh, trong từng sát-na tiếp nối không gián đoạn. Cũng như
như một đốm lửa được quay rất nhanh sẽ tạo thành một
vòng lửa liên tục và khép kín. Vòng lửa chỉ là ảo ảnh
ngoại hiện, không có tự thể. Cũng vậy, tâm thể sinh diệt
trong từng sát-na, dòng tương tục của tâm chỉ tồn tại
do phân biệt vọng tưởng. Chỉ có dòng tương tục của tâm
được nhận thức là có bị nhiễm ô bởi phiền não, nhưng
tự thể của tâm là Không tính, do đó không hề chịu ảnh
hưởng tác động gì của phiền não ô nhiễm. Phiền não như
vậy được gọi một cách rất hình tượng là «khách trần»,
hạt bụt trên đường đời, người lữ khách đến rồi đi
trong thoáng chốc.
Thắng
Man nói:
«Như
Lai tạng với tự tính thanh tịnh này tuy bị bẩn bởi phiền
não khách trần và phiền não hiện khởi, nhưng vẫn là cảnh
giới bất tư nghị của Như Lai. Vì sao? Thiện tâm trong từng
sát-na không hề bị ô nhiễm bởi phiền não. Bất thiện tâm
trong từng sát-na cũng không hề ô nhiễm bởi phiền não. Phiền
não không xúc tâm. Tâm không xúc phiền não. Vậy, đâu có
thể pháp không xúc lại có thể nhiễm ô tâm được.»
Như
Lai tạng, một mặt là Không, và mặt khác là Bất không. Đó
là mặt tích cực của Như Lai tạng, dung chứa và làm xuất
sinh vô lượng phẩm tính, «vô lượng Phật pháp, vượt qua
số cát sông Hằng, vốn không ly, không thoát, không dị biệt,
bất tư nghị.» Trong đó bao hàm ý niệm tiền tế và hậu
tế, là biên tế vô tận của thời gian quá khứ và biên tế
suốt vô cùng tận vị lai. Trong quá khứ, Như Lai tạng mặc
dù là với tự tính thanh tịnh nhưng bị quấn chặt bởi phiền
não, không thể nhận ra được. Tự tính ở đây hàm ý nghĩa
bản hữu, chỉ cho yếu tính vốn có sẵn. Như Lai tạng lúc
bấy giờ được ví như hạt minh châu vô giá bị vùi trong
hầm xí. Tuy có lấy lên được, nhưng những uế tạp bao ngoài
chưa được trừ bỏ, thì ánh sáng của minh châu vẫn chưa
thể tỏa sáng. Nó cũng giống như viên ngọc Phác trên núi,
mà thợ ngọc tầm thường chỉ nhìn thấy nó là viên đá
chứ không gì khác. Cho đến khi một thợ ngọc có con mắt
tinh vi nhận ra giá trị của nó, đem về dâng nạp cho vua.
Nhưng vì chưa được mài gọt, với con mắt dung tục, đó
chỉ là viên đá tầm thường mà thôi. Người thợ dâng ngọc
bị chặt chân vì tội dối gạt vua. Phải đợi đến khi có
người thợ ngọc khéo léo mang đi mài gọt, lúc bấy giờ
viên ngọc mới bộc lộ tất cả giá trị tuyệt vời của
nó. Cũng vậy, sau khi được nhận biết, và sau quá trình tu
tập, Như Lai tạng trở nên thuần tịnh, lúc bấy giờ Như
Lai tạng cần dược nhận thức bằng Bất không. Đó là một
tự thể vừa được phát hiện như là mới, gọi là thủy
hữu. Nhưng cũng không phải là mới, vì tất cả vốn được
tàng ẩn trong tự tính từ tiền tế.
Như
Lai tạng như vậy là pháp giới tạng. Vì hàm chứa tất cả
mầm giống hiện hữu của pháp giới, là phôi thai sẽ nảy
sinh thành vô số pháp giới. Nếu thế giới này được nhận
thức như là tồn tại vô nghĩa; dòng tương tục của sự
hữu tiếp nối sinh diệt không mục đích; ấy là do bởi mầm
giống của pháp giới chân thực còn đang bị vùi, như hạt
gạo còn bị bọc trong vỏ trấu, chưa được chà xát, cho
nên không thể trở thành thức ăn tối thượng vi diệu được.
Như
Lai tạng cũng là Pháp thân tạng, vì đó là kho tàng chân lý.
Vì chính từ nơi đó mà tất cả ý nghĩa và giá trị của
tồn tại được tìm thấy; và vì đó là thai bào đang cưu
mang vị Chuyển luân pháp vương, sau này sẽ vận chuyển bánh
xe chân lý, chinh phục những vương quốc chí thiện, là thực
tế để vô lượng chúng sinh sống trong quốc độ bình an
và phước lạc.
4.
TÍN VÀ HÀNH
Cũng
như một người đàn bà nghèo hèn sống trong một túp lều
tồi tàn xiêu vẹo, trên một vùng đất cằn cỗi chỉ thích
hợp cho sỏi đá và gai góc; nếu không thể tin được rằng
chính ngay bên dưới nền nhà của vùng đất hoang này là một
kho tàng bảo vật vô giá, thì sẽ không bao giờ cố công đào
xới để khai quật kho tàng. Cũng vậy, Thắng Man phu nhân nói:
«Bạch
Thế Tôn, nếu không có Như Lai tạng thì không thể có sự
nhàm chán khổ lạc mà mong cầu Niết-bàn. Vì sao? Đối với
sáu thức và tâm pháp trí, bảy pháp này không đình trụ trong
từng sát-na, không gieo trồng các khổ, cho nên không thể nhàm
chán khổ mà mong cầu Niết-bàn.»
Nhận
thức về sự tồn tại bản hữu của Như Lai tạng là động
lực chính cho nỗ lực mong cầu giải thoát. Cũng như người
đàn bà nghèo khốn kia, nếu luôn sống với ý tưởng rằng
«Định mệnh của ta là như vậy», không hề nhận biết khả
năng cải thiện đời sống của mình, không tin tưởng kho
tàng vô giá ngay trong lòng đất của mình, thì suốt đời
sẽ sống như vậy, bằng lòng với số phận nghèo hèn như
vậy.
Để
có thể khai quật thành công, cần phải nhận định phương
hướng chính xác, và ước lượng bề dày của các tầng đất.
Ở đây, Phật chỉ cho Thắng Man phu nhân năm sự quán sát
thiện xảo: «quán sát căn thi thiết và cảnh giới ý giải;
quán sát nghiệp báo; quán sát giấc ngủ của A-la-hán; quán
sát sự an lạc của tâm tự tại và sự an lạc của thiền;
quán sát thánh tự tại thông của A-la-hán, Bích-chi-Phật và
Đại lực Bồ tát.»
Năm
sự quán sát này là năm giai đoạn diệt trừ chín nhóm phiền
não, tương ứng với chín thí dụ về Như Lai tạng được
nêu lên trong Vô thượng y và được hệ thống hóa bởi Phật
tính luận.
5.
CHÍN THÍ DỤ VỀ NHƯ LAI TẠNG
Chín
nhóm «khách trần phiền não» được hệ thống hóa bởi Phật
tính luận tương ứng với chín thí dụ của Như Lai tạng
kinh như sau:
1.
Hoá Phật ngự trên hoa héo,[252] thí dụ tương ứng với phiền
não tham dục,[253] cũng nói là tham sử[254] phiền não. Trong
thí dụ này, hoa sen đang nở rộ và thơm ngát, bỗng nhiên
héo úa và hôi thối. Nhưng hóa Phật xuất hiện ngự trên
hoa sen vẫn thanh tịnh ngời sáng, không thay đổi. Tham dục
phiền não như hoa sen. Khi nở, thì hương sắc rất khả ái.
Nhưng khi héo uá thì rất đang nhàm tởm. Tham dục, với công
năng mang lại một chút hạnh phúc, rồi đau khổ, và một
chút hạnh phúc khác rồi đau khổ tiếp, đã bao phủ không
để cho Pháp thân được hiển lộ.
Pháp
thân là lý tính chân thật, là thể đồng nhất của ta và
thế giới. Lý tính đó từ trước bị các phiền não che lấp
như mặt gương bị đóng bụi. Nhưng phiền não không có bản
chất chân thật. Chúng là những đóa hoa của ảo ảnh xuất
hiện trong hư không che phủ cặp mắt không cho nhìn thấy sự
thực của thế giới. Tính chất của các phiền não ô nhiễm
như vậy là tinh không, hay không nghĩa. Như Lai tạng khi còn
bị che phủ bởi các phiền não thì được gọi là Không Như
Lai tạng. Đó là Như Lai tạng xét về mặt nhiễm. Nhưng vì
bản chất các phiền não vốn không cho nên Như Lai tạng trong
ý nghĩa bị che lấp ấy được gọi là Không Như Lai tạng.
Về mặt tịnh, nó được gọi là Bất không Như Lai tạng,
cũng chỉ cho Pháp thân. Hoạt động hay tác dụng của các
phiền não ô nhiễm là những tác dụng bất thực, những đau
khổ vô biên do chúng chỉ là những đau khổ của một người
nằm mộng. Trái lại, hoạt dụng của Pháp thân là những
tác dụng thực tiễn. An lạc đạt được với Pháp thân là
nguồn an lạc cụ thể do chứng nghiệm bốn Thánh đế vô
tác. Như vậy, với Thắng Man, đau khổ là những ảo ảnh
không thực chất, chỉ có an lạc mới là sự thật tuyệt
đối.
2.
Đàn ong và tổ ong mật,[255] thí dụ tương ứng sân phiền
não hay sân sử phiền não. Như đàn ong mật bu quanh tổ ong.
Bên trong tổ ong là khối mật ngạt ngào. Muốn lấy được
tổ mật ong thì trước phải diệt trừ đàn ong bu quanh.
3.
Võ trấu và hạt gạo,[256] tương ứng si phiền não hay vô
minh hoặc, bao phủ Như Lai tạng như vỏ trấu bao bọc hạt
gạo quý. Cần phải chà xát kỹ, bỏ đi vỏ trấu để có
được hạt gạo thơm ngon.
Ba
loại phiền não này có mặt trong tất cả chúng sinh phàm phu.
Với những chúng sinh tuy còn bị chi phối bởi chúng nhưng
do sự phát triển của thiền và định, làm tăng trưởng hạt
nhân gọi là nghiệp bất động,[257] sẽ từ Dục giới tái
sinh vào các cõi Sắc và Vô sắc giới bên trên. Nếu tu tập
phát triển giới, định, tuệ cho đến khi thành tựu xuất
thế gian vô phân biệt trí,[258] thì bằng trí này mà diệt
trừ chúng. Đó là quá trình tu tập bằng quán sát nghiệp
báo mà diệt trừ ba độc tố tham, sân, si, làm hiển lộ một
phần Như Lai tạng.
4.
Thỏi vàng trong hầm xí.[259]Thượng tâm phiền não,[260] bao
gồm ba độc tố vừa kể nhưng ở mức độ độc hại hơn,
tồn tại trong dòng tương tục của chúng sinh hoàn toàn bị
tác động bởi những khát vọng thuộc Dục giới, chịu sự
lôi cuốn của nghiệp báo thiện và bất thiện tội và phước,
để sinh và chết trong phạm vi dục giới. Loại phiền não
này cần được đối trị bằng các phương pháp tu như quán
bất tịnh chẳng hạn. Đây là quá trình tu tập bằng cách
quán sát tính chất và hoạt động của căn, cảnh, và những
yếu tố chức năng tâm lý. Nói rộng ra, quán sát mười tám
giới.
Trường
hợp này được ví dụ với thoi vàng bị rơi vào hầm xí.
5.
Kho báu trong nhà nghèo.[261] Vô minh trụ địa, yếu tố duy
trì sinh tử biến dịch. Là vi tế phiền não còn tàn dư nơi
A-la-hán, khiến tạo các nghiệp vô lậu, dẫn đến quả báo
là ý sinh thân. Thí dụ ở đây là kho báu trong nhà của một
người nghèo khó. Cũng như các hàng Nhò thừa, do bị che lấp
bởi vô minh trụ địa nên không thấy khả năng thành tựu
Phật quả của mình, chấp nhận một cách vô tri bốn loại
sinh tử. Đây là trường hợp quán sát Niết-bàn của A-la-hán.
Khi thành tựu Bồ-đề trí của Như Lai, bằng kim cang dụ định
mà vô minh trụ địa bị đoạn trừ.
6.
Mầm giống và hột xoài.[262] Kiến đế hoặc, các phiền não
gần với nhóm kiến sở đoạn hoặc được nói đến trong
Câu-xá.[263] Nhóm này được ví với hột của quả yêm-la.[264]
Hột của quả yêm-la khi nảy mầm, nó làm vỡ lớp vỏ ngoài,
để hạt nhân bên trong lộ ra. Phàm phu đã qua quá trình tu
tập, mà trong Thanh văn thừa, cho đến lúc bắt đầu bước
vào Thánh đạo vô lậu, thấy cái chưa hề thấy từ trước.
Đây là nhóm phiền não mà khi diệt trừ chúng thì Bồ tát
bước vào Sơ địa, vượt ngoài tam giới.
7.
Bảo vật bọc trong giẻ rách.[265] Tư duy hoặc phiền não,
hay nhóm phiền não thuộc tu sở đoạn hoặc.[266] Ví dụ ở
đây là bảo vật được bọc kín trong tấm vải xấu. Đây
là nhóm phiền não mà Bồ tát tu tập viên mãn sáu ba-la-mật
để đối trị sau khi đã nhập Sơ địa, tiếp tục phát triển
nhận thức về Chân như cho đến địa thứ sáu. Tức loại
phiền não còn tàn dư nơi Bồ tát từ Sơ địa cho đến Thất
địa.
8.
Người đàn bà xấu xí mang thai vua.[267] Bất tịnh địa hoặc,
là những phiền não thuộc sở tri chướng từ địa thứ bảy
trở xuống. Ví dụ như người đàn bà nghèo hèn và xấu xí
nhưng lại đang mang thai một vị Chuyển luân vương tương
lai. Thánh thai mà Bồ tát gieo phôi cho đến nay đã thành hình,
nhưng vẫn còn nguy hiểm dọa trụ thai. Nghĩa là, nhóm phiền
não chi phối từ phàm phu cho Bồ tát địa thứ bảy, nếu
để cho tự do phát triển, thì Bồ tát vẫn là phàm ngu chúng
sinh. Nếu đọan trừ hết, Bồ tát sẽ nhập Niết-bàn, bỏ
rơi sinh tử, không còn cơ duyên thành Phật.
Cả
ba nhóm phiền não chi phối từ Bồ tát địa thứ bảy xuống
đến phàm phu thấp kém nhất tồn tại trong giai đoạn được
nói là quán sát sự an lạc của tâm tự tại và sự an lạc
của thiền. Vì đấy là giai đoạn Bồ tát phát triển tăng
thượng giới, tăng thượng tâm và tăng thượng tuệ. Tức
càng lúc càng đạt được trình độ cao của tâm tự tại,
và những những lạc thọ phát sinh do chứng được các thiền
định, tam muội.
9.
Pho tượng trong khuôn đúc.[268] Tịnh địa hoặc, nhóm phiền
não còn tàn dư nơi Bồ tát từ địa thứ tám trở lên. Như
Lai tạng ở đây được ví dụ như pho tượng vàng đang ở
trong khuôn, đã được đúc thành hình, chỉ chờ ngày dở
khuôn thì xuất hiện. Vào giai đoạn chót, bằng kim cang tâm,
Bồ tát đoạn trừ nhóm phiền não này, chứng thành Phật
quả. Như Lai tạng hoàn toàn hiển lộ. Đây là giai đoạn
tu tập mà Thắng Man nói là quán sát Thánh tự tại thông của
A-la-hán, Bích-chi-Phật và Đại Lực Bồ tát.
6.
BỐN ĐỨC CỦA PHÁP THÂN
Như
Lai tạng bấy giờ hoàn toàn được phôi mở, Pháp thân xuất
hiện đồng thời với bốn ba-la-mật: chân thường, chân lạc,
chân ngã, chân tịnh. Thắng Man nói:
«Chúng
sinh điên đảo. Đối với năm thủ uẩn vốn là vô thường
mà tưởng là thường; vốn khổ mà tưởng là lạc; vốn vô
ngã mà tưởng là ngã; bất tịnh mà tưởng là tịnh. Tịnh
trí của hết thảy A-la-hán, Bích-chi-Phật, hoặc có chúng
sinh do tin lời Phật, đối với cảnh giới của Nhất thiết
trí và Pháp thân của Như Lai vốn chưa từng được thấy,
mà khởi lên ý tưởng về thường, lạc, ngã, tịnh; đấy
không phải là kiến chấp điên đảo, cho nên gọi là chính
kiến. Vì sao? Pháp thân của Như Lai là thường ba-la-mật,
ngã ba-la-mật, tịnh ba-la-mật và lạc ba-la-mật.»[269]
Nghĩa
là, chúng sinh do nhận thức sai lầm về bản chất tồn tại,
nên y trên năm thủ uẩn này, trên tập hợp thêm tâm giả
hợp này, mà tìm cho mình những thứ được vọng tưởng tưởng
là vĩnh hằng, là tồn tại một bản ngã hay một linh hồn
bất diệt, những lạc thú và những cái được gọi gọi
là đẹp. Nhưng bản chất của năm thủ uẩn vốn là ô nhiễm,
cho nên những cái săn tìm thực sự là vô thường, khổ, vô
ngã và bất tịnh. Khi nhìn thấy được bốn dấu ấn này
của sự tồn tại, vị Thanh văn trở nên bình thản, tâm tư
vắng lặng. Và quyết định vĩnh viễn an trụ trong cõi vắng
lặng, tịch nhiên ấy. Nơi các Thanh văn, nhận thức như vậy
cũng là điên đảo. Như vậy, có tất cả tám nhận thức
điên đảo. Bốn nhận thức thuộc phàm phu chưa hề thấy
dấu vết của Thánh đạo. Bốn nhận thức điên đảo khác
của các Thánh giả Thanh văn. Siêu việt tất cả tám điên
đảo, là nhận thức chân chính về hiện hữu của Pháp thân.
Đau
khổ là ảo ảnh. Mà hạnh phúc ước mơ cũng chỉ là ảo
ảnh. Cũng như một người trong đêm tối đạp nhằm sợi
dây tưởng mình dẫm lên rắn độc mà nổi lên sợ hãi. Đó
là đau khổ. Nhưng khi nhìn kỷ lại, thấy rõ đó chỉ là
sợi dây. Người ấy có cảm giác thoát nạn, vô cùng mừng
rỡ. Thực chất hạnh phúc là thế. Từ ảo ảnh này xoay chuyển
thành ảo ảnh khác. Vẫn chỉ một con người ấy, và cũng
vẫn chỉ một thực tại ấy. Điên đảo và chân thật; Như
Lai tạng và phiền não tạng; một tâm thể duy nhất, thường
hằng bất biến. Nhưng người đã đánh mất một cái gì đó
rất quý giá, rất cần thiết, để khiến cho không nhận ra
đâu là điên đảo, Đâu là chân thật. Người đã mất đi
chỗ dựa, mất đi chỗ quy y tối thượng an ổn. Phật nói:
«Hãy tự mình là nơi nương tựa của chính mình.» Nhưng con
người đâu đã thực sự biết «mình là cái gì?» Nào đã
biết «Ta là ai?» Cho nên, vẫn cảm thấy mình bơ vơ, như
trẻ nhỏ lạc loài mất mẹ hay mất cha.
Pháp
hoa[270] kể chuyện: Một y sĩ đi xa, để lại đàn con thơ
dại. Nhưng ông là một y sỹ giỏi. Ông đã hiểu tất cả
tâm tư và thể chất của các con mình, nên khi ra đi, đã để
lại những phương thuốc cần thiết. Trong khi vắng bóng cha,
đàn con không nơi nương tựa; tinh thần sa sút, buồn rầu,
bịnh hoạn. Chúng muốn tìm một cái gì đó của người cha
để lại, như là kỹ vật làm chỗ dựa cho tình cảm bơ vơ
ấy. Chúng tìm thấy các thang thuốc. Chúng hiểu sự hiện
diện của người cha, luôn luôn bên cạnh mình, dù nay đang
ở một nơi xa xôi nào đó. Chúng uống các thang thuốc. Tinh
thần sung mãn, thể lực khôi phục.
Cũng
vậy, làm sao để nhận ra Pháp thân thường trụ; là Như Lai
tạng tồn tại ngay trong mỗi chúng sinh; tồn tại như là bào
thai che chở và nuôi dưỡng cho phôi thai sống còn và phát
triển một cách tự nhiên. Thắng Man nói: «Đối với Pháp
thân của Phật mà thấy như vậy thì gọi là chính kiến.
Ai có chính kiến tức là con chân thật của Phật, từ miệng
Phật sinh, từ Chánh pháp sinh, được hóa sinh bởi Pháp, thừa
hưởng di sản pháp.»
Phát
hiện ra mình là ai có nghĩa là phát hiện ra ta là con của
ai; cha mẹ đích thực của ta là ai. Với con trẻ bơ vơ thì
sự phát hiện ấy nhất định làm thay đổi định hướng
cả một đời người.
[239]
Mahāparinibbānasutta, D.ii. tr 157: khi đức Thế Tôn vừa nhập
diệt, các tỳ-kheo chưa diệt trừ tham ái thì vật vã khóc
lóc; còn các tỳ-kheo đã ly dục thì với chánh niệm, chánh
trí, bình thản chấp nhận: anicca vata saṅkhārā, taṃ kutettha
labbhā, «Ôi, các hành là vô thường; ở đâu trong đời này
có thể tránh?»
[240]
Mahāparinibbānasutta, D..ii., tr. 154: Yo vo, Ananda, mayā dhammo ca
vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā.
[241]
Câu hỏi định hình theo văn chuẩn Pāli: kiṃ nu kho hoti tathāgato
param maraṇā…, «Như Lai có tồn tại sau khi chết?» với
bốn trường hợp.
[242]
Niết-bàn 2, lược dẫn, Đại 12, tr. 373b-375a.
[243]
Pāli: aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino, uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṃ vūpasamo sukho ti. Cf. D.ii.157; S.i. tr. 6, 158.
[244]
Saddh., tr. 193.1: nirvāṇabhumiṃ cupadarśayāmi vinayārtha sattvāna
vadāmy upāyam/ na cāpi nirvāmy ahu tasmi kāle ihaiva co dharmu prakāśayāmi.
Cf. Pháp hoa, Đại 9, tr. 43b16.
[245]
Trường «2. Du hành kinh» phần 2; Pāli: Mahāparinibbāna-sutta,
D.ii.109.
[246]
Vakkali-sutta, S.iii. 119 ff: tỳ-kheo Vakkali bịnh nặng, rất muốn
nhìn thấy Phật. Phật xuất hiện, nói với Vakkali: alaṃ Vakkali
kiṃ te pūtikāyena diṭṭhena. Yo kho Vakkali dhammaṃ passati so
maṃ passati. Yo maṃ passati so dhammaṃ passati, «Ích lợi gì
cho ngươi, này Vakkali, với thân hư hoại này của Ta? Ai thấy
Pháp, này Vakkali, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy
thấy Pháp.»
[247]
Vajra. tr. 88.22 : Ye maṃ rūpeṇa cadrākṣur ye māṃ ghoṣeṇa
cānvaguh/ mithyāprahāṇaprasṛtā na māṃ drakṣyanti te janāḥ.
[248]
Daśa, tr. 48.7, Hoa nghiêm (Phật) 26, tr. 566b6; Hoa nghiêm (Thật)
38, tr. 201a6: «Bồ Tát an trụ trong địa này, phần nhiều thọ
sinh làm Đại phạm thiên, Thiên chúa của nghìn thế giới,
tối thắng tự tại (bhūyastvena Mahābrahmā bhavati sāhasrādhipati,
abhibhur…)».
[249]
Hoa nghiêm (Phật) 26, TR. 565b17: «Bồ Tát nhận biết chúng sinh
thân, quốc độ thân, nghiệp báo thân, Thanh văn thăn, Bích-chi-Phật
thân, Bồ Tát thân, Như Lai thân, Trí thân, Pháp thân, hư không
thân.» Cf. Hoa nghiêm (Thật) 38, tr. 200a 20. Cf. Daśa, tr. 45.17:
sa sattvakāyaṃ ca prajānāti, kṣetrakāyaṃ ca…, karmavipākakāyaṃ…
śrāvakakāyaṃ… pratyeka- buddha-kāyaṃ…bodhisattvakāyaṃ…tathāgatakāyaṃ…jñānakayaṃ…
dharmakāyaṃ… ākāśakāyaṃ…
[250]
Câu-xá 23, tr. 122b15: (lược dẫn) «Trong kiến đạo (darśanamārga),
có hai hạng Thánh giả: 1. Tuỳ tín hành (śraddhānusārin), những
vị có căn tính chậm lụt, do tùy theo tin mà thực hành. 2.
Tùy pháp hành (dharmānusārin), những vị có căn tính nhạy
bén, trước đó tự mình tìm tòi, nghiên cứu trong các kinh
điển, rồi y theo pháp mà tu hành.» Kośa, tr. 354.16.
[251]
Hoa nghiêm (Phật) 6, tr. 433a; Hoa nghiêm (Thật) 14, tr. 72b.
[252]
Như Lai tạng, Đại 16, tr. 457b, 461b.
[253]
Bảo tính luận, Đại 31, tr. 837b20.
[254]
Sử, nghĩa là sai sử, một từ khác để chỉ phiền não. 5
lợi sử (nhạy bén): hữu thân kiến (sat-kāya-dṛṣṭi), biên
chấp kiến (anta-grāha-dṛṣṭi), tà kiến (mithyā-dṛṣṭi),
kiến thủ (dṛṣṭi-parāmarśa), giới cấn thủ (śīla-vrata-parāmarśa).
Có 5 độn sử (chậm lụt): tham (rāga), sân (pratigha), si (mùđha),
mạn (māna), nghi (vicikitsā).
[255]
Đại 16, tr. 462a.
[256]
Đại 16, 462b.
[257]
Câu-xá 15, Đại 29, tr. 81a.5: «Thuộc về Dục giới, nghiệp
thiện được gọi là phước nghiệp (puṇya-karma)…, nghiệp
bất thiện được gọi là phi phước (apuṇya). Nghiệp thiện
thuộc hai giới trên gọi là bất động (āniñjya).»
[258]
Đây chỉ căn bản vô phân biệt trí, hay nói gọn, căn bản
trí (mūla-jñāna). Về vô phân biệt trí (nir-vikalpa-jñāna),
Nhiếp luận thích (Huyền) 6, tr. 351c29: «Lúc bấy giờ vô phân
biệt trí của Bồ Tát khởi lên, đối với sở duyên và năng
duyên đều bình đẳng, bình đẳng. Sở duyên ở đây là Chân
như. Năng duyên là Chân trí.» Vô phân biệt trí có ba: gia
hành vô phân biệt trí, căn bản vô phân biệt trí và hậu
đắc vô phân biệt trí. Về căn bản vô phân biệt trí, Nhiếp
luận thích (Huyền) 8, tr. 366a.22: «Vô phân biệt trí như hư
không, phổ biến, vô nhiễm, không phải năng phân biệt cũng
không phải sở phân biệt.»
[259]
Đại 16, 462b.
[260]
Bảo tính luận, tr. 837b: tăng thượng tham sân si kết sử phiền
não, chỉ hành các nghiệp phước và phi phước, chỉ dẫn
đến quả báo ở Dục giới.
[261]
Đại 16, tr. 462c. Niết-bàn 7, Đại 12, tr. 407b12, thí dụ là
một người đàn bà nghèo khốn.
[262]
Đại 16, tr. 463a.
[263]
Xem cht. 150, Ch.vi, tr. 120 đoạn trên.
[264]
Yêm-la (Skt. āmra), hoặc amra, amalaphala, amarapuspa, amarapuṣpaka,
cũng phiên âm là yêm-ma-la, yêm một la. Chú Duy ma kinh 1 nói:
«Yêm-la, trên quả một loại cây. Hình dáng như quả đào,
nhưng không phải đào.» Tên khoa học, Mangifera indica, thường
gọi là Mango, tức quả xoài. Mochiyuki.
[265]
Đại 16, tr. 463b.
[266]
Xem cht. 150, Ch. vi, tr. 120 đoạn trên.
[267]
Đại 16, tr. 463c.
[268]
Đại 16, tr. 464a.
[269]
Về ý nghĩa đối trị của bốn ba-la-mật này, Phật tính
luận 2, tr. 797a ff: Tu hành bốn nhân, đối trị bốn chướng,
thành tựu bốn đức Pháp thân. 1. Tín lạc Đại thừa, đối
trị hạng nhất-xiển-đề (icchantika) tức hạng chúng sinh
thuộc nhóm tà định chủng tính không bao giờ chấp nhận
có Niết-bàn, thành tựu tịnh ba-la-mật (śuci-pāramitā); 2.
Tu vô phân biệt bát-nhã, đối trị ngoại đạo chấp ngã
(ātmagrāha), thành tựu ngã ba-la-mật (ātma-pāramitā); 3. Phá
hư không tam-muội, đối trị tâm trạng sợ sinh tử của Thanh
văn muốn chứng Niết-bàn nhanh chóng, thành tựu lạc ba-la-mật
(sukha-pāramitā); 4. Tu đại bi của Bồ Tát, đối trị tâm
trạng ưa tịch tĩnh cô độc của Bích-chi Phật không quan
tâm đến lợi ích của chúng sinh, thành tựu thường ba-la-mật.
[270]
«Phẩm 16.Như Lai thọ lượng», Đại 9, tr. 42a ff.