CHƯƠNG
VII:
THÁNH
ĐẾ VÀ NIẾT-BÀN
I.
VÔ BIÊN THÁNH ĐẾ
Thiện
Tài đi về phương Nam, được giới thiệu đến một người
tên là Tự Tại Chủ,[157] ở tại một nơi được gọi là
«Diễn đàn tri thức.»[158] Khi đến nơi, Thiện Tài được
cho biết là Tự Tại Chủ cùng với bọn trẻ nhỏ đang chơi
ngoài bờ sông. Thiện Tài đến đó, gặp Tự Tại Chủ. Nguyên
Tự Tại Chủ là một chú bé; lúc bấy giờ đang vọc cát,
chơi với các trẻ nhỏ khác. Thiện Tài bước tới, sụp xuống
lạy và thưa:
«Bạch
Thánh giả, tôi đã phát bồ đề tâm. Nay muốn học cái hành
của Bồ tát; muốn biết cái đạo của Bồ tát.»
Tự
Tại Chủ nói:
«Trước
đây tôi có học toán pháp với Ngài Văn-thù. Nhờ tinh thông
toán pháp, tôi có thể thâm nhập các môn khác như âm thanh
học, luận lý học, y học và cả kiến trúc nữa. Nay đang
bằng phép toán của Bồ tát về chuỗi số vô hạn, tôi có
thể dễ dàng tính được có bao nhiêu hạt cát trên các bãi
biển. Còn hơn thế nữa, tôi có thể tính toán biết được
ở phương Đông tồn tại bao nhiêu thế giới; tuổi thọ của
mỗi thế giới đó dài ngắn như thế nào; trong đó có bao
nhiêu Phật đã thành, bao nhiêu Bồ tát đang hành đạo, và
số lượng chúng sinh nhiều ít. Rồi phương Nam, cho đến cả
mười phương, tôi đều có thể tính toán ra được cả.»
Bằng
khả năng toán học, điều mà Tự Tại Chủ nói không phải
là không tưởng. Nhưng biết nhiều như thế để làm gì?
Thế
giới lớn hay nhỏ, rộng hay hẹp, không do cái nhìn được
khuếch đại nhờ vào các công cụ hay các phương pháp tính
toán. Thế giới này lớn hay nhỏ, vũ trụ này hữu biên hay
vô biên, tất cả chỉ có ý nghĩa trong tương đối với tồn
tại của con người, lớn theo chiều kích của tâm người.
Với những ai tâm tư nhỏ hẹp, thì cái nhà của nó là cả
một thế giới bao la. Với những tâm hồn vĩ đại thì vũ
trụ không lớn hơn một hạt cải.
Những
điều được nói như thế không hoàn toàn chỉ là tượng
hình, hay những ví dụ xa vời thực tế. Không gian và thời
gian vốn là những khái niệm tương đối.
Cho
nên, Tôn giả Xá-lợi-phất lấy làm lạ tại sao cõi Phật
của đức Thích Tôn lại xấu xa, uế trược đến như thế;
phải chăng khi hành Bồ tát đạo, tâm tư Ngài không rộng
lớn, không thanh tịnh?[159]
Các
nhà Đại thừa đặt câu hỏi: với đức từ bi vô lượng,
với tâm tư rộng lớn bao trùm cả hư không vô biên, không
lẽ đức Phật thực tế chỉ dạy cho đệ tử con đường
nhanh chóng đạt đến Niết-bàn trong hiện tại, chứ không
giảng con đường dẫn đến chứng quả Bồ-đề như Phật?[160]
Có những con người như thế, và có những câu hỏi như thế.
Tuy cũng nhận thức được thực tế khổ đau của bản thân,
và cũng muốn tìm con đường giải thoát nhanh chóng, nhưng
vì tâm tư khác biệt, xu hướng khác biệt, đã không đoạn
tuyệt hẳn mọi ràng buộc với thế gian để một mình thênh
thang trên con đường xuất thế. Và những vị ấy suy tư,
chiêm nghiệm, phát hiện trong những lời dạy của Phật cả
một kho tàng chân lý bao la. Rồi họ thử làm phép toán. Họ
tính toán được phương Đông, rồi phương Nam, cho đến cả
mười phương, tồn tại vô số thế giới, vô hạn chúng sinh.
Và như thế cũng có nghĩa là nỗi khổ chúng sinh thật vô
cùng tận.
Thắng
Man phu nhân, mà cuộc đời có lẽ ít bị bức bách bởi những
thống khổ của nhân sinh, nhưng khi vừa phát Bồ-đề tâm,
vừa mở rộng tấm lòng của Bồ tát, đã nhận thấy ngay
trong giáo lý của Phật có phần hữu hạn, có phần vô hạn;
có Thánh đế có hạn lượng, và cũng có Thánh đế vô biên.
Nội
dung và ý nghĩa của bốn Thanh đế không phải là những chân
lý cao xa, vượt ngoài khả năng nhận thức của người thường.
Đó không phải là chân lý siêu nghiệm, đạt được bằng
những quá trình tư duy rắc rối. Bốn Thánh đế, trước hết,
là những hiện thực của tồn tại, của nhân sinh. Hơn thế
nữa, đó là phương pháp luận, là cách nhìn để đánh giá
sự thực. Khi nếm vị ngọt của cuộc đời, người có trí
trước hết biết rõ bản chất của vị ngọt, những nguyên
nhân và những yếu tố cấu tạo thành vị ngọt, những nguy
hiểm mà vị ngọt ấy sẽ dẫn đến và con đường thoát
ly những nguy hiểm ấy. Cũng như một y sỹ;[161] trước khi
chữa trị bịnh, cần biết rõ thực trạng và triệu chứng
của bịnh; nguyên nhân và yếu tố gây bịnh; trạng thái lành
mạnh, không bịnh là thế nào; và sau cùng là cần phải điều
trị bằng phương pháp nào.
Do
ý nghĩa đó, bốn Thánh đế vừa là phương pháp luận, mà
đồng thời cũng là nhận thức luận, và cũng là bản thể
luận. Vì những gì đức Phật nói, không thể trái với bản
chất hay tự tính của tồn tại.
Bốn
Thánh đế là nội dung của giáo pháp không chỉ riêng biệt
của Thanh văn hay Duyên giác thừa, mà chung cho cả ba thừa.[162]
Tùy theo trình độ nhận thức mà ý nghĩa của bốn Thánh đế
có nội dung khác nhau. Như sự khẳng định của kinh Đại
Bát-nhã[163] về tự tính của Bốn Thánh đế. Tu-bồ-đề
hỏi Phật:
«Thế
nào là bốn Thánh đế bình đẳng?»
Phật
nói:
«Nếu
không tồn tại sự khổ, không tồn tại nhận thức về khổ;
không tồn tại nguyên nhân tập khởi của khổ cũng không
tồn tại nhận thức về nguyên nhân tập khởi của khổ;
không tồn tại sự diệt khổ cũng không tồn tại nhận thức
về sự diệt khổ; không tồn tại con đường dẫn đến diệt
khổ, cũng không tồn tại nhận thức về con đường dẫn
đến diệt khổ. Đó gọi là bốn Thánh đế bình đẳng.»
«Lại
nữa, Tu-bồ đề, bốn Thánh đế ấy là như như, là không
dị biệt, là pháp tướng, là pháp tính, là pháp trụ, là
pháp vị, là thật tế. Vì rằng, có Phật hay không có Phật,
pháp tướng là thường trụ, không hư dối, không biến thái.»[164]
Đối
với các nhà tư tưởng Tiểu thừa, bốn Thánh đế là trật
tự hiện quán.[165] Nghĩa là bắt đầu từ sự thực hiển
nhiên nhất mà lần tìm ra nguyên nhân sinh khởi của nó, và
cuối cùng xác định con đường chân chính để thoát ly. Nhưng
Thắng Man phu nhân nói: Trong thực tính, không có sự tiếp
cận để quán sát bốn Thánh đế theo trật tự tiệm tiến.
Cũng không có nhận thức về bốn Thánh đế theo thứ tự
tiệm tiến.
Điều
Phu nhân nói, gọi là bốn duyên tiệm chí và bốn trí tiệm
chí, có ý nghĩa như sau. Trong sự tu tập quán sát về bốn
Thánh đế, sự tiếp cận diễn tiến theo thứ tự, từ Khổ
đế cho đến Đạo đế. Đó gọi là thứ tự hiện quán Thánh
đế. Nói cụ thể, chúng ta hãy dẫn điển hình về thứ tự
hiện quán theo các nhà Nhất thiết hữu bộ.[166] Khổ quán
sát về Khổ Thánh đế, không thể quán sát một cách mông
lung, mà cần tập trung trên những tính chất cơ bản của
hiện tượng, gọi là dấu ấn của hiện thực. Do đó, để
quán sát bốn Thánh đế, hành giả trước hết lấy ngay bản
thân thuộc Dục giới này làm đối tượng, và quán sát các
dấu ấn hiện thực của nó: vô thường, khổ, không và vô
ngã. Quán sát này diễn theo thứ tự. Những gì vô thường
nhất định dẫn đến khổ. Những gì là khổ chứng tỏ không
có thực chất. Những gì không thực chất chứng tỏ không
có tự thể vĩnh hằng. Tiếp theo, phân tích các nguyên nhân
làm phát sinh những hiện thực với những dấu ấn như vậy.
Theo thứ tự, các nguyên nhân này diễn ra với bốn đặc tính:
nhân, tập, duyên, sinh. Về Diệt đế, hành giả thứ tự quán
sát bốn đặc tính: diệt, tịnh, diệu, ly. Cuối cùng, với
Đạo đế, cũng thứ tự với bốn đặc tính: đạo, như,
hành, xuất.
Một
vòng như vậy gọi là thứ tự mười sáu hành tướng của
bốn Thánh đế. Hành giả sẽ giảm dần trong sự tu quán.
Giảm từ đặc tính «xuất» trong đạo đế, lần lượt giảm
cho đến khi hoàn toàn tập trung vào một dấu ấn duy nhất;
đó là vô thường. Từ vô thường, hành giả chứng ngộ được
chân lý thứ nhất, gọi là khổ pháp trí nhận, chấp nhận
khổ là sự thực. Trực tiếp sau đó, nhận thức khởi lên,
nhận thấy một cách chính xác về khổ đế. Bấy giờ gọi
là đạt được khổ pháp trí. Lần lượt quán bốn Thánh
đế với bốn nhẫn và bốn trí như vậy. Đấy là quá trình
quán sát lấy hiện thực Dục giới làm đối tượng. Sau đó,
hành giả suy luận lên các cõi trên, nhận ra Khổ đế trong
Sắc và Vô sắc giới. Như vậy gọi là khổ loại trí nhẫn
và khổ loại trí. Tức là nhận thức có được do phương
pháp loại suy. Với tám nhẫn và tám trí liên tục và thứ
tự phát sinh, vào giai đoạn cuối cùng, hành giả nhập kiến
đạo, tức thấy nhận thức được bốn Thánh đế một cách
toàn diện.
Nhưng,
Thắng Man phu nhân nói, không có bốn duyên tiệm chí, và không
có bốn trí tiệm chí. Điều đó có nghĩa là, trong tự tính
bình đẳng, khi nhận thức được bản chất của sự khổ,
thì cũng đồng thời nhận ra ba sự thật còn lại. Đó chính
là tự tính bình đẳng của bốn Thánh đế.
Cho
nên, như kinh Hoa nghiêm nói, để tu tập bốn Thánh đế, Bồ
tát trước hết cần phải vận dụng mười tâm thanh tịnh
bình đẳng: 1. Thanh tịnh bình đẳng với Pháp của Phật quá
khứ; 2. Thanh tịnh bình đẳng với Pháp của Phật vị lai;
3. Thanh tịnh bình đẳng với Pháp của Phật hiện tại; 4.
Thanh tịnh bình đẳng về giới; 5. Thanh tịnh bình đẳng về
Tâm; 6. Thanh tịnh bình đẳng về sự thanh tịnh do diệt trừ
các quan điểm, sự nghi ngờ và do dự; 7. Thanh tịnh bình đẳng
về nhận thức đạo và phi đạo; 8. Thanh tịnh bình đẳng
về tu hành trí và kiến; 9. Thanh tịnh bình đẳng về sự
quán sát càng lúc càng cao về các pháp bồ-đề phần; 10.
Thanh tịnh bình đẳng về sự giáo hóa hết thảy chúng sinh.[167]
Như
vậy, sự tu tập bốn Thánh đế của Bồ tát không chỉ lấy
hiện thực trong thế giới hiện tại, vốn là hiện thực
đặc thù, cá biệt trong thời gian và không gian. Bốn Thánh
đế được nhận thức với dấu ấn phổ quát, không bị
hạn chế thời gian và không gian. Tuy nhiên, thời và không
gian có hạn chế hay không hạn chế, không phải là sự thực
cố định. Tùy theo phong cách tư duy; và cũng tùy theo tập
quán tồn tại của mỗi cá thể. Cho nên, mặc dù có sự khác
biệt trong nhận thức và trong phương pháp, tự tính của bốn
Thánh đế vốn bình đẳng cho cả Tiểu thừa hay trong Đại
thừa. Do điều này, Phu nhân nói: «Vì pháp không hơn kém mà
chứng đắc Niết-bàn. Vì trí tuệ bình đẳng mà chứng đắc
Niết-bàn. Vì giải thoát bình đẳng mà chứng đắc Niết-bàn.
Vì thanh tịnh bình đẳng mà chứng đắc Niết-bàn. Cho nên,
Niết-bàn chỉ có một vị, vị bình đẳng, là vị giải thoát.»
Đó
là nói về tự thể. Còn trong hiện tượng giới, với cái
nhìn cá biệt của phàm phu, thì các Thánh giả của hai thừa,
do cái nhìn hạn chế và cá biệt, ở đó những nỗi khổ
của sinh tử chỉ được chiêm nghiệm trong liên hệ với bản
thân cá biệt của mình, chỉ hướng đến ước vọng giải
thoát cá biệt ấy, giải thoát khỏi những sợ hãi của sinh
tử phần đoạn. Do đó, bốn Thánh đế trong giáo pháp của
Tiểu thừa là những sự thực hữu hạn, là chân lý ước
lệ. Bồ tát do nhìn nỗi khổ của bản thân trong mối quan
hệ buộc ràng chặt chẽ với cả thế giới, cho nên chân
lý được chứng nghiệm ở đây là chân lý toàn diện, phổ
quát, là sự thực không chỉ liên hệ đến bản thân cá biệt
của mình. Đó là sự thực được chứng nghiệm do đã đoạn
trừ được vô minh trụ địa. Như vậy, với Thắng Man có
tất cả tám Thánh đế theo hai trình độ nhận thức về Thánh
đế : Thánh đế hữu tác hay không toàn diện của hàng Thanh
văn và Duyên giác, Thánh đế vô tác hay toàn diện của Phật.
Thánh đế này cũng được gọi là vô biên Thánh đế.
Như
đoạn kinh Bát-nhã vừa dẫn trên cho thấy, có Phật xuất
hiện hay không có Phật xuất hiện, pháp tính là như vậy,
tự thể và quy luật của tồn tại vẫn là như vậy. Quả
xoài trên cây, khi nào chín cũng vẫn rụng xuống đất. Quy
luật là như vậy. Nhưng đã không có ai phát hiện ra ý nghĩa
của sự rơi ấy, không phát hiện ra quy luật của sự rơi
ấy. Các Thanh văn sau khi nghe đức Phật giảng giải cho các
chân lý về Khổ, Tập, Diệt, Đạo; bèn ý thức được những
gì đang ràng buộc mình, và nỗ lực tu tập để giải thoát
khỏi những sợi dây ràng buộc lôi kéo đến khổ đau ấy.
Hiện thực là vô thường. Đó là chân lý hiển nhiên, không
cần phải lý luận chứng minh. Nhưng làm sao để nhận thức
được tất cả ý nghĩa vô thường ấy; không phải nhận
thức như là sự hiểu biết khoa học, hay kinh nghiệm đời
thường. Đó là nhận thức vừa thường nghiệm, vừa siêu
nghiệm. Thường nghiệm, vì chỉ cần một con mắt thế tục,
một tâm tư thế tục cũng đủ dễ dàng chấp nhận ý nghĩa
vô thường. Nhưng nhận thức ấy không đủ khả năng bứt
con ngừoi ra khỏi những trói buộc. Biết hay không biết hiện
thực là vô thường, cuộc đời nó vẫn muôn vàn hệ lụy,
trước cũng như sau.
Cho
nên, sau khi nghe Phật giảng giải ý nghĩa vô thường, các
Thanh văn khởi sự tập trung tư duy lên hiện tượng vô thường,
của thân, của tâm, và có thể rộng ra là cả thế giới.
Cho đến một lúc, dòng sông bỗng như con thác từ trên cao
đổ xuống ào ạt, chảy xiết, cuốn phăng tất cả. Vị Thanh
văn lúc ấy giác ngộ ra rằng, thân ta ư? Không tồn tại một
cái gì gọi thân của ta. Tự ngã của ta ư? Không có gì như
vậy tồn tại.
Quá
trình tư duy, nhận thức, và chứng ngộ như vậy, là do được
hướng dẫn bởi Phật, chứ không phải do trí tự nhiên của
mình. Cho nên, Thánh đế được chứng ngộ ấy Thắng Man phu
nhân gọi là Thánh đế hữu tác. Vì là hữu tác, cho nên không
phải là vô biên.
Bởi
vì trí năng của chúng sinh vốn hữu hạn, mà tự tính của
tồn tại thì bao la vô tận. Cho nên, những gì mà Phật chứng
ngộ, nhiều hơn số lá trong rừng simsapa.[168] Nhưng những
gì mà Ngài giảng dạy cho các đệ tử, chỉ như vài ngọn
lá trong lòng tay. Do đó, Thánh đế mà Thanh văn chứng ngộ,
là Thánh đế hữu tác, là hữu biên. Thắng Man phu nhân nói:
«Bạch
Thế Tôn, địa vị mà vị ấy chứng đắc trước kia, không
ngu si đối với pháp, không do ai khác, và tự biết chỉ đạt
được địa vị hữu dư, rồi tất sẽ chứng đắc vô thượng
chánh giác. Vì sao? Thanh văn và Duyên giác thừa đều quy vào
Đại thừa. Đại thừa ấy tức là Phật thừa.»
II.
VÔ DƯ NIẾT-BÀN[169]
A-la-hán
là một trong mười hiệu của Phật. Những gì Phật đã thành
tựu về mặt đạo đức, A-la-hán cũng thành tựu. A-la-hán
cũng nhập vô dư Niết-bàn, không tái sinh đời sau nào nữa.
Và
điều lạ lùng này có thể đã xảy ra. Khi Ngài Xá-lợi-phất
tán thán những công đức kỳ diệu của Phật:
«Bằng
tâm tư của mình, tôi biết một cách chắc trong quá khứ,
trong hiện tại, cũng như trong vị lai, không có Sa-môn, Bà-la-môn
nào có thể sánh với Như Lai, A-la-hán, Chánh đẳng giác, về
trí tuệ, thần thông, năng lực.»[170]
Tất
nhiên là điều vô cùng ngạc nhiên, vì với tâm tư như Xá-lợi-phất,
trí tuệ bậc nhất trong hàng Thanh văn, lại không bao giờ
tỏ ra ước ao một ngày nào đó mình sẽ là Phật, với trí
tuệ siêu việt như vậy, với năng lực tam muội như vậy.
Lại càng đáng ngạc nhiên hơn nữa, với số chúng đệ tử
đông đảo như thế, không có ai ước nguyện thành Phật,
để tiếp nối sự nghiệp của Phật, làm con mắt cho thế
gian. Không lẽ chúng đệ tử của Phật là tập hợp những
người tự thấy mình thấp kém, không đủ ý chí hùng mạnh
để có thể đi con đường trải dài vô lượng kiếp như
Phật.
Nhưng
Xá-lợi-phất xuất hiện trong Pháp hoa lại là một nhân cách
khác hẳn thường thấy. Không chỉ Xá-lợi-phất, mà tất
cả các đại đệ tử, đều cho thấy tất cả đều là nhân
cách đặc biệt, tất cả đều muốn thành Phật, với đức
từ bi và trí tuệ như Phật. Và như vậy, cái địa vị vô
học của các Đại Thanh văn ấy không hoàn toàn có nghĩa là
không còn gì phải tu và phải học nữa. Còn vô lượng sở
tri chướng, chưa đoạn trừ. Còn vô lượng vô biên Phật
pháp cần phải học.
Thắng
Man phu nhân hiểu rằng Phật không chỉ dạy đệ tử của
Ngài ngang đó là hết. Cho nên, đối với Phu nhân, sự an lạc
mà vị A-la-hán đạt được không phải là an lạc tuyệt đối;
mặc dù có lẽ Phu nhân chưa hề có kinh nghiệm thực chứng
về trạng thái an lạc của một A-la-hán. Phu nhân nói: «A-la-hán
và Bích-chi-Phật không thành tựu hết thảy công đức; nói
rằng chứng đắc Niết-bàn, đó là phương tiện của Phật.»
Điểm
trọng yếu trong trình bày của Thắng Man để nhận biết điều
mà một vị Thanh văn phát biểu khi chứng quả A-la-hán rằng
«sự sinh của ta đã hết…» không phải là phát biểu trọn
vẹn, vì «A-la-hán còn có sinh pháp tàn dư chưa diệt tận,
…; còn phải tái sinh nhiều đời nữa»; điểm trọng yếu
đó là A-la-hán và Bích-chi-Phật còn có rất nhiều điều
chưa hiểu hết. Làm sao các vị này có thể có mười năng
lực, bốn điều không do dự, ba niệm trụ bất cọng, và
một tâm đại bi như các đức Phật Thế Tôn? Điều đó có
nghĩa là tầm nhìn của các vị ấy vẫn đang bị bao phủ,
ngăn che bởi một màn vô minh rất vi tế.
Tất
nhiên vô minh là chi được kể đầu tiên trong 12 chi duyên
khởi, và khi vị Thánh đệ tử chứng quả A-la-hán, đã dứt
sạch cội nguồn sinh tử, thì vô minh không còn tồn tại.
Nhưng vô minh là gì? Đó như là trường hợp một y sỹ không
tinh thông y học. Vậy tại sao A-la-hán và Bích-chi-Phật đã
đoạn trừ vô minh hữu lậu rồi mà lại còn nhiều điều
chưa biết đến thế? Nghĩa là, vẫn còn một lớp mờ vô
minh đang bao che các vị ấy. Thắng Man phu nhân gọi đó là
vô minh trụ địa; là mảnh đất được xông ướp bởi vô
minh.
Phu
nhân nói:
«Bạch
Thế Tôn, lại nữa, cũng như thủ là duyên, nghiệp hữu lậu
là nhân sinh ra ba hữu; cũng vậy, vô minh trụ địa là duyên,
nghiệp vô lậu là nhân sinh ra ba loại ý sinh thân của A-la-hán,
Bích-chi-Phật, và Đại lực Bồ tát.»
Ba
loại ý sinh thân vừa dẫn trên được trình bày chi tiết
bởi Phật tính luận[171] như sau:
Ba
hàng Thánh nhân, Thanh văn, Độc giác và Đại lực Bồ tát,
đã vượt ngoài tam giới, an trụ trong cảnh giới vô lậu,
nhưng còn bốn thứ oán chướng chưa được giải quyết. Bốn
oán chướng đó là:
1.
Phương tiện sinh tử. Đó là vô minh trụ địa có khả năng
làm phát sinh nghiệp vô lậu mới. Vì không phát sinh kết quả
đồng loại, nên gọi là phương tiện sinh tử. Tức là, tự
thể của vô minh vốn bất tịnh nhưng nghiệp vô lậu lại
tịnh.
2.
Nhân duyên sinh tử. Đó là nghiệp vô lậu được phát sinh
bởi vô minh trụ địa. Vì làm phát sinh kết quả đồng loại
nên gọi là nhân duyên sinh tử.
Phương
tiện sinh tử được ví với địa vị phàm phu. Nhân duyên
sinh tử được ví với địa vị Thánh giả Tu-đà-hoàn trở
lên.
3.
Hữu hữu sinh tử. Sinh tử với thân hậu hữu còn tồn tại.
Đó là ý sinh thân của ba hạng Thánh nhân. Vì còn phải tái
sinh một đời nữa mới nhập Niết-bàn.
4.
Vô hữu sinh tử. Vô hữu ở đây được hiểu là không tồn
tại thân hậu hữu. Đây là thân tối hậu của ba hạng Thánh
nhân.
Cho
nên, vô minh trụ địa là mảnh đất y chỉ của tất cả
phiền não. Vô minh là căn bản của mọi mê hoặc. Căn bản
chưa diệt sạch, còn bị xông ướp bởi mùi xú uế, cho nên
A-la-hán, Bích-chi-Phật và Đại lực Bồ tát không thể đạt
đến đại tịnh ba-la-mật không chút ô nhiễm.
Bốn
hình thái sinh tử vừa dẫn trên cũng được giải thích chi
tiết hơn trong Nhiếp Đại thừa.[172]
Bồ
tát Sơ địa[173] đã diệt trừ được ba chướng ngại:[174]
diệt trừ loại vô minh khiến phân biệt ngã và pháp; và vô
minh gây hành nghiệp dẫn vào ác đạo; hai loại vô minh này
dẫn đến phương tiện sinh tử, gọi là thô trọng báo. Nhưng
còn có chướng ngại chưa vượt qua được; đó là chưa thể
thông suốt hết những điều vi phạm giới luật vi tế trong
Bồ tát giới, nên hành vi còn có chỗ lỗi lầm. Ở đây có
hai loại vô minh. Một, vô minh chướng ngại nhận thức khiến
không thấy những sai phạm lỗi lầm vi tế. Hai, vô minh chướng
ngại nhận thức khiến tạo tác hành nghiệp với nhiều hình
thái sai biệt. Hai loại vô minh trên đây dẫn đến phương
tiện sinh tử, được gọi là thô trọng báo, quả báo thô
và nặng. Nhờ nỗ lực không ngừng, Bồ tát Sơ địa cuối
cùng vượt qua được các thứ chướng ngại này, chứng nhập
Đệ nhị địa.
Bồ
tát Đệ nhị địa[175] thành tựu tám phẩm chất thanh tịnh:
1. thanh tịnh do đức tin; 2. thanh tịnh do tâm; 3. thanh tịnh
do ba-la-mật; 4. thanh tịnh do từ bi; 5. thanh tịnh do thấy Phật,
phụng sự Phật; 6. thanh tịnh do thành thục chúng sinh; 7. thanh
tịnh do thọ sinh; 8. thanh tịnh do uy đức. Sau đó càng tiếp
tục tu tập lên cao trên các địa cao hơn, thì tám phẩm chất
này càng trở nên thù thắng. Nhưng Bồ tát Đệ nhị địa
còn tồn tại những chướng ngại cần phải vượt qua. Đó
là chưa thể hoàn toàn chứng đắc các loại thiền định
thuộc thế gian, và cũng thiếu năng lực nghe và ghi nhớ đầy
đủ các đà-la-ni. Do hai loại vô minh. Một, dục ái vô minh,
khiến còn khát vọng tái sinh Dục giới. Hai, vô minh gây chướng
ngại không thể nghe và ghi nhớ đầy đủ hết thảy các đà-la-ni.
Hai loại vô minh này dẫn đến phương tiện sinh tử, được
gọi là thô trọng báo. Vượt qua ba chướng ngại này, Bồ
tát chứng nhập Đệ tam địa.
Bồ
tát Đệ tam địa[176] đã có thể chứng đắc đầy đủ các
loại thiền định thế gian, cho đến có thể thông đạt ý
nghĩa thắng lưu của pháp giới.[177] Nhưng còn bị chướng
ngại để không thể một cách như ý an trụ lâu trong các
phẩm trợ đạo[178] vừa chứng được; cũng không thể dẹp
bỏ tâm còn ưa lạc thú trong các thiền định, các đẳng
trì và đẳng chí. Đó là do vô minh gây ái lạc đối với
các loại thiền định hay định lạc vô minh, và vô minh khiến
ái lạc đối với các pháp đang được thực hành hay pháp
ái vô minh. Hai loại vô minh này dẫn đến phương tiện sinh
tử, gọi là thô trọng báo. Vượt qua những chướng ngại
này, nhập Đệ tứ địa.
Bồ
tát Đệ tứ địa[179] đã có thể an trụ như ý các phẩm
trợ đạo thông đạt ý nghĩa vô nhiếp của pháp giới.[180]
Chướng ngại ở đây là, Bồ tát chính thức tu quán bốn
Thánh đế, đối với sinh tử - Niết-bàn mà chưa thể xả
ly, tâm một mực trực hướng, nhất quyết xả ly sinh tử,
trực nhập Niết-bàn, chưa được tu tập các đạo phẩm của
Bồ tát được bao gồm trong bốn thứ phương tiện.[181] Đây
là do hai loại vô minh: trực hướng vô minh, và chướng đạo
phẩm vô mimh. Hai loại vô minh này dẫn đến nhân duyên sinh
tử, gọi là thô trọng báo.
Đệ
ngũ địa,[182] đã xả ly tâm trực hướng, thông đạt ý nghĩa
tương tục bất dị của pháp giới. Trong địa này, Bồ tát
chưa có khả năng chứng nhập một cách như lý dòng tương
tục sinh khởi của các hành pháp, còn xu hướng tu tập nhiều
về nhàm tởm các dấu hiệu của pháp hữu vi, và cũng chưa
thể an trụ lâu dài một cách tùy ý trong tư duy vô tướng.
Đó là do vô minh về dòng tương tục sinh khởi của các hành
pháp, và vô minh về khởi động thường xuyên các ý tưởng
hữu tướng. Hai loại vô minh này đưa đến nhân duyên sinh
tử, gọi là thô trọng báo. Diệt được ba chướng này, nhập
địa thứ sáu.
Đệ
lục địa,[183] thông đạt ý nghĩa pháp giới vô nhiễm tịnh.[184]
Nhưng còn ba chướng ngại khác cần diệt trừ. Do còn có vô
minh gây chướng ngại cho sự thoát ly hiện khởi hiện hành
các dấu hiệu vi tế của các pháp hữu vi. Do còn vô minh gây
chướng ngại cho sự an trụ lâu dài tùy ý trong tư duy vô
tướng, vô lậu, vô ngại. Hai vô minh này dẫn đến nhân duyên
sinh tử. Vượt qua ba chướng ngại này, chứng nhập địa
thứ bảy.
Đệ
thất địa, Bồ tát thông đạt ý nghĩa vô sai biệt của các
chủng loại pháp của pháp giới. Nhưng chưa thể rời bỏ
tâm gia công tích cực mà vẫn an trụ trong sự tu tập vô tướng.
Cũng chưa thể đạt đến trình độ tự tại của tâm trong
các dấu hiệu tự lợi, lợi tha. Hai loại vô minh này dẫn
đến hữu hữu sinh tử.
Đệ
bát địa, có thể an trụ trong sự tu vô tướng mà không cần
dụng công, cho đến, thông đạt ý nghĩa không tăng không giảm
của pháp giới. Nhưng còn vô minh khiến không thể ngay trong
lúc đang thuyết pháp bằng vô lượng danh từ, cú pháp, văn
nghĩa mà khéo léo giải đáp, giải thích một cách tự tại
các đà-la-ni; và còn loại vô minh gây chướng ngại cho giải
đáp quyết nghi dựa trên bốn vô ngại giải. Hai vô minh này
dẫn đến hữu hữu sinh tử.
Đệ
cửu địa,[185] thành tựu tất cả biện tài vô ngại, cho
đến, thông đạt ý nghĩa y chỉ trí một cách tự tại.[186]
Trong địa này, Bồ tát còn bị chướng ngại bởi hai loại
vô minh: vô minh che lấp trí tuệ thực hiện sáu thần thông
và vô minh cản trở sự thâm nhập vi tế bí mật Phật pháp.
Hai vô minh này dẫn đến hữu hữu sinh tử.
Đệ
thập địa,[187] với tám công đức thanh tịnh[188] liên tục
phát triển qua các địa cho đến bây giờ, do diệt trừ các
vô minh ở địa thứ chín nên có thể thuyết trình một cách
chính xác về Pháp thân viên mãn, và cũng phát triển đầy
đủ trí tuệ thực hiện sáu loại thần thông, thông đạt
ý nghĩa y chỉ nghiệp một cách tự tại.[189] Ở đây, do vi
tế trước vô minh đối với sở tri cảnh cho nên Bồ tát
chưa có trí kiến vô ngại để có thể nhận thức tất cả
mọi cảnh giới sở tri. Và do vi tế ngại vô minh đối với
hết thảy cảnh giới sở tri nên chưa thể chứng đắc Pháp
thân viên mãn thanh tịnh. Hai loại vô minh này dẫn đến vô
hữu sinh tử.
Trong
cả bốn trường hợp, sự tái sinh từ phàm phu cho đến Thập
địa thảy đều được tác động bởi hai yếu tố chính:
vô minh và nghiệp. Nếu nhìn theo dòng thời gian tuyến tính,
thì đó là hai chi tiếp nối trong quá khứ, vô minh và hành,
dẫn đến các kết quả trong hiện tại. Nhưng nếu nhìn từ
quan điểm đồng thời thì một có tự thể là vô minh tức
phiền não và một có tự thể là nghiệp.
Bởi
vì, trước hết 12 chi duyên khởi được nhận thức từ thời
gian tuyến tính, cho nên để cho cả 12 chi lần lượt phát
huy tác dụng, cần một thời hạn cực tiểu nào đó. Và đó
là quá trình tạo ra sinh tử phần đoạn, từ sống cho đến
chết cần một khoảng cách thời gian tối thiểu.
Nhưng
nếu, vô minh và nghiệp là yếu tố tác động đồng thời.
Và như vậy chúng tạo ra một dòng sống chết liên tục trong
từng sát-na. Đó là sinh tử biến dịch bất tư nghị. Không
thể hình tượng một cách hợp lý mà không vi phạm các quy
tắc của tư tưởng.
Tất
cả chúng sinh đều chịu cả hai trạng thái sinh tử cùng lúc.
Nhưng chỉ có thể kinh nghiệm được sự sống và sự chết
trong một quảng hạn kỳ thời gian nào đó. Để chấm dứt
nỗi sợ hãi, những đau khổ gây ra bởi sinh tử phần đoạn,
Phật chỉ con đường dẫn đến Niết-bàn. Phải chăng Niết-bàn
này thấp kém? Thắng Man phu nhân đã phát biểu: do pháp không
có hơn và kém mà chứng đắc Niết-bàn. Vậy ý nghĩa Niết
bàn chân thực, Niết-bàn vô dư là thế nào?
Bồ
tát đệ bát địa và A-la-hán cũng đồng chứng vô ngã, và
cùng trạng thái hay cảnh giới Niết-bàn. Nhưng Bồ tát đệ
bát địa không quên bản nguyện của mình, do đó không có
ý hướng nhập Niết-bàn. Đối với vị ấy, khi phiền não
được diệt tận, không thấy có gì giảm; khi trí Bồ-đề
thành, không thấy có gì tăng. Ở địa vị hữu cấu mà không
cảm thấy là bẩn; ở địa vị vô cấu mà không cảm thấy
là sạch. Tất cả những sự thông đạt bất tăng bất giảm
ấy đều y trên đại nguyện. Và do đó, ở địa này, Bồ
tát thành tựu nguyện ba-la-mật.
Như
vậy, A-la-hán, Bích-chi-Phật và Đại lực Bồ tát, nhìn từ
ngoại hiện, mỗi vị theo một hướng đi riêng biệt, nhưng
trong thực chất, trong tự tính vô ngã, các Niết-bàn mà các
vị ấy chứng đắc đều đồng nhất. Vì sinh tử và Niết-bàn
không phải là hai cảnh giới riêng biệt. Kinh Lăng-già[190]
nói: «Do sợ hãi về nỗi khổ vọng tưởng đối với sinh
tử mà họ đi tìm kiếm Niết-bàn. Sinh tử và Niết-bàn vốn
không sai biệt, vì tất cả tồn tại vốn hư vọng, phi hữu.
Khi thấy các căn biến mất trong cảnh giới tương lai, này
Đại Tuệ, chúng vọng tưởng là niết-bàn; nhưng không biết
rằng cái biến mất đó là A-lại-da, là kho tàng của nhận
thức nội tại, đã được chuyển y từ trước.»
Thắng
Man phu nhân cũng nói:
«Bạch
Thế Tôn, A-la-hán và Bích-chi Phật có sự sợ hãi; cho nên
A-la-hán và Bích-chi-Phật vì còn sinh pháp tàn dư chưa diệt
tận nên còn có sự sinh; vì phạm hạnh dư tàn chưa thành
tựu nên không thuần nhất; vì phận sự không cứu cánh nên
còn có những điều cần làm; vì chưa vượt qua cái kia nên
còn có những cái phải đoạn trừ. Vì không đoạn trừ nên
các Niết-bàn giới còn xa. Vì sao vậy? Duy chỉ có đức Như
Lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác mới chứng đắc Niết-bàn,
vì đã thành tựu hết thảy công đức. A-la-hán và Bích-chi
Phật không thành tựu hết thảy công đức; nói rằng chứng
đắc Niết-bàn, đó là phương tiện của Phật.»
Đối
với tư tưởng Thắng Man, chỉ có một Thừa duy nhất chân
thật, đó là Phật thừa; chỉ một Thánh đế duy nhất, đó
là Diệt đế, tức Niết-bàn của Phật. Và do đó, cũng chỉ
có một sở y duy nhất, một sự quy y duy nhất, đó là quy
y Phật.
Thắng
Man phu nhân nói:
Tất
nhiên, cả bốn Thánh đế đều là những sự thực tối thượng.
Nhưng trong quan điểm của Thắng Man, chỉ có một Diệt đế,
là chân lý về sự diệt tận đau khổ, diệt tận tất cả
nguyên nhân thống khổ, mới là sự thật tuyệt đối, là
chân lý của tất cả chân lý.
Từ
phương pháp luận, như đã biết, thì bốn Thánh đế luôn
luôn là bốn, và sự thực lúc nào cũng là bốn, có Phật
hay không có Phật cũng không thể khác đi được. Nhưng, từ
góc độ thời đại, từ cơ sở của triết lý hành động,
thì đây là điểm xác nhận rằng tiêu chuẩn để đánh giá
sự thật phải là sự cảm nghiệm về hạnh phúc. Nói cách
khác, chân lý chỉ được chấp nhận như là sự thực có
giá trị nếu nó đem lại cho con người và xã hội loài người
nguồn hạnh phúc vô biên.
Và
cũng với ý nghĩa như vừa nói, cũng chỉ có một sở y duy
nhất mà thôi.
Trong
bất cứ giới hạn nào của trình độ nhận thức, mục đích
cuối cùng trong đời sống của mọi chúng sinh là hạnh phúc.
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, là những hình thái thượng
tầng của một động cơ duy nhất, đó là khát vọng hạnh
phúc. Nhưng Thắng Man phu nhân nói: «Trên tất cả mọi sở
y, sở y chân thật, tuyệt đối là diệt đế.» Đó cũng là
Diệt đế.
Từ
sự xác định diệt đế vô tác là sự thật tuyệt đối,
là sở y duy nhất, Thắng Man phu nhân khai triển bản chất
hư ngụy của sinh tử. Theo đó, tất cả mọi hình thái đau
khổ của sanh tử chỉ là những bóng hư ngụy do tác động
của các ô nhiễm mà được phản chiếu từ Như Lai tạng.
Cho dù hạnh phúc là sự thật tuyệt đối. Thắng Man phu nhân
nói: «Như Lai tạng vốn đầy đủ tất cả Phật pháp, vốn
không lìa, không đoạn, không thoát, không dị, không thể nghĩ
bàn.»
[157]
Gaṇḍa, tr. 102ff.: Indriyeśvara-dāraka, Hán có bản đọc là
Indreśvara-dāraka. Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 704b 13ff: Thích
Thiên Chủ (Skt. Indreśvara); Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 350b18ff:
Tự Tại Chủ (Skt. như bản 60); Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr.
704a 2: Căn Tự Tại (Skt. như Gaṇḍa)
[158]
Gaṇḍa, tr. 102.6: śramaṇamaṇḍalejanapade sumukhaṃ nagaraṃ,
thành phố Sumukha ở vương quốc Śramaṇamaṇḍala (các bản
Hán đọc là Śravaṇamaṇḍala). Hoa nghiêm (Phật), Đại 9,
tr. 704b13: Thâu-na quốc; Hoa nghiêm (Thật), Đại 10 tr. 350b18:
Đa văn quốc; Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr. 704a 1: Viên mãn
đa văn quốc, Diệu môn thành.
[159]
Duy-ma-cật «Phẩm Phật quốc» Đại 14, tr. 538c6.
[160]
Sadd, tr. 32.25: mātsaryadoṣo hi mahyaṃ spṛśitva bodhiư virajāṃ
viśiṣṭàm/ yadi hīnayānasmi pratiṣṭhapeyam ekaṃ pi sattvaṃ
na mametu sādhu. «Sau khi chứng đắc trí giác tối thắng, siêu
việt, nếu Ta an lập dù chỉ một chúng sinh trong Tiểu thừa;
Ta như vậy có khuyết điểm là keo kiệt.» Cf. Pháp hoa, «Phẩm
phương tiện», Đại 9, tr. 8a25.
[161]
Câu-xá luận, quyển 22, Đại 29, tr. 114a15.
[162]
Đại trí độ 94, tr. 719a 1: «(Kinh Bát nhã nói) sau khi chứng
đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề, vì chúng sinh mà thuyết
bốn Thánh đế… khai thị, phân biệt hết thảy thiện pháp
trợ đạo, thảy đều nhập vào trong bốn Thánh đế.»
[163]
Dẫn và giải bởi Đại trí độ 94, tr. 719a 14.
[164]
Đại trí độ quyển 94, dẫn kinh văn và giải thích; Đại
25, tr. 719a14.
[165]
Câu-xá 23, tr. 121c9: «Lần lượt 16 tâm (tám nhẫn, kṣānti,
và tám trí, jñāna, do quán bốn Thánh đế mà đạt được),
gọi chung là Thánh đế hiện quán (satyābhisamaya)».
[166]
Câu-xá luận, Đại 29, tr. 119b15.
[167]
Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 555c11; Hoa nghiêm (Thật), Đại
10, tr. 191b13: Mười tâm thanh tịnh bình đẳng. Daśa, tr. 27.3:
sa daśabhiś cittāśayaviśuddhisamantābhir avatarati (…) yaduta atītabuddha-dharmaviśuddhyāśayasamantayā
ca anāgata buddhadharma- viśuddhyāśayasaman-tayā ca pratyutpannabuddhadharma-viśuddhyāśayasamantayā
ca śīlaviśudhyāśayasamantayā ca citta-viśuddhyāśayasamantayā
ca dṛṣṭikāṅkṣāvimativilekhāpanayana-viśuddhyāśayasamantayā
ca mārgāmāgajñānaviśuddhy āśaya-samantayā ca pratipatprahāṇajñāna
viśuddhyāśayasamantayā ca sarvabodhipakṣyadharmottarottaravibhāvanaviśuddhyāśaya
saman ayā ca sarvasattvaparipācanaviśuddhy āśaya samantayā ca.
[168]
Rừng cây Siṃsapā ở Kosambī. Cf. Samyutta, vol. v (PTS), tr. 437.
[169]
Thành duy thức 10, tr. 54b7: «Niết bàn nghĩa có bốn thứ: 1.
Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn (prakṛti-svabhāva-pariśuddha-nirvāṇa),
chỉ lý tính Chân như của tất cả mọi biểu hiện của pháp…ở
đây, mọi tư duy đều bịt lối, mọi con đường ngôn ngữ
đều bị đđoạn tuyệt; duy chỉ là sở chứng nội tại của
Chân Thánh giả; 2. Hữu dư y Niết-bàn (sopadhiśeṣa-nirvāṇa):
Chân như (bhūtatathatā) đã xuất ly phiền não chướng, nhưng
còn sở y (upadhi) của khổ vi tế chưa được diệt trừ…;
3. Vô dư y Niết-bàn (nir-upadhiśeṣa-nirvāṇa): Chân như đã
thoát ly sinh tử, phiền não đã tận, dư y cũng diệt, mọi
nỗi khổ đều vắng bặt; 4. Vô trụ xứ Niết-bàn (apratiṣṭhita-nirvāṇa):
Chân như xuất khỏi sở tri chướng (jñeyāvaraṇa), luôn luôn
vận chuyển với hai cánh đại bi và đại trí cho nên không
chìm trong sinh tử cũng không an trụ Niết-bàn…»
[170]
Trường «18. Kinh tự hoan hỷ»; Đại 1, tr. 76. Cf. D. 28 Sampadānīya;
D.iii (PTS), tr. 99-116.
[171]
Phật tính luận, quyển 2, Đại 31, tr. 799a6-b4. Tham khảo thêm
Sūtrālaṅ, tr. 169.14: catur vidhā bodhisattvānām upapattiḥ karmādhipatyena
yādhimu-kticaryābhūmisthitānāṃ karmavaśenā-bhipretasthànopapattiḥ
praṇidhāna-vaśena yā bhūmipraviṣṭānāṃ sarvasattvaparipācanārthaṃ
tirthagādihīna-sthānopapattiḥ/ samādhyādhipatyena yā dhyānāni
vyāvartya kāmadhātāv upapattiḥ/ vibhutvādhipatyena yā nirmāṇais
tuṣitabhavanādy upattisaṃ-darśanāt, «Có bốn hình thái thọ
sinh khác nhau của Bồ Tát: 1. Do ảnh hưởng của nghiệp, những
vị thuộc tín hành địa thọ sinh tùy theo sự chi phối của
nghiệp lực; 2. Tùy theo nguyện, những vị đã chứng nhập
Bồ Tát địa nhưng vì muốn thành thục hết thảy chúng sinh
nên thọ sinh vào các chỗ thấp kém như súc sinh; 3. Do năng
lực thiền định, những vị sau khi xả các định thọ sinh
xuống Dục giới; 4. Do uy lực thần thông, những vị do biến
hóa có thể xuất hiện thọ sinh những cõi như Đâu-suất
v.v…»
[172]
Nhiếp luận thích (Chân) 10, Đại 31, tr. 225c23. (hai bản Hán
khác không có đoạn giải thích này).
[173]
Cf. Sūtrālaṅ, tr. 174: paśyatāṃ bodhim āsannāṃ sattvārthasya
ca sādhanaṃ/ tīvra upadyate modo muditā tena kathyate; «thấy rằng
đang tiếp cận trí giác và đã thành tựu chúng sinh, một
niềm hoan hỷ thâm sâu dấy lên; do đó được gọi là Hoan
hỷ địa.»
[174]
Đây gọi là ba chướng của Bồ Tát: hai loại vô minh đầu
tương đương hai chướng, theo thứ tự: phiền não chướng
(kleśāvaraṇa), nghiệp chướng (karmāvaraṇa); thứ ba là báo
chướng (vipākāvaraṇa). Các chướng ngại này cản trở tu
tập Thánh đạo.
[175]
Sūtrālaṅ, 174 : dauḥśīlyamalasyānyayānamanasikāramalasya cātikramād
vimalety ucyate, «Do ly nhiễm đối với sự phạm giới và sự
có ý nghĩa sang Thừa khác nên được gọi là Ly cấu địa.»
[176]
Sūtralaṅ, tr. 174: …samādhibalenàpramāṇadharmaparyeṣaṇadhāra-ṇāt
mahāntaṃ dharmāvabhāsaṃ pareṣāṃ karoti (prabhākarī), «bằng
năng lực chánh định, tìm cầu đại pháp để rọi sáng những
người khác (nên được gọi là Phát quang địa).»
[177]
«Pháp giới thắng lưu nghĩa», Luận đoạn trước (Đại 31,
tr. 222b3): «Do duyên Chân như mà khởi trí vô phân biệt. Vô
phân biệt trí là dòng chảy phát xuất từ Chân như. Trí này
tối thắng trong các trí.»
[178]
Chỉ 37 phẩm trợ đạo, tức các thành của Bồ-đề hay trí
giác. Skt. saptatriṃśad bodhipākṣikā dharmāḥ.
[179]
Sūtrālaṅ, xxi.34, tr. 174: arcir bhūtā yato dharmā bodhi-pakṣāḥ/
arciṣmatīti tad yogāt sā bhūmir dvayadāhataḥ; «cái tia sáng
chân thật làm rực sáng các pháp bồ-đề phần, cái đó được
gọi là ‹ánh lửa của tuệ› (arciṣmati: diệm tuệ). Vì
vậy, địa này có hai sự cháy sáng.»
[180]
Nhiếp luận thích, đã dẫn trên : «Bồ Tát tìm thấy ý nghĩa
vô nhiếp trong thắng Chân như và pháp được lưu xuất từ
Chân như. Nghĩa là, pháp này không thuộc về ta, cũng không
thuộc về kẻ khác. Vì sao? Tự, tha và pháp, cả ba ý nghĩa
này đều bất khả đắc.» Bản Huyền Tráng, Đại 31, tr.
358a2: «vô nhiếp thọ nghĩa.»
[181]
Tứ phương tiện (Skt. prayoga), cũng thường dịch là gia hành,
chỉ bốn dấu hiệu phát sinh khi dụng công thêm để bước
vào Thánh đạo: noãn (Skt. uṣma), hơi nóng của Thánh đạo
vô lậu phát sinh; đỉnh (Skt. mūrdha), phát triển cao độ như
lên đến đỉnh đầu; nhẫn (kṣānti), khả năng chấp nhận
các dấu hiệu của Thánh đế; thế đệ nhất (Skt. agradharma),
đỉnh cao nhất của thế gian- Kośa, kārikā vi. 17-20.
[182]
Sūtrālaṅ, xxi.35, tr. 174: sattvānaṃ paripākaś svacittaysa ca
rakṣaṇā dhīmadbhir jāyate duḥkhaṃ durjayā … «giáo hóa
chúng sinh và tự hộ tâm mình, bằng hiền trí mà chiến thắng
đau
khổ, Nan thắng địa.»
[183]
Sūtrālaṅ, xxi.36: ābhimukhyād dvyasyeha saṃsārasyāpi nirvṛteḥ/
uktā hy abhimukhī bhūmiḥ prajñāpāramitāśrayāt. «Do năng lực
Bát-nhã ba-la-mật mà sinh tử và niết bàn đều hiện tiền
nên gọi là Hiện tiền địa.»
[184]
Nhiếp luận thích (Huyền), Đại 31, tr. 385b11: «Bản lai không
tạp nhiễm, vì tự tính vốn vô nhiễm. Đã không nhiễm, tức
cũng không thanh tịnh. Nhận thức được như vậy thì nhập
Thất địa.»
[185]
Sūtrālaṅ, xxi.38, tr. 174: pratisavinmatisādhutvāt bhūmiḥ sādhumatī
matā, «Do công năng của tuệ vô ngại mà địa này được
gọi là Thiện tuệ địa.»
[186]
Nhiếp luận thích (Huyền), Đại 31, tr. 385b22: «Ý nghĩa y chỉ
trí tự tại, pháp giới này là sở y tự tại của trí vô
ngại biện (pratisaṃvin-mati).»
[187]
Sūtrālaṅ, xxi.37, tr. 174: dharmameghà dvayavyāpter dharmā-kāśasya
meghavat. «Do sung mãn cả hai (các tam-muội môn và đà-la-ni
môn) như bầu trời pháp đầy mây, nên nói là Pháp vân địa.»
[188]
Đã nói ở trên, trong đệ nhị địa.
[189]
Nhiếp luận thích (Huyền), Đại 31, tr. 358b24: «…Pháp giới
này là sở y tự tại của nghiệp, và sở y tự tại của
các đà-la-ni, tam-ma-địa môn. Nhận thức được như vậy,
vào Thập địa.»
[190]
Laṅkā, 27.4: …saṃsāravikalpaduḥkhabhayabhītā nirvāṇam anveṣante/
saṃsāranirvāṇayor aviṣeśajñāḥ sarvabhāvavikalpā-bhāvād
indriyāṇām anāgataviṣayoparamāc ca mahāmate nirvāṇā-ṇaṃ
vikalpayanti naprat-yātmagati vijñānālayaṃ parāvṛtti-pūrvakaṃ
…. Lăng-già, Đại 16, tr. 597a15.