CHƯƠNG
VI:
CỨU
CÁNH CỦA BỒ TÁT ĐẠO
TIẾT
1: TÌNH YÊU VÀ TRI THỨC
I.
BI TRÍ SONG VẬN
Từ
bi và trí tuệ, đó là hai bánh xe vận chuyển của cỗ xe Đại
thừa, đưa đến mục đích tối thượng, đưa đến chỗ giác
ngộ cứu cánh Nhất thừa. Như lời củaThiện Tài Đồng tử
khẩn thiết thỉnh nguyện Bồ tát Văn-thù chỉ cho con đường
đi đến giác ngộ cứu cánh: «Biết rõ phương thức vận
dụng nghiệp, lão luyện ruỗi cỗ xe pháp; quyết định trong
các trí tuệ thừa; xin Người chỉ con cỗ xe trí giác. Với
mong cầu và ước nguyện là vành bánh xe; với nhẫn là chốt,
bi là trục xe; và được trang hoàng bằng các bảo châu của
tín; xin Người chỉ con cỗ xe trí giác.»[103]
Và
cũng như lời Bồ tát Đại Tuệ tán thán Phật trong kinh Lăng-già
mà chúng ta đã dẫn ở trên: Bằng Bi và Trí, mà Bồ tát biết
rõ bản chất của thế gian, là sinh diệt hay không diệt; là
hiện hữu hay không hiện hữu.[104]
Và
Đại thừa trang nghiêm kinh luận[105] cũng nói: Bồ tát phát
tâm, lấy đại bi làm gốc rễ.
Tất
cả tình yêu, dù lớn hay nhỏ, dù ta gọi đó là đại bi,
hay lân mẫn, hay ai mẫn, hay lân tuất; dù gọi là gì đi nữa,
tất cả đều bắt đầu bằng sự rung động. Trước đại
dương mênh mông của máu và nước mắt; trước những cuồng
phong, lửa dữ của tham lam và thù hận; trước những dòng
xoáy kinh hoàng của sinh tử, của biến dịch vô thường, tất
cả đều bị dao động, bị chấn động mạnh. Với những
kẻ hèn yếu, không tìm thấy lối thoát, tự thấy mình bất
lực, thì hoặc tự trang bị những mẫu lý luận vụn vặt
để chối bỏ hiện thực, hoặc tự vẽ cho mình một thiên
đường huyễn hoặc. Những người ấy thiếu cả hai: thiếu
sự rung động của trái tim và thiếu sự nhạy bén của trí
não.
Có
những con người khác; và ở đây chúng ta hãy nhắc đến
Thiện Tài đồng tử, trong lúc đang tham quan thành phố Ca-tỳ-la-vệ
để học đạo nơi người con gái họ Thích.[106] Thiện Tài
tự giới thiệu mình với vị thiên thần ở hội trường
của Bồ tát:[107] «Thưa Thánh giả, tôi tìm thấy niềm vui
tuyệt vời khi đi dập tắt ngọn lửa phiền não thiêu đốt
chúng sinh.»[108] Tại sao thế? Bồ tát khi lên đường, khi
buớc vào Thánh đạo, không phải đang đi dạo một hoa viên
tráng lệ. Bồ tát khởi hành từ một tấm lòng thương cảm
xót xa, vô cùng xót xa, vì trái tim rung động trước vô vàn
thống khổ của chúng sinh. Thiện Tài nói tiếp: «Thưa Thánh
giả, vì tất cả chúng sinh đang bị nhận chìm trong biển
đời với vô lượng thống khổ, nên chư Bồ tát dấy lên
mối thương cảm, phát khởi đại nguyện muốn ôm trọn cả
thế giới vào lòng.»[109] Và vị thiên thần Viện trưởng
Nhạc viện Bồ tát này tưởng thưởng: «Khi nhìn thấy thế
gian này bị trùm kín trong nhận thức điên đảo tối tăm,
người đã dâng lên mối rung động mãnh liệt, đã bước
lên đường vô sư đạo.»[110]
Trong
quá trình tu chứng, dù ở Tiểu thừa hay Đại thừa, trí tuệ
vẫn là yếu tố quyết định.[111] Điều này cũng đã được
Tôn giả Mãn Từ Tử trình bày với Ngài Xá-lợi-phất: Mục
đích giới là để tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh là để
kiến hay nhận thức thanh tịnh; cho đến, để đạt được
tri kiến thanh tịnh. Chỉ với tri kiến thanh tịnh mới chứng
đắc vô thủ trước niết-bàn.[112]
Trí
tuệ có thể được thành tựu do một quá trình chiêm nghiệm
lâu dài, bằng sự quan sát. Quá trình chiêm nghiệm này có
thể dựa trên năng lực tu tập thiền định. Nhưng nó cũng
có thể được thực hiện ngay trong mọi môi trường sinh hoạt.
Nói
cách cụ thể như kinh Kim cang, trí tuệ cứu cánh có thể được
thành tựu chỉ do trải qua quá trình thành tựu bố thí,[113]
là điều mà bất cứ tại gia cư sỹ nào cũng làm được.
Tức là, với sự bố thí về tài sản mà bố thí ba-la-mật
được thành tựu, với sự bố thí về vô úy mà giới ba-la-mật
và nhẫn ba-la-mật được thành tựu, và với sự bố thí
về pháp mà tinh tấn ba-la-mật, định ba-la-mật và tuệ ba-la-mật
được thành tựu.
Tất
cả những điều ấy đều chỉ chung một ý nghĩa rằng trí
tuệ được thành tựu mà không phát xuất từ những quan hệ
thực tiễn của sự sống, từ những nhận thức sâu sắc
về đau khổ và hạnh phúc của tất cả chúng sanh, thì đó
chỉ mới là sự thành tựu cục bộ và phiến diện. Ý nghĩa
ấy thực sự muốn nói rằng cái hiểu biết chân chính, nhạy
bén, và sâu sắc, là sự hiểu biết bằng trái tim đầy nhiệt
tình của tình yêu rộng lớn.
Một
người khi bưng bát nước để uống, bằng vào phương tiện
của khoa học để rọi lớn tầm mắt có thể thấy hàng triệu
chúng sanh trong đó. Trái lại, một người khác chỉ bằng
đôi mắt thịt, nhưng với một trái tim bén nhạy của tình
yêu, còn thấy nhiều hơn thế nữa, không chỉ thấy các chúng
sanh ấy sống còn như cát bụi vô tình, mà thấy rõ tất cả
khát vọng sinh tồn của chúng, thấy những đấu tranh khốc
liệt để sống còn trong từng sát-na của từng sinh vật bé
bỏng. Thấy như vậy là thấy rõ thực chất của sự sống,
thấy từ động cơ thúc đẩy, từ bản chất tồn tại, cho
đến mọi ý nghĩa đau khổ và hạnh phúc của cả thế gian.
Và
lại nữa, một đạo sĩ ẩn mình trong các khu rừng cây đầy
bí mật của Hi-mã-lạp sơn[114] để nhìn lên vời vợi trên
cao khoảng trời bao la vô tận, hay ngồi trầm ngâm trên bờ
biển Thái bình dương,[115] hay để nhìn ra biển cả sâu thẳm
và mênh mông; không phải chỉ như một người đang đặt đôi
mắt vào viễn vọng kính để quan sát các thiên thể, các
khối tinh vân vũ trụ, mà với tâm lượng bao la, với tình
yêu bao trùm khắp vô tận thế giới phương Đông, phương
Nam, cho đến cả mười phương vô tận thế giới, người
ấy không phải chỉ hiểu biết về thế giới như là những
khối đá vĩ đại nhưng vô tình, những thái dương hệ lầm
lì di động không mục đích.
Và
một bà mẹ dù có thể là hoàn toàn ngu muội, vô trí, nhưng
chắc chắn rất sáng suốt trong nhận thức, can đảm trong
khả năng, khi cần phải đối phó với những nguy hiểm đang
đe dọa sinh mạng của đứa con thân yêu của chính mình, chỉ
bằng vào tình yêu bao la trời biển.
Chính
trong những ý nghĩa như vậy Thắng Man phu nhân sau khi giới
thiệu quá trình bồi dưỡng và phát triển tâm nguyện đại
bi, tiếp đến giới thiệu chức năng thành tựu cao thượng
của nó, là thành tựu của đại trí. Thành tựu đại trí
là tất cả nội dung của Nhất thừa.
II.
NHẤT THỪA ĐẠO
Bồ
tát Văn-thù nói với Hiền Thủ:[116] «Hết thảy chư Phật
chỉ bằng một thừa duy nhất mà thoát ly sinh tử…?.»
Bồ
tát Hiền Thủ trả lời Văn-thù: «Tất các đấng Vô ngại
chỉ một con đường duy nhất ra khỏi sinh tử.»
Đó
là xác nhận rằng, khi hỏi «Đâu là cùng đích, là cứu cánh
của tồn sinh?» thì câu trả lời không thể mơ hồ. Nhưng,
trong hiện thực nhân sinh, mỗi chúng sinh thả trôi cuộc đời
mình theo những phương hướng bất định. Trong số đó, lại
càng quá ít, những ai định hướng cho tồn tại của mình
là giác ngộ. Do vậy, tùy theo các xu hướng khác biệt ấy,
đức Phật hóa thân thành vô số thân sai biệt, để mỗi
thân giới thiệu một lẽ sống, một cách sống có ý nghĩa
cho nhiều chủng loại khác nhau. Nói cách khác, Phật không
chỉ thuyết một thừa, chỉ giới thiệu một cỗ xe; mà có
nhiều thừa khác nhau. Nhưng tất cả cuối cùng đều đạt
đến mục đích như nhau. Cho nên, khi giải thích ý nghĩa Nhất
thừa trong kinh Thắng Man, ngài Vô Trước nói: «Ba giai đoạn
ấy (chỉ Thanh văn, Duyên giác và thành Phật) được đức
Thế Tôn mật ý thuyết trong kinh Thắng Man.Như vậy, Thanh văn
sau khi thành Duyên giác; rồi cuối cùng thành Phật.»[117]
«Mật
ý» mà luận Đại thừa trang nghiêm nói đó cũng được chính
luận ấy triển khai thành tám ý nghĩa. Do tám nghĩa mà nói
chỉ có một thừa, và đồng thời cũng có nhiều thừa khác
nhau:[118]
1.
Do pháp đồng. Pháp đồng ở đây chỉ cho bình đẳng pháp
giới. Tức là, các hàng Thanh văn cũng không tồn tại trong
một pháp giới riêng biệt nào khác. Vì tất cả đều có
chung định hướng duy nhất, cùng một đích điểm hướng
đến duy nhất. Thế Thân, Nhiếp Đại thừa luận thích giải
thích, pháp hay pháp giới ở đây chính là Chân như.[119]
2.
Do vô ngã đồng. Thanh văn hay Đại thừa đều đồng nhất
lý thể vô ngã. Nghĩa là, theo lý tính vô ngã, trong tự thể
tồn tại, không có phân biệt đây là nhân cách Thanh
văn, hay đây là nhân vật Bồ tát.
3.
Do giải thoát đồng. Thanh văn hay Bồ tát cũng đồng giải
thoát khỏi phiền não chướng như nhau; cùng sự xuất ly như
nhau.
4.
Do tính biệt. Tức là có sự sai biệt về chủng tính, hay
xu hướng. Ở đây, vì các Thanh văn thuộc chủng tính bất
định đều sẽ thành Phật, cho nên Nhất thừa được mật
ý thuyết.
5.
Do Phật tự ý. Ở đây, có hai ý hướng hay ý lạc, để nói
Nhất thừa. Thứ nhất, ý hướng đồng nhất của hết thảy
chư Phật.[120] Sự giáo hóa chư Phật cuối cùng sẽ đưa chúng
sinh đến chỗ thành Phật như chư Phật không khác. Tức là
điều mà Pháp hoa nói: Chư Phật xuất hiện vì một đại
sự nhân duyên duy nhất là khai thị cho chúng sanh tri kiến
của Phật.[121]
6.
Do Thanh văn cũng sẽ thành Phật.[122] Tức là, như tất cả
Thanh văn, trên hội Pháp hoa, đều được thọ ký sẽ thành
Phật.
7.
Do biến hóa. Phật hóa thân thành Thanh văn thừa, và cũng từ
thừa đó mà nhập Niết-bàn.[123] Vì đó là phương tiện quyền
xảo tất yếu để giáo hóa chúng sanh.
8.
Do cứu cánh. Đây là thừa duy nhất, là định hướng hay mục
tiêu duy nhất. Không còn thừa nào khác.[124]
Nhất
thừa là cảnh giới chứng ngộ cứu cánh của Phật là mục
đích tối hậu của Bồ tát hạnh.[125] Cảnh giới ấy được
nói là chỉ có trí tuệ của Phật mới có thể thấu suốt.[126]
Nhưng ở đây, điểm đặc sắc của Thắng Man là, ngay sau
khi hạt giống Bồ-đề tâm vừa được gieo xuống, rồi bằng
vào tâm nguyện đại bi, nghĩa là bằng vào chức năng của
tình cảm chân thật, mà với một trí tuệ phàm phu chưa dự
vào hàng Thánh giả của Bồ tát thập địa, Thắng Man phu
nhân đã có thể thuyết minh tường tận.
Các
nhà sớ giải kinh điển cổ Trung hoa thường có xu hướng
thần bí hóa chức năng của trí tuệ, do đó không chấp nhận
ý kiến cho rằng Thắng Man phu nhân ở đây chỉ mới là một
phàm phu.[127] Đó là không muốn nói đến thiên chức làm mẹ
của Bồ tát mà trên phương diện giáo lý được quảng diễn
thành thuyết Như Lai tạng. Ở đây, chúng ta nói, thời điểm
của giáo lý trong Thắng Man được dự báo là cơ sở của
Bồ tát đạo khi mà Chánh pháp của đức Thích Tôn sắp diệt
tận, khi mà thế gian khó có thể tìm nơi quy ngưỡng chân
thật bằng sự thông suốt của trí tuệ, hiển nhiên là trí
tuệ phàm phu. Ở vào thời điểm này, tình cảm là yếu tố
quyết định của Nhất thừa đạo. Đó là tình yêu và đức
tin. Cho nên chỉ bằng vào tình yêu và đức tin ấy mà Thắng
Man phu nhân được Phật khích lệ tuyên bố nội dung của
cứu cánh Nhất thừa.
Ở
Pháp hoa, trước khi đức Thích Tôn công bố Nhất thừa đạo,
thì Bồ tát Văn-thù đã lên tiếng báo hiệu.[128] Đó là Nhất
thừa được giới thiệu bằng tiếng nói của đại trí. Và
ở Hoa nghiêm, cũng chính Bồ tát Văn-thù giới thiệu Bồ-đề
tâm và chỉ thị Nhất thừa đạo cho Thiện Tài.[129] Đó cũng
là Nhất thừa được giới thiệu và được chỉ thị bằng
đại trí. Ở đó, tiếng rống sư tử là tiếng rống của
đại trí. Nhưng trong Thắng Man, Bồ-đề tâm được phát khởi
bằng đại bi. Tiếng rống sư tử của Thắng Man phu nhân ở
đây là tiếng rống của đại bi. Sự sai biệt trong đó quả
thật rất có ý nghĩa. Nó là ý nghĩa của căn cơ, của thời
đại.
Nói
tóm lại, cảnh giới Nhất thừa ở đây được tin và được
hiểu chỉ bằng vào một tình yêu chân thật và rộng lớn.
Trình độ phát triển của tình yêu là trình độ phát triển
của nhận thức về cảnh giới Nhất thừa. Cho nên, trong Thắng
Man, tình yêu ấy được biểu hiện thành những hành động
thực tiễn, qua quá trình: phát bồ đề tâm, qui, giới, nguyện
và hành, ở các chương i cho đến chương iv. Đó là «đại
phương tiện» của Nhất thừa, hay nói cách khác, là cơ sở
thực tiễn của Nhất thừa đạo. Từ chương v này trở đi,
Thắng Man phu nhân sẽ giới thiệu cảnh giới hay nội dung
của Nhất thừa, như là mục tiêu cứu cánh của tất cả
Bồ tát đạo.
TIẾT
2: LÝ TƯỞNG VÀ HIỆN THỰC
Có
hai đề tài lớn được đề cập trong chương này. Định
hướng của Nhất thừa, tức xác định mục tiêu hướng thượng
của Bồ tát đạo. Nó là đề tài được triển khai từ ý
nghĩa của nhiếp thọ Chánh pháp.[130] Ở đây, Chánh pháp sở
dĩ cần phải được bảo vệ bằng cả chính thân mạng của
mình không phải chỉ với mục đích tôn vinh những điều
được tin tưởng, được chấp nhận. Trái lại, Chánh pháp
ở đây được xác nhận như là nguồn hạnh phúc vô tận
của tất cả mọi loài chúng sanh.[131]
Từ
ý nghĩa đó, đề tài thứ hai được đề cập: thực chất
của hạnh phúc, và đâu là nền tảng vững chắc của tất
cả hạnh phúc.
Trong
hai đề tài lớn được đề cập trong chương này, đề tài
thứ hai làm nổi bật những nét đặc sắc của tư tưởng
Thắng Man. Đây là những cái nhìn về giới hạn của quá
trình sống và chết, cũng như về bộ máy tâm thần với những
chức năng tâm lý của nó trong quá trình khắc phục đau khổ
và săn đuổi hạnh phúc. Nói cách khác, đây là những cái
nhìn đặc sắc về Khổ đế và Tập đế so với quan điểm
truyền thống của các phái Phật học, kể cả Nguyên thủy
và Đại thừa.
I.
ĐỊNH HƯỚNG CỦA NHẤT THỪA
Hạt
giống của Bồ-đề tâm đã được gieo xuống, và được
tài bồi bằng những chất liệu của đại bi, bằng quy, giới,
nguyện và hành, để sẽ đâm hoa kết trái của trí tuệ Nhất
thừa. Bồ-đề tâm là khởi điểm và Nhất thừa là cứu
cánh, hay nói cách khác, Bồ-đề tâm là chính nhân và Nhất
thừa là chính quả trong quá trình Bồ tát đạo. Quá trình
Bồ tát đạo cũng chính là quá trình săn đuổi hạnh phúc
chân thật của tất cả mọi loài chúng sanh, hạnh phúc của
chính mình là của tất cả. Cho nên, mục tiêu Nhất thừa
không đơn giản chỉ là mục tiêu hướng thượng của Bồ
tát, nghĩa là của một hạng chúng sinh ưu việt, mà cần phải
được xác định nó là mục tiêu cứu cánh của bất cứ
ai trong những nỗ lực kiên trì thể hiện trọn vẹn tất
cả ý nghĩa sinh tồn của mình trong cuộc đời này.
Như
vậy, trong quá trình phát triển tâm nguyện đại bi để làm
lớn mạnh hạt giống Bồ-đề tâm, sau những chuỗi thực
hành được xác định một cách thiết thực, mà cuối cùng
là nhiếp thọ Chánh pháp với bốn trọng trách là xây dựng
bốn căn cứ an toàn cho thế gian: Nhân thiên thừa, Thanh văn
thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa, bấy giờ Thắng Man
phu nhân được Phật khuyến khích hãy xác định mục tiêu
của nhiếp thọ Chánh pháp. Thắng Man phu nhân liền xác định
ngay rằng nhiếp thọ Chánh pháp chính là Đại thừa.[132] Nghĩa
là, Chánh pháp cần được bảo vệ, cần được hộ trì,
và Chánh pháp đó chính là Đại thừa tức Nhất thừa, chính
vì sứ mạng cao cả của nó.
Nhưng
sứ mạng của Nhất thừa là gì? Nhất thừa là nguồn năng
lực khơi dậy và lôi cuốn chúng sanh lên đường đi về hòn
đảo an toàn của hạnh phúc chân thật, là nguồn nước vô
tận làm tươi nhuận những cánh đồng hoang, những sa mạc
bao la của sinh tử, và nhất thừa cũng là đại dương mênh
mông để tất cả mọi con nước đổ vào.
Nói
cách khác, Nhất thừa là nguồn sáng tạo của tất cả giá
trị tình yêu và trí tuệ mà thế gian cần có, như trẻ thơ
cần sữa mẹ để trưởng thành, và Nhất thừa cũng là kho
tàng thâu nhiếp và duy trì tất cả mọi khát vọng của thế
gian.
Ở
đây, Thắng Man phu nhân đưa ra hai thí dụ để điển hình
cho sứ mạng sáng tạo và duy trì của Nhất thừa.[133]
Thứ
nhất, như nguồn nước từ trên đỉnh cao của cõi đất chảy
tràn xuống bốn phương, tám hướng, thành các con sông lớn.[134]
Nguồn nước ấy trong suốt như bản chất của trí tuệ vô
lậu, và tươi nhuận như bản chất của tình yêu không ô
nhiễm. Nhiếp thọ Chánh pháp, hy sinh tất cả sinh mạng của
mình để bảo vệ sự tồn tại của Nhất thừa, chính là
duy trì không để nguồn nước ấy bị dứt đoạn. Thắng
Man phu nhân nói, tất cả thiện pháp của thế gian và xuất
thế gian đều xuất phát từ Nhất thừa. Nói như vậy có
nghĩa rằng, bất cứ sự biểu lộ thân thiết nào của tình
yêu và trí tuệ trong thế gian đều là sự biểu lộ tuôn
trào từ Nhất thừa. Nếu Nhất thừa bị dứt đoạn, bị
diệt tận, như nguồn nước kia bị khô cạn, thì thế giới
này sẽ là cánh đồng hoang vu vô tận, là bãi sa mạc mênh
mông không giới hạn, một thế giới vắng hẳn tình yêu và
trí tuệ, một thế giới của hận thù, bạo lực, của những
tham vọng ngông cuồng, của rắn rít, thú dữ và ma quỷ. Một
thế giới không còn bóng dáng con người nữa.
Thứ
hai, như mảnh đất tốt cho mọi hạt giống tốt lành, hữu
ích sinh trưởng, cũng vậy, Nhất thừa là môi trường cho
các thiện pháp thế gian và xuất thế gian được lớn mạnh.
Tất cả mọi hoạt động của thế gian nếu không được
nuôi lớn bằng chất liệu của trí tuệ vô lậu và tình yêu
không ô nhiễm, chẳng khác nào quýt phương Nam trồng ở phương
Bắc, sẽ chỉ cho ra những trái chua mà thôi.
Cho
nên, Thắng Man phu nhân kết luận, an trụ nơi Đại thừa và
nhiếp thọ Đại thừa,[135] xây dựng nền tảng vững chắc
của Nhất thừa, cũng chính là an trụ nơi Nhị thừa, xây
dựng Nhị thừa; nghĩa là gieo trồng và tài bồi cho lớn mạnh
tất cả thiện pháp của thế gian và xuất thế gian.
Đấy
là sứ mạng của Nhất thừa. Hay nói đầy đủ hơn, đây
là sứ mạng của người thực hành Bồ tát đạo; cần phải
thiết lập và bảo vệ Nhất thừa, như là bảo vệ nguồn
nước của hạnh phúc thế gian, bảo vệ mảnh đất tốt cho
tất cả những gì tốt đẹp nhất của thế gian được lớn
mạnh.
Sứ
mạng thứ hai của nhất thừa là làm nơi quy hướng, là sứ
mạng nhiếp nhập, như đại dương dung nạp tất cả mọi
nguồn nước. Nói cách khác, người thực hành Bồ tát đạo
với ý nguyện thiết lập và bảo vệ Chánh pháp, tức bảo
vệ Nhất thừa, là dựng cao mục tiêu cho chúng sanh thấy rõ
phương hướng quy thú của mình, thấy rõ đâu là cứu cánh
mà cuộc đời của mình cần phải hướng đến.
Khi
xác định mục tiêu này, Thắng Man phu nhân thực sự đã xác
định ý nghĩa của các giáo pháp mà đức Thích Tôn đã giảng
dạy, của tất cả chư Phật đã, đang và sẽ công bố.
II.
CƠ SỞ THỂ HIỆN NHẤT THỪA
Thắng
Man phu nhân nói, giáo pháp của đức Thích Tôn được thiết
lập trong sáu phạm vi hay trên sáu cơ sở, tức sáu xứ; Chánh
pháp trụ, Chánh pháp diệt, Ba-la-đề-mộc-xoa, Tỳ ni, Xuất
gia và Thọ cụ.[136]
Cái
nhìn của Thắng Man về ý nghĩa tồn tại của giáo pháp của
đức Thích Tôn thực sự đã mang tính chất thời đại. Thời
đại của đức Thích Tôn là thời đại mà trình độ phân
công xã hội của xã hội Ấn độ bấy giờ ở giới hạn
cục bộ; giáo pháp của Ngài trong thời đại đó cố nhiên
không thể vượt ngoài giới hạn cục bộ của địa phương.
Thế nhưng, ở đây Thắng Man phu nhân đã nhìn sự tồn tại
của giáo pháp ấy trong thời đại mà nó không còn giới hạn
thiên nhiên. Nói một cách cụ thể hơn, cái nhìn của Thắng
Man được đặt vào thời đại mà rặng Thông lĩnh không còn
là biên giới thiên nhiên không thể vượt qua, ngăn cách các
dân tộc sinh tồn trên vùng Bắc Ấn, và các dân tộc trong
vùng Tây vực của Trung hoa. Và hải ngạn Lăng-ca trên bờ
Thái bình dương không còn phân cách huyền thoại châu Nam diêm-phù-đề
xứ Ấn độ và châu Đông thắng thân của các xứ quần đảo
và bán đảo dọc trên hành lang Thái bình dương.
Đây
là thời đại mà trình độ phân công xã hội đã vượt ngoài
phạm vi trao đổi cục bộ giữa các bộ lạc hay giữa các
cộng đồng dân tộc trong một quốc gia có chung một biên
giới thiên nhiên chia cách trong và ngoài. Đấy là thời đại
mà cá nhân không thể tách ngoài tập thể xã hội để tồn
tại. Nói theo ngôn ngữ pha chút màu sắc thần thoại, thì
đây là thời đại mà con người đang mơ ước sự xuất hiện
của một Chuyển luân thánh vương, một đại hoàng đế công
bằng và sáng suốt, thống nhất tất cả dân tộc thành một
thế giới đại đồng, sống trong hòa bình và đạo đức.[137]
Với
cái nhìn mang tính chất thời đại của lịch sử xã hội
như vậy, giáo pháp của đức Thích Tôn ở đây được quan
niệm như là sự tồn tại và biểu hiện của một lực lượng
đạo đức xã hội, với lực lượng tiền phong của nó là
các cộng đồng xuất gia và thọ cụ túc, sống với kỷ luật
chế ngự của Ba-la-đề-mộc-xoa và Tỳ-ni, phát triển trên
cơ sở Chánh pháp trụ và Chánh pháp diệt.[138]
Khi
đức Thế Tôn công bố Chánh pháp trong giới hạn của thời
đại Ngài, thì đồng thời Ngài cũng đã thiết lập một
cộng đồng của những người xuất gia và thọ cụ túc, đó
là giáo hội Thanh văn tăng, sống tự chế ngự bằng sự chế
ngự của giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, thống nhất quy luật
sinh hoạt cộng đồng bằng Tỳ-ni. Đó là cơ sở hiện thực
của giáo pháp.[139]
Trong
thời đại mà trình độ phân công xã hội còn cục bộ, quan
hệ giữa cá nhân và xã hội còn lỏng lẻo, thì một người
xuất gia và thọ cụ túc có nghĩa từ bỏ xã hội, chối bỏ
đời sống tập quần xã hội, để rút lui vào rừng sâu tự
thực hiện mục tiêu cứu cánh cá biệt của đời mình. Nhưng
ở vào thời đại mà trình độ phân công xã hội đã trở
thành sợi dây buộc chặt cá nhân với xã hội không thể
bứt ra được, thì ý nghĩa của sự xuất gia và thọ cụ
túc ở đây không còn có thể được hiểu như là một sự
rút lui khỏi xã hội nữa, mà đích thực phải được coi
là một sự chối bỏ đời sống cá nhân, nghĩa là từ bỏ
sự nghiệp riêng cho sự nghiệp chung, không có sự thành tựu
cứu cánh nào của cá nhân ở ngoài sự thành tựu cứu cách
của cộng đồng xã hội. Hạnh phúc bản thân được buộc
ràng chặt chẽ, tùy thuộc vào hạnh phúc chung của cộng đồng
xã hội.
Trong
bối cảnh đó, Ba-la-đề-mộc-xoa không đơn thuần là những
điều khoản giới luật phải chấp hành cho mục đích thành
tựu cá nhân nữa. Và Tỳ-ni cũng không đơn thuần là những
qui định tập thể để cá nhân có thể sinh hoạt mà không
bị buộc ràng chặt chẽ vào các quan hệ xã hội rắc rối.[140]
Ở đây Thắng Man phu nhân nói: «Ba-la-đề-mộc-xoa và Tỳ-ni,
cả hai pháp này cùng một ý nghĩa, mặc dù khác nhau về tên
gọi. Tỳ-ni là cái học Đại thừa. Bởi vì, nương theo Phật
mà xuất gia và thọ cụ túc. Cho nên, oai nghi giới của Đại
thừa chính là Tỳ-ni, là sự xuất gia và thọ cụ túc.»
Oai
nghi giới của Đại thừa là Bồ tát tâm địa giới gồm
ba tụ tịnh giới. Đây là tất cả nội dung của qui, giới,
nguyện và hành, mà Thắng Man phu nhân đã triển khai thành
quá trình thực hiện Bồ tát đạo.
Bây
giờ chúng ta sẽ nói đến ý nghĩa của Chánh pháp trụ và
Chánh pháp diệt. Chánh pháp được nói đến ở đây chính
là giáo pháp Đại thừa được thể hiện bằng qui, giới,
nguyện và hành trong Bồ tát đạo. Trong đó, không có thành
tựu của cá nhân đơn độc, không có hạnh phúc riêng biệt
của một cá nhân nào tách ngoài hạnh phúc liên đới của
cộng đồng. Cho nên, an trụ trong Chánh pháp bằng Chánh pháp,
đứng lên và đứng vững trên hòn đảo an lạc của giáo
pháp Đại thừa và diệt tận mọi đau khổ của thế gian
bằng giáo pháp Đại thừa, tất cả đều phải được thực
hiện dưới sự chỉ đạo của giáo pháp Đại thừa. Mà Đại
thừa không phải là cỗ xe chở từng người một từ bên
này hiểm nguy sang bên kia chỗ an toàn không tai họa, dành cho
từng người, từng một ai có đủ sức mạnh chen chân đi
trước một mình, để lại đằng sau những bạn đồng hành
yếu đuối sống trong lo sợ chới với trong các tai họa rình
rập, đe dọa. Thời đại của một giai đoạn lịch sử nhất
định đã không còn cho phép cá nhân nào tự do bứt bỏ sợi
dây thừng cột trói mình vào cộng đồng xã hội để ra đi
như vậy. Do tính chất dị biệt của thời đại mà giáo pháp
của đức Thích Tôn hoặc được thể hiện bằng đời sống
cá nhân hay bằng quan hệ buộc ràng giữa cá nhân với cộng
đồng xã hội, nhưng nội dung và mục tiêu cứu cánh của
giáo pháp ấy không phải vì vậy mà thay đổi hẳn. Bởi khát
vọng của con người, và căn nguyên xúc động của những
khát vọng đó, kể từ buổi hồng hoang của lịch sử nhân
loại và có lẽ mãi cho đến về sau này nữa, vẫn không có
gì thay đổi dù phương cách biểu lộ của nó và phương tiện
để thỏa mãn nó có khác. Giáo pháp của các đấng Giác ngộ
trên đời được nói ra là ngọn đèn sáng soi rõ các bản
chất của khát vọng muôn đời ấy, và để từ đó xác định
ý nghĩa của sinh tồn, mục tiêu cuối cùng của lẽ sống.
Mục tiêu ấy được gọi là Nhất thừa. Cho nên, ở bất
cứ vào thời điểm nào của lịch sử, ở vào bối cảnh
nào của xã hội, nếu giáo pháp ấy được thực hành chân
chính, thực tiễn, tất cả đều qui về Nhất thừa, được
lôi cuốn vào Nhất thừa, được chứa đựng trong Nhất thừa.
Đấy là ý nghĩa, mà cũng là sứ mạng nhiếp nhập của Nhất
thừa.
III.
THỰC CHẤT CỦA HẠNH PHÚC
Chúng
ta đã nói đến khát vọng muôn thuở của con người, nói
đến nguồn xúc động của nó cũng chính là nguồn xúc động
của Nhất thừa. Nhìn thẳng vào bản chất của nó, thì đấy
là khát vọng hạnh phúc như là mục tiêu cứu cánh của đời
người, của lẽ sống. Nhìn trên mặt biểu lộ của nó, thì
đấy là khát vọng tình yêu và tri thức. Tình yêu và tri thức
nào nhận chìm con người xuống vũng sình của ngu muội và
ngông cuồng, chúng được đặt cho cái tên là ái và kiến.[141]
Tình yêu và tri thức nào chắp cánh cho con người bay vào hư
không vô tận, chúng được gọi là đại bi và đại trí.
Mỗi loại biểu hiện như vậy mang đến cho con người một
loại hạnh phúc. Như vậy thì thực chất của hạnh phúc là
gì?
Thắng
Man phu nhân sau khi xác định Nhất thừa như là mục tiêu cứu
cánh của tất cả khát vọng sinh tồn, tiếp đến nói về
nguồn xúc động của khát vọng ấy và đồng thời nhận
định về thực chất của hạnh phúc là gì.
Theo
sự trình bày của kinh văn, ở đây, trước hết Thắng Man
phu nhân nêu lên hai vấn đề cơ bản:
a.
Nỗi sợ hãi về sinh tử như là nguồn xúc động sâu xa nhất
khiến chúng sinh nỗ lực đuổi bắt hạnh phúc theo cái nhìn
cá biệt của từng xu hướng về bản chất của sanh tử.
b.
Thứ đến, xác định đâu là bến bờ chân thật của hạnh
phúc mà chúng sanh cần phải đạt đến. Dưới đây, chúng
ta cũng sẽ trình bày theo thứ tự này.
1.
NGUỒN XÚC ĐỘNG CỦA KHÁT VỌNG SINH TỒN
Trong
tiết mục này, chúng ta lại có thể chia nhỏ thành ba chi tiết:
thực trạng sanh tử, động lực sinh tồn và quá trình săn
đuổi hạnh phúc.
A.
Thực trạng sinh tử
Kinh
điển nguyên thủy thường nói đến ba nỗi sợ hãi lớn lao
của con người. Đó là tuổi già, tật bệnh và sự chết.[142]
Và cũng nói rằng, vì sợ hãi mà con người đã tìm đến
nương tựa, cầu nguyện nơi các thần cây, thần núi, thần
sông, thần vườn.[143]
Nỗi
sợ hãi ấy như ngọn gươm thường xuyên được mài bén bằng
những ma sát của các hiện tượng vô thường, của tất cả
những gì mà con người có thể bắt nắm được trong tay nhưng
với bản chất mong manh dễ tan vỡ của chúng. Ngọn gươm
ấy khoét trên đời sống con người những dấu vết nhức
nhối của những nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết, yêu thương,
thù hận, chán nản, thất vọng và tuyệt vọng.
Trong
các thời kỳ lịch sử khi mà con người còn phải tự mình
lẻ loi đơn độc chống lại sức mạnh đàn áp tàn bạo của
thiên nhiên, thì sự chết cũng đơn giản chỉ là sự hủy
diệt của một xác thân cá biệt ấy mà thôi. Nhưng một sinh
vật bé bỏng thường xuyên bị đè bẹp dưới sức mạnh
tưởng chừng như không hạn chế ấy thật sự đã không có
khả năng nào để phòng ngự ngoài khả năng tránh né và cầu
nguyện để có thể tránh né. Bởi vì, cái gì hữu hình thì
phải chịu sự ma sát của những cái hữu hình khác, và ma
sát sẽ đưa đến hủy diệt. Hữu hình thì vốn hữu hoại,
cho nên chỉ những gì là vô hình mới có thể vượt ra ngoài
những ma sát và hủy diệt ấy. Những gì vô hình đã tồn
tại trong một thế giới tịch nhiên bất động, vô vi vô
tác. Chỉ nơi đó mới thực sự là thế giới của hạnh phúc.
Cho nên, khát vọng của con người từ đó là hướng về một
thiên đường vĩnh viễn, là hướng về một thế giới vượt
ngoài sự sống và sự chết, trong đó đời sống không phải
là sự tụ tập của bốn đại giả hợp, tụ tập của tất
cả mọi thống khổ thể chất và tinh thần. Và cho nên, khát
vọng hạnh phúc cũng có nghĩa là khát vọng giải thoát. Giải
thoát ở đây là vượt ngoài vòng sống chết, không còn tái
sinh trong cõi đời này không còn chịu đè bẹp bởi định
luật vô thường.
Thực
trạng sinh tử đó, Thắng Man gọi là phần đoạn sinh tử.
Sống với chết thực trạng là sự tụ tập và tan rã của
các thủ uẩn, của những vật chất ô nhiễm và dòng sinh
mạng tiếp nối nương vào đó mà hoạt động. A-la-hán, Duyên
giác và Đại lực Bồ tát là những vị đã giải thoát khỏi
các khổ của phần đoạn sinh tử này. Nhưng còn một nỗi
khổ vi tế vô cùng khác là bất tư nghị biến dịch sinh tử
mà vị ấy chưa thể giải thoát được.
Sự
phân biệt hai loại sinh tử[144] này là cái nhìn cơ bản của
Thắng Man về vũ trụ và nhân sinh, ở đấy chúng ta nên hiểu
như thế nào? Chúng ta đã từng nói ở trên kia rằng tất
cả cái nhìn của Thắng Man đều phát xuất từ thực tế
của thời đại lịch sử, do đó, sự phân tích về hai thực
trạng của sinh tử ở đây hoàn toàn không phải là từ một
quan điểm thần bí siêu nhiên. Nó là quan điểm thực tiễn
phát xuất căn cứ trên thực tiễn sinh hoạt của con người
và xã hội của con người.
Nếu
con người cảm thấy mình như một sinh vật bé bỏng và cá
biệt trong vũ trụ bao la này, một hạt cát rời trong bãi cát
mênh mông của sa mạc, thì sinh tử và giải thoát sinh tử
là những vấn đề chỉ quan hệ đến một bản thân cá biệt
của nó mà thôi. Một vị A-la-hán đã giải thoát khỏi sinh
tử ngay trong hiện tại, ngay với bản thân còn tồn tại giữa
cái sống và cái chết này. Nhưng vị ấy đã làm chủ được
nó. Đau khổ không còn kích động bởi bản chất mong manh
dễ vỡ của nó.
Nhưng
khi con người bước vào đời sống xã hội, là một thành
phần trong một cộng đồng xã hội, thì bấy giờ đau khổ
không chỉ giới hạn trong một bản thân cá biệt của nó.
Cái nhìn của nó về mối quan hệ giữa nó và xã hội loài
người càng lớn, nỗi đau khổ mà nó phải tiếp nhận càng
lớn. Chỉ khi nào nó không nhận thấy mình có bất cứ quan
hệ nào với bất cứ cộng đồng nào thì vấn đề đau khổ
và giải thoát của nó mới không dính dấp với kẻ khác.
Một
người chỉ nhận thấy mối liên hệ giữa bản thân và gia
đình, thì đau khổ và hạnh phúc của nó cũng chỉ giới hạn
trong phạm vi một gia đình ấy. Nếu mối quan hệ này được
nới rộng đến một dòng họ, thì vấn đề cũng chỉ liên
hệ đến một dòng họ. Khi nó nhận định về sự tồn tại
của bản thân trong quan hệ với một cộng đồng dân tộc,
hay lớn hơn nữa, với cả thế giới, thì tất cả mọi vấn
đề tồn tại của nó cũng theo đó mà được mở rộng phạm
vi. Tính chất thời gian cũng được kéo dài theo phạm vi mở
rộng của không gian tồn tại ấy. Trong phạm vi một gia đình
hay một dòng họ, tính chất thời gian của những mối quan
hệ chỉ giới hạn trong một vài thế hệ. Nhưng trong phạm
vi của một dân tộc hay của thế giới, thì giới hạn của
thời gian sẽ là giới hạn của tận cùng của thế giới
này.
Cho
nên, trong lịch sử của các dân tộc, người ta thấy không
ít người đã sẵn sàng hy sinh thân mạng của mình vì danh
dự hay vì sự tồn tại của dân tộc mình. Trong những trường
hợp như thế, sự tồn tại hay hủy diệt của bản thân không
trở thành vấn đề nữa. Những cái chết ấy được gọi
là chết để mà sống còn mãi với lịch sử. Những con người
như thế khi nghĩ về sự sống và sự chết của mình không
đơn giản như là nghĩ về sự còn và mất của cái thân thể
của riêng ta giới hạn trong khoảng trăm năm này, mà luôn
luôn nghĩ đến sự sống và sự chết trong chu kỳ trường
cửu của thời gian.
Ở
vào thời đại của chúng ta hiện nay, khi mà một con sâu bị
giết chết vẫn được gắn liền với sự ích lợi hay thiệt
hại của đời sống nhiều người, thì sự sống và sự chết
của những người mang tầm vóc thế giới tất nhiên không
thể tách ngoài vấn đề tồn tại của thế giới loài người,
từ vấn đề đói no cho đến chiến tranh và hòa bình. Trong
một thời đại như vậy, vấn đề đau khổ và giải thoát
không còn đơn giản là vấn đề một cá nhân nữa.
Hai
thực trạng của sinh tử, phần đoạn và biến dịch, cũng
có thể được nhìn từ trên cơ sở của thời đại lịch
sử như vậy. Cho nên, một vị A-la-hán hay Duyên giác, khi đã
làm chủ được bản thân hoàn toàn, đã vượt ngoài thực
trạng sinh tử phần đoạn của bản thân, nhưng vị ấy sẽ
không hoàn toàn đi vào thế giới của hư vô tịch diệt. Nếu
chúng ta có thể quan niệm được một cách cụ thể rằng
một con người nào đó dù đã chết, với sự hủy diệt của
bản thân, vẫn mãi mãi còn tồn tại trong lịch sử loài người,
thì sự tồn tại của một vị A-la-hán đã nhập vô dư Niết-bàn
cũng có thể được quan niệm một cách không khó khăn. Vị
ấy chỉ đi vào vô dư Niết-bàn theo ý nghĩa ước lệ.[145]
Bởi vì, thế giới vẫn tồn tại đó, chúng sanh vẫn còn
triền miên đau khổ đó, thì làm sao có thể tưỏng tượng
ra nỗi một Niết-bàn vô dư tuyệt đối dành riêng cho một
Thánh nhân? Bởi vì A-la-hán chỉ diệt tận bản ngã cá biệt
của mình, nhưng không diệt trừ bản ngã xã hội và lịch
sử của mình, thì khi mà xã hội con người vẫn còn tồn
tại với vô biên thống khổ, A-la-hán vẫn chưa thể vượt
ngoài nỗi khổ biến dịch sinh tử. Chỉ những bậc Giác ngộ
tuyệt đối, thấy rõ bản chất tồn tại không phải chỉ
của bản ngã cá biệt của mình mà của một đại ngã vũ
trụ, mới có thể nói là hoàn toàn diệt tận tất cả đau
khổ của phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử.
Thắng
Man phu nhân nói: «Sinh tử phần đoạn là thực chứng của
chúng sinh hư ngụy. Sinh tử biến dịch bất tử là trạng
thái của ý sinh thân của A-la-hán, Bích-chi-Phật và Đại
lực Bồ tát.»[146] Cũng như sinh mạng của một con người
hữu danh thì được tạo thành bởi cái danh, dù là danh hư
hay danh thực, cũng vậy, sinh mạng của ba hạng Thánh giả
ấy được tạo thành bởi ý chứ không phải chỉ là sự
tụ tập của bốn đại vật chất.
Bồ
tát đại lực, với sức mạnh vĩ đại của từ bi, không
còn thấy có sự tồn tại của một bản ngã cá biệt của
mình nữa và do đó không còn tiếp thu những nỗi thống khổ
ảnh hưởng trên bản thân cá biệt của mình nữa.[147] Cũng
như Trúc Mộc thiền sư đã khuyên bảo vua Trần Thái Tôn rằng:
«Bệ hạ đã ở địa vị nhân chủ thì phải lấy cái tâm
của chúng sanh làm cái tâm của mình», ở đây cũng vậy,
Bồ tát không thấy có nỗi khổ riêng biệt của mình ngoài
thống khổ đại đồng của tất cả chúng sanh. Cho nên, chúng
ta sẽ không lấy làm lạ khi biết rằng Bồ tát Thường Đề
mặc dù tu tập Bát-nhã ba-la-mật nhưng đôi mắt lúc nào cũng
vẫn đẫm lệ.[148] Và cư sĩ Duy-ma-cật nói với Bồ tát Văn-thù:
«Vì chúng sanh bệnh cho nên Bồ tát bệnh.»
Đây
là ý nghĩa mà Thắng Man phu nhân đã nói: «A-la-hán và Bích-chi-Phật
còn có nỗi sợ hãi, còn cần có chỗ nương tựa, còn cách
Niết-bàn giới rất xa, còn vô biên Khổ đế cần phải biết,
còn vô biên Tập đế cần phải đoạn, còn vô biên Diệt
đế cần phải chứng và còn vô biên Đạo đế cần phải
tu. Nói rằng A-la-hán và Bích-chi-Phật chứng đắc Niết-bàn
là nói trong ý nghĩa ước lệ, đó là phương tiện của Phật
mà thôi.»
B.
Động lực sinh tồn
Bị
vây khốn trong những đau khổ triền miên, con người không
ngớt đuổi bắt cái bóng của hạnh phúc như con dê khát đuổi
theo quáng nắng giữa đồng hoang. Giới hạn của đau khổ
và hạnh phúc là giới hạn kinh nghiệm của nó về thế giới
và về bản chất tồn tại của sự vật. Tôn-đà-la Nan-đà
thấy rằng có người vợ chưa cưới của mình là đẹp nhất,
thì đồng thời cũng quan niệm rằng hạnh phúc thực sự của
đời mình là sống chung để ân ái suốt đời với một người
vợ dịu dàng, tươi mát như thế. Nhưng khi biết rằng còn
có những thiên nữ tuyệt vời mà so ra người vợ chưa cưới
của mình bây giờ chẳng khác gì một con khỉ cái, thì ước
mơ của Nan-đà từ đó là được sống chung với đám thiên
nữ kia, và rồi sẵn sàng hy sinh tất cả những gì mình đang
có của tuổi đời đẹp nhất ấy, với mái tóc đen nhánh,
với đời sống nhung lụa sang cả của một ông hoàng, phấn
đấu bằng tất cả ý chí mãnh liệt trong những kỷ luật
khắt khe nhất, để mong thỏa mãn hoặc ước mơ nóng bỏng
ấy.[149]
Và
lại nữa, có một người kia sinh ra và lớn lên với đủ
thứ ghẻ chóc trên thân thể, trường kỳ với cảm giác ngứa
ngáy, xót xa, thì hạnh phúc nhất đời của nó là được
ngồi gần ngọn lửa nóng để hơ ghẻ, để chà xát ghẻ.
Khi gia đình nó tìm được một y sĩ trị ghẻ lỗi lạc cho
nó, thì nó chống cự một cách ngoan cường, nhất định không
rời xa ngọn lửa, vì đấy là nguồn hạnh phúc duy nhất trên
đời. Người ta phải dùng đến bạo lực, trói tay chân nó
lại mà khiêng đi. Từ trước đến giờ, nó chỉ yêu ngọn
lửa nóng, chỉ biết có lửa. Vì trong thực tế nó đã cảm
nghiệm được vô biên hạnh phúc duy nhất từ ngọn lửa.
Do đó, ngọn lửa trở lại buộc chặt đời nó.[150]
Cũng
vậy, tình yêu và tri thức của con người có từ những kinh
nghiệm hoan lạc trở lại buộc chặt con người vào những
hoan lạc ấy, và thúc đẩy nó không ngừng đuổi bắt những
hoan lạc ấy.
Chúng
sanh nhìn về thế giới bằng giới hạn của tình yêu và tri
thức như thế, khát vọng sinh tồn được điều động bằng
tình yêu và tri thức như thế.
Các
thế lực điều động những khát vọng sinh tồn ấy được
Thắng Man phu nhân phân thành hai loại, là trụ địa phiền
não[151] và khởi phiền não. Trụ địa phiền não là những
phiền não căn bản, làm gốc rễ và môi trường cho tất cả
những ô nhiễm phát sinh và lớn mạnh. Những thứ ô nhiễm
này được gọi là khởi phiền não hay tùy phiền não. Nói
cách khác, có hai loại ô nhiễm; một, là những tàn dư của
tập quán hay di truyền quá khứ; và một nửa là những ô
nhiễm hiện hành.
Trụ
địa phiền não lại được phân thành bốn: Kiến nhất xứ
trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và hữu
ái trụ địa.
Trong
bốn trụ địa phiền não này, kiến nhất xứ trụ địa thuộc
về kiến, là những loại tri thức ô nhiễm, không thấy rõ
bản chất của hiện thực. Chúng là động lực tri thức,
là khát vọng tri thức, thúc đẩy con người săn đuổi hạnh
phúc bằng những con đường lầm lạc.
Ba
trụ địa còn lại được coi như là động lực tình yêu
hay khát vọng sinh tồn. Nếu động lực nào thúc đẩy con
người đuổi bắt bóng dáng hạnh phúc trong những hưởng
thụ vật dục của thế gian này, của dục giới, nó được
gọi là dục ái trụ địa. Nếu người không tìm thấy thỏa
mãn trong những hưởng thụ vật chất này mà đi tìm những
cảm giác ngây ngất và tế nhị hơn, bằng năng lực của
sự tập trung tư tưởng, như trong các trạng thái xuất thần.
Nói cách khác, sự đam mê các hỉ lạc của bốn trình độ
thiền định thuộc sắc giới thì được gọi là sắc ái
trụ địa. Nhưng với một số người khác, các cảm giác
hỉ lạc của các thiền sắc giới ấy vẫn chưa đến trạng
thái thỏa mãn mong muốn, những người này đi tìm hạnh phúc
trong trạng thái không hỉ lạc bằng bốn cấp thiền định
thuộc vô sắc giới, bấy giờ khát vọng sinh tồn ở đây
được gọi là hữu ái trụ địa, bởi vì đối tượng của
khát vọng ở đây chính là dòng sinh mạng tiếp nối của
nó chứ không phải là những cảm giác được mang lại từ
các đối tượng ngoại giới.
Như
vậy, động lực tình yêu hoặc khát vọng hưởng thụ hướng
ra các đối tượng ngoại giới, hay hướng vào chính bản
thân sinh mạng của chính mình; trình độ sai biệt trong các
khả năng hướng ngoại và hướng nội ấy vẽ ra cho con người
một nhãn quan về tính chất tồn tại của thế giới và từ
đó thúc đẩy con người săn đuổi những gì mà nó thấy
có khả năng thỏa mãn khát vọng sinh tồn của nó, tất cả
những sự kiện ấy diễn ra trong chủ quan, chỉ liên hệ đến
bản thân sinh tồn cá biệt của nó. Vũ trụ quan hay nhân sinh
quan, tất cả đều chỉ là những hình ảnh phóng đại từ
các động lực tình yêu và tri thức chủ quan đó.
Vượt
ra ngoài sự chi phối của các động lực chủ quan, mối quan
hệ giữa bản thân cá biệt và thế giới đại đồng còn
bị bao phủ trong một bóng tối dày đặc, đó là vô minh trụ
địa.[152] Xét về mặt học lý, bốn trụ địa phiền não
được nói là phiền não chủng tử,[153] là những hạt giống
hay những động lực thúc đẩy phát sinh tất cả mọi khát
vọng ô nhiễm. Những khát vọng này, tức những thượng phiền
não hay tùy phiền não, được nói là phiền não hiện hành.[154]
Tác động của chúng không một sát-na nào tách rời các hoạt
động tâm lý. Mỗi một tác động của chúng huân tập trở
lại bốn trụ địa phiền não, làm bền chặt thêm gốc rễ
của các chủng tử này. Nhưng vô minh trụ địa luôn luôn
chỉ tồn tại như là chủng tử, nó không tùy thuộc vào các
hoạt động của các chức năng tâm lý. Bởi vì các chức
năng này hoạt động trên cơ sở chủ quan. Mặc dù trên mặt
hiện hành, chúng tất nhiên phải bị sự chi phối của các
môi trường sinh hoạt, nhưng động lực và hậu quả của
các hành động chỉ trực tiếp ảnh hưởng trên đời sống
một cá nhân riêng biệt. Trái lại, vô minh trụ địa tồn
tại và tác động trong quan hệ phổ biến. Cách thức biểu
hiện của những trạng thái sinh tồn của một cá nhân tuy
được điều động bởi động lực sinh tồn cá biệt chủ
quan của nó, nhưng bản chất của tất cả mọi biểu hiện
ấy không phải là bản chất cá biệt. Khi một cá nhân sinh
tồn được xét trên điều kiện vật chất, thì trong sự
sinh tồn cá biệt của nó có sự tham dự phổ biến của toàn
bộ vũ trụ vật chất. Cũng vậy, xét về mặt tâm lý, yêu
hay ghét là những tình cảm chủ quan, nhưng bản chất của
tình cảm ấy không thể vượt ngoài năng lực chi phối phổ
biến của thời đại lịch sử. Ở đây, nói thời đại lịch
sử là chỉ nói trong một giới hạn nhỏ của thời gian tính.
Vũ trụ vật chất không biên tế, và thời gian của lịch
sử thì vô tận. Do đó, quan hệ phổ biến giữa sự tồn
tại của một cá nhân cũng phải được nhìn từ những chiều
kích vô cùng và vô tận đó. Quan hệ phổ biến này, nếu
nói theo ngôn ngữ của Hoa nghiêm tông, đây là lý tánh trùng
trùng duyên khởi của pháp giới.
Vì
nó tác động như là bức màn bao phủ một cá nhân trong bóng
tối, ngăn cách cá nhân ấy với đời sống bao la vô tận
trong thế giới của những quan hệ phổ biến, nghĩa là pháp
giới trùng trùng duyên khởi, cho nên nó được gọi là vô
minh trụ địa.
Nói
tóm lại, có hai thực trạng sinh tử, thì tương đối với
chúng, cũng có hai động lực sinh tồn. Trong giới hạn cá
nhân, động lực ấy là bốn trụ địa phiền não, chúng dẫn
đến thực trạng sanh tử phần đoạn. Trong quan hệ phổ biến,
động lực ấy là vô minh trụ địa, nó dẫn đến thực trạng
sanh tử biến dịch.
C.
Quá trình giải thoát
Người
bịnh tìm thấy nguồn hạnh phúc của mình trong cảm giác không
bịnh. Cũng vậy, bị vây khốn giữa muôn vàn thống khổ,
bị thúc đẩy bởi động lực sinh tồn, chúng sinh chỉ cảm
thấy được bình an và hạnh phúc trong sự nuông chiều đối
với hình hài hay sự thoải mái của tâm trí. Nhưng hình hài
là cái hữu hạn, hữu hình vốn hữu hoại, và sự nuông chiều
đối với hình hài ấy luôn luôn bị hạn chế, cho nên ước
mơ về các trường sinh bất tử đã trở thành cái bóng trong
thiên đường hạnh phúc không ngớt lôi cuốn và làm nhọc
nhằn thể xác và tâm trí con người.
Nói
cách khác, hạnh phúc ở đấy được quan niệm như là sự
giải thoát của hình hài và tâm trí vươn lên hay vượt ra
ngoài giới hạn của tình yêu và tri thức hạn chế này.
Trong
các xu hướng nghiên cứu của Phật học, chung cho cả Tiểu
thừa và Đại thừa, quá trình giải thoát ấy được phân
tích thành hai giai đoạn diệt trừ ái và kiến,[155] hay đoạn
trừ những ô nhiễm do tình yêu và do tri thức. Ở Thắng Man,
đó là sự đoạn trừ bốn phiền não trụ địa.
Trong
quá trình này, những nhiễm ô do tri thức cần phải đoạn
trừ trước. Chúng là thượng tầng ô nhiễm của tình yêu,
cho nên là những yếu tố có thể được đoạn trừ bằng
sự thấy biết chân chính. Đối tượng của sự thấy biết
này là bốn chân lý cao cả: Sự thật về các nỗi khổ, sự
thật về những nguyên nhân hay tập khởi của khổ, sự thật
về sự diệt trừ những nguyên nhân ấy, và sự thật của
những con đường chân chính đưa đến sự diệt trừ ấy.
Tiếp
theo đó, những ô nhiễm do tình yêu cần phải đoạn trừ.
Do những hình thái đa dạng của đối tượng nên sự ô nhiễm
do tình yêu có nhiều hình thái khác nhau và nhiều cấp bậc
khác nhau.[156] Khi một người đã hoàn toàn đoạn trừ tất
cả mọi hình thái khác nhau và các cấp bậc khác nhau của
những ô nhiễm này, người ấy trở thành một vị A-la-hán
và tự tuyên bố: «Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã
vững, điều cần đã làm xong, không còn tái sanh đời sau
nữa.»
Như
vậy, đối với bản thân cá biệt của mình, và chỉ liên
hệ với bản thân cá biệt của mình, vị ấy được nói
là đã hoàn toàn thoát khỏi mọi thống khổ, đã đoạn trừ
tất cả những nguyên nhân tập khởi của chúng, đạt đến
an lạc của tịch diệt, Niết-bàn, và đã tu tập trọn vẹn.
Đã đi suốt con đường dẫn đến Niết-bàn ấy. Nhưng Thắng
Man nói: dù vậy, vị ấy còn nỗi khổ chưa được biết đến,
còn tàn dư những nguyên nhân tập khởi chưa được đoạn
trừ, còn có sự tịch diệt chưa được hoàn toàn chứng ngộ,
và còn đoạn đường chưa đi suốt. Cho nên, trên tuyệt đối
an lạc, thật sự vị ấy chỉ mới chứng đắc được một
phần an lạc của Niết-bàn, nghĩa là chỉ đang trên con đường
đi đến Niết-bàn chứ chưa phải là cùng đích. Vì sao vậy?
Vì chưa đoạn trừ được vô minh trụ địa. Nghĩa là, vị
ấy chỉ mới vượt qua những thống khổ của sinh tử phần
đoạn chứ chưa vượt qua nỗi khổ, nỗi sợ hãi của sanh
tử biến dịch.
2.
HÒN ĐẢO AN TOÀN CỦA HẠNH PHÚC.
Xác
định quá trình giải thoát và cứu cánh của an lạc như thế
tức là xác định rằng chỉ có một con đường duy nhất
để vượt qua mọi hình thái của sanh tử, đó là một Phật
thừa duy nhất, chỉ có một cứu cánh an lạc duy nhất cần
phải đạt đến, đó là cứu cánh vô thượng giác ngộ. Thắng
Man nói: Thanh văn thừa và Duyên giác thừa thảy đều qui vào
một Đại thừa. Đại thừa ở đây tức là Phật thừa, là
con đường để thành Phật. Ba thừa cũng chỉ là một thừa.
Ba thừa là phương tiện, một thừa mới là cứu cánh. Chứng
đắc nhất thừa là chứng đắc vô thượng giác ngộ. Vô
thượng giác ngộ chính là Niết-bàn giới. Và Niết- bàn giới
chính là pháp thân của Như Lai.
Từ
điểm này, Thắng Man phu nhân đi đến xác định đâu là chỗ
nương tựa cứu cánh cho chúng sinh đang chơi vơi giữa đại
dương thống khổ, đang bối rối kinh hoàng giữa sa mạc sinh
tử hiểm nghèo. Và ở đây nữa, sự xác định của Thắng
Man phu nhân lại cũng được đặt cơ sở trên cái nhìn mang
tính chất thời đại lịch sử.
Trong
thời đại mà con người phải đơn độc chống lại sức
mạnh thiên nhiên, thì bấy giờ uy quyền thiên nhiên được
nhân cách hóa để làm nơi nương tựa cho con người. Đức
Thích Tôn thiết lập Chánh pháp, trước hết lập nơi nương
tựa chân chính cho con người. Những nơi nương tựa được
thiết lập là Phật, Pháp và Tăng. Quy y Phật là đặt niềm
tin vào tính tuyệt đối về đạo đức, trí tuệ và ân đức
của Ngài. Niềm tin đó là điểm tựa để con người có thể
đối phó những sợ hãi, những đe dọa chung quanh đối với
bản thân mình. Quy y Pháp là đặt niềm tin vào những sự
thật về cuộc đời mà đức Thích Tôn đã vén mở cho thấy.
Niềm tin ấy trước hết như là vũ khí của lý luận và tri
thức để con người thấy rõ bản chất của những sự khủng
bố quanh mình là gì. Quy y Tăng là đặt niềm tin vào tập
thể thuần nhất, hòa hợp, cá nhân sẽ tìm thấy sức mạnh
to lớn của mình trong đời sống thuần nhất, hòa hợp của
cộng đồng.
Thời
đại của chúng ta, khi mà một phần sức mạnh của thiên
nhiên đã và đang bị khuất phục, nhưng đồng thời, đang
đè bẹp lên xã hội loài người là sức mạnh đe dọa khổng
lồ do chính loài người đã tạo ra trong suốt quá trình phát
triển đời sống tập quần xã hội của mình. Chân lý không
phải là vấn đề của cá nhân, chỉ quan hệ đến cá nhân.
Không phải chỉ một con người đơn độc, bơ vơ, lạc lõng,
mà là cả một cộng đồng xã hội bơ vơ, lạc lõng. Cho nên,
sự việc tìm nơi nương tựa an toàn không phải là sự việc
của một cá nhân. Nó là vấn đề của cả một cộng đồng
xã hội.
Ở
đây, Thắng Man chỉ điểm, chỉ có một nơi nương tựa an
toàn và cứu cánh, đó là Như Lai. Nói cách khác, hành vi quy
y chân chính nhất là hành vi xác định mục tiêu tối hậu
của đời người. Như những người con cô độc tha phương,
đi lang thang trong đau khổ và sợ hãi, thì niềm tin tưởng
cho chỗ nương tựa an ổn của chúng là tình mẹ, và quê mẹ.
Cũng thế, con người phiêu bạt trong mọi tình huống của
sinh tử chỉ có thể tìm thấy sự an ổn khi nào đạt được
niềm tin quyết định nơi bậc Giác ngộ, vị có vô biên phẩm
tính siêu việt, với đại bi, đại trí và đại hùng.
Cho
nên Thắng Man phu nhân nói: Như Lai là chỗ quy y vô tận suốt
cả biên tế vị lai cho thế gian chưa được cứu vớt, không
được bảo hộ. Như Lai là chỗ quy y thường trụ.
Nói
tóm lại, nhiếp thọ Chánh pháp của Bồ tát là nhiếp thọ
Nhất thừa, là xây dựng và bảo vệ Nhất thừa, vì đó là
nguồn hạnh phúc vô tận của thế giới, là mục tiêu cứu
cánh của mọi đời sống, và là nơi quy hướng cuối cùng
cho tất cả.
[103]
Gaṇḍavyūha, sđd., tr. 43.23: karmayantravidhiṣū viśāradā dharmayāna-rathayantrakovidā/
jñānayānavidhiṣū viniścitā bodhi-yānamupadaśayāhi me// prārthanāpraṇidhicakramaṇḍalaṃ
kṣānti vajrakṛpa-akṣa-saṃsthitam/ śraddha-iṣaguṇaratnacitritaṃ
bodhi-yānam abhirohayāhi me// Tham chiếu, Hoa nghiêm (Phật) Đại
9, tr. 688c18; Hoa nghiêm (Thật) tr. 333a; Hoa nghiêm (Bát), tr. 678b20.
[104]
Xem cht. 28 tr. 27 chương ii trên.
[105]
Sūtrālaṅ tr. 15.25: kiṃ mūla … bodhisattvānāṃ cittotpādaḥ?
(…) āha: karuṇāmūlaḥ. Cf. Đại 31, tr. 595c21.
[106]
Gopā Śākyakanyā ở Kapilavastu, Gaṇḍa tr. 300ff. Cf. Hoa nghiêm
(Bát), Đại 10, tr. 784a 27; Hoa nghiêm (Thật), tr. 405c; Hoa nghiêm
(Phật), tr. 754cff.
[107]
Gaṇḍa, tr. 300.6 Aśokaśrīr nāma bodhisattvasaṃgītiprasāda-devatā,
vị thiên thần coi nhạc viện của Bồ Tát tên là Aśokaśrī.
Các bản Hán, Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 754c5: Bồ Tát hội
trang nghiêm giảng đường Ly Ưu Diệu Đức thiên; Hoa nghiêm
(Thật), Đại 10, tr. 405c6: Bồ Tát tập hội Phổ hiện pháp
giới quang minh giảng đường thần hiệu Vô Ưu Đức; Hoa nghiêm
(Bát), Đại 10, tr. 784b2: Bồ Tát tập hội Phổ hiện pháp
giới ảnh tượng quang minh cung điện, thần danh Vô Ưu Đức.
[108]
Gaṇḍa, tr. 300.24: ahaṃ khalu devate sarvasattvakleśasantāpa-vyupa-śamena
paramāṃ prītiṃ vindāmi. Cf. Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr. 784b24;
Hoa nghiêm (Thật), tr. 405c26; Hoa nghiêm (Phật), tr. 754c19.
[109]
Gaṇḍa, tr. 301.5: api tu khalu punar devate bodhisattvā bhava-samudragatānām
aparimitaduḥkhaprapīḍitānāṃ sattvānāmantike mahākar-uṇnāṃ
saṃjanayitvā sarvajagatsaṃgrahamahā praṇi-dhim abhinirharanti.
Cf. Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr. 784c11; Hoa nghiêm (Thật), tr.
406a 10; Hoa nghiêm (Phật), tr. 755a4.
[110]
Gaṇḍa, tr. 302.5: dṛṣṭvà lokaṃ viparyastamajñānatimirāvṛtam
/ mahākṛpāṃ saṃjanayya prasthito' si svayaṃbhutām. Cf. Hoa nghiêm
(Bát), Đại 10, tr. 785c25; Hoa nghiêm (Thật), tr. 406b5; Hoa nghiêm
(Phật), tr. 755b1.
[111]
Kośa, kārikā 3 (a-b): dharmāṇāṃ pravicayam antareṇa nāsti kleśānāṃ
yata upaśāntaye'bhyupāyaḥ, «ngoại trừ sự tư duy thẩm sát
về các pháp, không có phương tiện nào thù thắng hơn để
dập tắt phiền não.» Tư duy thẩm sát (dharma-pravicaya: trạch
pháp) ở đây đưđược hiểu là tuệ. Kośa, tr. 2.4: tatra prajñā
dharmapravicaya. Xem Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, T. 68b9: «Văn-thù
nói…Trong Phật pháp, trí là đứng đầu.»
[112]
Trung «9. Thất xa kinh», Đại 1, tr. 429. Pāli: Rathavinīta-sutta,
M.i. 154: sīlavisuddhi yāvad eva cittavisuddhatthā, cittavisuddhi yāvad
eva diṭṭhivi-suddhatthā; (…) ñāṇadassanavisuddhi yāva eva anupādā
parinibbanatthā.
[113]
Thiên Thân Bồ Tát, Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh luận, Đại
25, tr. 782b2: «Tất cả các Ba-la-mật đều được hiển thị
bằng yếu tinh của bố thí ba-la-mật.»
[114]
Xem Hoa nghiêm, (Thật) Đại 10, tr. 334aff, : Thiện Tài tham bái
Đức Vân trên đỉnh Diệu phong; Cf. Gaṇḍa (tr. 48), gặp Meghaśrī
trên núi Sugrīva.
[115]
Xem Hoa nghiêm (Thật) (Đại 10, tr. 335a.ff), : Thiện Tài tham
bái Hải Vân bên bờ Nam hải Cf. Gaṇḍa (tr. 51); gặp Sāgaramegha
tại cửa biển Sāgaramukha.
[116]
Hoa nghiêm (Phật), tr. 429b19; Hoa nghiêm (Thật), tr. 68c13.
[117]
Sūtrālaṅ, tr. 70.3: tam avasthātrayasthaṃ saṃdhāyoktaṃ bhagavatā
Śrīmālāsūtre/ śrāvako bhūtvā pratyekabuddho bhavati punaś ca
buddha iti. Cf. Trang nghiêm kinh, Đại 31, tr. 616a2.
[118]
Sūtrālaṅ, tr. 68.15: dharmanairātmyamuktìnāṃ tulyatvāt gotra-bhedataḥ/
dvyāśayāpteś ca nirmāṇāt paryantād ekayānatā. Cf. Trang nghiêm
kinh, Đại 31, tr. 615b4; Nhiếp luận thích (Huyền), Đại 31,
tr. 377c17.
[119]
Nhiếp luận thích (Huyền) 10, tr. 377c28: «Các hàng Thanh văn
cũng đồng một đích quy hướng. Do đồng đẳng về đích
quy hướng mà Phật thuyết Nhất thừa.»
[120]
Nhiếp luận thích (huyền), tr. 378a8: «Nhiếp thủ bình đẳng
ý lạc: do đây mà nhiếp thủ hết thảy chúng sinh, rằng ‹Kia
tức thị ta. Ta tức thị kia. Đây đã thành Phật, kia cũng
sẽ thành Phật.›»
[121]
Cf. Sadd. tr. 27. 27: te' pi sarve śāriputra buddhā bhagavanta ekam
eva yānam ārabhya sattvānāṃ dharmaṃ deśitavantaḥ, yad idaṃ
buddhayānaṃ sarvajñātāparyavasānam, yad idaṃ tathāgata-jñānadarśana
samādapanam eva sattvānāṃ tathāgatajñāna-darśanasaṃdarśanam
eva tathāgata darśanāva-tāraṇam eva tathāgatajñānadarśana pratibodhanam
eva tathāgatajñāna- darśanamārgāvatāraṇam eva sattvānāṃ dharmaṃ
deśitavantaḥ.
[122]
Nhiếp luận thích (Huyền), đã dẫn trên: gọi đây là «pháp
tánh bình đẳng ý lạc.»
[123]
Nhiếp luận thích (Huyền), đã dẫn trên: «Như Thế Tôn nói,
Ta nhớ lại, trong quá khứ, đã vô lượng trăm lần y trên
Thanh văn thừa mà nhập Niết-bàn.»
[124]
Saddh. tr. 3.14: ekaṃ hi yānaṃ dvitiyaṃ na vidyate, tṛtiyaṃ
hi naivāsti kadācit loke, «trong thế giới này chỉ có một thừa;
không đâu tồn tại thừa thứ hai; thứ ba cũng không.»
[125]
Hoa nghiêm (bản 80, Đại 10, tr. 68c13).
[126]
Saddh. tr. 2.3: gambhīraṃ śāriputra durḍṛśaṃ duranubodhaṃ
buddhajñānaṃ tathāgatair arhadbhiḥ samyaksaṃuddhaiḥ prati-buddham,
durvijñeyaṃ sarvaśrāvakapratyekabuddhaih, «Này Xá-lợi-phất,
trí tuệ Phật mà các đức Như Lai, A-la-hán, Đẳng chánh giác
đã chứng ngộ được thật là sâu xa, khó thấy, khó tỏ
ngộ; và rất khó nhận thức đối với các Thanh văn, Bích-chi-Phật».
Cf. Pháp, Đại 9, tr. 5b26.
[127]
Bảo khốt (Đại 34, tr. 3a3): Các giải thích cũ đều nói Thắng
Man là Pháp thân Bồ Tát. Phần lớn theo quan điểm của Địa
trì kinh theo đó Pháp thân Bồ Tát kể từ địa thứ tám (Bất
động địa: Acalabhūmika) trở lên.
[128]
Pháp hoa, phẩm Tựa.
[129]
Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 689b.ff; Hoa nghiêm (Thật), Đại
10, tr. 333b.ff; Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr. 6798c.ff.
[130]
Bảo khốt, Đại 34, tr. 40a7, Nhiếp thọ Chánh pháp cần được
hiểu là chứng ngộ Chánh pháp. Theo nghĩa đó mà nói nhiếp
thọ Chánh pháp tức Đại thừa.
[131]
Bảo khốt, đã dẫn trên: Quan hệ giữa nhiếp thọ Chánh pháp
và Nhất thừa là quan hệ xuất sinh và thâu nhiếp. Từ nhiếp
thọ Chánh pháp, xuất sinh năm thừa. Nhưng tất cả đều quy
về một thừa. Đoạn dưới, tr. 42a24: nhiếp thọ có hai nghĩa,
xuất sinh và thâu nhập. Chương trước nói về ý nghĩa xuất
sinh. Chương này nói về ý nghĩa hội nhập.
[132]
Bảo khốt, tr. 42c4: «Nhiếp thọ Chánh pháp và Ma-ha-diễn (Skt.
Mahāyāna) cùng đồng nhất thể tính nhưng ý nghĩa dị biệt.
Chứng ngộ xa lìa tà vạy, gọi là nhiếp thọ. Chính đó là
Chánh pháp. Vì được các bậc Đại nhân, chư Phật, thừa
ngự (cỡi lên) nên gọi là ĐĐại thừa.»
[133]
Bảo khốt, tr. 42b20: «Thừa, có hai nghĩa, là xuất sinh và
thâu nhập.» Khuy Cơ, Thắng Man Thuật ký, Vạn 30, tr. 608a 17:
Nhất thừa có hai phẩm tính, là xuất sinh đức và y sanh đức.
[134]
Tham chiếu Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 208c 12: «Cũng như
từ hồ A-nậu-đạt (Skt. Anavatapta) phát xuất bốn con sông
lớn… Bồ Tát cũng vậy, từ Bồ-đề tâm tuôn trào dòng
nước đại nguyện thiện căn, bằng bốn nhiếp pháp, tràn
đầy khắp cúng sanh, không bao giờ cùng tận; mà trái lại,
càng lúc càng rộng lớn; để cuối cùng đổ vào biển Nhất
thiết trí.» Thí dụ này cũng được nhắc đến trong Niết-bàn
(Đại 12, tr. 381c3), giải thích ý nghĩa trường thọ của Như
Lai, tức bốn phẩm tính thường, lạc, ngã, và tịnh của
Niết-bàn. Ý nghĩa này cũng đồng với Thắng Man.
[135]
Bảo khốt, tr. 43b18: «An trụ nơi Đai thừa, là thuyết minh
nhân cách của Đại thừa an trụ nơi pháp tính của Đại
thừa. Nhiếp thọ Đại thừa, là nói trí đã tỏ ngộ Đại
thừa. Hay nói cách khác; y theo pháp mà phát khởi hành thì
nói là trụ. Hành thành tựu chứng pháp, gọi là nhiếp thọ.»
[136]
Bảo khốt, tr. 43c2: «Sở dĩ nêu lên sáu xứ của sơ kỳ,
vì sáu xứ này được nói trong kinh điển Tiểu thừa… Sáu
pháp ấy là cơ sở phát khởi hành động, cho nên gọi là
xứ.» Giải thích của Khuy Cơ chi tiết hơn. Thắng Man Thuật
ký, tr. 609a 3: sáu pháp này được chia thành ba nhóm là giới
học, định học và tuệ học. Phối hợp với bốn pháp tích
(Skt. dharmapada). Do trụ mà pháp thiện phát sanh, nên chánh pháp
trụ thuộc định học, là chánh niệm pháp tích. Do diệt,
mà mê hoặc không còn, chánh pháp diệt thuộc tuệ học, thuộc
chánh định pháp tích. Bốn xứ còn lại, thuộc giới học,
thuộc vô tham pháp tích và vô sân pháp tích. Về bốn pháp
tích, xem Tập dị môn, Đại 26, tr. 395a10: vô tham pháp tích,
vô sân pháp tích, chánh niệm pháp tích, chánh định pháp tích;
Trường, kinh Chúng tập, mục bốn pháp: có bốn pháp túc:
vô tham, vô sân, chánh niệm và chánh định. Pāli, Saṅgīti-sutta
D.iii.207 ff, Cattāri dhamma-padāni: anabhijjhā dhamma-padam, avyāpādo
dhamma-padaṃ, sammā-satidhamma-padaṃ, sammā-samādhi-dhamma-padaṃ.
[137]
Pāli, Cakkavatti-sīhanāda-sutta, D.iii.59: bhūta-pubbaṃ… rājā…
ahosi cakkavatti dhammiko dammarājā… So imaṃ paṭhaviṃ sāgarapariyantaṃ
adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi, «thửa xưa có
vị Chuyển luân vương, có chánh pháp, là pháp vương…Vua
chinh phục và trị yên cõi đất này cho đến tận cùng đại
dương kkông bằng hình phạt, không bằng vũ khí, mà bằng
chánh pháp.»
[138]
Bảo khốt, sđd., nt. , có hai loại trụ-diệt. 1. Theo thời
hạn định số; 2. Có người hành thì trụ, không người hành
thì diệt. Khuy Cơ (sđd., nt.) giải thích khác: trụ và diệt
trên cơ sở định và tuệ, tức là an trụ theo Chánh pháp
và diệt tận phiền nào theo Chánh pháp.
[139]
Đại thừa tuy có xu hướng nhập thế, nhưng vị trí của
người xuất gia vẫn quan trọng. Đại trí độ, quyển 13,
Đại 25, tr. 161a 5: «Tại gia thì ồn ào, bận rộn nhiều công
việc, là cái kho chứa các gốc rễ xấu xa của kết sử.
Cho nên tại gia mà tu tập là khó. Nếu xuất gia, người ấy
như tự do giữa quãng trời trống, tâm chuyên nhất, vô tư
vô lự; tạp niệm bên trong đã trừ mà đa sự bên ngoài cũng
không.» Đây cũng là ý nghĩa xuất gia nguyên thủy. Pāli, kinh
Sāmañña-phala-sutta (D. i. tr. 63): sambādho gharāvaso rajo patho,
abbhokāso pabbajā. Na idaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā ekanta-paripuṇịaṃ
ekanta-paisuddhaṃ saṃkha-likhitaṃ brahmacariyaṃ carituṃ. Du-già
(Đại 30, tr. 551b21), nêu những nét ưu việt của xuất gia
so với tại gia: Tại gia bị ràng buộc bởi cha mẹ, vợ con,
thân thuộc; xuất đã được thoát ly… Bồ Tát xuất gia có
thể nhanh chóng chứng được hết thảy Bồ-đề phần pháp,
chứng đắc thông tuệ, thực hành điều thiện dễ dàng; tại
gia không được như vậy… Bồ Tát xuất gia sống theo luật
nghi thanh tịnh một cách kiên định, nên nói gì đều được
tín phụng; tại gia không được như vậy.
[140]
Tham khảo quan điểm Niết-bàn (Đại 12, tr. 384a24): Người
tuy đã thọ năm giới vẫn chưa thể được gọi là người
Đại thừa, vì không hộ trì Chánh pháp. Người tuy không thọ
năm giới, nhưng cũng được gọi là Đại thừa, nếu người
ấy hộ trì Chánh pháp, ngay cả việc cầm vũ khí để bảo
vệ người thuyết pháp.
[141]
Đại trí độ, Đại 25, tr. 110b2: «Phiền não có hai loại,
một thuộc ái và một thuộc kiến.» Trung luận, «Quán pháp
phẩm» (Đại 30, tr. 25b9), «Có hai loại hý luận: ái luận
và kiến luận.»
[142]
Cf. Pali, Bhaya-sutta (A.i. 178f): có ba sự sợ hãi chia rẻ mẹ
con: già, bịnh và chết (tīṇi bhayāni: vyāpadha-bhayaṃ, jarā-bhayaṃ,
maraṇa-bhayaṃ). Đại thừa thường hay nói đến năm thứ
sợ hãi, mà cho đến khi lên bực Sơ địa Bồ Tát mới thoát
khỏi: 1. Sợ thiếu phương tiện sống, 2. Sợ tiếng xấu,
3. Sợ chết, 4. Sợ đọa ác đạo, 5. Sợ đám đông. Xem Hoa
nghiêm (Thật), tr. 181b14 Cf. Daśa tr. 9.8: yad idaṃ ājīvikābhayaṃ
vā aślokabhayaṃ vā maraṇabhyayaṃ vā durgatibhayaṃ vā parṣac
chāradyabhayaṃ vā tāni sarvāṇi vyapagatāni bhavanti.
[143]
Dh.188.
[144]
Tham chiếu Thành duy thức, quyển 8, Đại 31, tr. 45a14: «Sinh
tử có hai, 1. Phần đoạn sinh tử. Đó là quả dị thục thô
hiển (được chín mùi) của các nghiệp thiện và bất thiện
thuộc hữu lậu chiêu cảm bởi thế lực trợ duyên của phiền
não chướng. Quả ấy là (tuổi thọ) dài ngắn của thân mạng
tùy theo sức mạnh của nhân duyên mà có hạn lượng xác định.
Do đó gọi là phần đoạn…; 2. Bất tư nghị biến dịch
sanh tử. Đó là quả dị thục vi tế và thù thắng của nghiệp
vô lậu có phân biệt, được chiêu cảm bởi năng lực trợ
duyên của sở tri chướng. Quả ấy, do bi nguyện, chuyển đổi
thân mạng thành không hạn định. Do đó gọi là biến dịch.»
[145]
Tham chiếu Lăng-già, Đại 16, tr. 618b 26: «Tam-muội (tức chánh
định) mà Bồ Tát địa thứ tám đạt được cũng đồng
với Niết-bàn của Thanh văn và Duyên giác. Nhưng do năng lực
hỗ trợ của chư Phật nên Bồ Tát ở nơi tam-muội môn mà
không nhập Niết-bàn. Vì nếu không được duy trì, thì Bồ
Tát sẽ không còn hóa độ hết thảy chúng sinh được nữa;
không thể thành tựu viên mãn địa vị Như Lai, và như thế
là làm dứt chủng tính Như Lai. Cho nên, chư Phật giảng thuyết
các công đức vĩ đại, bất khả tư nghị của Như Lai, khiến
cho Bồ Tát không triệt để nhập Niết-bàn. Thanh văn và Duyên
giác vì còn bị dính mắc vào lạc thú của tam-muội cho nên
ở trong đó mà có ấn tượng là nhập Niết-bàn.» Cf. Laṅkā,
tr. 86.20: aṣṭamyāṃ Mahāmate nirvāṇāṃ śrāvakapratyeka-buddhodhisattvānāṃ/
bodhisattvāś ca samādhibuddhairvidhāryante tasmāt samādhisukhād,
yena na parinirvānti aparipūrịatvāt tathāgatabhūmeḥ/ sarvakāryaprati
prasrambhaṇaṃ ca syāt, yadi na saṃdhārayet, tathāgatakula- vaṃśocchedaśca
syāt/ acintyabuddha-mahātmayaṃ ca deśayanti te buddhā bhagavantaḥ/
ato na parinirvānti/ śrāvaka-pratyekabuddhās tu samādhisukhenāpahriyante/
atas teṣāṃ tatra parinirvāṇabudhir bhavati.
[146]
Ý sinh thân (Skt. manomaya-kāya) cũng nói là ý thành thân. Lăng-già,
quyển 4, Đại 16, tr. 607b22: «Có ba loại ý thành thân: 1. Nhập
tam-muội lạc chánh thọ ý thành thân (samādhisukhasamāpattimanomaya):
Bồ Tát ở các địa thứ ba, thứ tư và thứ năm khi nhập
tam muội, dứt mọi tạp loạn, tâm tịch nhiên bất động;
biển tâm không nổi lên các sóng chuyển thức; tâm nhận thức
cảnh toàn triệt, nhưng không có gì tồn tại. Đó là thân
được ý tạo thành do lạc thú của tam-muội; 2. Giác pháp
tự tánh ý thành thân (svabhāvāvabodhamanomaya), Ở địa
thứ tám, Bồ Tát nhận thức rõ các pháp là như huyễn, thảy
đều không yếu tính. Tâm chuyển biến sở y của nó mà an
trụ vào định như huyễn và các chánh định khác, có khả
năng hóa hiện vô lượng thần thông, như hoa nở, nhanh chóng
theo ý muốn; như huyễn, như mộng, như ảnh, như tiếng vang;
thân không do bốn đại tạo thành hay tương tợ, nhưng đầy
đủ trang nghiêm mọi sắc tướng, nhập vào khắp cùng cõi
Phật, thấu triệt tự thể của hết thảy các pháp, Đó gọi
là thân được sáng tạo bởi sự giác ngộ về tự thể của
pháp. 3. Chủng loại câu sanh vô tác hành ý thành thân (dharmanikāyasahajasaṃskārakriyāmano-maya)
Thấu suốt tất cả pháp tướng tự chứng của Phật. Đó
là thân được sáng tạo do vô tác hành cùng tồn tại với
mọi chủng loại.» Cf. Lăng-già (bản 4 quyển), Đại 16, tr.
497c17; Nhập Lăng-già kinh, Đại 16, tr. 540b16. Cf. Laṅkā, tr.
56.5
[147]
Lăng-già, Đại 16, tr. 618c15: «Các Bồ Tát khi nhìn thấy cánh
cửa dẫn vào lạc thú tam muội, liền nhớ ngay đến bản
nguyện đại bi của mình, tu hành đầy đủ mười phạm trù
vô tận, do đó không nhập Niết-bàn ngay.» Cf. Laṅkā, tr.
87.3: bodhisattvāḥ punar… nirodhasamādhisukhamukhaṃ dṛṭvā
pūrvapraṇi-dhānakṛpākaruṇopetà niṣṭhapadagativibhāgajñā
na parinirvānti.
[148]
Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật kinh (Tiểu phẩm, La-thập), «27. Phẩm
Tát-đà-bà-luân», Đại 8, tr. 27ff.; Đại bát-nhã (Huyền Tráng),
quyển 399, «77. Thường Đề Bồ Tát phẩm», (Đại 6, tr. 1059ff0).
Đại trí độ, quyển 96 (Đại 25, tr. 732a 12): «Vị Bồ Tát
này thực hành đại bi, tâm rất nhu nhuyến, thấy chúng sanh
trong đời ác trược chịu cảnh nghèo khốn, già bịnh, đau
khổ ưu sầu, nên thường buồn khóc.» Cf. Aṣṭasāhasrikā,
xxx. Sadāprarudita.
[149]
Tạp bảo tạng kinh, T. 203, Đại 4, tr. 447ff. Chuyện được
kể trong A. i (Pali Text Society), về một thương gia tên Kappaṭa
và con lừa đực của ông ta.
[150]
Trung «153. Man-nhàn-đề», Đại 1, tr. 670ff. Cf. M. i. 502 ff.
Māgandiya.
[151]
Trụ địa phiền não (Sk. vāsanābhūmi-kleśa); cũng nói là tập
địa phiền não hay tập khí phiền não. Do gốc động từ
VAS: vasati, có hai nghĩa: 1. trùm kín người hay khoác y phục;
và 2. đình trú hay cư ngụ. Cũng có thể do động từ vāsayati:
xông hương hay ướp lấy mùi. Vāsanā, do đó chỉ ấn tượng
còn lưu lại, hay tàn dư của tập quán. Cũng có nghĩa cái
đã được xông ướp, tức tập khí, tàn dư của hơi cũ;
nó cũng được dịch là huân tập, tức sự xông ướp, hay
tập quán đã được xông ướp. Ở đây, trụ địa phiền
não, hay tập khí phiền não, hiểu theo nghĩa đen, là loại
ô nhiễm tồn tại như là mảnh đất đã được xông ướp.
Về ý nghĩa xông ướp, Nhiếp luận thích (Chân), Đại 31,
tr. 162b20ff: «Pháp gì được gọi là tập khí? Cái xông ướp
tương ưng với cái được xông ướp, cùng sinh cùng diệt;
sau đó biến thành cái làm tác nhân cho sinh khởi cho cái được
xông ướp. Như người ta đem hoa ướp vừng. (…). Người
đa văn thì có tập khí đa văn. Tức thức được xông ướp
nhiều lần bởi sự đa văn. Sự kiện đa văn sinh rồi diệt
nhiều trong ý thức, xông ướp thức A-lại-da. Xông ướp tái
diễn, trở thành thông minh bác học.»
[152]
Vô minh trụ địa, Thành duy thức 8, Đại 31, tr. 45a 23 gọi
là «vô minh tập địa.» Laṅkā, tr. 90.9: anādikālavividha prapañcadauṣṭhulya
vāsanāvāsitaḥ ālayavijñānasaṃśabdito' vidyāvāsanābhūmijaiḥ
saptabhir vijñānaiḥ saha mahodadhitaraṃga vannityam avyu-cchinna
śarīraḥ pravartate anityatādo-ṣarahita ātmavādavini-vṛtto' tyantaprakṛtipriśuddhaḥ,
«cái được gọi là A-lại-da thức, vốn được xông ướp
bởi các tàn dư tập khí tệ hại của những hý luận từ
lâu đời, mà bản thân liên tục không gián đoạn, chuyển
động nhưư lớp sóng của đại dương cùng với bảy thức
vốn là những mảnh đất của tàn dư tập khí vô minh.» Hán
dịch tương đương: Lăng-già 5 (Đại 16, tr. 619c5), «Cái được
huân tập bởi ác tập hư ngụy từ vô thủy, được gọi
là Tạng thức, sinh ra bảy thức, là những vô minh trụ địa.
Ví như biển lớn mà nổi sóng, nhưng tự thể của nó vẫn
tiếp nối liên tục hằng lưu chuyển không ngừng.»
[153]
Chủng tử. Skt. bīja, hạt giống. Du-già 52 (Đại 30, tr. 589a
8): «Hạt giống được xác định (an lập chủng tử), đó
là tập khí, tồn tại trong thức A-lại-da, với quan niệm
phân biệt sai lầm về tự thể của các pháp. Tập khí này
được hiểu theo ý nghĩa thế tục.» Nhiếp luận thích 2 (Chân),
Đại 31, tr. 163b1): «Như thóc được gọi là hạt giống nếu
nó có công năng nảy mầm. Do để quá lâu, hay do hỏng vì
lửa, nó không còn công năng nảy mầm, bấy giờ tuy vẫn là
hạt lúa như trước nhưng không còn được xem là hạt giống
nữa…»
[154]
Hiện hành (Skt. abhisaṃskāra), cái đang hoạt động. Thành
duy thức 7 (Đại 31, tr. 40a 22), quan hệ chủng tử và hiện
hành là quan hệ giữa tiềm thế và hiện thế: chủng tử,
là các công năng sai biệt của cái giới địa, tức các môi
trường tồn tại, với tính chất thiện, ô nhiễm hay không
xác định, tồn tại trong Bản thức tức A-lại-da thức (Ālaya-vjñāna).
Hiện hành, là bảy chuyển thức (pravṛtti-vijñāna) cùng với
các giới địa là những biến tướng tương ưng với chúng.
[155]
Hai giai đoạn trong toàn bộ quá trình: Kiến đạo (Skt. darśaṇa-mārga)
và Tu đạo (Skt. bhavana-mārga). Kośa, kārikā vi.1: kleśaprahāṇam
ākhyātaṃ satyadarśanabhāvanāt, «sự ô nhiễm được diệt
trừ do sự thấy chân lý và tu tập phát triển.» Câu-xá 23
(Đại 9, tr. 121a 23ff): Ngay khi đạt đến điểm cao của sự
quán sát về bốn Thánh đế, một cách trực tiếp, và liên
tục, mười sáu sát-na tâm khởi lên, nhận thức bản chất
hiện thực trong bốn Thánh đế. Đó là giai đoạn vào kiến
đạo, chứng Dự lưu hướng (Śrota-āpatti-pratipannaka). Ở đây,
những phiền não ô nhiễm hoạt động do ảnh hưởng nhận
thức sai lầm về bản chất tồn tại được diệt trừ. Những
phiền não ấy được gọi là phiền não kiến sở đoạn hay
kiến sở đoạn hoặc (darśanaprahātavya-kleśa). Đó cũng gọi
là những phiền não do mê lý. Sau đó tiếp tục tu tập, lần
lượt diệt trừ các phiền não do mê sự, được gọi là
tu sở đoạn hoặc (bhāvana-prahātavya-kleśa), và lần lượt
chứng các quả Thánh, cho đến diệt trừ hoàn toàn các phiền
nào thì chứng quả A-la-hán (Arhattva-phala). Trong Đại thừa
Duy thức, Thành duy thức 9 (Đại 31, tr. 50a 5ff): «Qua quá trình
nỗ lực không ngừng, khi trí vô phân biệt (nirvikalprajñā)
phát sinh, nhận thức được chân như (bhūtatathatā), lúc ấy
Bồ Tát bước vào giai đoạn thông đạt (prativedhavastha). Do
mới bắt đầu soi sáng lý tánh, nên gọi là kiến đạo. Đối
tượng quán sát ở đây cũng là bốn Thánh đế, nhưng được
quán sát theo nghĩa chân không (śūnyatā) cho nên lý thể của
Thánh đế là chân như… Lúc đó Bồ Tát bắt đầu chứng
nhập Sơ địa (Pramuditā). Sau đó là giai đoạn tu đạo, trải
qua cho hết mười địa.»
[156]
Kiến sở đoạn hoặc (darśanamārga-prahātavya-anuśaya) và tu
sở đoạn hoặc (bhavanamārga-prahātavya-anuśaya); điển hình,
dẫn Câu-xá19 (Đại 29, tr. 98b.ff). Về tác nhân tâm lý ô nhiễm
chủ yếu, tức căn bản phiền não hay tùy miên (kleśa, anuśaya),
có sáu: tham (rāga), sân (pratigha), mạn (māna), vô minh (avidyā),
kiến (dṛṣṭi) và nghi (vicikitsā). Trong đó, kiến hay quan
điểm triển khai thành 5: hữu thân kiến (satkāyadṛṣṭi),
tà kiến (mithyadṛṣṭi), biên chấp kiến (antagrāha-dṛṣṭi),
kiến thủ kiến (dṛṣṭiparāmarśa-dṛṣṭi), giới cấm
thủ (śīlavrataparāmarśa-dṛṣṭi). Mười phiền não này,
do tác động bởi nhận thức sai lầm về bốn Thánh đế trong
ba giới tồn tại khác nhau nên chúng hoạt động như là 88
chức năng tâm lý khác nhau. Phân bố như sau: A. Dục giới,
1. Mê lầm khổ đế, có đủ 10 phiền não; 2. Mê tập đế,
có 7 (trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ); 3. Mê diệt
đế, có 7 (như tập đế), 4. Mê đạo đế có 8 (trừ thân
kiến, biên kiến). Cộng: 32. Sắc và Vô sắc giới đều có
28 (trong mỗi đế trừ sân). Tổng cộng 88. Tất cả dứt sạch
một lần khi nhận thức được bốn Thánh đế. Về tư hoặc,
còn lại 4 trong số 10 căn bản phiền não: tham, sân, mạn và
vô minh. Tất cả gồm chung thành một nhóm, do tính chất sâu
cạn, được chia thành ba cấp, mỗi cấp lại có ba bậc, thành
9 phẩm, nhân cho chín giới địa (1 Dục giới, 4 Sắc giới
và 4 Vô sắc giới). Chúng được lần lượt được dứt trừ,
cho đến khi sạch tuyệt. Do trình độ diệt trừ khác nhau
nên các quả Thánh được chứng cũng khác.