CHƯƠNG
IV:
BỒ
TÁT NGUYỆN
TIẾT
1: HẠNH NGUYỆN CỦA BỒ TÁT
I.
Ý NGHĨA BỒ TÁT NGUYỆN
Bồ-đề
tâm, Bồ tát hạnh, và Bồ tát nguyện, đó là ba yếu tố
quyết định đưa đến Phật thừa. Trên kia, với chương thứ
nhất, tán thán những phẩm tính siêu việt của Như Lai, Thắng
Man phu nhân đã phát khởi tâm nguyện Bồ-đề, mong cầu quả
vị giác ngộ vì lợi ích không chỉ riêng mình mà vì lợi
ích của tất cả. Rồi ở chương hai, Phu nhân lại đề ra
những hành vi đạo đức thực tiễn của Bồ tát hạnh bằng
mười đại thọ. Nhưng, như luận Thập trụ tì-bà-sa nói:
«Phát nguyện cầu Phật đạo nặng nhọc hơn cả việc nâng
đỡ ba ngàn đại thiên thế giới.» Chỉ có thể thành tựu
mục tiêu tối thượng ấy bằng ý chí kim cang bất hoại.
Ý chí ấy được gọi là «nguyện», là thệ nguyện hay quyết
tâm. Cho nên, sau khi đã phát Bồ-đề tâm, khởi Bồ tát hạnh,
chương này sẽ nói đến thệ nguyện vĩ đại của Bồ tát.
Hoa nghiêm thám huyền ký[67] phân tích có bốn loại nguyện
của Bồ tát:
l.
Thệ nguyện, ước hẹn thời gian trước khi hành động.
2.
Hành nguyện, gồm hai trường hợp: (a) cùng phát khởi một
lần với hành động, (b) đối sự mà phát nguyện với chủ
đích giữ vững tâm chí không để gián đoạn và tán loạn.
3.
Nguyện sau hành tức bằng hành động mà hướng ước nguyện
của mình đến Bồ-đề đạo.
4.
Tự thể vô ngại nguyện, tức đại nguyện cứu cánh đồng
với biển pháp tánh, thong dong mà thành tựu tất cả sự nghiệp.
Bốn
loại nguyện này trải suốt con đường hành đạo từ khi
mới phát tâm cho đến khi đạt địa vị không thối chuyển.
Nhóm
nguyện thứ nhất, như trường hợp Thiện Tài đồng tử sau
khi được Văn-thù giảng dạy, phát tâm hướng thượng, mong
cầu học hỏi đầy đủ Phật pháp và giác ngộ rốt ráo.[68]
Nhóm
hạnh nguyện thứ hai, là những lời nguyện trong lúc hành
động như được nói trong phẩm «Tịnh hạnh» của kinh Hoa
nghiêm.[69] Theo đó, mỗi hành vi của mình đều mang ước nguyện
tưởng đến sự an lạc của chúng sanh. Thí dụ, khi trải
giường chiếu thì nguyện như vầy: «Khi trải giường chiếu,
nguyện cho chúng sanh trải bằng thiện pháp, thấy chân thật
tướng.» Hoặc khi cất bước ra đường thì nguyện rằng:
«Cất bước ra đường, nguyện cho chúng sanh bước lên lối
Phật, vào vô y xứ.» Hoặc khi ngủ nghỉ thì nguyện rằng:
«Vào lúc ngủ nghỉ, nguyện cho chúng sanh thân được an ổn,
tâm không loạn động.» Những lời nguyện như vậy, có mục
đích làm cho tâm niệm của mình không hề rời bỏ chúng sanh
trong mọi hành vi cử chỉ của mình, và do đó không hề xao
lãng chí nguyện Đại thừa của mình.
Nhóm
nguyện thứ ba, cũng nói là sự hồi hướng.
Nhóm
thứ tư là hạnh nguyện hay quyết tâm hành động của Phổ
Hiền.[70]
Ba
đại nguyện của Thắng Man phu nhân như là kết quả của
các hành động bởi mười đại thọ nên có thể liệt vào
nhóm thứ ba. Tuy nhiên, bản chất và nội dung của các đại
nguyện này cũng bao trùm cả bốn nhóm nguyện vừa kể. Chúng
ta sẽ nói thêm ở đoạn sau. Ở đây, chúng ta đưa ra một
số nguyện thuộc nhóm thứ tư, và một số nguyện có tính
chất tổng quát.
Nhóm
nguyện thứ tư trong bảng liệt kê của Hoa nghiêm kinh thám
huyền ký trên đây thực sự là nguyện lực bất khả tư
nghị của Bồ tát trên hàng pháp thân đại sĩ,[71] nghĩa là
đã trải qua một thời gian dài tu tập, thấy rõ bản chất
của thế gian, thấy biết sâu xa Phật pháp. Đặc sắc của
nguyện lực này như được diễn tả trong kinh Hoa nghiêm, phẩm
«Nhập pháp giới», qua lời Bồ tát Di-lặc tán dương Thiện
Tài đồng tử. Sau khi trải qua 5l nơi học hỏi đạo lý, trên
quá trình tu chứng của Đại thừa, bấy giờ Thiện Tài đồng
tử đã hoàn toàn an trụ vững chắc trong chí nguyện Đại
thừa. Ước nguyện và hành vi, cả hai không còn cách biệt.
Cho nên, lời tán dương của Bồ tát Di- lặc nói: «Với những
kẻ trôi nổi trong bốn dòng nước xoáy,[72] con người chân
thật này muốn làm con thuyền đại pháp đưa chúng sinh vượt
qua đại dương. Với những kẻ chìm ngập trong bùn lầy của
kiến chấp, người này muốn làm chiếc cầu đại pháp. Với
những kẻ tối tăm ngu dốt, người là ngọn đèn đại trí.
Với những người lạc lối trong sa mạc sanh tử, người muốn
làm kẻ chỉ bày lối đi của bậc Thánh…»[73] Thiện Tài
sau khi nghe những lời tán thán ấy, hoan hỷ phấn khởi, chấp
tay cung kính hướng về Bồ tát Di-lặc, bất giác nhìn lại
hai bàn tay của mình thấy đầy những hoa thơm đang nở rộ.
II.
MƯỜI NGUYỆN SƠ PHÁT TÂM
Nhóm
nguyện được nói có tính chất tổng quát, đặc trưng chí
hướng của Bồ tát đạo, là mười nguyện được nhắc đến
trong Du-già .[74] Xét về bản chất thì thấy chúng có tính
chất tổng quát, nghĩa là bao hàm từ những vị mới phát
tâm mong cầu Phật đạo cho đến những hàng đại Bồ tát.
Nhưng trong quá trình tiến bộ của Bồ tát, chúng được liệt
kê trong bảng những đức tính của Bồ tát sắp sửa bước
vào Sơ địa, tức bắt đầu dự vào hàng Thánh giả của
Đại thừa, vượt lên các hạng phàm phu.
Nói
là được nhắc đến trong Du-già nhưng xuất xứ chính
xác phải nói từ phẩm «Thập địa», kinh Hoa nghiêm. Dưới
đây sẽ lược dẫn theo trình bày của kinh Hoa nghiêm.[75] Mười
nguyện này như sau:
l.
Nguyện cúng dường Phật:[76] Bồ tát quyết định như vầy:
«Bằng tất cả mọi vật dụng cúng dường, cung kính cúng
dường hết thảy chư Phật.» Giải thích của Thập trụ[77]
nói: «Kể từ khi vừa mới phát tâm cho đến lúc thành tựu
đại Bồ-đề, trong khoảng trung gian đó… cúng dường, tôn
trọng… (Nhưng) bằng pháp Tiểu thừa mà giáo hóa chúng sanh,
gọi là cung dưỡng (tức là cho). Bằng pháp Bích-chi-Phật
mà giáo hóa chúng sanh, gọi là phụng cấp (tức là cấp dưỡng).
Bằng pháp Đại thừa mà giáo hóa chúng sanh, gọi là cung kính.»
Nói tóm lại, cúng dường chư Phật bằng sự giáo hóa được
đề cao nhất.
2.
Nguyện thọ trì chánh pháp: «Nguyện tiếp thọ Pháp luân của
hết thảy chư Phật; nguyện nhiếp thọ Bồ-đề của hết
thảy chư Phật; nguyện thủ hộ giáo của hết thảy chư Phật;
nguyện duy trì pháp của hết thảy chư Phật.» Nhiếp thọ,
tức thệ nguyện học hỏi để thấu suốt. Hộ trì, là sẵn
sàng xả bỏ thân mạng cho sự tồn tại của chánh pháp vì
lợi ích cho tất cả.
3.
Nguyện nhiếp pháp thượng thủ: «Nguyện trong tất cả thế
gian, nơi nào có Phật xuất hiện, từ Đâu-suất thác sanh,
nhập thai, trụ thai, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết
pháp, thị hiện Niết-bàn, tôi thảy đều đi đến nơi đó,
thân cận cúng dường, làm bậc thượng thủ trong đại chúng,
thọ hành Chánh pháp, vận chuyển khắp trong mọi thời, khắp
trong mọi xứ.» Nguyện này có hai phần: nhiếp thọ Phật
pháp và làm thượng thủ trong đại chúng, nghĩa là ước nguyện
có thể thay thế Phật mà vận chuyển Pháp luân. Nói cách
khác, đây là thệ nguyện đảm trách công việc tuyên giáo
cho bất cứ vị Phật nào xuất hiện trong thế gian.
4.
Tăng trưởng chúng sanh tâm hành: «Nguyện rằng, tất cả Bồ
tát hạnh, quảng đại, vô lượng, không hoại, không tạp,
nhiếp các ba-la-mật, tịnh trị các địa, tổng tướng, biệt
tướng, dị tướng, thành tướng, hoại tướng, tất cả Bồ
tát hạnh ấy, tôi đều giảng thuyết như thật, giáo hóa
tất cả khiến cho tiếp thọ và hành trì, tâm được tăng
trưởng.» Trong nguyện này, mong bằng các phương tiện, đúng
với chân tính của sự vật, khuyến khích và làm tăng trưởng
tâm hành của chúng sanh, nghĩa là nâng cao trình độ tâm linh,
để hướng dẫn bước vào Phật đạo. Nguyện này cũng được
gọi là «tri chúng sanh tâm», ước nguyện biết rõ căn tánh
của mỗi chúng sanh để thích hợp trong sự giáo hóa và tăng
trưởng. Nhiếp luận thích gọi là «tu hành nguyện.»
5.
Giáo hóa chúng sanh: «Nguyện rằng, tất cả chúng sanh giới,
sắc hay vô sắc, tưởng hay vô tưởng, phi hữu tưởng phi
vô tưởng, loài sanh bằng trứng, bằng thai, bằng ẩm thấp,
bằng biến hóa, hệ thuộc ba cõi, ở trong sáu thú, tất cả
sinh xứ, được thâu nhiếp trong danh và sắc, các chủng loại
như vậy, vân vân, tôi đều giáo hoá đưa vào Phật pháp,
để vĩnh viễn đoạn trừ tất cả cõi thú của thế gian
cho được an trụ trong Nhất thiết trí đạo.»
Nguyện
thứ nhất, tu tập để phát triển tín tâm bằng sự cúng
dường gần gũi, nguyện thứ hai, học hỏi vô biên Phật pháp.
Hai nguyện này hướng đến sự thành tựu bản thân. Nguyện
thứ ba, làm thượng thủ trong giáo hội, nguyện thứ tư, hỗ
trợ phát triển, nâng cao đạo tâm cho những người đồng
học hay đã có tín tâm. Nguyện thứ năm này là đưa những
người chưa có tín tâm vào con đường Nhất thiết trí. Do
đó, nguyện này cũng được gọi là «thành tựu chúng sanh.»
6.
Nguyện biết rõ thế giới: «Nguyện rằng, hết thảy thế
giới, quảng đại, vô lượng, thô hay tế, loạn trụ, hay
đảo trụ, hay chánh trụ, hoặc đến, hoặc đi, sai biệt như
màng lưới đế thanh minh châu, mười phương vô lượng, đủ
loại bất đồng, tôi được thấy rõ bằng trí, hiện tiền
thấy biết.» Nguyện này cũng được gọi là «thừa sự»,
thừa hành Phật sự hay phụng sự Phật pháp. Bởi vì, ước
nguyện thấy biết, hiểu rõ thế gian, thấu suốt bản chất
chân thật của chúng, không bị trở ngại trong bất cứ hành
động nào của mình, như vậy mà có thể phụng sự được
toàn vẹn.
7.
Nguyện tịnh Phật quốc độ: «Nguyện rằng, hết thảy quốc
độ, nhập vào một quốc độ, một quốc độ nhập vào hết
thảy quốc độ, vô lượng cõi Phật, tất cả tôi đều làm
cho thanh tịnh, làm rực sáng bằng các vật dụng để trang
nghiêm, xa lìa hết thảy ô nhiễm, thành tựu đạo thanh tịnh,
vô lượng chúng sanh có trí tuệ sung mãn ở trong đó, tất
cả đều vào cảnh giới bao la của chư Phật, tùy theo tâm
chúng sanh mà thị hiện, khiến cho hết thảy đều hoan hỉ.»
Đây là ước nguyện làm cho tất cả mọi thế gian đều trở
thành tịnh độ, không có những khốn khổ vật chất, không
có những hệ lụy phiền não.
8.
Nguyện đồng tâm hành: «Nguyện rằng, cùng với tất cả
Bồ tát đồng một chí hướng và hành động, không thù oán,
không ganh tị, tích tụ các thiện căn, với tất cả Bồ tát,
cùng một duyên bình đẳng, thường cùng hội họp không rời
bỏ nhau, tùy ý có thể hóa hiện đủ các Phật thân, tùy
tâm có thể biết cảnh giới uy lực, trí của hết thảy Như
Lai, được bất thối như ý thần thông, du hành tất cả thế
gian, hiện hình trong tất cả chúng hội, vào khắp tất cả
chỗ thọ sinh, thành tựu bất tư nghị Đại thừa, tu Bồ
tát hạnh.» Đây là ước nguyện luôn luôn gần gũi thiện
tri thức. Gần gũi thiện tri thức là nhân tố chính yếu của
Bồ tát đạo. Vì sự giác ngộ được thành tựu ngay giữa
thế giới khốn nạn của chúng sinh, cho nên Bồ tát ước
mong với ý chí sắt đá có thể đến bất cứ nơi nào để
học hỏi, để giáo hóa.
9.
Nguyện ba nghiệp không cùng tận: «Nguyện nương theo bánh
xe không thối lui, thực hành Bồ tát hạnh, hành vi của thân,
ngữ và ý đều không là những hành vi suông. Nếu chúng sinh
nào chợt gặp tôi, mong cho quyết định Phật pháp, bất chợt
nghe tiếng nói của tôi, liền được trí tuệ như thật, tịnh
tín vừa sinh, tức thì vĩnh viễn đoạn trừ phiền não, được
thân hình như gốc cây đại dược vương, được thân hình
như như ý bảo, tu hành tất cả Bồ tát hạnh.» Đây là thệ
nguyện nỗ lực thực hành cho kỳ được tất cả Bồ tát
hạnh trong bất cứ trường hợp nào.
10.
Nguyện thành Bồ-đề: «Nguyện, ở trong tất cả thế gian
mà thành tựu giác ngộ tối thượng, không rời khỏi khoảng
bằng đầu ngọn lông xíu mà thị hiện khắp tất cả mọi
nơi, dù nhỏ bằng đầu lông xíu, sơ sanh, xuất gia, bước
đến đạo tràng, thành chánh giác, chuyển Pháp luân, nhập
Niết-bàn, chứng đắc cảnh giới Phật, năng lực đại trí
tuệ, ở trong mỗi một niệm, tùy tâm của tất cả chúng
sanh mà thị hiện thành Phật, khiến cho được tịch diệt,
bằng một niệm chánh giác mà biết tất cả pháp giới tức
Niết-bàn tướng; bằng một âm thanh mà thuyết pháp khiến
hết thảy chúng sanh đều sanh tâm hoan hỉ, thị hiện nhập
đại Niết-bàn mà không đoạn tuyệt Bồ tát hạnh; chỉ bày
mặt đất đại trí tuệ; đặt vững tất cả pháp; bằng
pháp trí thông, thần túc thông, huyễn thông, tự tại biến
hóa sung mãn tất cả pháp giới.»[78]
Đây
là ước nguyện tối thượng và cùng đích của Bồ tát. Đến
đây, chúng ta sẽ so sánh mười đại nguyện trên với ba đại
nguyện của Thắng Man phu nhân
TIẾT
2: BA ĐẠI NGUYỆN
I.
YẾU TÍNH BA ĐẠI NGUYỆN
Chương
này cũng có tên, theo chữ Hán, là «Nhất thiết nguyện nhiếp
đại nguyện.» Về cú pháp, như giải thích của Tuệ Viễn,[79]
đây là đặt câu theo cách «ngoại quốc», tức theo văn pháp
tiếng Phạn. Nếu đặt theo Hán văn phải nói như vầy: «Đại
nguyện nhiếp nhất thiết nguyện» Nghĩa là, cái đại nguyện
thâu tóm, bao quát tất cả nguyện. Nguyện được chia làm
ba, nhưng căn bản chỉ có một. Căn bản đó là Chánh pháp,
nói rõ hơn, đó là Chánh lý của Đại thừa. Chánh lý ấy
được Phu nhân trình bày một cách hệ thống suốt từ chương
v đến chương xiii.
Nguyện
được chia làm ba phương diện, theo quan điểm của Bảo khốt[80]
của Cát Tạng, ấy là tương đương với ba tụ tịnh giới
của Bồ tát. Nghĩa là nguyện tương ứng với hành. Nguyện
thứ nhất nói: đời đời thọ sinh đều được Chánh pháp
trí, đó là nguyện tự hành, tương ứng với nhiếp luật
nghi giới. Nguyện thứ hai nói: sau khi đã thành tựu Chánh
pháp trí, bằng tâm không mệt mỏi, sẽ giảng thuyết cho tất
cả chúng sanh, đây là nguyện ngoại hóa, tương ứng với
nhiếp chúng sinh giới. Nguyện thứ ba nói: đối với sự nhiếp
thọ Chánh pháp, sẽ xả bỏ thân mạng và tài sản để hộ
trì Chánh pháp, đây là nguyện hộ pháp, thành tựu nhiếp
thiện pháp giới.
II.
NỘI DUNG BA ĐẠI NGUYỆN
l.
Nguyện Chánh pháp trí : được định nghĩa theo Nghĩa
ký[81] của Tuệ Viễn, đó là chứng như thật tuệ. Tức trí
tuệ thấy rõ bản tánh của các pháp. Định nghĩa của Nghĩa
sớ [82] của Thánh Đức, đó là thường trụ trí, tức trí
tuệ bản hữu không bị chi phối bởi mọi sinh thành hay hoại
diệt của hiện tượng giới. Nói một cách tổng quát, nguyện
Chánh pháp trí ở đây là ước nguyện học hỏi tất cả
Phật pháp. Tính cách hoằng đại vô biên của Phật pháp như
được Hải Vân tì kheo[83] mô tả cho Thiện Tài đồng tử.
Chỉ trong một ý nghĩa, giữa vô biên ý nghĩa của một pháp
môn, trong số vô lượng pháp môn, chỉ một câu ấy mà dùng
số lượng mực nhiều bằng biển cả và với ngọn bút bằng
ngọn núi chúa Tu-di, viết cho đến mực khô bút cùn mà vẫn
không thể diễn tả thấu suốt hết. Bởi vì chúng sinh giới
vốn vô tận, thế gian tính vô tận, hư không giới vô tận,
pháp giới vô tận, niết-bàn giới vô tận, Phật xuất hiện
giới vô tận, Như Lai trí giới tâm sở duyên giới vô tận,
cảnh giới sở nhập của Phật trí vô tận, giới tính vận
chuyển thế gian, vận chuyển pháp, vận chuyển trí vô tận.
Với mười tánh vô tận ấy,[84] Phật pháp cũng vô tận và
do đó thệ nguyện cũng vô tận.
Đối
chiếu với mười nguyện đã nói ở trên, nguyện tự hành
này của Thắng Man phu nhân bao hàm các nguyện như sau: (l) nguyện
cúng dường, (6) nguyện biết thế giới, (9) nguyện ba nghiệp
không cùng tận. Bởi vì trên phương diện tự hành, sự thân
cận cung kính cúng dường Phật là để xác lập vững chắc
tín tâm đối với mục đích tối thượng và quyết định
là phải thành tựu. Đó là tu tập bằng tín. Và lại nữa,
bởi vì thế gian tính cũng chính là giới tính của Phật pháp,
cho nên ước nguyện hiểu biết thấu triệt tất cả thế
giới tánh cũng chính là ước nguyện vào sâu trong biển Phật
pháp. Đó là tu tập bằng trí. Mọi hành vi cử chỉ, trong
mọi môi trường sinh hoạt, đều hướng tới một mục đích
tối thượng duy nhất, đó là tu tập bằng hành động thực
tiễn. Như vậy, tự hành đạt đến thành tựu trọn vẹn
ba phương diện của một nhân cách: tình cảm, trí tuệ và
ý chí. Tất cả sự thành tựu ấy cùng hướng đến một
cứu cánh cao tột: thành Bồ-đề trong nguyện thứ mười.
2.
Nguyện thuyết trí: nếu Chánh pháp trí được hiểu
chính xác là như thật trí, thì nguyện thứ hai này hướng
đến thành tựu phương tiện trí. Nó bao gồm các nguyện sau
đây trong bảng kê mười nguyện: (3) nhiếp pháp thượng thủ,
(4) tăng trưởng chúng sanh tâm hành, (5) giáo hóa chúng sanh,
(6) đồng tâm hành.
3.
Nguyện hộ pháp: trong nguyên văn nói: «Đối với nhiếp
thọ Chánh pháp, con sẽ xả bỏ thân mạng, tài sản để hộ
trì Chánh pháp.» Bảo khốt[85] của Cát Tạng đưa ra giải
thích cổ của các giảng sư đi trước và không đồng ý giải
thích ấy. Theo giải thích ấy, không phải xả bỏ thân, mạng,
tài sản để bố thí, mà là chứng thật trí, lìa hư tướng,
đạt được thanh tịnh Pháp thân, xả bỏ thân, mạng, tài
sản thuộc vô thường giới. Giải thích này được nói là
căn cứ vào kinh Niết bàn, theo đó, phá hoại tất cả kết
sử phiền não và các ma tính, sau đó mới xả bỏ thân mạng
cho Niết-bàn. Nghĩa ký[86] của Tuệ Viễn theo lập trường
giải thích này. Bảo khốt cho rằng căn cứ trên chính văn
bản đây thực sự là nguyện hộ pháp; xả bỏ thân, mạng,
tài sản để hoằng thông chính lý Đại thừa. Nguyện này
gồm hai nguyện còn lại của mười nguyện: (2) thọ trì Chánh
pháp, và (7) tịnh Phật quốc độ. Như đã thấy ở trên,
thọ trì Chánh pháp tức là hộ trì Chánh pháp. Nhưng tịnh
Phật quốc độ ở đây mà được liệt vào nguyện hộ pháp,
đó là muốn nêu rõ tương quan giữa sự tồn tại và hiện
hành của Chánh pháp với sự an lạc và lợi ích của thế
gian. Hộ trì chánh pháp cũng chính là hộ trì thế gian.
[67]
Pháp Tạng, Thám huyền, Đại 35, tr. 184c21.
[68]
Hoa nghiêm (Phật), «phẩm 34. Nhập pháp giới, Đại 9, tr. 676ff.
Hoa nghiêm (Thật), «39 phẩm. Nhập pháp giới», Đại 10, tr.
319ff.
[69]
Hoa nghiêm (Phật), «7 phẩm. Tinh hạnh», Đại 9, tr. 430ff. Hoa
nghiêm (Thật), «11 phẩm. Tịnh hạnh», Đại 10, tr. 1ff.
[70]
Hoa nghiêm (Phật), «31 phẩm. Phổ Hiền Bồ tát hạnh», Đại
9, tr. 607ff. Hoa nghiêm (Thật), «36 phẩm. Phổ Hiền hạnh»,
Đại 19, tr. 257ff.
[71]
Thông thường chỉ các Bồ tát địa thứ tám trở lên.
[72]
Bốn bộc lưu (Skt. catvāra oghāḥ): Dục bộc lưu (kāmaugha),
dòng xoáy của dục vọng, hữu bộc lưu (bhavaugha), dòng xoáy
của tồn tại, kiến bộc lưu (dṛṣṭyogha), dòng xoáy của
kiến chấp, vô minh bộc lưu (avidyaugha), dòng xoáy vô minh.
[73]
Gaṇḍa, tr. 3955: eṣa hi kulaputrāḥ satpuruṣaḥ sattvānāṃ
catur oghottaraṇtāyai mahādānaṃ mahādharmanāvaṃ samudānetu-kāmo,
dṛṣṭipaṅkanimagnānāṃ mahādharmasetuṃ sthāpayitu- kāmo,
mohāndhakāra-prāptānāṃ jñānālokaṃ kartukāmaḥ saṃsāra
kāntārapranaṣṭānām āryamārgaṃ saṃdarśayitukāmaḥ.
Cf. Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 429a 8.
[74]
Đại 30, tr. 543b17.
[75]
Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 545b.ff. Hoa nghiêm (Thật), Đại
10, tr. 181c.ff. Cf. Daśa, tr. 9ff.
[76]
Phân tích ý nghĩa tên gọi các nguyện, xem Pháp Tạng, Thám
huyền, quyển 11, Đại 35, tr. 306ff. Tham chiếu, theo Nhiếp luận
thích (Chân), quyển 10, Đại 31, tr. 225c8.
[77]
Đại 26, tr. 30b21.
[78]
Cf. Daśa, tr. 9.30ff: 1. mahāpūjopasthānāya…
2.
budhotpāda- saddharmaparigāhāya,
3.
yāvanmahāparinirvāṇopasaṃkramaṇāya,
4.
cittotpādābhinirhārāya…,
5.
sarvasattvadhātuparipācanāya…
6.
lokadhātuvaimātryavatāraṇāya…,
7.
sarvabuddhakṣetrapariśodha- nāya…,
8.
ahāyānavataraṇāya…,
9.
amoghasarvaceṣṭatāyai…,
10.
abhi-saṃbodhimahājñānābhijñābhinirhārāya… Về giải
thích 10 nguyện này, xem Thập trụ, tr. 30b10ff.
[79]
Thắng Man kinh nghĩa ký, Vạn 30, tr. 752b.
[80]
Đại 37, tr. 26a8.
[81]
Sđd., Vạn 30, tr. 573b.
[82]
Thánh Đức Thái tử, Thắng Man kinh nghĩa sớ, Đại 58, tr.
4c23. Cf. Tuệ Viễn, Thắng Man kinh nghĩa ký, Vạn 30, tr. 573b7.
[83]
Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 690ff; Hoa nghiêm (Thật), Đại
10, tr. 335aff; Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, tr. 680c. Cf. Gaṇḍa,
«5. Sāgaramegha, » tr. 51.ff.
[84]
Mười vô tận cú (daśa niṣṭhāpada), hay phạm trù vô hạn,
xem Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 182b11; Hoa nghiêm (Phật),
Đại 9, tr. 546a. Cf. Daśa, tr. 115: daśabhir niṣṭhāpadau (…)
yad uta sattvadhātuniṣṭhayā ca lokadhātuniṣṭhayā ca ākāśadhātuniṣṭhayā
ca dharmadhātu-niṣṭhayā ca nirvāṇadhātuniṣṭhayā ca buddhotpādadhātuniṣṭhayā
ca tathāgatajñānadhātu-niṣṭhayā ca cittālambanadhātuniṣṭhayā
ca buddhaviṣayajñānapraveśadhātu-niṣṭhayā ca lokavartanīdharmavartanījñānavartanī
dhātuniṣṭhayā ca.
[85]
Đại 37, tr. 26c27.
[86]
Sđd., Vạn 30, tr. 573b11.