CHƯƠNG
III:
BỒ
TÁT GIỚI
TIẾT
1: BỒ TÁT TÂM ĐỊA GIỚI
I.
CĂN BẢN BỒ TÁT GIỚI
Chương
này Hán văn gọi là «Thập đại thọ» hay «Bất tư nghị
đại thọ», ý nghĩa của nó sẽ được nói sau. Ở đây,
chúng ta hãy nói trước về căn bản của Bồ tát giới.
Luật
Anh lạc,[35] trước khi thuyết minh ý nghĩa và phương pháp
thọ Bồ tát giới, nói: «Hết thảy chúng sanh khi mới bắt
đầu vào biển Tam bảo lấy tín làm gốc; khi sống trong ngôi
nhà của Phật, thì lấy giới làm gốc.»Trong giáo pháp của
Phật Thích ca, mặc dù không có Bồ tát tăng riêng biệt,[36]
nhưng vẫn có hệ thống học giới, đó là Thanh văn giới
gồm luật nghi của bảy bộ chúng, và Bồ tát giới. Trong
bảy chúng,[37] năm chúng thuộc hàng xuất gia, hai chúng thuộc
tại gia.
Chức
năng của giới là phòng hộ căn môn,[38] tức ngăn ngừa những
pháp bất thiện khởi lên làm phương hại đến các phẩm
tính thiện căn. Chức năng ấy được ví dụ như là sợi
dây nối kết những đóa hoa không để bị gió cuốn bay mất.
Những hiểu biết về Phật pháp, những gốc rễ thiện pháp,
tất cả đều là những đóa hoa cần được xâu lại. Đối
tượng phải phòng hộ tất nhiên là ý môn, hay tâm. Nhưng
hoạt động của tâm luôn luôn nương tựa trên các hành vi
của thân và miệng, do đó Thanh văn giới dựa trên những
cấm chỉ hành động về thân và miệng. Và cũng do ý nghĩa
đó, sự tồn tại của giới chỉ giới hạn trong sự tồn
tại của thân và miệng. Thí dụ, khi cận sự nam hay cận
sự nữ quy y và thọ năm giới cấm, hiệu lực phòng hộ của
giới ấy sẽ tồn tại cho đến hết đời hoặc đến khi
nào đương sự tuyên bố là không còn tin tưởng Tam bảo và
không thọ trì các cấm giới ấy nữa. Hoặc như giới bát
quan trai chỉ có hiệu lực trong khoảng một ngày một đêm.
Qua thời gian ấy, dù có tuyên bố hay không, giới vẫn hết
hiệu lực.[39]
Bồ
tát giới thì trái lại, có phát nguyện thọ trì cũng có vấn
đề vi phạm, nhưng không hề có vấn đề mất giới.[40] Bởi
vì giới cấm của Bồ tát đặt căn cứ trên Bồ-đề tâm,
lấy Phật làm mục tiêu hướng đến. Luật Anh lạc nói: «Hết
thảy giới phàm thánh Bồ tát đều lấy tâm làm thể. Nếu
tâm cùng tận thì giới cũng cùng tận. Nhưng vì tâm không
cùng tận nên giới cũng không cùng tận.»[41] Do đó, giới
cấm của Bồ tát cũng được nói là tâm địa giới.[42]
II.
BA TỤ TỊNH GIỚI
Lại
nữa, khác với Thanh văn giới lấy sự thành tựu đạo đức
cá nhân làm tiêu chuẩn, Bồ tát giới lấy sự thành tựu
chúng sinh làm tiêu chuẩn cho nên chức năng của giới không
chỉ là phòng hộ căn môn. Giới ấy có ba chức năng như luật
Anh lạc[43] nói: «Nay vì hết thảy các Bồ tát mà kết căn
bản của hết thảy giới, tức là ba thọ môn.[44] Là giới
nhiếp thiện pháp, gồm tám vạn bốn ngàn pháp môn; là giới
nhiếp chúng sinh, từ, bi, hỷ và xả, đem lại sự an lạc
cho hết thảy chúng sinh; là giới nhiếp luật nghi, gồm mười
ba-la-di.»
Ba
thọ môn hay ba tịnh giới, như được liệt kê trên, được
nhắc đến với một thứ tự khác, theo Du-già sư địa
luận[45] như sau:
Thứ
nhất, nhiếp luật nghi giới. Như chúng ta đã biết, trong giáo
pháp của Phật Thích-ca không có Bồ tát tăng riêng biệt,
do đó trong sinh hoạt thường nhật Bồ tát vẫn phải thọ
trì cấm giới theo luật nghi của bảy bộ chúng.[46] Nếu là
Bồ tát tại gia, giới căn bản vẫn phải là cận sự luật
nghi hay cận trụ luật nghi, năm giới và tám giới. Bởi vì,
các luật nghi này ngoài chức năng phòng hộ căn môn ra, chúng
còn là những điều kiện tạo thành một nhân cách đạo đức
gương mẫu, nhờ vậy mà có thể gây tín tâm cho những người
chưa hiểu biết Phật pháp. Vả lại, Bồ tát cũng cần có
sự phòng hộ để có thể phát triển các môn thiền định,
khai triển các phần tuệ học.
Thứ
hai, nhiếp thiện pháp giới. Đây là phướng hướng thiện
trong học giới của Bồ tát. Luận Du-già[47] nói: «Bồ tát
sau khi thọ luật nghi giới, tất cả vì đại bồ-đề, do
thân, miệng và ý mà tích tập các thiện căn. Gọi tổng quát
là giới nhiếp thiện pháp.» Tức là Bồ tát thực hiện và
tích tập các thiện pháp để hướng tới mục đích cứu
cánh là Phật thừa.
Thứ
ba, nhiêu ích hữu tình giới. Ở Bồ tát hành động vì mưu
cầu hạnh phúc cho chúng sanh, cho nên luôn luôn tu tập phát
triển các vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả như luật Anh Lạc
đã nói.
TIẾT
2: BẤT TƯ NGHỊ ĐẠI THỌ
I.
MƯỜI ĐẠI THỌ
Các
bản sớ giải đều hiểu «thọ» có nghĩa là «lãnh thọ.»[48]
Ở đây chúng ta cũng có thể hiểu «thọ» ấy đồng nghĩa
với «nhiếp» trong ba nhiếp pháp trên.[49] Bởi vì học giới
Bồ tát mà Thắng Man phu nhân tuyên thệ lãnh thọ này bao gồm
(nhiếp) vô số điều học của Bồ tát cho nên được gọi
là «đại thọ.» Nói là «bất tư nghị», vì học giới ấy
lấy tâm làm thể cho nên không chỉ có hiệu lực trong một
đời này mà còn đến vô lượng đời khác nữa.
Vì
là Bồ tát giới, tất nhiên mười đại thọ này là những
điều khoản cụ thể được quảng diễn từ ba tụ tịnh
giới. Về sự phân tích mười đại thọ trên cơ sở ba tụ
tịnh giới, các bản sớ giải trình bày với một số dị
biệt như sau :
l.
Nghĩa ký của Tuệ Viễn.[50] Mười đại thọ được phân
thành hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất gồm chín đại thọ đầu
được gọi là «thế giáo giới» tức giới pháp để giáo
dục thế gian, và một đại thọ cuối cùng được gọi là
«Chánh pháp giới.» Rồi trong chín đại thọ đầu lại được
bao gồm trong ba tụ tịnh giới:
a.
Nhiếp luật nghi giới: một đại thọ thứ nhất, không khởi
tâm vi phạm các học giới đã thọ.
b.
Nhiếp thiện pháp giới: bốn đại thọ tiếp theo, trừ kiêu
mạn, trừ sân, trừ đố kị và trừ bỏn sẻn. Bốn điều
này, trong Địa trì kinh, tức phẩm giới trong phần «Bồ tát
địa trì» của Du-già sư điạ luận được gọi là bốn
tha thắng xứ hay bốn ba-la-di[51] của Bồ tát.
c.
Nhiếp chúng sanh giới: hai thọ tiếp theo, thứ sáu và thứ
bảy, là hạnh nhiếp thủ tức những hành vi đem lại lợi
ích cho chúng sanh, không bao giờ rời bỏ chúng sanh, hai đại
thọ tiếp theo nữa, thứ tám và thứ chín, là hạnh cứu bạt,
tức những hành động quyết tâm đưa chúng sanh ra khỏi tội
ác.
Phần
Chánh pháp giới, một đại thọ cuối, là ý chí học hỏi
và bảo vệ Chánh pháp, lần lượt trải qua các giai đoạn
tu chứng trong quá trình Bồ tát đạo cho đến quả vị Phật.
2.
Bảo khốt của Cát Tạng,[52] trước hết đưa ra năm giải
thích của các giảng sư đi trước, và chấp nhận giải thích
thứ năm. Theo đó, năm đại thọ đầu là nhiếp luật nghi,
bốn đại thọ kế là nhiếp chúng sanh và một đại thọ
cuối là nhiếp thiện pháp. Quan điểm cũng đồng với Thuật
ký của Khuy Cơ và Nghĩa sớ của Thánh Đức.
II.
THA THẮNG XỨ
Ngoại
trừ đại thọ thứ nhất, luật nghi tổng quát, không có gì
cần nói nhiều, vì cũng như giải thích của Tuệ Viễn trên.
Bốn đại thọ tiếp theo cũng được giải thích như Tuệ
Viễn. Nhưng Bảo khốt sơ lược hơn. Thuật ký cũng giải
thích theo luận Du-già như Tuệ Viễn nhưng chi tiết hơn
một chút. Luận Du-già gọi bốn điều này là bốn tha
thắng xứ. Thế nào là tha thắng xứ? Thuật ký[53] giải thích:
«Ác pháp tổn hại mình gọi là tha thắng xứ. Thiện pháp
ích lợi mình gọi là kỷ thắng xứ.» Về bốn tha thắng
xứ, luận Du-già [54] nói: «Nếu các Bồ tát, do dục, tham
cầu sự lợi dưỡng và cung kính mà khen mình chê người,
đó là pháp tha thắng xứ thứ nhất. Nếu Bồ tát, hiện có
tư tài, nhưng do tánh bỏn sẻn tài sản, khi những kẻ bần
cùng khốn khổ, không nơi nương tựa, đến trước mặt cầu
xin tư tài, mà tâm không thương tưởng, không tu tập huệ
thí; hoặc có người đến trước mặt cầu pháp, nhưng vì
tánh bỏn sẻn đối với pháp nên dù có pháp mà không ban
bố cho, đây là tha thắng xứ thứ hai. Nếu Bồ tát mãi ôm
ấp các oán hận, do nguyên nhân ấy chẳng những phát ra lời
thô bạo mà thôi, mà còn do oán hận che lấp nên dùng tay,
chân, đất, đá, đao, gậy, đánh đập gây thương tích cho
hữu tình, bên trong ôm giữ vui thích phẫn hận, nếu có làm
sái mà người khác đến can ngăn lại chẳng chịu, chẳng
nhận, không bỏ oán kết, đây là tha thắng xứ thứ ba. Nếu
các Bồ tát báng bổ Bồ tát tạng, ưa thích tuyên thuyết,
khai thị, thiết lập tương tợ pháp, đối với pháp tương
tợ ấy hoặc tự mình tin và hiểu hoặc lôi cuốn bởi người
khác, đây là tha thắng xứ thứ tư.»[55]
Trong
bốn tha thắng xứ vừa kể, Thuật ký kết hợp tha thắng
xứ thứ tư, điều khoản về khởi đại tà kiến, với đại
thọ thứ hai; tha thắng xứ thứ ba với đại thọ thứ ba,
tha thắng xứ thứ nhất (Thuật ký liệt kê là thứ hai) với
đại thọ thứ tư, và tha thắng xứ thứ hai (Thuật ký liệt
kê thứ nhất) với đại thọ thứ năm.
Trong
bốn tha thắng xứ này, luận Du-già nói, chỉ cần phạm
phải một điều khoản cũng đủ mất tư cách Bồ tát chân
thật, vì không thể giữ gìn tư lương Bồ-đề rộng lớn
của Bồ tát. Nếu Bồ tát nhiều lần hiện hành bốn tha thắng
xứ mà không hề tỏ ra hổ thẹn trái lại ưa thích và tưởng
như vậy là công đức, đó là trường hợp thượng phẩm
phạm, tức cực trọng. Với trường hợp này, Bồ tát được
coi như tự động xả giới.
Theo
đại bộ phận của Bồ tát giới, tha thắng xứ hay ba-la-di
của Bồ tát cũng đồng với các ba-la-di của Thanh văn giới,
người vi phạm sẽ bị diệt tẩn tức đuổi khỏi tăng chúng.
Nhưng điểm dị biệt giữa Bồ tát giới và Thanh văn giới
ở chỗ, Bồ tát mặc dù vi phạm các tha thắng xứ hay ba-la-di
nhưng không vì vậy mà mất hẳn Bồ tát giới nếu Bồ-đề
tâm được xác nhận là chưa mất, do đó có thể thọ lại.
Trong trường hợp mười đại thọ của Thắng Man, mặc dù
xét theo nội dung thì có những điều khoản hệ trọng tương
đương các tha thắng xứ, nhưng về mặt xử lý các trường
hợp vi phạm thì không phân biệt. Nghĩa là, hoàn toàn không
hề có vấn đề mất giới trong các trường hợp vi phạm.
TIẾT
3: GIẢI THÍCH CHI TIẾT
Dưới
đây tổng hợp các bản sớ giải, chúng ta giải thích chi
tiết riêng từng điều khoản một.
Mỗi
đại thọ đều bắt đầu bằng câu: «Bạch Thế Tôn, kể
từ hôm nay cho đến lúc thành tựu đạo Bồ-đề…» Như
đã nói ở trên, vì giới của Bồ tát là tâm địa giới
nên sau khi tuyên thệ lãnh thọ thì hiệu lực của nó giới
hạn không chỉ một đời mà liên tục cho đến khi nào thành
Phật.
l.
Giữ giới đã thọ: đối với hiện tại trong lúc Thắng Man
phu nhân còn là một vương phi, thì giới đã thọ ở đây
cố nhiên là năm giới tại gia của một cận sự nữ. Nhưng
đối với các đời tương lai, tùy trường hợp, giới đã
thọ ấy là một trong tám luật nghi của Thanh văn giới. Tuy
nhiên, Thanh văn giới lấy các hành động của thân và ngữ
làm tiêu chuẩn cho các trường hợp vi phạm, ở đây, trong
tâm địa giới của Bồ tát, móng khởi tâm niệm muốn vi
phạm cũng được coi là trường hợp đã vi phạm.
2.
Giới không kiêu mạn: kính thuận các bậc tôn trưởng là
phần đạo đức căn bản của người nữ. Huống chi, Thắng
Man phu nhân đang ở địa vị cao cả, cảnh giác tâm kiêu mạn
lại càng cần thiết. Tất nhiên, nhược điểm tâm tính của
người nữ, không cứ gì ở địa vị Thắng Man, mà ở tất
cả địa vị nào, kiêu mạn là tính chất dễ phát động.
Do kiêu mạn thành khinh thường và sẽ đi đến chỗ tiết
mạn, mất phẩm cách và trật tự nhân luân. Thuật ký hiểu
«mạn» ở đây như là tăng thượng mạn, tức cố chấp những
sở đắc thấp kém, không chịu học hỏi các điều sâu xa
trong giáo pháp Đại thừa.
3.
Giới không sân nhuế: đối với tôn trưởng thì không kiêu
mạn, đối với những người thấp hơn thì không giận dữ,
không ôm lòng thù nghịch, không có ý gây thiệt hại cho người.
Nghĩa là, không lăng loàn đối với kẻ trên, không lấn lướt
người dưới.
4.
Giới không tật đố: không tật đố đối với người có
sắc đẹp hơn mình, không ganh tức với người có nhiều tài
sản hơn mình. Bởi vì đố kỵ cũng là một nhược điểm
khác ở tâm tánh của người nữ. Ở đây, với Thuật ký,
là trường hợp tự tán hủy tha, khen mình chê người, trong
bốn tha thắng xứ tức bốn trọng cấm theo hệ Bồ tát giới
của luận Du-già.
5.
Giới không bỏn sẻn: không bỏn sẻn đối với các pháp nội
và ngoại. «Các pháp nội và ngoại» chỉ cho bản thân và
tài vật. Bồ tát tu tập vô lượng tâm về xả, vì lợi ích
của Chánh pháp, của mọi người, không hề tiếc nuối thân
mạng và tài sản.
6.
Giới không tích tụ tư hữu: không súc liễm tài vật vì ích
lợi bản thân. Trong sinh hoạt thế tục, Bồ tát có bổn phận
tích tụ tài sản để làm giàu, nhưng những gì Bồ tát làm
ra đều phải hướng đến mục đích chẩn tế mọi người,
do đó học giới của Bồ- tát không cấm chỉ việc tạo dựng
tài vật.
7.
Thực hành bốn nhiếp sự[56] không vì tư lợi: bốn nhiếp
sự là bốn nguyên tắc duy trì sự đoàn kết của đời sống
tập thể, nhỏ thì giới hạn trong phạm vi gia đình, thân
thuộc, lớn thì cho đến tất cả chúng sinh. Bằng bố thí,
sẵn sàng cung cấp tất cả những gì mình có cho những ai
thiếu thốn. Bằng ái ngữ, nói năng nhã nhặn, từ ái, gây
tin tưởng và hòa thuận giữa mọi người. Bằng lợi hành,
thiết thực giúp đỡ mọi người tránh khỏi những thiệt
hại về vật chất và tinh thần, hướng dẫn những kẻ sống
bằng ác pháp đến với thiện pháp, từ tà kiến đến với
chánh kiến. Bằng đồng sự, hỗ trợ những ai muốn thành
tựu mục đích cao thượng mà thiếu phương tiện vật chất
hay năng lực ý chí, tinh thần. Bằng bốn nhiếp sự, bao dung,
bình đẳng giữa những kẻ thù nghịch cũng như những người
thân thuộc.
8.
Giới phải san bằng nỗi khổ: Bồ tát không từ khó nhọc,
không sợ nguy hiểm, không tránh xa những nơi mà chúng sanh
bị đọa đày, bị áp bức, bần cùng, khốn nạn, yếu đuối
không nơi nương tựa cậy nhờ.
9.
Giới phải diệt trừ tội ác: Bồ tát biết rõ rằng tội
ác là nguyên nhân đưa đến nỗi khổ của thế gian cho nên
cương quyết diệt trừ. Bồ tát không để cho các ác luật
nghi hiện hành trong phạm vi mà uy tín và quyền lực của mình
có thể chi phối. Ác luật nghi là hành động tội ác, gieo
khốn khổ cho kẻ khác. Với những hành động ấy, có thể
chiết phục bằng sự khuyến giáo. Nhưng trong trường hợp
cần phải chiết phục bằng cưỡng bức, Bồ tát không từ
chối việc sử dụng quyền lực thế gian. Thắng Man phu nhân
nói: «Khi nào có đủ năng lực, gặp những chúng sanh như
vậy, ở nơi này hay nơi kia, đối với hạng cần phải chiết
phục con sẽ chiết phục; đối với hạng cần phải nhiếp
thọ con sẽ nhiếp thọ.» Năng lực được nói đến đó tức
uy tín đạo đức của mình, hay sức mạnh thế tục mà mình
có thể chi phối, như uy quyền của vương vị chẳng hạn.
Với những chúng sanh ngoan cố cần phải cưỡng bức không
để chúng thực hiện các ác luật nghi. Với hạng dễ bảo
thì cần được nhiếp thọ, tức bảo vệ chúng tránh xa những
ác luật nghi.
10.
Giới nhiếp thọ chánh pháp: Bồ tát không bao giờ lãng quên
việc hộ trì và bảo vệ Chánh pháp. Hộ trì hay bảo vệ
bằng thực học và thực chứng. Bảo khốt nêu lên hai giải
thích về ý nghĩa này: «Có người nói, Chánh pháp tức lục
độ vạn hạnh, nhiếp tức nhiếp lục độ… Lại có người
nói, lý thật tướng của các pháp gọi là Chánh pháp, chứng
pháp tại tâm gọi là nhiếp thọ.» Và Bảo khốt tổng hợp
cả hai giải thích ấy dưới hai phương diện: lý và hành,
tức học hỏi và thực hành. Thuật ký giải thích: «Nhiếp
có nghĩa là bao hàm, tu tập thiện pháp của pháp giới. Thọ
tức lãnh nạp, tu niệm các thiện pháp.» Ý nghĩa của nhiếp
thọ Chánh pháp sẽ được quảng diễn trở lại ở chương
sau này.
TIẾT
4: CÁCH THỨC THỌ GIỚI
I.
Ý NGHĨA NGHI THỨC THỌ GIỚI
Giới
pháp của Bồ tát không đồng với Thanh văn cho nên hình thức
trao truyền và lãnh thọ tất nhiên cũng khác. Thắng Man không
nói đến cách thức thọ giới. Ở đây đơn giản chỉ có
việc Thắng Man phu nhân đứng trước Phật mà tuyên thệ.
Trong tất cả các nghi thức tuyên thệ, kể cả Thanh văn giới
và Bồ tát giới, đối diện trước Phật mà tuyên thệ là
hình thức cao nhất, có hiệu lực nhất. Nhưng trong những
trường hợp không có sự hiện diện của Phật, thì cả Thanh
văn giới và Bồ tát giới đều cần một số nghi thức. Các
nghi thức này được quy định tùy theo bản chất của học
giới. Loại giới nào chỉ liên hệ đến đạo đức cá nhân,
nghĩa là nếu có vi phạm thì sự thiệt hại chỉ xảy ra cho
bản thân, thì sự tuyên thệ được thực hiện trong phạm
vi cá nhân, hoặc tự mình tuyên thệ, hay đối diện trước
một người đã thọ trì học giới ấy. Loại học giới nào
liên hệ đạo đức tập thể, nếu vi phạm thì làm thiệt
hại uy tín của tập thể, học giới ấy cần phải đối
trước tập thể mà tuyên thọ.
Tất
cả học giới của Bồ tát đều gồm cả hai mặt, đạo đức
cá nhân và tập thể. Nhưng bản chất của nó là tâm địa
giới, cho nên sự tuyên thệ có thể tự mình, hoặc đối
diện trước một người đã thọ, hay trước tập thể.[57]
Môi
trường hành đạo của Bồ tát là ở ngay giữa lòng xã hội
nhân sinh. Nhưng thế giới nhân sinh là tập hợp những cộng
đồng vô cùng sai biệt. Khác nhau về chủng tộc; khác nhau
về đẳng cấp xã hội; khác nhau về nghề nghiệp sinh sống.
Vì vậy, hệ thống học giới của Bồ tát rất phức tạp,
không giống như của Thanh văn. Mặc dầu luật của Thanh văn
có phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau, nhưng các nguyên
tắc thọ giới, nguyên lý trì phạm, tất cả đều có chung
một nền tảng. Giới Bồ tát không phải vậy. Vì vậy, đối
với luật Phạm võng, Bồ- tát có đến muời pháp ba-la-di,
nhưng với Du-già sư địa, chỉ có bốn.
II.
CÁC TRUYỀN BẢN THỌ GIỚI
Căn
cứ trên các bản dịch Hán về Bồ tát giới được lưu truyền
cho đến nay, hệ thống học giới của Bồ tát có thể phân
loại thành ba nhóm, do sự khác nhau về các điều khoản ba-la-di:
1.
Luật Phạm võng và Anh lạc. Luật Phạm võng được nói là
do chính bản thân đức Lô-xá-na thuyết.[58] Phật Thích-ca
kết tập Bồ tát giới ngay khi vừa mới thành đạo tại Bồ-đề
đạo tràng. Luật Anh lạc không nói đến bản thân Lô-xá-na.
Nhưng Bồ tát giới cũng được đức Thích-ca kết tập tại
Bồ-đề đạo tràng. Tức là giới được kết tập vào thời
Hoa-nghiêm. Hệ thống luật này thiết lập mười pháp ba-la-di
của Bồ tát. Trong mười ba-la-di, bốn ba-la-di đầu đồng
nhất với luật Tỳ-kheo. Xu hướng Phạm võng-Anh lạc là thiết
lập một cộng đồng Bồ tát xuất gia, tuy bản chất không
phải là Tăng đoàn.[59] Cộng đồng như vậy ràng buộc các
thành viên của nó lại với nhau qua thọ giới và trì giới
Bồ tát, cùng mỗi nửa tháng họp một lần để tụng giới,
để kiểm thảo tư cách Bồ tát của mỗi thành viên căn cứ
các điều khoản của giới bổn.
2.
Luật Du-già. Phát xuất từ Du-già sư địa luận,[60] được
nói là do đức Di-lặc thuyết. Luật Du-già chỉ có bốn ba-la-di.
Luận quy định rằng, trước khi thọ Bồ tát giới, người
cầu thọ giới phải là người đã thọ các giới Thanh văn,
tức giới của bảy chúng đệ tử Phật.[61] Xu hướng của
Du-già là không lập chúng Bồ tát thành một cộng đồng riêng
biệt ngoài cộng đồng bốn chúng đệ tử. Bồ tát giới
như vậy là phần hướng thượng, phát triển lên từ giới
Thanh văn.
3.
Luật Ưu-bà-tắc giới kinh. Luật quy định có sáu ba-la-di
của Bồ tát. Trong đó, năm điều khoản đầu là năm giới
của tại gia. Phổ thông, Phật tử tại gia hành đạo mang
tính cách cá nhân. Thỉnh thoảng, ngay trong thời Phật, cũng
có cư sỹ tổ chức thành một nhóm để cùng khích lệ nhau
tu tập, như nhóm Thủ trưởng giả.[62] Họ vẫn giữa năm
giới tại gia. Nhưng ràng buộc nhau bằng bốn nhiếp sự. Nay,
luật Ưu-bà-tắc giới kinh nâng năm giới vốn có bản chất
đạo đức cá nhân thành các điều khoản của cộng đồng.
Đó là một cộng đồng sinh hoạt hoàn toàn theo thế tục,
nhưng ngay trong sinh hoạt thế tục, các thành viên của nó
thực hiện Bồ tát đạo. Ưu-ba-tắc giới kinh nói: «Giới
này có khả năng làm căn bản cho Sa-di thập giới, Đại tỳ-kheo
giới và Bồ tát giới, cho đến A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.»[63]
Có
hai điểm đặc biệt mà luật Ưu-bà-tắc giới kinh khác với
các luật khác. Thứ nhất, luật này không hỏi «Ngươi đã
phát bồ-đề tâm chưa?» trước khi truyền giới. Thứ hai,
hỏi già nạn mà các luật khác không hề có. Già nạn tức
các điều kiện được nêu lên để xác nhận tư cách người
thọ giới. Nếu không thỏa mãn, không được phép thọ. Rõ
ràng, Ưu-ba-tắc giới kinh muốn lập riêng một chúng tại
gia, do đó qui định các tiêu chuẩn chọn lựa thành viên của
nó.
Nói
tóm lại, thọ giới không chỉ có nghĩa phát nguyện thọ trì
năm điều hay mười điều luật mà Phật đã thiết chế.
Thọ giới, đó là sự tuyên thệ gia nhập cộng đồng; chấp
nhận nghĩa vụ một thành viên của cộng đồng, để phục
vụ cho lý tưởng của cộng đồng mà mình chấp nhận. Với
ý nghĩa này, việc thọ giới rất quan trọng đối với Bồ
tát. Bởi vì Bồ tát đạo không chỉ là lý tưởng hay nguyện
của một cá nhân, mà là con đường phụng sự tập thể.
Trong
ý nghĩa đó, việc thọ giới đối với Thắng Man phu nhân
cũng không chỉ là phát nguyện của một cá nhân. Tuy rằng
trong lịch sử truyền thừa, hệ thống Bồ tát giới theo Thắng
Man không được phổ biến, nhưng không phải vì vậy mà không
có. Hạn chế đó là tất yếu do lịch sử phát triển xã
hội. Trong giai đoạn mà vai trò xã hội của người nữ chưa
được thừa nhận, thì sự hình thành một cộng đồng Bồ
tát gồm các thành viên nữ để phụng sự theo chức năng
thiên bẩm của mình, là điều khó có thể chấp nhận. Cho
nên, trong hàng Thanh văn xuất gia, có cộng đồng nữ là Tỳ-kheo-ni
tăng. Nhưng trong hàng Bồ tát, không có cộng đồng Bồ tát-ni
riêng biệt.
Luật
Phạm võng không đề cập đến nghi thức thọ giới, mà chỉ
nói đến trường hợp đắc giới «Nếu thọ giới của Phật,
thì hoặc quốc vương, vương tử, bách quan, tể tướng, tỳ-kheo,
tỳ-kheo ni, mười tám Phạm thiên, lục dục thiên tử, thứ
dân, huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô tì, tám bộ quỷ thần,
kim cang thần, súc sinh, cho đến loài người biến hóa, hễ
hiểu được tiếng nói của pháp sư là được thọ giới,
đều được gọi là bậc đệ nhất thanh tịnh.»[64]
Luật
Anh lạc nói đến ba trường hợp thọ giới khác nhau: đối
diện trước Phật hay Bồ tát mà tuyên thệ thì được giới
thượng phẩm chân thật. Sau khi Phật hay Bồ tát đã diệt
độ, trong khoảng một nghìn dặm có pháp sư đã thọ Bồ
tát giới rồi thì thỉnh vị ấy truyền giới cho, đó là
giới trung phẩm. Hoặc trường hợp sau khi Phật và Bồ tát
đã diệt mà trong vòng một nghìn dặm cũng không có pháp sư
thì có thể đối trước tượng Phật và Bồ tát mà tự mình
phát nguyện thọ giới, đó là giới hạ phẩm. Luật cũng
nói rằng trong vòng lục thân quyến thuộc đều có thể làm
pháp sư truyền giới cho nhau.[65]
Ngoài
hai bộ luật nói trên, cũng nên nói thêm nghi thức thọ giới
Bồ tát theo luận Du-già mà ngài Huyền Tráng đã dẫn yếu
thành bộ Bồ tát giới yết ma văn.[66]
[35]
Anh lạc, quyển hạ, tr. 1020b22.
[36]
Đại trí độ, quyển 34, Đại 35, tr. 311c10: «Chư Phật phần
nhiều chỉ có Thanh văn tăng, không lập riêng Bồ tát tăng.
Bởi vì Phật Thích-ca không có Bồ-tát tăng riêng biệt, nên
các Bồ-tát như Di-lặc, Văn-thù, khi vào chúng, được phân
ngôi thứ theo thứ tự của Thanh văn tăng.»
[37]
Đại trí độ, quyển 10, sđd., tr. 130b13: «Đệ tử của Phật
có 7 chúng: Tỳ-kheo (Skt. Bhikṣu), Tỳ-kheo-ni (Bhikṣuni), Học
giới ni (Śikṣamāṇā) Sa-di (Śrāmaṇera), Sa-di-ni (Śrāmaṇerikā),
Ưu-bà-tắc (Upāsaka), Ưu-bà-di (Upāsikā).»
[38]
Phòng hộ căn môn, hay căn luật nghi, Skt. indriya-saṃvara, hay
Pāli: indriyesu guttadvāro, «canh chừng cánh cửa nơi các giác
quan.» Cf. M.i. 269: So cakkhunà rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti
(…) rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Sotena
(…), «Vị tỳ-kheo ấy, khi nhìn thấy sắc, không nắm chặt
các hình tướng (…), giữ gìn giác quan con mắt, canh chừng
nơi giác quan con mắt.» Phòng hộ (Skt. saṃvara), Hán cũng dịch
là
luật nghi. Có ba loại luật nghi: căn luật nghi (Skt. indrya-saṃvara),
phòng hộ các giác quan; biệt giải thoát luật nghi (Skt. prātimokṣa-saṃvara),
phòng hộ bằng các điều học giới đã phát nguyện thọ;
và vô lậu luật nghi (Skt. anāsrava-saṃvara), phòng hộ do chứng
pháp vô lậu. Về bản chất, có ba loại luật nghi: 1. Biệt
giải thoát luật nghi (prātimokṣa-saṃvara); 2. Tĩnh lự luật
nghi (dhyānaja-saṃvara), năng lực phòng hộ phát sanh do thiền
định; 3. Vô lậu luật nghi (anāsrava-saṃvara), phòng hộ tự
nhiên vì không còn phiền não nhiễm ô.
[39]
Quan điểm của Hữu bộ (Sarvāstivāda) về sự tồn tại của
giới thể, xem Câu-xá, quyển 14, Đại 29, tr. 74cff.
[40]
Anh lạc, quyển hạ, Đại 24, tr. 1021b: «Phật tử, sau khi thọ
10 vô tận giới, (…), từ đời này sang đời khác, giới
này không mất, luôn luôn đi theo người đã thọ cho đến
thành Phật. (…) Vì vậy, Bồ tát giới có thọ pháp nhưng
không có xả pháp…»
[41]
Anh lạc, tr. 1021b20.
[42]
Phạm võng, Đại 24, tr. 997c4: «Ta đã trải qua hằng trăm a-tăng-kỳ
kiếp tu hành tâm địa, do nhân đó mới xả phàm phu thành
Đẳng chánh giác.» Cf. Trí Khải Đại sư, Bồ-tát giới nghĩa
sớ, Đại 40 tr. 563a: «Luật nghi của Bồ-tát phòng hộ khắp
cả ba nghiệp. Tâm, ý và thức; tự thể là đồng nhất, nhưng
tên gọi thì khác. Trong ba nghiệp, ý nghiệp là chủ, còn thân
và ngữ là thứ yếu. Căn cứ vào sự trổi vượt, do đó
(giới Bồ-tát) được gọi là tâm địa (giới).»
[43]
Anh lạc, tr. 1020b29.
[44]
Ba thọ môn, tức ba tụ tịnh giới (Skt. tri-vidhāni śīlāni):
1. Luật nghi giới (śīla-saṃvara-śīla), 2. Nhiếp thiện pháp
giới (kuśaladharma-saṃgrāhaka-śīla), 3. Nhiêu ích hữu tình
giới (sattvārtha-krīyā-śīla).
[45]
Đại 30 , tr. 511a11.
[46]
Liệt kê của Du-già nt: Bí-sô giới, tức giới của tỳ-kheo
(bhikṣu). Bí-sô-ni giới tức giới của Tỳ-kheo-ni (bhikṣunī),
Chánh học giới hay thức-xoa-ma-na (śikṣamāṇā), Cần sách
nam giới tức giới của sa-di (śrāmaṇera), Cần sách nữ giới
tức giới của sa-di-ni (śrāmaṇerī), Cận sự nam giới tức
giới của cư sỹ nam (upāsaka), Cận sự nữ giới tức giới
của cư sỹ nữ (upāsikā).
[47]
Sđd., nt. tr. 511a.
[48]
Cf. Tuệ Viễn, Thắng Man nghĩa ký (Vạn 30, tr. 568a): «Giới
Bồ-tát rộng lớn, tinh thâm khó dò, nên nói là bất tư nghị.
Không còn gì có thể thêm vào được, nên nói là đại. Được
tiếp nhận bởi tâm, nên nói là thọ.» Cát Tạng, Bảo khốt,
tr. 20b20): «Phức Pháp sư nói: Hư tâm kỉnh nạp, khắc kỷ
phụng hành, nói là thọ.» Khuy Cơ, Thắng Man Thuật ký (Vạn
30, tr. 596a): «Đại, vì vượt qua Nhị thừa. Thể và dụng
bao la rộng lớn, nên nói là đại. Sự dung nạp của cái đại,
gọi là thọ.»
[49]
Thọ (Skt. samādāna), có nghĩa là thọ giới, cũng có nghĩa
thọ trì, thọ sanh, nhiếp thọ, nhiếp thủ, thệ nguyện. «Nhiếp
thọ» trong Hán dịch thường do từ Skt. saṃgrāha, hoặc parisaṃgrāha.
[50]
Vạn 30, tr. 0568ff.
[51]
Ba-la-di (Skt. pārājika), nguyên thủy, chỉ nhóm tội cực trọng
của luật Tỳ-kheo. Tứ phần, Đại 22, tr. 571c6): «Cũng như
người đã bị chặt đầu không còn sống dậy được nữa.
Tỳ-kheo cũng vậy. Phạm điều khoản này, không còn là tỳ-kheo
nữa, nên gọi là ba-la-di.» Căn bản Tát-bà-đa bộ luật nhiếp
(Đại, tr. 522c21): «Ba-la-thị-ca, có nghĩa là cực ác. Ai phạm
tội này, cực kỳ đáng kinh tởm. Cũng có nghĩa là tha thắng.
Vì kẻ phạm điều khoản này, bị các vị tịnh hạnh khác
khinh thường, bị thua kém.» Đoạn sau, tr. 523b12, giải thích
tiếp: «Kẻ phạm ba-la-thị-ca, như con của Pháp vương đã
bị quân địch đánh bại, không còn được tôn kính nữa.»
Cf. Bồ-tát địa trì kinh (Đại 30, tr. 913bff): ba-la-di xứ pháp;
Du-già (Đại 30, tr. 515c): tha thắng xứ pháp.
[52]
Đại 39, T. 1744, tr. 21cff.
[53]
Khuy Cơ, Thuật ký (Vạn 30, tr. 597a).
[54]
Du già, tr. 515b22.ff.
[55]
Về các ba-la-di của Bồ-tát giới, luật Phạm võng và luật
Anh lạc có 10; Du-già có 4; Bồ tát thiện giới kinh có 8; luật
Ưu-bà-tắc giới kinh có 6.
[56]
Nhiếp sự, hay cũng nói là nhiếp pháp; Skt. saṃgrāhavastu.
Về 4 nhiếp sự của Bồ-tát, xem Du-già (Đại 30, tr. 529c.ff).
[57]
Về nghi thức thọ Bồ tát giới lưu hành tại Trung quốc,
trước sau có sáu truyền bản : 1. Phạm võng bản, y theo Phạm
võng Bồ tát giới kinh, do Cưu-ma-la-thập truyền. 2. Địa trì
kinh, do Đàm-vô-sấm truyền, theo bản dịch Bồ tát địa trì
kinh, bản dịch khác của Du-già sư địa. 3. Bản Cao xương,
do Đạo Tiến, vốn được truyền bởi Đàm-vô-sấm, nhưng
Đạo Tiến tự thọ do lễ sám 7 ngày đêm mộng thấy Phật
Thích-ca trực tiếp truyền; so với chính bản của Đàm-vô-sấm
có ít nhiều canh cải. 4. Anh lạc bản, y theo Bồ tát Anh lạc
bản nghiệp kinh. 5. Tân soạn bản, lưu hành đời Tùy do các
luật sư Đại thừa thời bấy giờ tập thành. 6. Bản chùa
Chế chỉ, do Cầu-na-bạt-ma truyền, Xem Trí Khải, Bồ tát
giới nghĩa sớ, Đại 40, tr. 568a.ff.
[58]
Lô-xá-na (Skt. Rocana), trong Hoa nghiêm tông, đồng nhất với
Tỳ-lô-giá-na (Skt. Vairocana: Đại Nhật), danh hiệu chỉ Pháp
thân Phật. Thiên thai tông phân biệt: Tỳ-lô-giá-na là danh
hiệu chỉ Pháp thân (Dharma-kāya); Lô-xá-na chỉ Báo thân (Saṃbhoga-kāya);
Thích-ca chỉ Hoá thân (Nirmāṇa-kāya).
[59]
Cộng đồng Bồ tát, tiếng Skt. gọi là gaṇa, chứ không gọi
là saṅgha, mặc dù cả hai từ đều có Hán dịch là chúng.
[60]
Bồ-tát thiện giới kinh, tuy có 8 ba-la-di, nhưng cũng thuộc
vào hệ này, vì cùng xuất xứ từ Du-già sư địa.
[61]
Đại 30, tr. 514b14. Xem thêm, Bồ-tát giới yết-ma văn, Đại
24, tr 1104c.ff.
[62]
Xem Trung, quyển 9, có hai kinh về Thủ trưởng giả; Đại 1,
tr. 482ff. Theo tài liệu Pāli, A.i. 26, ông tên là Hatthaka, chứng
quả A-na-hàm, hướng một tập thể tại gia gồm 500 người,
bằng bốn nhiếp sự (catūhi vatthūhi parisaṃ saṇgaṅhantānaṃ).
[63]
Đại 24, tr. 1047c27.
[64]
Đại 24, T. 1484, tr. 1004b7.
[65]
Đại 24, T. 1485, tr. 1020c.ff.
[66]
Xem Thư mục tham khảo ở cuối sách.