CHƯƠNG
II:
BỒ
ĐỀ TÂM VÀ QUY Y[28]
TIẾT
1: RUNG ĐỘNG ĐẦU ĐỜI
世間離生滅
猶如虛空花
智不得有無
而興大悲心
Thế
gian ly sanh diệt
Do
như hư không hoa
Trí
bất đắc hữu vô
Nhi
hưng đại bi tâm[29]
«Bằng
trí tuệ và tình yêu, thế giới này được nhận thức như
là hoa đốm giữa hư không, vượt ngoài tính chất sinh khởi
và hủy hoại, vượt ngoài quan niệm hiện hữu và không hiện
hữu.» Đấy là chủ đề cơ bản của Lăng-già, và cũng là
cơ sở triết lý hành động của Đại thừa. Trí tuệ và
tình yêu, đấy cũng là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ tư tưởng
Thắng Man. Điểm đặc sắc của Thắng Man so với đại bộ
phận kinh điển của Đại thừa là triển khai yếu tố tình
yêu. Trong tất cả l5 chương của kinh, mối quan hệ giữa tình
yêu và trí tuệ được phối trí như sau:
- Bốn
chương đầu, gồm chương i. «Như Lai chân thật nghĩa công
đức», ch.ii. «Mười đại thọ», ch.iii. «Ba đại nguyện»,
và ch.iv. «Nhiếp thọ Chánh pháp», trong đó tình yêu được
phát triển qua bốn giai đoạn trong quá trình của Bồ tát
đạo, đó là Quy, Giới, Nguyện và Hành.
- Chương
v. «Nhất thừa», đối tượng hay mục tiêu hướng đến của
tình yêu. Nó là cao điểm của tình yêu, trong đó, cả tình
yêu và trí tuệ hợp thành một tổng thể duy nhất, là Nhất
thừa: Một con đường duy nhất để đi đến hạnh phúc tuyệt
đối cho mình và cho tất cả.
Tám
chương tiếp theo, gồm ch.vi. «Vô biên thánh đế», ch.vii.
«Như Lai tạng», ch.viii. «Pháp thân», ch.ix. «Không nghĩa ẩn
phú chân thật», ch.x. «Nhất đế», ch.xi. «Nhất y», ch. xii.
«Điên đảo chân thật», ch.xiii. «Tự tính thanh tịnh», triển
khai nội dung của tình yêu. Nội dung đó chính là trí tuệ,
là khả năng nhận thức thấu suốt bản chất của đời sống
và những động lực của nó. Cái nhìn về cuộc đời chỉ
là một tư thái hay cung cách biểu lộ của tình yêu, phát
xuất từ những khát vọng sâu kín nhất của con người. Chân
lý chỉ có thể đạt được bằng tình yêu có nội dung trí
tuệ, chứ không phải thuần bằng trí tuệ.
Hai
chương còn lại, ch.xiv. «Như Lai chân tử», và ch.xv. «Thắng
Man», nêu rõ con đường đi vào đại dương của trí tuệ,
hay đại dương của tự tâm. Con đường đó là đức tin,
là sự tin tưởng hay tin cậy, đặt tất cả sinh mạng của
mình vào một nơi nương tựa duy nhất, vào một hòn đảo
an toàn.
Như
vậy, kinh chấm dứt bằng thực tiễn hành động của Bồ
tát thừa với quá trình Quy, Giới, Nguyện và Hành.
Ở
đây, trong chương I này, bằng vào sự tin tưởng ấy, Thắng
Man phu nhân tự mình nói lên phẩm tính siêu việt của Như
Lai.
Bối
cảnh cho niềm tin của Thắng Man phu nhân được chớm nở,
theo phần giới thiệu của kinh, là sự khuyến khích của vua
Ba-tư-nặc và hoàng hậu Mạt-lị.
Như
một người đang chơi vơi giữa biển đời mênh mông, chợt
nhìn thấy dấu hiệu của hòn đảo trú ẩn an toàn, Thắng
Man phu nhân vô cùng phấn khởi. Niềm phấn khởi ấy được
bày tỏ ngay trong bài kệ thứ nhất của chương này.
Vua
Ba-tư-nặc và hoàng hậu Mạt-lị là hai đấng tôn thân, là
hình ảnh kính yêu nhất của Thắng Man phu nhân trong giới
hạn tình cảm của thế tục. Sự giới thiệu của hai vị
ấy là sự kích động đầu tiên của tình yêu trong phạm
vi thế tục. Với tình yêu ấy, Bà đã được hướng dẫn
đến một tình yêu bao la hơn, cao thượng và tuyệt đối.
Chính điểm này cho chúng ta thấy rõ ràng khởi điểm Bồ
tát đạo của Thắng Man là hoàn toàn xuất phát từ tình cảm
thân thiết nhất và mặc dù là hệ lụy nhất. Tình yêu là
cơn bão dữ nhận chìm con người xuống biển sâu của nước
mắt, nhưng đồng thời tình yêu cũng là hương vị ngọt ngào
nuôi lớn thánh thai của Bồ tát. Trong ý nghĩa đó tình yêu
được đồng nhất với Như Lai tạng, cái bào thai cưu mang
để sinh trưởng những phẩm tính siêu việt của Như Lai,
của những đấng Giác ngộ và Cứu thế. Nó bao gồm cả hai
mặt, ô nhiễm và thanh tịnh.
Cái
nhìn của con mắt thịt không bao giờ có thể vượt ra ngoài
hạn chế của không gian. Nhưng cái nhìn của con mắt tình
yêu không hề biết đến những giới hạn như thế. Tình yêu
có khả năng thực hiện những phép lạ, những thần thông
biến hóa vượt ngoài ước lượng và hiểu biết của một
tâm hồn khô héo. Làm sao người ta có thể nghe được những
lời ru ngọt ngào của suối rừng, của gió núi, khi mà tâm
tư không gợi chút xao xuyến của tình yêu ?
Trong
bài kệ thứ hai tiếp theo, đức Phật xuất hiện giữa hư
không, toàn thân với ánh sáng rạng ngời. Đây quả thực
là phép lạ của tình yêu. Từ tinh xá Kỳ viên, Phật không
đến, và từ nội cung, Thắng Man phu nhân không đi, nhưng sự
giao cảm đã đưa đến một cuộc tương phùng hi hữu.
Sung
sướng trước sự xuất hiện của đức Phật, Thắng Man phu
nhân đọc lên một loạt sáu bài kệ ca ngợi những phẩm
tính siêu việt của Như Lai.
Trong
loạt sáu bài kệ này, hai bài kệ đầu ca ngợi phẩm tính
siêu việt của Pháp thân Như Lai. Pháp thân ấy không đến,
không đi, không sinh không diệt, thường trụ, vĩnh cửu. Tình
yêu cũng thường trụ như vậy, vĩnh cửu như vậy. Do tình
yêu mà người ta nghe ra những khúc điệu, những bài ca vô
tận của đời sống. Cũng vậy, từ sự chớm nở của tình
yêu bao la, Thắng Man phu nhân nhận thức được Pháp thân thường
trụ của Như Lai. Đó là hòn đảo an toàn, là nơi nương tựa
và cũng từ đó là điểm xuất phát của chí nguyện Đại
thừa.
Bài
kệ tiếp theo, ca ngợi bản thân giải thoát của Như Lai, bản
thân ngời sáng do đã dứt trừ tất cả ô nhiễm.
Bài
kệ tiếp theo nữa ca ngợi bản thân trí tuệ của Như Lai,
bản thân được thành tựu do đã thấu suốt tất cả mọi
đối tượng, đã vào sâu trong chân lý của vạn hữu, trong
biển pháp tính.
Pháp
thân, Giải thoát thân và Trí tuệ thân, những phẩm tính siêu
việt này làm cơ sở cho niềm tin, là mục tiêu của hành động,
là cứu cánh của hạnh phúc. Điểm khởi đầu của Bồ tát
đạo là từ chỗ đó, và điểm cuối cùng mà Bồ tát hướng
đến cũng là ở đó. Quá trình thực hành Bồ tát đạo bắt
đầu bằng sự quy y là như vậy.
TIẾT
2: PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM
Quy
y như vậy là sự gieo xuống hạt giống Bồ-đề. Hạt giống
Bồ-đề không được gieo vào một cánh đồng trừu tượng
nào xa xôi, cũng không chờ đợi để được gieo vào một
vùng đất hứa thần thoại nào khác, mà nó được gieo xuống
ngay trên sa mạc sinh tử này, khô cằn với những đau khổ
triền miên của chúng sinh này. Rồi hạt giống ấy cần phải
được tưới bằng nước ngọt của từ bi để lớn mạnh,
để đến thời trổ hoa giác ngộ. Do đó, quá trình Quy, Giới,
Nguyện và Hành của Bồ tát đạo là những giai đoạn gieo
giống và vun tưới hạt giống Bồ-đề. Nói cách khác, phát
Bồ-đề tâm và thành tựu Bồ-đề quả là trọn vẹn tất
cả sự nghiệp của Bồ tát.
Bồ-đề
tâm là gì?[30]
Bồ
đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh
tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày
khổ nhục, mong tìm một con đường sáng không những để
giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là
để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ.
Bồ-đề tâm, đó là ý chí kiên cường bất khuất của một
người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp
dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng
của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. «Vui
cười gì, thích thú gì, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu
đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi tìm ngọn đuốc?»[31]
Không
có tâm nguyện đó, không có ý chí đó, Bồ tát đạo chỉ
là một con đường xa xôi, không tưởng, thần thoại hoang
đường. Và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của
một người mê sảng trong giấc ngủ ngày.
Nhưng
tâm nguyện Bồ-đề chỉ có thể được phát khởi khi gốc
rễ của tín tâm đã được gieo trồng cẩn thận. Đại trí
độ[32] nói: «Phật pháp như biển cả, có thể vào bằng
tín, có thể vượt qua bằng trí.» Trên kia, trong những lời
tán thán công đức chân thật tuyệt đối của Như Lai, là
bày tỏ niềm tin sâu sắc không những đối với Phật, hiện
thân của nhân cách toàn thiện, mà còn tin tưởng ở khả
năng thành tựu nhân cách ấy của chính mình. Cho nên, mong
rằng Như Lai «thương xót, che chở con» chính là lời tuyên
thệ gởi trọn đời mình nương tựa nơi Như Lai, và cũng
chính là nương tựa trên Pháp thân thường trụ sẵn có nơi
mình, chứ không nương tựa một ai khác.
Bài
kệ thứ 11 tiếp theo đó, là lời của Phật ấn chứng tất
cả sự tin và hiểu của Thắng Man phu nhân cùng xác nhận
rằng Như Lai không chỉ là nơi nương tựa mới ở trong đời
này, mà cả những đời trước và đời sau cũng vậy. Vì
Như Lai là đối tượng của tâm nguyện Bồ-đề được phát
khởi và được hướng đến.
Bài
kệ cuối cùng trong đoạn này tổng kết tâm nguyện và ý
chí của Thắng Man phu nhân đối với Bồ tát đạo. Những
gì đã thành tựu và sẽ thành tựu trong tương lai, tất cả
chỉ thành tựu cho một mục đích duy nhất, đó là con đường
thành tựu Phật thừa.
Cái
kỳ diệu của Bồ tát đạo là khi vừa mới phát khởi tâm
nguyện Bồ-đề, ngay trong lúc ấy đã quyết định thành tựu
Chánh giác, như Phật đã nói trong kinh Pháp hoa mà chúng ta
đã dẫn trong chương giới thiệu tổng quát: «Chư pháp tùng
bản lai, thường tự tịch diệt tướng, Phật tử hành đạo
dĩ, lai thế đương tác Phật.»[33] Do ý nghĩa đó, ở đây,
sau khi Thắng Man phu nhân tán thán Như Lai và tuyên thệ quy
y tức phát Bồ-đề tâm, tức thì Phật thọ ký cho Phu nhân
ngay. Thọ ký là sự xác nhận của Phật và tương lai thành
Phật của một đệ tử.
Tổng
kết mà nói, trọng tâm của chương này là sự phát Bồ- đề
tâm của Thắng Man phu nhân. Phát Bồ-đề tâm là nhân, và
thọ ký thành Phật là quả. Nhân quả là mối quan hệ đồng
thời, đồng nhất tính ở trong Bồ tát đạo. Ở đây, chúng
ta có thể dẫn thêm kinh Hoa nghiêm để nhấn mạnh tầm mức
quan trọng của sự phát Bồ-đề tâm trên nền tảng chánh
tín, và do đó sẽ thấy lối trình bày đơn giản nhưng mang
ý nghĩa sâu xa của chương này.
Bồ
tát Văn-thù huấn thị Thiện Tài đồng tử:[34] «Lành thay,
lành thay, thiện nam tử, nếu lìa bỏ tín căn, tâm tư mệt
mỏi, thấp kém, không tinh cần học hỏi, ý chí thoái hóa,
thỏa mãn với một ít công đức, thành tựu chỉ một chút
thiện căn, không thiện xảo thực hành các hạnh và nguyện,
không được thiện tri thức nâng đỡ, không được chư Phật
hộ niệm, thì không thể biết được pháp này, không thể
biết, không thể thâm nhập, không thể triệt để, không thể
tin hiểu, không thể tư duy, không thể thông suốt, không thể
sở đắc lý thú như vậy, sở hành như vậy, an trú như vậy.»
[28]
Kinh: Chương 1, «Phẩm tính siêu việt của Như lai.»
[29]
Lăng-già a-bạt-đà-la bảo kinh (4 quyển), Cầu-na-bạt-đà-la
dịch, Đại 16, tr. 480a.- Bài tụng này, Nhập Lăng-già kinh
(10 quyển), Bồ-đề-lưu-chi dịch, (Đại 16, tr. 519a8) có hơi
khác: Phật tuệ đại bi quán, thế gian ly sinh diệt, do như
hư không hoa, hữu vô bất khả đắc. Tham chiếu, Đại thừa
nhập Lăng-già kinh (7 quyển), Thật-xoa-nan-đà dịch, Đại
16, tr. 590b29; Laṇkā, tr. 10: utpādabhaṅgarahito lokaḥ khapuṣpasaṃnibhaḥ/
sad-asannopalabdhas te pra-jñayā kṛpayā ca te.
[30]
Bồ-đề tâm (Skt. Bodhicitta), nói đủ là vô thượng bồ-đề
tâm, hay a-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề tâm (Skt. anuttara-samyak-saṃbodhi-citta),
tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại
trí độ (Đại 25, tr. 362c28): «Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô
thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ
thành Phật. Đó gọi là bồ-đề tâm.» Bồ tát Di-lặc nói
với Thiện Tài, Cf. Gaṇḍa, tr. 39617ff. bodhicittaṃ hi kulaputra
bījabhūtaṃ sarvabuddhadharmāṇām/ kṣetrabhūtaṃ sarvajagacchukladharmaviro-haṇatayā,
dharaṇibhūtaṃ sarva-lokapratisaraṇatayā, vāribhūtaṃ sarvakleśamalanir-dhāvanatayā
(…). «Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp.
Bồ-đề tâm là ruộng phước vì nuôi lớn pháp bạch tịnh.
Bồ-đề tâm là cõi đất lớn, vì nâng đỡ hết thảy thế
gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, vì rửa sạch tất cả cáu
bợn phiền não…» Tham chiếu, Hoa-nghiêm (Phật), quyển 59
(Đại 9, tr. 775)
[31]
Dh. l46 : ko nu hāso kimānando, niccaṃ pajjalite sati / andhakārena
onaddhā, padìpaṃ na gavesatha.
[32]
Đại 25, tr. 63a1.
[33]
Xem cht. 3, tr. 10 trên.
[34]
Gaṇḍ, tr. 4196: sādhu sādhu kulputra, na śakyaṃ śraddhen-driyavirahitaih
khinnacittaiḥ līnacittair anabhyastaprayogaiḥ pratyudāvartyavīryair
itvaraguṇasaṃtuṣṭair ekakuśalamūla tan-mayaiś caryā-praṇidhānābhinirhārākuśalaiḥ
kalyāṇamitrā-parigṛhītair buddhasamanvāhṛtair iyaṃ dharmatā
jñātum, eṣa nayaḥ, eṣa gocaraḥ, eṣa vihāro jñātum vā avagāhayituṃ
vā avatarituṃ vā adhimoktuṃ vā kalpayituṃ vā pratyavagantuṃ
vā pratilabdhuṃ vā iti. Cf. Hoa nghiêm (Phật), Đại 9, tr. 783c2;
Hoa nghiêm (Thật), Đại 10, tr. 439b9; Hoa nghiêm (Bát), tr. 836c21.