PHẦN
MỘT
GIẢNG
LUẬN
CHƯƠNG
I:
GIỚI
THIỆU TỔNG QUÁT
TIẾT
1: TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO
I.
TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO
«Phật
tính bình đẳng trong tất cả chúng sanh,» hiểu được điều
này bằng những suy luận của lý trí không phải là khó, nhưng
hiểu bằng tất cả tâm nguyện và chí hướng cao cả, để
rồi nỗ lực dũng mãnh, kiên quyết mà thành tựu, thì ngay
cả đến những bậc thiện trí của thế gian nhiều khi cũng
phải phân vân. Cho nên, để minh họa ý nghĩa này một cách
sống động và thâm thiết, kinh Pháp hoa đã hình dung Tôn giả
Xá-lợi-phất như là biểu tượng cho sự tương phản giữa
tâm tư vĩ đại của bậc thượng trí với những giới hạn
khắt khe của thực tế sinh hoạt. Sau khi chứng đạt địa
vị Thánh giả cao tột trên thế gian, mà đối với sự chứng
đạt của mình và đối với cảnh giới bất khả tư nghì
của đấng Đại Giác vẫn không khỏi hoài nghi, Tôn giả đã
tự trách căn tánh thấp kém của mình:[1] «Hỡi ôi, cùng ở
trong các pháp vô lậu, ta đã để cho lừa dối bằng những
tâm tư xấu. Cho nên, đời vị lai ta sẽ không diễn thuyết
Pháp tối thượng trong ba cõi.»
«Hỡi
ôi đáng trách thay! Tại sao tự lừa dối?» Đó là Tôn giả
tự thống trách tại sao truớc đây không gieo trồng hạt giống
Đại thừa chí thượng để có thể thành tựu những phẩm
tính cao thượng, siêu việt của Như Lai, để có thể có đủ
khả năng giáo hoá của đức Như Lai.
Thực
sự, như kinh điển đã chỉ rõ, chí nguyện Đại thừa mặc
dù được coi là tối thượng tối đại về kết quả thành
tựu nhưng nhân duyên để thành tựu nó thì hết sức đơn
giản: [2] «Những ai đã từng một lần xưng ‹Nam mô Phật›
trong các tháp miếu thờ xá-lợi; tất cả những người ấy,
dù chỉ một lần với tâm tán loạn, đều đã thành tựu
trí giác vô thượng này.»
Sự
kiện càng đơn giản bao nhiêu càng khó nhận thức bấy nhiêu.
Cho nên, khi đức Phật quyết định tuyên bố đạo lý nhất
thừa rằng: [3] «Và Ta nói như vầy: tất cả các pháp này
vốn thường hằng vắng lặng, bản lai tịch tĩnh. Phật tử
sau khi đã thực hành đầy đủ, đời sau sẽ thành Phật,»
thì sự kiện đó được coi là một biến cố vĩ đại.
Và
đây cũng là một biến cố vĩ đại, khi Thắng Man phu nhân
phát khởi chí nguyện Đại thừa. Chí nguyện ấy là mong học
hỏi và thấu triệt vô lượng vô biên Phật pháp; và không
chỉ có thế, chí nguyện của phu nhân còn hướng đến những
thực hành cao cả, tự mình gánh vác trách nhiệm lớn lao,
sẵn sàng xả bỏ thân mạng vì sự tồn tại của Chánh pháp
và vì ích lợi của tất cả chúng sanh. Nơi đây không còn
giới hạn vấn đề mà người ta nói là thường tình nhi nữ
hay chí khí trượng phu nữa.
Chúng
ta như người cùng tử,[4] bao nhiêu năm lưu lạc, sống trong
đói rách bơ vơ. Nhưng khi gặp lại cha già trong khung cảnh
sang cả thì không thể tin tưởng quyền thừa kế gia sản
của mình, mà chỉ khư khư ôm chặt lấy mặc cảm thấp kém
bần cùng, chỉ bằng lòng làm một kẻ tôi tớ hèn mọn. Cho
đến khi nào cùng tử ấy nhận ra rằng đó thực sự là người
cha già mà mình bị thất lạc từ lâu, chỉ khi ấy mới có
chí hướng tiếp nối sự nghiệp lớn lao ấy. Các vị thượng
tôn trưởng lão trong hàng Thanh văn như ngài Tu-bồ-đề, Ma-ha
Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Mục-kiền-liên đã tự so
sánh như vậy, sau khi các ngài được đức Phật khai thị
cho biết thế nào là con chân thật của Như Lai, hóa sinh từ
trong lòng Chánh pháp. Tự xác nhận mình là người con chân
thật của Như Lai, tức cũng đồng thời tự xác nhận sứ
mạng tiếp nối sự nghiệp Như Lai của mình, đó cũng chính
là trường hợp của Thắng Man phu nhân. Và cũng là trường
hợp cho tất cả những ai thấu triệt một cách sâu sắc rằng
mình là một Phật tử.
Cho
nên, như chúng ta sẽ thấy trong chương cuối cùng của kinh
Thắng Man này, chí nguyện Đại thừa mặc dù là chí nguyện
cao cả, thậm chí bậc đại trượng phu không thể dễ dàng
đảm đương, nhưng chí nguyện ấy thật cũng vô cùng đơn
giản, thậm chí trẻ thơ bảy tuổi cũng có thể hiểu và
cũng có thể phát hiện bằng hành động cụ thể.
II.
THỰC TIỄN HÀNH ĐỘNG
Thiện
tài đồng tử,[5] sau khi đã phát khởi chí nguyện đại thừa,
lại mong thực hiện cụ thể chí nguyện ấy, bèn thưa với
Bồ tát Văn-thù rằng: [6] «Như cõi đất lớn không hề dao
động, khi mang gánh nặng bằng sức mạnh đại bi, như kho
tàng trí tuệ nuôi dưỡng thế gian, mong con bước lên cỗ
xe tối thượng như vậy.»
Bồ
tát Văn-thù bây giờ quay lại với tất cả dáng điệu trầm
hùng của con voi chúa,[7] quán sát và tán thán Thiện Tài đồng
tử: «Lành thay, lành thay! Thiện nam tử, ngươi đã phát tâm
vô thượng chánh giác, lại còn mong mỏi gần gũi các thiện
tri thức để học hỏi Bồ tát hạnh…»
Đã
phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện
chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con
sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng
cung cách của con voi chúa. «Sư tử tần thân, tượng vương
hồi thị», là thành ngữ mô tả tất cả cung cách uy mãnh
của chí nguyện Đại thừa và hành vi thực tiễn của chí
nguyện ấy. Nhân cách vĩ đại không do nơi địa vị cao trọng
của một thiên tử hay vương phi, hay những gì tương tợ,
mà chính do bởi chí nguyện và thực tiễn hành động. Thắng
Man phu nhân không phải chỉ điển hình cao cả của một nữ
Phật tử, mà còn là điển hình cho sự định giá tuyệt đối
về khả năng hướng thượng của bất cứ chúng sanh nào.
Sau
khi đã phát khởi chí nguyện Đại thừa như vậy, Thắng Man
phu nhân lại tiếp đến nêu rõ những thực tiễn hành động
của Bồ tát đạo mà người nữ có thể thực hiện được.
Đây là vấn đề liên hệ đến căn tính dị biệt trong các
môi trường thực hành Bồ tát đạo.
Cùng
đi trong một Nhất thừa đạo, cùng hướng đến một lý tưởng
Phật đạo duy nhất, nói một cách tổng quát, cùng tuyệt
đối bình đẳng về Phật tính, nhưng giới hạn căn tính
của chúng sinh vốn sai biệt bất đồng. Vì vậy, Bồ tát
đạo không chỉ có một. Thiện Tài đồng tử điển hình
cho giới thanh niên trí thức, thực hành Bồ tát đạo bằng
sự thân cận thiện trí thức để học hỏi không hề biết
mệt mỏi. Duy-ma-cật điển hình cho cư sĩ lão thành, thể
hiện Bồ tát đạo bằng du hí tam muội, với đời sống phóng
khoáng, thong dong không hề câu nệ hình danh sắc tướng. Cũng
vậy, Thắng Man phu nhân điển hình cho phụ nữ thực hành
Bồ tát đạo bằng cung cách trang nhã, từ ái, khiêm cung. Môi
trường thực hành bao gồm từ giới hạn thân thuộc với
bổn phận tôn kính bậc trưởng thượng, yêu mến những người
thấp hơn, cho đến những sinh hoạt trong cộng đồng xã hội,
biết săn sóc những người côi cút, biết làm vơi nỗi khổ
và tăng niềm vui cho mọi người. Như trong lời phát thệ của
Phu nhân đã nói rõ: «Không vì riêng mình mà thực hành bốn
nhiếp sự.» Bồ tát hướng đến Phật đạo không chỉ vì
thành tựu cứu cánh của riêng mình, mà trong sự nghiệp cứu
cánh chung đó của mọi thế gian có sự tham dự xây dựng
của mình. Cho đến, Bồ tát không đến để phá hủy những
gì thế gian đang có và đang ước vọng: Tài sản, tình yêu,
hạnh phúc… nhưng đến để dựng lại những gì đang sụp
đổ, nối kết những gì bị đứt lìa. Xuất hiện hay thác
sinh trong hình tướng phụ nữ thì Bồ tát hành động đúng
theo thiên chức của nữ giới. Thành tựu thiên chức ấy trong
chí nguyện Đại thừa tức là thành tựu trọn vẹn Bồ tát
đạo. Bởi vì, do căn tính dị biệt, có những hàng chúng
sinh cần được giáo hóa bằng hình tướng Phật, hình tướng
Thanh văn hay hình tướng Đại Phạm thiên, hình tướng đại
thần, tỳ-kheo, cư sĩ, thì cũng có những hàng chúng sanh cần
được giáo hoá bằng hình tướng phụ nữ, cho đến hình
tướng đồng nữ. Cho nên cũng như chí nguyện Đại thừa
cao cả mà cũng đơn giản, thì cũng vậy, sự thực hành Bồ
tát đạo rất khó khăn mà cũng rất giản dị. Nói rằng khó,
thì hành động tung hoa của một thiên nữ, thậm chí Tôn giả
Xá-lợi-phất cũng không hiểu hết.[8] Nói rằng giản dị,
thì cho đến việc con nít vọc cát mà chơi cũng có thể thành
Phật.[9]
III.
SỞ HỌC BAO LA
Tư
tưởng chủ đạo của kinh Thắng Man được đặt căn bản
trên thuyết Như Lai tạng, cũng đồng với kinh Lăng-già, Như
Lai tạng, Bất tăng bất giảm, Vô thượng y; và luận Đại
thừa khởi tín, Phật tính luận. Như Lai là biểu tượng của
nhân cách tuyệt đối giải thoát. Thức tính của chúng sanh
do bị nhiễm ô bởi cáu bợn phiền não cho nên không phát
huy được những công năng siêu việt của Phật tính sẵn
có, và do bởi nhận thức sâu sắc rằng chính thức tính ô
nhiễm của chúng ta, cái thức tính luôn luôn thúc đẩy chúng
ta chạy đuổi theo dục vọng hư huyễn bên ngoài như con dê
khát đuổi theo ráng nắng trên cánh đồng xuân, chính thức
tính ấy là Như Lai tạng, là tự tính thanh tịnh sẵn có,
tin vào sự tin và hiểu ấy, Phật đạo dù cao xa nhưng không
phải là điều không thể ước vọng, và Bồ tát đạo dù
nhiều khó nhọc nhưng không phải là không thể thực hành
được. Đó là do sự học hỏi và hiểu biết mà đưa đến
tin tưởng và thực hành. Sự thực hành càng kiên cố, sự
tin và hiểu lại càng sâu và càng cao xa. Cả hai khía cạnh
ấy, tri và hành, như hai bánh xe của cỗ xe lớn chở chúng
ta và tất cả tiến về Phật đạo tối thượng.
Để
có thể đạt đến nền tảng vững chắc của tin tưởng và
hiểu biết sâu xa về Như Lai tạng, về tự tính thanh tịnh
ấy, Thắng Man khởi đi từ nhận định về thực trạng sinh
tử. Đó cũng là khởi điểm của tất cả Phật pháp dù là
với Thanh văn thừa hay Bồ tát thừa. Không những thế, đó
còn là khởi điểm của tất cả mọi tin tưởng và hiểu
biết của thế gian. Như đức Phật có nói: «Vì sợ hãi mà
người ta tìm đến quy y với thần cây…»[10] Người ta sợ
hãi gì? Sợ đủ thứ, và hình thức đe dọa có thay đổi
tùy theo thời đại. Trong thời kỳ mông muội bán khai, con
người sợ sấm, sợ bão, sợ mọi hiện tượng thiên nhiên.
Ngày nay người ta sợ tai nạn giao thông, sợ khủng bố, sợ
bom nguyên tử… nhưng nguồn gốc của mọi sợ hãi ấy phát
xuất từ nỗi sợ hãi muôn thuở của con người; đó là sợ
sống và sợ chết. Hàng Thanh văn do nhận rõ thực chất của
đời sống, biết rằng «những gì có sanh tất có diệt»
cho nên các vị ấy sống tu tập nương theo đức Như Lai, cho
đến khi biết rõ và tự tuyên bố rằng: «Sự sanh của ta
đã dứt, … không còn thọ sanh đời sau nữa.» Bồ tát cũng
khởi từ nhận định về thực chất hư ảo ấy của đời
sống, nhưng nhận định với một tầm nhìn phổ biến. Bồ
tát phát hiện hai hình thái của sinh tử; đó là phần đoạn
sanh tử và biến dịch sanh tử. Nếu sự sống, sự chết được
nhận định qua tính cách tồn tại và hủy diệt của sắc
thân này, dù trong đời này hay đời sau, sự kiện đó được
gọi là phần đoạn sanh tử. Hàng Thanh văn với nỗ lực giải
quyết nỗi sợ hãi về sống chết qua tính chất vô thường
của sắc thân này, do đó chỉ tu tập đối trị các ô nhiễm
mặt ngoài, tức những tham dục, sân hận, các kết sử, các
ràng buộc, chúng lôi cuốn chúng sinh vào những cuồng dại
để đưa đến hậu quả là thân và tâm bị bức rức, bị
đốt cháy, khổ não. Bồ tát nhận định thêm rằng, cái gì
che lấp chân tính của chúng sinh để không cho thấy rõ khả
năng siêu việt ngay trong chính mình, khiến chúng sinh có căn
tính thấp kém không tự mình đảm nhận sứ mạng cao cả
của Như Lai? Đó chính là phần vô minh nhỏ nhiệm chưa bị
dứt trừ. Như con gà còn nằm trong trứng, chưa đập vỡ được
vỏ trứng để chui ra.
Theo
ý nghĩa cơ bản, do bị vô minh che lấp, chúng ta không thể
thấy được biên tế của sự sống và sự chết; không chỉ
là sống chết trong một thời gian kỳ hạn nào đó, mà là
sống chết trong từng khoảnh khắc sát-na, và cứ như vậy,
sống chết liên tục tiếp nối nhau từ vô thủy đến vô
cùng. Đó gọi là biến dịch sanh tử, nhỏ nhiệm, sâu kín
khó thấy, khó biết, so với phần đoạn sanh tử.
Theo
ý nghĩa rộng hơn, vô minh như là bức màn tối ngăn che không
cho chúng ta nhận thấy rõ những mối quan hệ mật thiết giữa
mình và thế giới; không cho nhận thức được lý tính duyên
khởi trùng trùng vô tận, được ví dụ như là mối quan hệ
trong màng lưới kết bằng đế thanh minh châu. Do thế, do bị
võ trứng vô minh ngăn che ta và thế giới, không thấy rõ nỗi
khổ của ta đây là nỗi khổ toàn diện; không có sự khác
biệt và cách biệt giữa cái cá biệt và toàn thể ấy. Những
ai chỉ mới tìm thấy cái hạnh phúc cá biệt của mình, chưa
tìm thấy hạnh phúc chung bao la của toàn thể, thì hạnh phúc
ấy chưa phải là cuối cùng. Cũng thế, nếu thoát khỏi nỗi
khổ sống chết cá biệt của mình, chỉ liên hệ đến sự
còn và mất của bản thân do bốn đại giả hợp này, đó
chưa phải là giải thoát trọn vẹn.
Sau
khi thấu rõ thực chất của đời sống, biết rõ tính chất
vô thường của sắc thân, không còn bám chặt vào những sở
hữu hư ảo trên thế gian, và do đó diệt trừ sự sợ hãi
về phần đoạn sanh tử, nhưng vì vô minh chưa được diệt
trừ trọn vẹn, Bồ tát nhận thấy vẫn còn một nỗi sợ
hãi sâu thẳm không lường được, sợ hãi về biến dịch
sanh tử. Chỉ khi nào được địa vị vô úy của Như Lai,
bấy giờ mới có thể nói là đạt đến tịnh lạc tuyệt
đối.
Như
vậy, Thanh văn hiểu khổ, đoạn tập, chứng diệt và tu đạo;
cũng vậy, Bồ tát học hiểu Phật pháp trên cơ sở bốn Thánh
đế. Nhưng, với tính chất không giới hạn của biến dịch
sanh tử, Khổ đế của Bồ tát là thực trạng đời sống
vô biên. Khổ đế vô biên, cho nên nguyên nhân đưa đến sự
khổ hay Tập đế cũng vô biên, và do đó, tịnh lạc diệt
khổ và con đường tu tập dẫn đến diệt khổ cũng vô biên.
Bồ tát học tập Vô biên Thánh đế, cho nên sở học ấy
thực sự bao la không cùng tận.
TIẾT
2: GIẢI THÍCH ĐỀ KINH
Trong
đoạn cuối của kinh, đức Phật có đề ra tất cả 15 tên
gọi khác nhau của kinh này. Nhưng đề kinh thông dụng hiện
tại tổng hợp tất cả các tên gọi khác nhau ấy. Dưới
đây chúng ta sẽ giải thích chi tiết.
I.
THẮNG MAN
Có
hai khía cạnh cần được thấu hiểu trong danh hiệu này đối
với tiêu đề tổng quát của toàn bản kinh.
a.
Khía cạnh thực tế. Bởi vì nội dung chính yếu của toàn
bộ kinh là những điều được nói ra do bởi Thắng Man phu
nhân.
b.
Khía cạnh tượng trưng. Như đã thấy ở tiết thứ nhất
của chương giới thiệu tổng quát này, Thắng Man phu nhân
là nhân cách tượng trưng cho tinh thần tuyệt đối bình đẳng
của Đại thừa, là thiên chức làm mẹ của Bồ tát. Bồ
tát không phải là con đường dành riêng cho các hàng Thánh
giả xuất thế, các bậc đại trượng phu, lại cũng không
phải chỉ riêng biệt cho một hạng người đặc biệt nào,
mà bởi vì Phật tính vốn bình đẳng nơi tất cả chúng sanh
cho nên chí nguyện và trách nhiệm Đại thừa vẫn có thể
được đảm trách trọn vẹn bởi cốt cách của một nữ
Phật tử. Với thiên chức làm mẹ, Bồ tát ôm trọn cả thế
gian vào trong tấm lòng bao dung trời biển của mình. Thắng
Man là bảng chỉ dẫn các phương pháp nuôi lớn thánh thai
của Bồ tát, mở rộng tình mẹ bao la của Bồ tát, do thế
không phải riêng biệt dành cho phụ nữ, mà là một khía cạnh
trong muôn vàn khía cạnh thực tiển của Bồ tát đạo.
Như
thế, ở đây chúng ta có nhân cách Thắng Man và nguyên lý
Thắng Man trong tiêu đề kinh.
Về
tiểu sử của Thắng Man phu nhân, hiện chúng ta biết rất
ít, ngoại trừ những điểm chính như được nói trong phần
mở đầu của kinh. Các tài liệu trong điển tích Phật giáo
Trung hoa hiện có cũng không nói gì nhiều hơn những điều
mà kinh này nói. Như vậy, chúng ta biết một cách vắn tắt
về thân thế của phu nhân như sau : Phu nhân là con gái của
vua Ba-tư-nặc và Mạt-lị Phu nhân, là vương phi của vua Hữu
Xứng.
Ba-tư-nặc
và Mạt-lị phu nhân là hai vị tại gia đệ tử danh tiếng
của đức Thích Tôn. Nhà vua có một đức tin thuần khiết,
vững mạnh trong giáo pháp của Phật. Điều này được đề
cập rất nhiều trong các kinh điển, nhất là kinh điển nguyên
thủy. Kinh «Pháp trang nghiêm»[11] ghi chép sự bày tỏ của
vua về những niềm tin trong sáng của chính mình về các phẩm
tính tuyệt vời của đức Như Lai, về Chánh pháp được Như
Lai khéo giảng thuyết, và về đoàn thể Tăng chúng sống hòa
thuận, vui tươi, khéo tu tập dưới sự hướng dẫn của đức
Như Lai. Trong một đoạn kinh khác thuộc Tương ưng bộ[12]
có ghi rằng, vào một lúc nọ nhà vua đến viếng Phật và
cũng ngay lúc ấy cung nhân đến báo tin Mạt-lị Phu nhân vừa
sinh một công chúa. Vua tỏ ý không vui về tin này, vì nhà
vua thích con trai hơn. Nhưng đức Phật giảng giải rằng trong
nhiều trường hợp con gái vẫn xứng đáng hơn con trai. Bản
kinh của chúng ta cố nhiên có chung ý hướng này.
Tài
liệu kinh điển Pāli chỉ cho biết vua và hoàng hậu Mạt-lị
có một người con gái nhưng không thấy nói rõ tên. Tài liệu
Pāli cũng cho biết nhà vua có một vị công chúa tên gọi là
Vajirī hay Vajirakumāri (Kim Cang vương đồng nữ) về sau được
gả cho vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà. Nhưng các tài liệu
này không chỉ rõ Vajirī là con gái của vị vương phi nào.
Thắng
Man là tên gọi được dịch từ tiếng Phạn. Tên gọi này,
theo Thắng Man bảo khốt[13] của Cát Tạng, tiếng Phạn gọi
là «thất-lị-ma-la.»[14] Nhưng theo Khuy Cơ [15] thì tiếng Phạn
của tên gọi ấy được gọi là «mạt-lị-thất-la.»[16]
Cả hai đều có cùng ý nghĩa: Cát tường hoa man tràng hoa của
sự tốt đẹp, thánh thiện, hay đỉnh đầu có kết tràng
hoa. Thuật ký của Khuy Cơ cũng giải thích rằng, sở dĩ có
tên như vậy, vì mẹ là Mạt-lị nên con gái được gọi là
Mạt-lị-thất-la.
II.
SƯ TỬ HỐNG
Thắng
Man sư tử hống, chính là một trong 15 danh hiệu mà đức Phật
nêu lên để đặt cho kinh này.
Thông
thường, trong các kinh điển, thành ngữ «sư tử hống» hay
tiếng rống của con sư tử được dùng theo các ý nghĩa như
sau:[17]
1.
Quyết định thuyết: lời nói chắc thật đúng với việc
làm. Kinh Thế gian, kinh số 137 thuộc bộ Trung A hàm[18] nói:
«Đức Như Lai, kể từ đêm thành đạo vô thượng chánh giác
cho đến đêm nhập vô dư Niết-bàn, trong khoảng trung gian
đó, những gì được nói chính từ miệng Như Lai, những gì
được đối đáp bởi chính Như Lai, những điều ấy tất
cả đều chắc thật, không trống rỗng, đúng như thực, không
điên đảo; nói về Như Lai cũng là nói về sư tử vậy.»
2.
Vô úy thuyết: nói mà không hề do dự, sợ hãi; nói với sự
xác tín, kiên quyết. Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ca ngợi đức
Phật rằng: «Trong quá khứ, trong tương lai, cũng như trong
hiện tại, không thể có một (…) ai tối thắng hơn đức
Thế Tôn…»; thì bấy giờ đức Thế Tôn ấn chứng rằng
lời nói của tôn giả Xá-lợi-phất thật sự là tiếng nói
không sợ hãi, là tiếng rống của sư tử.[19]
3.
Như thuyết tu hành: tu tập đúng như những điều đã được
giảng dạy. Tất cả những thực hành chân chánh, đúng với
Chánh pháp; sự giảng dạy về những điều thực hành ấy
được gọi là «Sư tử hống.» Thí dụ, khi đức Phật bác
bỏ các lối tu khổ hạnh và chỉ ra con đường chân chính,
thiết thực hơn các khổ hạnh ấy cho các người Ưu-đàm-bà-la,
thì đấy là lúc Ngài đang nói bằng tiếng rống của sư tử,
và do đó kinh được đặt tên là Ưu-đàm-bà-la sư tử hống.[20]
Trong
các kinh điển Đại thừa, từ «sư tử hống» thường được
dùng để chỉ cho tiếng nói của đại trí. Vì tiếng nói
ấy làm chấn động những ai có căn tánh thấp kém, như đàn
nai run sợ khi nghe tiếng rống của sư tử.
Ở
đây, Thắng Man phu nhân, đối trước Phật, mà có thể tự
mình phát khởi chí nguyện Đại thừa và cũng tự mình nói
lên tư tưởng sâu sắc của Đại thừa, nói một cách không
sợ hãi, không do dự. Cho nên, những điều phu nhân nói cũng
được gọi là «sư tử hống.»
III.
NHẤT THỪA
«Nhất
thừa» cũng là đề mục của chương V trong phần sau. Đây
là tư tưởng căn bản của toàn bộ kinh. Nói là «Nhất thừa»
cũng đồng nghĩa như được nói trong kinh Pháp hoa, theo đó,
giáo pháp của đức Thích Tôn được nói ra chỉ hướng đến
một mục đích duy nhất, là dẫn dắt tất cả chúng sanh đến
nơi giải thoát và giác ngộ như Ngài. cho nên, giáo pháp ấy
chỉ gồm có một thừa duy nhất, tức Phật thừa, chứ không
có hai, cũng không có ba. Như đề kinh chỉ rõ, ở Thắng Man,
Nhất thừa đi liền với Đại phương tiện. Đó là, từ Nhất
thừa, với đại phương tiện, mà các thừa khác được dẫn
xuất, và do đại phương tiện mà Phật thừa được chỉ
điểm và được hướng đến.
IV.
ĐẠI PHƯƠNG TIỆN
Phương
tiện cũng thường nói là «phương tiện quyền xảo», của
sự khéo léo của khả năng thuyết giáo, hướng dẫn thích
hợp tùy theo căn tánh mỗi chúng sanh để đưa đến địa
vị của Phật thừa.
Bồ-tát
đạo được thực hành trên một nền tảng song đối, đó
là đại trí và đại bi hay đại hạnh. Với đại trí, Bồ
tát học tập quán sát để nhìn thấu suốt bản tính chân
thực của vạn hữu, nghĩa là học hỏi vô biên Phật pháp,
không bao giờ biết mệt mỏi nhàm chán. Nhưng Bồ tát đạo
không phải là con đường mong cầu lợi ích riêng cho mình,
mà hướng đến sự giải thoát và giác ngộ của hết thảy
chúng sinh. Do đó, song song với sự học tập và quán sát để
thành tựu đại trí, Bồ tát cũng phát khởi tâm nguyện đại
bi. Tâm nguyện ấy, nếu không do phương tiện trí thì không
thể thành tựu được. Bởi vì sự thành tựu đại trí, tức
thành tựu nhất thiết trí, thấy rõ chân tướng của vạn
hữu, Bồ tát thấy rằng thế giới này xuất hiện như hình
ảnh của chiêm bao, như bóng dáng trong nắng quái, như bọt
nước, như làn chớp, v.v... và sự thành tựu ấy có thể
dẫn đến tư tưởng nhàm chán thế gian, thúc đẩy ước vọng
từ bỏ thế gian để một mình thủ chứng Niết-bàn. Cho nên,
sau khi đã chứng đạt đến trí tuệ thực chứng tánh không
của thế giới, Bồ tát tu tập để phát hiện phương tiện
trí. Với phương tiện trí, nghĩa là khả năng sử dụng phương
tiện khéo léo, Bồ tát thấy mặc dù thế gian vốn trống
rỗng, không thực chất, nhưng do nhân duyên, các pháp cùng
tương quan mà hiện khởi. Do hiểu biết sâu xa nguyên lý duyên
khởi như vậy, Bồ tát không hề nhàm chán thế gian, để
chứng nhập Niết-bàn không sinh không diệt.
Ở
đây, trong đề mục của kinh Thắng Man này, «Nhất thừa»
chỉ cho trí tuệ như thật, hay thật trí, và «Đại phương
tiện» chỉ cho phương tiện trí như đã nói trên. Gọi là
«đại», với ý nghĩa phổ biến và bao quát, bởi vì mặc
dù duy nhất chỉ có «một thừa» nhưng đức Phật đã khéo
léo hướng dẫn chúng sanh đến đó qua ba thừa khác nhau; cho
nên «đại phương tiện» có nghĩa là cái phương tiện thiện
xảo của «một thừa» bao quát tất cả các thừa.
V.
PHƯƠNG QUẢNG KINH
Trước
hết, cũng nên để ý rằng trong Thắng Man Bảo khốt của
Cát Tạng và Thắng Man nghĩa ký của Tuệ Viễn «phương quảng»
được giải thích là «đại phương quảng.» Theo đề kinh
cho bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la hiện lưu truyền thì
gọi là Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện
phương quảng kinh.
«Phương
quảng»,[21] các nơi khác cũng gọi là Quảng kinh, Quảng giải,
Quảng bác hay Phương đẳng, một trong 9 bộ loại thánh điển,[22]
theo phân loại nguyên thủy, hay một trong 12 bộ loại,[23] theo
phân loại hậu kỳ. Ý nghĩa của nó không được giải thích
nhất trí giữa các truyền thống của Phật giáo phương Nam
và phương Bắc, và Đại thừa. Theo truyền thống Đại thừa,
như được giải thích trong kinh Đại thừa niết bàn,[24] sở
dĩ gọi là kinh điển phương đẳng, vì ý nghĩa của nó rộng
lớn như hư không. Hoặc theo giải thích của Đại thừa a-tì-đạt-ma
tập luận:[25] «Phương quảng là gì? Là tất cả những ngôn
thuyết có liên hệ đến Bồ tát tạng. Như tên gọi Phương
quảng; cũng gọi là Quảng phá; cũng gọi là Vô tỷ. Do ý
nghĩa nào mà được gọi là Phương quảng? Vì là chỗ sở
y để có thể đem lại lợi ích và an lạc cho chúng sinh; tuyên
thuyết một cách rộng rãi pháp sâu thẳm. Do ý nghĩa gì mà
gọi là Quảng phá? Vì là khả năng phá hủy một cách rộng
rãi tất cả chướng ngại. Do ý nghĩa nào mà gọi là vô tỷ?
Vì không có pháp nào có thể so sánh bằng.» Mặt khác, theo
giải thích của luận Đại trí độ,[26] thì tất cả các
kinh điển Đại thừa đều có thể được gọi là Phương
quảng, như Bát nhã hay Pháp hoa, v.v…
Như
vậy, Thắng Man sở dĩ được gọi là Phương quảng kinh do
nội dung bao hàm rộng lớn của nó. Giáo pháp này được gọi
là nguồn xuất sanh của tất cả các Thừa, và bao trùm tất
cả các Thừa.
Nói
theo tổng quát, Phương quảng thường dùng để chỉ chung cho
tất cả kinh điển Đại thừa. Cho nên Thắng Man sở dĩ được
gọi là Phương quảng, vì nó là bản kinh thuộc Đại thừa.
Tổng
kết, chúng ta có danh hiệu đầy đủ của bản kinh này như
sau: Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện (đại)
phương quảng kinh,[27] ý nghĩa muốn nói rằng : Đây là kinh
thuộc Đại thừa giáo, nói lên ý nghĩa Nhất thừa và Đai
phương tiện, hay Đại phương tiện của Nhất thừa, được
thuyết bởi Thắng Man phu nhân, như tiếng rống của con sư
tử không hề khiếp sợ, không hề do dự.
[1]
(Đại 9, tr. 10c23). Cf. Saddh, tr. 45: aho' smi parivañcitu pàpacittais
tulyeṣu dharmeṣu anāsraveṣu/ yan nāma traidhātuki agradharmaṃ
na deśayiṣyāmi anāgate' dhve. Pháp hoa, phẩm 3 «Thí dụ.»
[2]
Saddh, tr.375: namo' stu buddhāya kṛtaikavāraṃ yehī tadā dhātudhareṣu
teṣu/ vikṣiptacittair api ekavāraṃ te sarvī prāptā imam agrabhodhim.
Cf, Pháp hoa, phẩm 2 «Phương tiện» (Đại 9, tr. 9a7).
[3]
Saddh, tr. 3311: evaṃ ca bhāṣāmy ahu nityanirvṛtā ādipraśāntā
imi sarvadharmāḥ/ caryāṃ ca so pūriya buddhaputro anāgate' dhvāni
jino bhaviṣyati. Cf. Pháp hoa, tr. 8b26: «chư pháp tùng bản lai,
thường tự tịch diệt tướng. Phật tử hành đạo dĩ, lai
thế đắc tác Phật.»
[4]
Pháp hoa, phẩm 4, «Tín giải» (Đại 9, tr. 16b25). Cf. Saddh.,
tr. 72ff.
[5]
Skt. Sudhana-śreṣṭhidāraka.
[6]
Cf. Gaṇḍa, tr. 4523: tan mahāmahitalācalopamaṃ karuṇa vegabala-bhāravāhitaṃ/
jñāna- saṃpajagatopajīvitaṃ agrayānam abhirohayāhi me. Cf. Hoa
nghiêm (Thật), q. 62, phẩm Nhập pháp giới, Đại 10 tr.333b21;
Hoa nghiêm (Bát), Đại 10, T.293, tr. 678c19; Hoa nghiêm (Phật),
Đại 9 tr. 689a18.
[7]
Nāgavalokitenāvalokya, Gaṇḍa., 46.
[8]
Duy-ma-cật, phẩm vii. «Quán chúng sinh»; Đại 14, tr.547c
[9]
Pháp hoa, phẩm ii. «Phương tiện,» Đại 9, tr. 9a5.
[10]
Dh. l88: bahuṃ ve saraṇaṃ yanti, pabbatāni vanāni ca / ārāmaruk-khacetyāni,
manussā bhayatajjitā.
[11]
Trung (kinh số 213), «Pháp trang nghiêm 法莊嚴» (Đại 2, tr.795tt).
Cf. Pāli: M.89 Dhammacetiya.
[12]
Pāli, S. i.83.
[13]
Đại 37, tr. 2b24.
[14]
Skt. Śrīmāla.
[15]
Khuy Cơ, Thành duy thức luận Thuật ký, Đại 43, tr. 536b6.
[16]
Skt. Mālya-śrī.
[17]
Cát Tạng, Thắng Man Bảo khốt, Đại 34, tr. 3a18, dẫn Phức
pháp sư, giải thích theo kinh Tư ích: Tư Ích Phạm thiên sở
vấn kinh, Cưu-ma-la-thập dịch, Đại 15 (No 586).
[18]
Đại 2, tr. 645tt. Tham chiếu Pāli: A, iv.23.
[19]
Trường, kinh số 18, «Tự hoan hỷ», Đại 1, tr. 76. Tham chiếu
Pāli: D.28 Sampadānīya.
[20]
Pāli: D.25 Udumbarika-sīhanāda; Trường, kinh số 8, «Tán-đà-na»,
Đại 1, tr. 47. Cf. Trung, kinh số 104, «Ưu-đàm-sa-la», Đại
1, tr. 591.
[21]
Skt. vaipulya, hay mahā-vaipulya. Pāli: vedalla.
[22]
Hán: cửu bộ kinh (Skt. navāṅgaśāsana). Danh sách liệt kê
theo Saddh, tr. 307 : sũtrāṇi bhāṣāmi tathaiva gāthā itivṛttakaṃ
jātakam adbhutaṃ ca/ nidāna aupamyaśataiś ca citrair geyaṃ ca bhāṣāmi
tathopadeśān, Hán (Pháp hoa, Đại 9, tr. 7c25): tu-đa-la, già-đà,
bản sự, bản sanh, vị tằng hữu, nhân duyên, thí dụ, kỳ-dạ,
ưu-ba-đề-xá. Pāli: sutta (tu-đa-la, hay khế kinh), geyya (kỳ-dạ,
ứng tụng hay kệ tụng), veyyakāraṇa (thọ ký), gāthā (phúng
tụng, hay thể ngâm vịnh), udāna (tự thuyết, hay kệ cảm
hứng), itivuttaka (như thị ngữ), jātaka (bản sanh, hay chuyện
tiền thân), vedalla (phương quảng, hay quảng giải), abbhutadhamma
(pháp vị tằng hữu).
[23]
Thập nhị bộ kinh, hay thập nhị phần giáo (Skt. dvādaśāṅga-buddhavacana):
tu-đa-la (sūtra), kỳ-dạ (geya), thọ ký (vyākaraṇa), phúng
tụng (gāthā), ưu-đà-na (udāna), nhân duyên (nidana), thí dụ
(avadāna), như thị ngữ (itivṛttaka), bản sanh (jātaka), phương
quảng (vaipulya), vị tằng hữu (adbhutadharma), luận nghị (upadeśa).
[24]
Đại bát-niết-bàn kinh, q.14, Đại 12, tr. 684a8.
[25]
Đại 31, tr. 686b16.
[26]
quyển 33, Đại 25, tr. 34a4.
[27]
Tên kinh được dẫn chứng bởi Śikṣ, tr. 27: Śrīmālāsiṃha-nādasūtra.