TAN
SƯƠNG ĐẦU NGÕ
HOA
ĐÀO NĂM NGOÁI
Chúng
ta hãy đi trở lại mười lăm năm trước:
Nỗi
nàng tai nạn đã đầy,
Nỗi
chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
Từ
ngày muôn dặm phù tang,
Nửa
năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Mười
lăm năm là một đường hầm dài rất tối. Chúng ta đã từng
thử làm người bạn đồng hành của Thúy Kiều, đi ngang qua
con đường hầm tối mười năm đó. Kiều đã tìm thấy ánh
sáng. Bây giờ anh chàng mới bắt đầu. Tội nghiệp!
Kim
Trọng đi hộ tang cho ông chú ở Liêu Dương, sáu tháng trở
về:
Vội
sang vườn Thúy dò la,
Nhìn
phong cảnh cũ nay đà khác xưa.
Đầy
vườn cỏ mọc lau thưa,
Song
trăng quạnh quẽ vách mưa rã rờ.
Trước
sau nào thấy bóng người,
Hoa
đào năm ngoái còn cười gió đông.
Cứ
tưởng tượng về thì cảnh sẽ như xưa mà người cũng như
xưa. Nhưng mọi sự đã hoàn toàn đổi khác. Trong tâm mình
chứa chất một hình ảnh. Mình nghĩ rằng hình ảnh đó sẽ
mãi còn như vậy. Nhưng sự thật của cuộc đời là vô thường.
Chỉ cần mấy ngày thôi mà tình trạng đã hoàn toàn đảo
ngược. Sau tai nạn, gia đình Thúy Kiều phải bán nhà. Từ
một gia đình giàu có, họ phải đi may thê, viết mướn, làm
công cho người ta và cư trú trong một túp nhà rất lụp xụp.
Kim Trọng trở về thấy ngôi nhà cũ hoàn toàn cô liêu. ‘Đầy
vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã
rời.’ Hình ảnh trong lòng chàng trai đem so với hình ảnh
hiện tại thì hoàn toàn khác nhau. Sự ngạc nhiên của Kim
Trọng bắt đầu từ sự so sánh hai hình ảnh đó.
Trước
sau nào thấy bóng người’ nhưng: ‘Hoa đào năm ngoái còn
cười gió đông.’ Cây hoa đào năm ngoái chỗ hai người trao
cành kim thoa vẫn nở hoa rực rỡ, cười với gió mùa xuân
(gió đông). Câu này lấy tứ từ bài thơ của thi sĩ Thôi
Hộ đời Đường:
Tích
niên kim nhật thử môn trung
Nhân
diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân
diện bất tri hà xứ khứ
Đào
hoa y cựu tiểu đông phong.
(Năm
xưa, cũng ngày này, tại cổng nhà này, (nàng đứng dưới
cây hoa đào) gương mặt phản chiếu màu hồng của hoa đào,
người ấy không biết bây giờ đã đi đâu rồi, trong khi
hoa đào vẫn cười với gió mùa xuân y hệt như năm ngoái.)
Cây
hoa đào năm ngoái đã che chở cho Thúy Kiều. Bây giờ không
còn Thúy Kiều nữa nhưng đến mùa, hoa đào vẫn nở, vẫn
đẹp, vẫn tự do, hạnh phúc. Con người không có hạnh phúc
và tự do vì con người có sự mê đắm. ‘Đào hoa y cựu
tiếu đông phong’: hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Chỉ có chàng Kim là méo miệng, không cười được. Nhiều
khi người ta ước ao làm một cây đào hay một cây thông cho
khỏe. Trong con người mình có những tình tự tham đắm, khổ
đau, lo lắng và mình thấy hạnh phúc của mình không bằng
hạnh phúc của một cây đào hay một cây thông. Nguyễn Công
Trứ ngày xưa cũng đã có tâm tình đó cho nên một hôm thi
sĩ nói: ‘Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng
giữa trời mà reo.’ Khi có những hồi hộp, khổ đau, lo lắng
thì nhìn một cây thông ta cũng thấy nó hạnh phúc, vững mạnh
hơn ta quá nhiều. Thiền ôm cây (tree hugging meditation) rất
lợi ích. Mỗi khi ở trong tình trạng như vậy ta có thể tới
ôm cây để tiếp nhận được sự vững chãi và tươi mát
của cây. Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông khi đã
đi tu, một lần trả lời câu hỏi của một thiền sinh về
chuyện tu học, đã nói:
Vườn
nhà vắng mặt người chăm sóc
Lý
trắng đào hồng tự nở hoa.
Khỏi
phải lao tác mệt nhọc, khỏi phải tranh đấu. Trong con người
mình có sẵn giác tánh, cho giác tánh đó có cơ hội thì tự
nhiên nó sẽ nở hoa. ‘Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc,
Lý trắng đào hồng tự nở hoa.’ Ở đây ta thấy hình ảnh
một cây đào. Ngày xưa bên Tàu có một thiền sư tên Linh
Vân đi chơi tháy hoa đào nở thì giác ngộ. Khỏi tu gì hết!
Nhưng chắc chắn trước đó ông cũng đã đi thiền hành, đã
tập hơi thở rồi cho nên đến lúc thấy hoa đào ông mới
giác ngộ chứ! Có biết bao nhiêu người thấy hoa đào nhưng
có giác ngộ gì đâu! Nhất là anh chàng Kim Trọng. Thấy hoa
đào, càng thấy càng rầu, không giác gì cả! Trước mặt
chúng ta là hai hình ảnh trái ngược. Một là hình ảnh cây
đào rất giải thoát. Có nàng Kiều hay không có nàng Kiều
đứng một bên thì cây cũng tỉnh bơ, vân cười với gió
mùa xuân. Một anh chàng khác, không tên ‘đào’ mà tên Kim,
không thể tiếp xúc được với hoa đào; bởi vì thiếu một
người thì cây hoa đào không có nghĩa gì nữa. Trên đời
không còn gì có nghĩa nữa nếu nàng (hay chàng) không có mặt.
Un seul être vous manque et tout est dépeuplé.’: chỉ thiếu một
người thôi là cả thế gian này trở nên trống rỗng, lạnh
tanh. Đó là một câu thơ của Lamartine. Do tâm mình ra hết.
Khi mình đã vướng vào một cái và cho đó là thế giới của
mình rồi thì mình bỏ hết tất cả những gì còn lại trong
thế giới kia. Nếu nàng không có mặt đó thì không có cái
gì có mặt đó hết. Gió càng không mát, trăng cũng không trong,
đào cũng không hồng, không có cái gì ra cái gì hết. đó
là một sự bất công rất lớn. Có phải vậy không? Tại
sao vũ trụ, thiên nhiên, sự sống mầu nhiệm như vậy mà
mình
cho là zero hết khi mình chỉ thiếu có một cái thôi? Mà cái
đó chưa chắc mình đã thật sự thiếu. Có thể nó có đó
mà mình không thấy. Những người đã từng đau khổ vì mất
mát một người thân (cha, mẹ, con, cháu, người yêu, hay thầy,
trò của mình) có thể hiểu được tâm trạng của Kim Trọng
lúc này. Trong những lúc thiếu thốn như vậy, tốt hơn là
trở về với thiên nhiên. Tiếp xúc với thiên nhiên ta sẽ
được an ủi rất nhiều và sẽ có thể thấy trở lại, tiếp
xúc trở lại với người ta đã mất. Có một lần tôi đi
thiền hành ở Xóm Thượng với một người cha trẻ mất con.
Tôi chỉ cho người đó tiếp xúc với những bông hoa, đọt
lá, giúp người cha đó tìm lại và tiếp xúc với đứa con
vừa mới mất. Nếu mình mất cha, mẹ, người yêu hay con cái
mình cũng phải làm như vậy. Phải trở về với thiên nhiên.
Thiên nhiên có thể an ủi được mình, chỉ cho mình cách tiếp
xúc lại được với người mình thương. Cũng thi sĩ Lamartine
nói: Mais la nature elle là qui t’invite qui t’aime. Plonge-toi dans
son sein qu’elle t’ouvre toujours. Et tandis que tout change pour toi,
la nature est la même. Et la même soleil se lève sur tes jours. (Nhưng
này bạn, dù bạn có khổ đau thì thiên nhiên vẫn còn đó.
Thiên nhiên vẫn yêu bạn. Bạn nên lặn hụp vào trong lòng
của thiên nhiên vì thiên nhiên đang mở hai cánh tay để đón
bạn. Trong khi đối với bạn tất cả đều thay đổi, thì
thiên nhiên vãn là thiên nhiên cũ. Không phản bội bạn, sẵn
sàng mở hai cánh tay đón nhận bạn. Mặt trời hôm nay, mọc
lên, chiếu xuống cuộc đời bạn vẫn là mặt trời cũ. Bạn
đừng quên.) Đó là lời khuyên của thi sĩ. Bạn đừng nói
rằng ‘Un seul être vous manque et tout est dépeuplé’: Chỉ thiếu
một người là không còn gì nữa hết! Nói như vậy là bất
công. Trở về, tiếp xúc với thiên nhiên là con đường thoát
cho những người đột nhiên mất một người thân. Cây đào
đang nở hoa là một sứ giả của Bụt, của chân như mầu
nhiệm. Cây đào nói: ‘Bạn ơi, đừng đau khổ nữa! Có tôi
đây!’ Nhưng Kim Trọng đâu đã nghe được, đâu đã tiếp
xúc được. Sự đam mê đã lớn quá rồi, trong lòng chỉ còn
có một hình ảnh. Không có cái phản chiếu hình ảnh đó
thì coi như cuộc đời không còn gì nữa cả. “Nếu đời
không có em thì đời không có giá trị gì hết!’ Đó là
lời tuyên bố của những người đang kẹt vào sự đam mê.
Xập
xèo én liệng lầu không.
Có
lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Cuối
tường gai góc mọc đầy,
Đi
về này những lối này năm xưa.
Tất
cả những hình ảnh của quá khứ hiện ra. Khi đã bị hình
ảnh của quá khứ trấn ngự trong tâm rồi, đem ra so với
hình ảnh hiện tại thì thấy bây giờ mình đã mất hết.
Trong khi đó thế giới vẫn còn là thế giới. Người ta tự
tử là vì tưởng rằng mình đã mất hết rồi. Kỳ thực
người ta không mất gì cả. ‘Chúng ta đã được gì hôm
qua và sẽ mất gì sáng nay’ là một câu thơ tôi viết tron
bài Hoa Mặt Trời.
QUÁ
THƯƠNG CHÚT NGHĨA ĐÈO BỒNG
Chung
quanh lặng ngắt như tờ
Nỗi
niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
Láng
giềng có kẻ sang chơi,
Lân
la sẻ hỏi một hai sự tình.
Hỏi
ông ông mắc tụng đình,
Hỏi
nàng nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi
nhà nhà đã dời xa,
Hỏi
chàng Vương với cùng là Thúy Vân
Đều
là sa sút khó khăn,
May
thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi,
Điều
đâu
sét đánh lưng trời,
Thoát
nghe chàng đã rụng rời xiết bao.
Hỏi
han di trú nơi nao193
Đánh
đường chàng mới tìm vào tận nơi.
Phải
hỏi thăm mấy ngày trời mới tìm được tới chỗ gia đình
viên ngoại. Tới nơi thì thấy gì:
Nhà
tranh vach đất tả tơi
Lau
treo rèm nát trúc gài phên thưa.
Một
sân đất cỏ dầm mưa,
Càng
ngao ngán nỗi càng ngơ ngẫn đường.
Đánh
liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng
Vưong nghe tiếng vội vàng chạy ra.
‘Vương
Quan ơi! Vương Quan!’ Vương Quan là bạn học Kim Trọng, gọi
Vương Quan chứ còn gọi ai được nữa! Kim đâu có quen với
hai ông bà viên ngoại mà cũng đâu có quen với cô em gái của
Kiều.
Dắt
tay vội rước vào nhà,
Mái
sau viên ngoại ông bà ra ngay.
Trong
nhà này bây giờ ai cũng đã biết tất cả những bí mật
giữa Kim và Kiều rồi. Thấy Kim, Vương Quan kéo ngay chàng
vào trong nhà. Hai ông bà nghe nói có chàng Kim tới cũng ra hết.
Vì thương lắm. Thương con bao nhiêu thì thương chàng bấy
nhiêu. Bây giờ đã hiểu thì thương. Lúc trước thì chưa
chắc.
Khóc
than kể hết niềm tây:
‘Chàng
ôi biết nỗi nước này cho chưa?
‘Kiều
nhi phận mỏng như tờ,
‘Một
lời đã lỗi tóc tơ với chàng.
‘Gặp
cơn gia biến lạ dường,
‘Bán
mình nó phải tìm đường cứu cha.
‘Dùng
dằng khi bước chân ra,
‘Cực
trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần.
Càng
nghe nói chàng Kim càng thấy gia đình này đã biết hết chuyện
mình.
Trót
lời nặng với lang quân,
‘Mượn
tay em nó Thúy Vân thay lời.
Chúng
ta hãy nhớ lại chuyện công chúa Huyền Trân. Sau khi vua Chàm
mất, theo nguyên tắc công chúa phải lên giàn hỏa đốt theo
vua Chàm. Nhưng nhờ công chúa có mang nên người ta hoãn lại,
đợi công chúa hạ sinh em bé rồi mới làm lễ hỏa thiêu.
Đó là tục lệ của Ấn Độ. Vua Anh Tông, anh ruột của công
chúa Huyền Trân, đã tổ chức một cuộc bắt cóc cứu công
chúa về. Thấy bên mình làm như vậy là tráo trở, đã gã
con cho người ta rồi mà làm như vậy là không tử tế. Thượng
Hoàng (Trúc Lâm Đại Sĩ) sai đệ tử là thiền sư Bảo Phác
xuống nói chuyện với vua Anh Tông nên làm một hành động
gì để xin lỗi. Để tâm được yên, vua Anh Tông cho ba trăm
người thợ khéo nước Chàm đã cống hiến cho nước Việt
được về nước. Ở đây cũng vậy. Thúy Kiều đã hứa lỡ
cho Kim Trọng, bây giờ phải bán mình chuộc cha nên rất áy
náy. Vì vậy nàng xin với cha mẹ ba bốn lần gả em gái mình
cho chàng Kim. Ngày xưa ở Đông Phương (với chế độ đa thê)
có khi hai chị em cưới cùng một chàng. Ở Việt Nam người
ta gọi là: ‘hoa thơm hái cả cụm.’ Nếu Thúy Vân là một
cô gái mới thì cô ta sẽ nói: ‘Tui đâu có mắc nợ anh chàng
hồi nào mà bắt tui phải trả nợ!’ Nhưng ở đây tình chị
em liên đới nên chị mắc nợ thì em trả dùm cho chị. Trong
xã hội cũ, gia đình là một khối thì người ta chấp nhận
và làm chuyện đó được. Các cô gái mới bây giờ thì chắc
không chịu đâu!
‘Trót
lời nặng với lang quân,
‘Mượn
con em nó Thúy Vân thay lời.
‘Gọi
là trả chút nghĩa người,
‘Sầu
này dằng dặc muôn đời chưa quên.194
‘Kiếp
này duyên đã phụ duyên,
‘Dạ
đài còn biết sẽ đền lai sinh.
‘Mấy
lời ký chú đinh ninh,
‘Ghi
lòng để dạ cất mình ra đi.
‘Phận
sao bạc bấy Kiều nhi,
‘Chàng
Kim về đó con thì đi đâu?’
Chuyện
chỉ xẩy ra mới cách đây sáu tháng. Vết thương còn tươi.
Hai ông bà nhắc lại thì đau lòng, và khóc.
Ông
bà càng nói càng đau,
Chàng
càng nghe nói càng dàu như dưa.
Nỗi
đau của ông bà làm cho ông bà không thấy được rằng nỗi
đau của anh chàng cũng rất lớn. Dàu là dập nát, vò nhàu.
Quý vị có thấy dưa cải không? Gắp một gắp dưa cải nhìn
thì thấy nó nhàu nát, nhăn nhíu. Cái lòng của Kim Trọng lúc
này là như vậy.
Vật
mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm
dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.
Đau
khổ cho đến nỗi thân hình của Kim Trọng giống như một
con giun bị người ta cuốc nhằm. Quằn quại, đau đớn. Cả
thân và tâm đều đi vào địa ngục. Thân quằn quại mà tâm
cũng quằn quại. Đường hầm mười lăm năm cô nàng đã đi
qua rồi, anh chàng bây giờ mới bắt đầu. ‘Vật mình vẫy
gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.’ Đau
khổ tuôn ra như mưa như gió. Mình không còn là mình nữa.
Một người thông minh, bặt thiệp, linh mẫn bây giờ giống
như một cái xác không hồn, không còn gì nữa cả. Đó là
chứng bệnh tương tư thất tình.
Đau
đòi đoạn ngất đòi thôi,
Tỉnh
ra lại khóc khóc rồi lại mê.
Có
những lúc cơn đau đi lên, ngưng lại một chút rồi lại đau
lên một chập khác. Giống như cơn sốt, sốt xong, bớt sốt
rồi sốt lại. Chữ đoạn và chữ thôi có nghĩa là từng
chập một. Đau, ngất một hồi, bớt đi, nghĩ nhớ tới lại
đau, lại ngất. Những cái đau đó hoàn toàn do tâm mình hết.
Mỗi khi hình ảnh kia hiện lên thì mình đau trở lại. Rõ
ràng khi một người lâm vào trạng thái đam mê thì người
dó rất đau khổ. ‘Đau đòi đoạn ngất đòi thôi, Tỉnh
ra lại khóc khóc rồi lại mê.’ Những người nào đã đi
ngang qua cái cầu này đều thấy rằng những điều cụ Nguyễn
Du viết là có thiệt. Chắc chắn cụ cũng đã đi ngang qua
đó rồi. Đó là tình trạng của người thất thình đau khổ.
Tình yêu đúng là một tai nạn vì người yêu nào cũng phải
đi qua những cái cầu này. Cụ Nguyễn Du là một thi sĩ có
khả năng diễn tả tình cảm con người một cách tuyệt diệu.
Nói về tình yêu đoạn nào cũng hay. Ngôn ngữ về tình yêu
của cụ thật xuất sắc. Tả đau khổ của một chàng trai
mất người yêu mà đến mức như thế thì thiết tưởng những
nhà văn của thế kỷ hai mươi này ít ai sánh được.
Thấy
chàng đau nỗi biệt ly
Nhịn
ngừng ông mới vỗ về giải khuyên:
‘Bây
giờ ván đã đóng thuyền,
‘Đã
đành phận bạc khôn đền tình chung.
‘Quá
thương chút nghĩa đèo bòng,
‘Nghìn
vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao?’
- ‘Này
con, thân con quý lắm! Con đừng bỏ cái thân con.’ Trong tình
trạng thất tình như vậy người ta không muốn sống nữa.
‘Một người không có mặt thì cả thế giới này cũng như
không!’ Tình trạng đó là tình trạng rất nguy hiểm. Anh
chàng chỉ muốn chết. Gia đình của Thúy Kiều là tăng thân
cứu Kim Trọng, nếu không có họ có thể Kim Trọng đã tự
tử. Lạ thay, tình thương đáng lý phải đem lại sự an ủi
ấm
áp, hạnh phúc mà trái lại, nó đưa ta đến gần cái chết.
Tình ái, đam mê thường đưa người ta tới cái chết. Trong
rất nhiều trường hợp, tình yêu và cái chết là hai cái
rất gần nhau. L’amour et la mort gần như đồng nghĩa. Rất
dễ sợ! Trong đạo Bụt có nói về tình thương, diễn tả
bằng những ngôn ngữ rất rõ ràng: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Tình
thương phải có tác dụng hiến tặng niềm vui (Từ), làm vơi
nỗi khổ (Bi), có sự vui vẻ (Hỷ) và không kỳ thị (Xả).
Tình đam mê rất kỳ thị. Chỉ có một người có giá trị
thôi còn tất cả những người khác không có giá trị gì
cả. Chỉ có một hiện tượng là đẹp thôi còn tất cả
những hiện tượng khác đều không đẹp. Đó là kỳ thị,
là không Xả. Tình thương đó đem tới toàn những khổ đau
Thực tập tình thương trong đạo Bụt cho chúng ta thấy được
rõ ràng thứ tình nào đem lại hạnh phúc và thứ tình nào
dìm mình vào hố sâu của đau khổ, cô đơn, đưa mình tới
cận kề cái chết.
‘Quá
thương chút nghĩa đèo bòng, Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ
sao?’ Cha mẹ Thúy Kiều đã đóng vai trò cha mẹ của chàng
sinh viên này. Nhờ có hai ông bà và hai người con còn lại
mà Kim Trọng không tự tử. May cho Kim Trọng! Bốn người đó
là ai? Bốn người đó là Thúy Kiều. Chính vì vậy mà Thúy
Kiều đã giúp được Kim Trọng một lần nữa. Thúy Kiều
đã từng giúp Kim Trọng một lần rồi, không phạm giới trong
đêm đầu tiên hai người gặp nhau. Bây giờ là lần thứ
hai Thúy Kiều giúp mà Kim Trọng không biết. Nhờ sự có mặt
của hai ông bà viên ngoại và hai người em Kiều mà Kim Trọng
đã không tự tử.
Dỗ
dành khuyên giải trăm chiều
Lửa
phiền càng dập càng khêu mối phiền.
Những
lời khuyên tuy không có tác dụng ngay như sự có mặt của
bốn người là rất quan trọng.
Thề
xưa giờ đến kim hoàn,
Của
xưa lại giở đến đàn với hương.
Sinh
càng trông thấy càng thương,
Gan
càng tức tối ruột càng xót xa.
Rất
dại! Đem những vật cũ ra làm gì để cho người ta nhớ và
càng khổ thêm!
Rằng:
‘Tôi trót quá chân ra,
‘Để
cho đến nỗi trôi hoa giạt bèo.
Tức
quá, bưỏi vì anh chàng là con nhà giàu có quyền thế; nếu
anh chàng có mặt lúc đó thì đã có thể can thiệp vào được
rồi, Kiều đâu phải bán mình lấy bốn trăm lạng!
‘Cùng
nhau thề thốt đã nhiều,
‘Những
điều vàng đá phải điều nói không!
‘Chưa
chăn gối cũng vợ chồng,
‘Lòng
nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
‘Bao
nhiêu của mấy ngày đường,
‘Còn
tôi tôi gặp mặt nàng mới thôi.’
Đây
là ngôn ngữ của một người yêu. ‘Bây giờ con không chết
nữa nhưng con sẽ dùng tất cả sức con để tìm Kiều. Con
sẽ có tin tức của nàng cho hai bác và hai em.’ Bây giờ chàng
trai đã tìm được một lý do để sống!
Nỗi
thưong nói chẳng hết lời,
Tạ
từ sinh mới sụt sùi trở ra.
Vội
về sửa chốn vườn hoa,
Rước
mời viên ngoại ông bà cùng sang.
Thần
hôn195 chăm chút lễ thường,
Dưỡng
thân196 thay tấm lòng nàng ngày xưa.
Kim
Trọng về sửa sang cái nhà mình thuê lúc trước (có hiên
Lãm Thúy) và rước gia đình và rước ông bà viên ngoại qua
sống với mình. Kim đóng vai trò của một người con rể.
Coi như Kiều là vợ chính thức của mình rồi.
Đinh
ninh mài lệ chép thư
Cắt
người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe.
Lấy
nước mắt mình mài mực để viết thư hỏi thăm tin tức
của Kiều. (Đôi khi lấy nước trà mài mực cũng được.)
Thuê người đi tìm hỏi và chuyển thư.
Biết
bao công mượn của thuê
Lâm-Thanh
mấy độ đi về dặm khơi.
Người
một nơi hỏi một nơi,
Mênh
mông nào biết bể trời nơi nao?
Người
ta đưa Kiều đi Lâm Truy mà nói dối là đi Lâm Thanh. Hỏi
Lâm Thanh thì làm sao mà tìm ra được! Nhất là thời đó đâu
có nhà dây thép, điện tín, điện thoại. Trời đất rộng
lớn như vậy thì làm sao tìm ra được tung tích một người.
Sinh
càng thảm thiết khát khao,
Như
nung gan sắt như bào lòng son.
Sắt
son là niềm chung thủy cùng cực. Son lúc nào cũng đỏ, sắt
lúc nào cũng cứng. Cái gan của Kim Trọng bằng sắt nhưng
cũng có lúc bị nung nóng lên; lòng Kim Trọng là một tản
son nhưng cũng có nhiều khi bị bào mỏng ra.
Ruột
tằm ngày một héo don,
Tuyết
sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẩn
thờ lúc tỉnh lúc mê,
Máu
theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.
Quý
vị có thấy rõ ràng rằng yêu là khổ không? Không ăn, không
ngủ, càng ngày càng ốm. Khóc ra nước mắt, tâm hồn lúc
thức cũng như lúc ngủ đều đi vơ vẩn như một ma đói,
đói tình. Cho nên người ta mới nói tình yêu là một tai nạn.
Có ai muốn rước tai nạn vào lòng. Nhưng trong lòng, trong cơ
thể mỗi người đều có hạt giống của đam mê. Lỡ mà
vương vào tai nạn thì chỉ có một tăng thân mới cứu được
mà thôi. Nếu không chết không vong thân là nhờ tăng thân.
Trong trường hợp Kim Trọng, tăng thân đó là gia đình Thúy
Kiều, không phải là gia đình Kim Trọng. Gia đình Kim Trọng
nói: ‘Mày mê cái con nào mà bây giờ mày ốm nhom như vậy?’
Nhưng gia đình của Thúy Kiều thì vì đã hiểu cho nên đã
thương. Nguyễn Bính nói: ‘Chao ôi, yêu có ông Trời cứu.
Yêu có ông Trời giữ được chân’ Khi mình đã bị tai nạn
rồi thì không ai cứu được cả. Trời cứu cũng không được
nữa, huống hồ là người bạn! Nguyễn Bính không biết rằng
tăng thân có thể cứu được. Cơ hội của quý vị là tăng
thân. Quý vị thoát được là nhờ tăng thân: Ngày xưa tôi
cũng nhờ tăng thân mà thoát được. Tăng thân là cơ hội
duy nhất của chúng ta. Chúng ta phải coi tăng thân là một
viên ngọc quý. Đôi khi chúng ta có giận, có hờn từng người
trong tăng thân nhưng kỳ thực tăng thân luôn luôn là viên
ngọc quý. Tăng thân lúc đó sáng suốt lắm, chỉ có mình
là mê thôi. Chúng ta phải giúp nhau. ‘Chao ôi yêu có ông Trời
cứu!’ là một câu nói rất đơn giản của một thi sĩ miền
Bắc Việt Nam thế kỷ hai mươi. Yêu là một tai nạn. Nếu
không phải là tai nạn thì sao phải ‘cứu’? Tây phương
cũng nói yêu là ‘té xuống’, fall in love, tomber amoureux. Đang
đi tự nhiên té xuống, sụp hầm sụp hố. Và yêu cũng là
một cơn bệnh: love sickness.
Xuân
huyên lo sợ xiết bao,
Quá
ra khi đến thế nào mà hay!
Vội
vàng sắm sửa chọn ngày,
Duyên
Vân sớm đã xe dây cho chàng.
Sợ
Kim Trọng chết, hai ông bà vội vàng sắp đặt gả Thúy Vân
cho Kim Trọng. Anh chàng chấp nhận. Đã mất Thúy Kiều nh nếu
có Thúy Vân thì cũng được an ủi, vì em của Thúy Kiều cũng
có chứa đựng Thúy Kiều ít nhiều bên trong. Tình yêu là
như vậy. những gì có liên hệ tới người yêu của mình,
mình đều yêu hết. Khi thương thì thương hết tất cả đường
đi nước bước, những thức ăn, thức uống của người yêu
mình cũng yêu tuốt. Mà khi đã ghét thì ghét hết. ‘Yêu ai
yêu cả đường đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.’ Con
người yêu ghét tức cười như vậy. Không Xả, tức là không
bình đẳng, vì tình yêu ấy chứa đựng rất nhiều tính phân
biệt và kỳ thị. Cái đường người đó đi tại sao mình
thương làm chi? Tông chi họ hàng người đó có dính gì tới
mình mà mình ghét? Đó là một thái độ hết sức kỳ thị,
không bình đẳng, Từ, Bi, Hỷ, Xả mới là tình yêu đích
thực. Tâm trạng của Kim Trọng cũng thường thôi. Em gái của
Thúy Kiều là Thúy Kiều trong một mức độ nào đó. Được
cưới Thúy Vân, Kim Trọng cũng bớt đau khổ. Đó là thuốc
của ông bà viên ngoại cho chàng Kim uống. Nhưng đó cũng là
di chúc của Thúy Kiều.
Người
yểu điệu kẻ văn chương,
Trai
tài gái sắc xuân đương vừa thì.
Cặp
đó xem ra cũng được lắm. Nhưng:
Tuy
rằng hai chữ vu quy,
Vui
này đã cất sầu kia được nào!
Khi
ăn ở lúc ra vào
Càng
âu duyên mới càng đào tình xưa.
Tình
yêu của Kim Trọng với Thúy Vân phát triển rất mau nhưng
tình lưu luyên với Thúy Kiều vẫn không giảm bớt. Những
lúc ngồi một mình Kim Trọng vẫn khóc, lòng dạ rối beng:
Nỗi
nàng nhớ đến bao giờ,
Tuôn
châu đôi trận vò tơ trăm vòng.
Có
khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt
lò hương giở phím đồng ngày xưa.
Bẻ
bai rủ rỉ tiếng tơ,
Trầm
bay nhạt khói gió đưa lay rèm,
Dường
như bên nóc bên thềm,
Tiếng
Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng.
Mỗi
khi đốt hương đánh đàn một mình thì cảm thấy linh hồn
Kìêu đang về với mình. Đó là do tâm mà ra cả. Bụt dạy
‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.’ Kim cứ nghĩ rằng
Kiều đã chết rồi và hồn đang về đáp lại tiếng đàn
của mình. Đó là kỷ niệm đêm đầu tiên hai người gặp
nhau. Nhưng cụ Nguyễn Du rất ý thức, cụ nói:
Bởi
lòng tạc đá ghi vàng,
Tưởng
nàng nên lại thấy nàng về đây.
- ‘Nó
đã chết đâu! tại thương, tại khổ nên anh tưởng tượng
ra như vậy chứ!’ Đây là kiến giải của cụ Nguyễn Du.
Tất cả đều do tâm thức của mình. Mình nằm mơ thấy, nói:
‘Thiệt mà, tui thấy!’ Nhưng kỳ thực đó cũng từ trong
tâm đi ra.
GIÁC
DUYÊN ĐÂU BỖNG TÌM VÀO TẬN NƠI
Lấy
Thúy Vân, có một liên hệ mới, niềm vui mới, đời sống
của Kim Trọng tìm lại được sự thăng bằng. Nhưng tình
cảm vấn vương với Thúy Kiều vẫn còn nhiều.
Năm
tháng đi qua.
Những
là phiền muộn đêm ngày
Xuân
thu biết đã đổi thay mấy lần?
Chế
khoa197 gặp hội trường văn,
Vương
Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày.
Cửa
trời rộng mở đường mây198
Hoa
chào ngõ hạnh hương bay dặm phần.199
Vương
Quan và Kim Trọng thi đậu, vinh hiển. Quê hương, làng xóm
cũng được thơm lây.
Chàng
Vương nhớ đến xa gần,
Sang
nhà Chung lão tạ ân chu tuyền.200
Tình
xưa ân trả nghĩa đền,
Gia
thân bèn mới kết duyên Châu Trần.
Vương
Quan, sau khi thi đậu thì sang nhà láng giềng năm xưa là Chung
lão để tạ ơn Chung lão để can thiệp, giúp đỡ, chỉ đường
khi gia đình bị nạn. Có một bí mật nào đó mà ta chưa hay:
chàng Vương yêu cô con gái của Chung lão. Bây giờ trở về,
đã đậu khoa Hội, Chung lão bằng lòng gả con gái cho.
Kim
từ nhẹ bước thanh vân,
Nỗi
nàng càng nghĩ xa gần càng thương.
Ấy
ai dặn ngọc thề vàng,
Bây
giờ kim mã ngọc đường với ai?201
Ngọn
bèo chân sóng lạc loài,
Nghĩ
mình vinh hiển thương người lưu ly.
Vâng
ra ngoại nhậm Lâm Truy,
Quan
sơn nghìn dặm thê nhi một đoàn.
Kim
Trọng được vua cử đi làm quan ở Lâm Truy, chỗ ngày xưa
nàng Kiều đã tới nơi mà gia đình đã tưởng là Lâm Thanh.
Bây giờ số mạng gửi anh chàng đến đó.
Cầm
đường ngày tháng thanh nhàn,
Sớm
khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu hao.
Ngày
xưa có nhiều người làm quan rồi nhưng vẫn giữ được phong
cách nhàn hạ của người Nho sĩ. Làm việc quan xong rồi thì
uống trà, lấy đàn ra gảy. Đời nhà Tống có ông Triệu
Biện, đỗ tiến sĩ, đi làm quan nhưng vẫn giữ được sự
thanh nhàn. Ông đem theo một cây đàn và một con chim hạc.
Sáng, chiều tuy làm việc quan nhưng ông vẫn được nghe tiếng
hạc, tiếng đàn. ‘Cầm đường ngày tháng thanh nhàn. Sớm
khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.’ Không giống như giới
doanh thương business-man bây giờ, không có thì giờ để thở.
Phòng
xuân trướng rủ hoa đào,
Nàng
Vân nằm bổng chiêm bao thấy nàng.
Tỉnh
ra mới rỉ cùng chàng,
Nghe
lời chàng cũng hai đường tin nghi.
Một
đêm tại tư thất nơi phủ đường Lâm Truy, Thúy Vân nằm
mơ thấy Thúy Kiều. Tỉnh dậy nàng kể cho chồng nghe. Kim
Trọng sinh nghi: ‘Có lẽ Kiều đi Lâm Truy chứ không phải
Lâm Thanh.’
Nọ
Lâm-Thanh với Lâm-Truy,
Khác
chi một chữ hoặc khi có lầm.
Trong
cơ thanh khí tương tầm,
Ở
đây hoặc có giai âm202 chăng là?
‘Thanh
khí tương tầm’ nghĩ là đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu. Cùng là một âm thanh thì ứng (echo) lại với
nhau, cùng một chí khí thì đi tìm nhau. Ví dụ là người muốn
học Phật pháp thì mình đi tìm những người học Phật pháp
để làm bạn.
Thăng
đường chàng mới hỏi tra,
Họ
Đô có kẻ lại già thưa lên.
Có
người thư ký già, họ Đô, biết chuyện, báo cáo. Đây là
những lời báo cáo, tuy ngắn nhưng tóm tắt lại được quãng
đời mười năm của Thúy Kiều. Nói rất gọn, như đánh dây
thép vậy. Nếu quý vị muốn đánh dây thép thì phải học
đoạn văn này để đừng đánh dư chữ mà tốn tiền.
‘Sự
này là ngoại mười niên,
‘Tôi
đà biết mặt biết tên rành rành.
‘Tú
Bà cùng Mã Giám Sinh,
‘Đi
mua người ở Bắc Kinh đưa về,
‘Thúy
Kiều tài sắc ai bi,
‘Có
nghề đàn lại đủ nghề văn thơ.
‘Kiên
trinh chẳng phải gan vừa,
‘Liều
mình thế ấy phải lừa thế kia.
‘Phong
trần chịu đã ê chề,
‘Dây
duyên sau lại gả về Thúc Lang.
‘Phải
tay vợ cả phũ phàng,
‘Bắt
về Vô Tích toan đường bẻ hoa.
‘Bực
mình nàng phải trốn ra,
‘Chẳng
may lại gặp một nhà Bạc kia.
‘Thoắt
buôn về thoắt bán đi,
“Mây
trôi bèo nổi thiếu gì là nơi!
‘Bỗng
đâu lại gặp một người,
‘Hơn
người trí dũng nghiêng trời uy linh.
‘Trong
tay mười vạn tinh binh,
‘Kéo
về đóng chật cả thành Lâm-Truy,
‘Tóc
tơ các tích mọi khi,
‘Oán
thì trả oán ân thì trả ân.
‘Đã
nên có nghĩa có nhân,
‘Trước
sau trọn vẹn xa gần ngợi khen.
‘Chưa
tường được họ được tên,
‘Sự
này hỏi Thúc sinh viên mới tường.’
Ông
thư ký họ Đô chỉ biết tin tức Kiều trong mười năm đầu,
không rõ tên họ và tung tích của vị Đại Vương giúp Kiều
(Từ Hải.) Ông khuyên Kim Trọng hãy mời Thúc Sinh đến để
hỏi thăm về những việc đã xảy ra những năm sau này.
Nghe
lời Đô nói rõ ràng,
Tức
thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh.
‘Nỗi
nàng hỏi hết phân minh,
‘Chồng
con đâu tá tính danh là gì?’
Thúc
rằng: “Gặp lúc lưu ly,
‘Trong
quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ.
‘Đại
vương tên Hải họ Từ,
‘Đánh
quen trăm trận sức dư muôn người.
‘Gặp
nàng khi ở Châu Thai,
‘Lạ
gì quốc sắc thiên tài phải duyên.
‘Vẫy
vùng trong bấy nhiêu niên.
‘Làm
cho động địa kinh niên đùng đùng.
‘Đại
quân đồn đóng cõi Đông,
‘Về
sau chẳng biết vân mồng203 làm sao.’
Thúc
Sinh đã cho Kim Trọng những tin tức về Kiều trong thời gian
nàng sống với Từ Hải. Chàng nói chàng không có tin tức
gì từ đó về sau.
Nghe
tường ngành ngọn tiêu hao204
Lòng
riêng chàng luống lao đao thẩn thờ.
Xót
thay chiếc lá bơ vơ,
Kiếp
trần205 biết rũ bao giờ mới xong?
Hoa
trôi nước chảy xuôi dòng,
Xót
thân chìm nổi đau lòng hợp tan!
Lời
xưa đã lỗi muôn vàn,
Mảnh
hương còn đó phím đàn còn đây,
Đàn
cầm khéo ngẩn ngơ dây,
Lửa
hương biết có kiếp này nữa thôi?
Bình
bồng206 còn chút xa xôi,
Đỉnh
chung207 sao nỡ ăn ngồi cho an!
Rắp
lòng treo ấn từ quan,
Mấy
sông cũng lội mấy ngàn cũng pha.
Dấn
mình trong áng can qua,
Vào
sinh ra tử họa là thấy nhau.
Kim
Trọng muốn từ quan, lội sông trèo núi đi tìm Kiều, dù cho
có chết giữa đường đi nữa. Đó là ước muốn của Kim
Trọng. Nhưng sự thật thì bây giờ chàng đã có thê nhi rồi,
đâu còn sống nhờ cha mẹ như thời còn là sinh viên nữa
mà làm được chuyện đó. Từ quan rồi thì lấy tiền đâu
mà đi xe buýt, mà mua vé máy bay tìm nàng? Nhất là đã dính
vào danh lợi của triều đình rồi thì khó bỏ lắm! Rốt
cuộc, đâu có ‘treo ấn từ quan’, ‘vào sinh ra tử’ gì,
chỉ ngồi đó viết thư và gửi e-mail mà thôi.
Nghĩ
điều trời thẳm vực sâu,
Bóng
chim tăm cá biết đâu mà nhìn!
Những
là nấn ná đợi tin,
Nắng
mưa đã biết mấy phen đổi dời!
Năm
này sang năm khác chàng chờ đợi mà tìm không ra tin tức.
Bỗng có chuyện xảy ra:
Năm
mây bỗng thấy chiếu trời,208
Khâm
ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
Kim
thì cải nhậm Nam-Bình,
Chàng
Vương cũng cải nhậm thành Phú-Dương.
Vua
ban sắc chỉ đổi Kim Trọng đi làm quan ở Nam Bình (thuộc
tỉnh Phúc Kiến) và Vương Quan ở thành Phú Dương (thuộc
tỉnh Chiết Giang.) Chính nhờ có biến cố này mà hai gia đình
sẽ tìm được nàng Kiều.
Sắm
sanh xe ngựa vội vàng,
Hai
nhà cũng thuận một đường phó quan.
Xảy
nghe thế giặc đã tan,
Sóng
êm Phúc-Kiến lửa tàn Chiết Giang.
Được
tin Kim mới rủ Vương,
Tiện
đường cùng lại tìm nàng sau xưa.
Trên
đường đi, hai người hy vọng có thể tìm Kiều ở Hàng Châu
(nơi sông Tiền Đường chảy ngang qua.)
Hàng
châu đến đó bấy giờ,
Thật
tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Rằng:
Ngày hôm nọ giao binh,
‘Thất
cơ Từ đã thu linh209 trận tiền.
Nàng
Kiều công cả chẳng đền,
Lệnh
quan lại bắt ép duyên thổ tù.
Nàng
đà treo ngọc trầm châu,
Sông
Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan.
Tới
Hàng Châu, Kim và Vương hỏi thăm biết được là Kiều đã
nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử.
Thương
ôi! Không hợp mà tan,
Một
nhà vinh hiển riêng oan một nàng!
Chiêu
hồn thiết vị lễ thường,210
Giải
oan lập một đàng tràng bên sông.
Ngọn
triều non bạc trùng trùng,
Vời
trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.211
Tình
thâm bể thảm lạ điều,
Nào
hồn tinh vệ212 biết theo chốn nào?
Hai
gia đình thiết lập chay đàn bên sông để làm lễ giải oan
siêu độ cho Kiều.
Cơ
duyên đâu bỗng lạ sao,
Giác
Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
Trông
lên linh vị chữ bài,
Thất
kinh mới hỏi: ‘Những người đâu ta?
‘Với
nàng thân thích gần xa,
‘Người
còn sao bỗng làm ma khóc người?’
Không
biết sư chị Giác Duyên hôm ấy có Phật sự gì cho nên đã
đi ngang qua chỗ làm chay. Cố nhiên là người tu, thấy đám
chay thì sư chị ghé vào xem thử và do đó đã khám phá ra
rằng đây là gia đình Trạc Tuyền đang cầu siêu cho sư em
mình. Trong lòng sư chị có lẽ ngổn ngang nhiều tình cảm.
Mừng rằng sư em mình sẽ được gặp lại gia đình và cũng
rất mừng khi mình có thể đem cho gia đình này một tin tức
làm họ sửng sốt bất ngờ và tạo ra hạnh phúc khôn cùng.
Đó là một mảnh tin làm chấn động cả gia đình Kiều.
Nghe
tin ngơ ngác rụng rời,
Xúm
quanh kể họ rộn lời hỏi tra:
‘Này
chồng này mẹ này cha,
‘Này
là em ruột này là em dâu.
Trong
các buổi hát đúm (hát đối giữa hai bên nam nữ) ở Việt
Nam, có khi bên con gái hỏi bên con trai:
‘Truyện
Kiều anh đã thuộc làu,
‘Đố
anh kể được một câu sáu người.’
Nếu
bên con trai giỏi thì họ sẽ hát:
‘Này
chồng này mẹ này cha,
‘Này
là em ruột này là em dâu.
(Sáu
người là: chồng (Kim Trọng), mẹ, cha, em ruột (Thúy Vân và
Vương Quan), em dâu (vợ Vương Quan.) Còn nếu bên con trai im
thin thít thì bên con gái họ sẽ cười khúc khích cho đến
khi bên con trai chịu thua mới đọc hai câu trên ra.)
‘Thật
tin nghe đã bấy lâu,
‘Pháp
sư dạy thế sự đâu lạ dường!’
Sư
rằng: ‘Nhân quả với nàng,
‘Lâm-truy
buổi trước Tiền-Đường buổi sau.
‘Khi
nàng gieo ngọc trầm châu,
‘Đón
nhau tôi đã gặp nhau rước về.
‘Cùng
nhau nương cửa Bồ-Đề,
‘Thảo
am đó cũng gần kề chẳng xa.
- ‘Chùa
ở gần đây, nếu quý vị muốn thì tôi xin đưa quý vị tới
để gặp Kiều ngay bây giờ.’ Nghe xong mọi người thấy
như từ địa ngục vừa được vớt lên thiên đường.
‘Phật
tiền ngày bạc lân la,
‘Đăm
đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây.’
Trong
nguyên lục sư chị Giác Duyên nói: ‘Quý vị nhớ Thúy Kiều
lắm phải không? Thúy Kiều cũng tỏ bày niềm thương nhớ
quý vị lắm.’ Ở chùa thỉnh thoảng Kiều cũng nhớ cha mẹ
và các em.
Nghe
tin nở mặt nở mày,
Mừng
nào lại quá mừng này nữa chăng?
Từ
phen chiếc lá lìa rừng,
Thăm
tìm luống những liệu chừng nước mây.
Rõ
ràng hoa rụng hương bay,
Kiếp
sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.
Minh
dương213 đôi ngã chắc rồi,
Cõi
trần mà lại thấy người Cửu-nguyên!214
Tưởng
rằng kiếp sau mới mong thấy lại được nhau mà bây giờ
sư chị lại nói Kiều đang còn sống và ở gần đây. Không
có phép lạ nào hơn phép lạ này!
Cùng
nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ
hành một lũ theo liền một khi.
Bỏ
chuông mõ, bỏ cỗ bàn, mọi người đi theo sư chị Giác Duyên.
Đây là đoạn rất vui.
Bẻ
lau vạch cỏ tìm đi,
Tình
thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
Đường
về chùa mà phải bẻ lau, vạch cỏ mà đi. Có lẽ đường
chính hơi dài và vì thấy gia đình nôn nóng quá, ni sư cũng
muốn Kiều mừng nên đã dẫn mọi người đi đường tắt.
Tuy gia đình Kiều mừng như vậy nhưng vẫn còn nghi không dám
mừng nhiều, sợ thất vọng: ‘Đôi khi ni sư này lộn, nhỡ
đó là một người khác thì làm sao?’ Sự thật rõ ràng như
vậy nhưng mà ta vẫn không tin là sự thật. Ta nói: “It is
too good to be true.” (Không dám tin, vì sự thật đẹp quá.)
Quanh
co theo dải giang tân,15
Khỏi
rừng lau đã tới sân Phật đường.
Đọc
tới câu này tôi có cảm tưởng ‘rừng lau’ là cái rừng
có nhiều vấn đề, nhiều phiền não; ‘Phật đường’ là
chỗ mình đã về, đã tới, vững chãi, thảnh thơi, đã hạnh
phúc. Mỗi khi đọc tới câu này là tôi thấy hình ảnh đó.
‘Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.’ Vấn đề là
mình đã đi ra khỏi rừng lau hay chưa.
TƯỞNG
BÂY GIỜ LÀ BAO GIỜ
Giác
Duyên lên tiếng gọi nàng,
Buồng
trong vội dạo sen vàng bước ra.
Ta
có thể thấy tâm trạng Giác Duyên lúc đó. Nghĩ rằng mình
sẽ mang lại một niềm vui rất lớn cho sư em. Thành ra mới
tới cổng sư chị đã kêu: ‘Sư em ơi! Ra có khách! Có ai
hỏi này!’ ‘Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra.’ Đã
thành ni cô rồi, phong thái của Kiều lại càng thêm thanh tao.
Cố nhiên là Trạc Tuyền không chạy, đi đàng hoàng theo kiểu
thiền hành.
Trông
xem đủ mặt một nhà:
Xuân
già còn khỏe huyên già còn tươi.
Hai
em phương trưởng hòa hai,
Nọ
chàng Kim đó là người ngày xưa!
Kể
cha, mẹ, em rồi mới tới người yêu. Đó là theo thứ tự
theo luân lý Á Đông. Không được kể chàng trước, dù mình
thương chàng ghê gớm. Phải có thứ tự. Và phải chào theo
thứ tự đó. Không thể nào một người Á Đông mà chào theo
kiểu ngược lại. Một người Mỹ có thể tới ôm anh chàng
trước. Nhưng một người Việt hay một người Hoa thì không
thể nào làm như vậy. Đó là đảo lộn trật tự của mấy
ngàn đời. ‘Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!’ Làm
như phớt tỉnh ăng lê, hơi lạnh lùng. Kỳ thực, Á Đông
bên ngoài là phải làm như vậy. Theo Á Đông, cha trước, mẹ
sau. Vì cha đóng vai người anh, mẹ đóng vai người em. Ở
Việt Nam vợ kêu chồng bằng ‘anh’. (Tây phương nghe chuyện
này họ tức cười lắm!) Liên hệ vợ chồng là một thứ
liên hệ anh em, người vợ luôn luôn làm em, vợ phải xưng
‘em’. Dầu người vợ có thông minh hơn, lớn hơn một hai
tuổi, hay giàu có hơn thì cũng đóng vai trò người em.
Tưởng
bây giờ là bao giờ,
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.
Giọt
châu thánh thót quẹn bào,
Mừng
mừng tủi tủi xiết bao là tình!
Khóc
mừng, những giọt nước mắt của hạnh phúc. Mừng thì có
mừng, nhưng trong tâm vẫn chất chứa nhiều đau khổ ngày
xưa (cô đơn, thương nhớ…) cho nên vừa mừng vừa tủi,
vừa tủi vừa mừng. Cái tủi làm cho cái mừng lớn hơn. Cái
mừng làm cho cái tủi sống dậy.
Câu
‘Tưởng bây giờ là bao giờ’ tôi đã suy nghĩ nhiều giờ
đồng hồ để tìm cách dịch ra tiếng Anh mà vẫn chưa dịch
được. Ta đang đứng trước một sự thực quá đẹp, quá
mầu nhiệm cho đến nỗi ta không dám tin sự thực đó là
có thật. Mười lăm năm sống trong tuyệt vọng, không còn
nghĩ rằng mình sẽ được gặp người thân. Ấy vậy mà không
chuẩn bị gì cả, tự nhiên phép lạ hiện ra trước mặt.
‘Tưởng bây giờ là bao giờ.’ ‘Bao giờ’ tức là không
phải ‘bây giờ.’ ‘Bao giờ’ là ‘when’, ‘bây giờ’
là ‘now’. Làm sao mà dịch được. Nếu cắt nghĩa thì mình
cắt nghĩa thế nào? Giờ phút hiện tại mầu nhiệm quá cho
đến nỗi mình phải nghi ngờ rằng giờ phút này thuộc về
quá khứ hoặc đây là một nơi mơ ước của tương lai chứ
không phải là một cái gì có thật trong hiện tại. Câu này
hay ở nhiều chỗ. Thứ nhất là cái hay về nội dung, không
biết sự thực đã là sự thực chưa, hay chỉ là một giấc
mơ thôi. Thứ hai là cái hay về hình thức. Cả hai tiếng ‘bây
giờ’ và ‘bao giờ’ đều chuyển tải thời gian, đều
có chữ ‘giờ’ đứng đằng sau. Thơ là hình ảnh và âm
nhạc. Nếu không dùng hai chữ ‘giờ’ lập lại thì sẽ
dỡ. Nếu nói: tưởng bây giờ là lúc nào? Thì sẽ không hay.
Bây giờ và bao giờ là hai chữ giống nhau, như hai sợi tóc.
Bây giờ là vần bằng, bao giờ là vần bằng. Hai chữ có
thể trộn với nhau. Nếu dịch: ‘Is it true or is ti not true?’
thì dở quá đi! Giờ phút bây giờ có thực là giờ phút bây
giờ không? Thực tại trong giờ phút này có phải là một
thực tại hay chỉ là một hình ảnh của tâm trí mình? Đó
có phải là một điều trong quá khứ mà mình mộng tưởng
ra hay một điều trong tương lai mà mình mơ ước vào? ‘Tưởng
bây giờ là bao giờ?’ sáu chữ rất mầu nhiệm! Ai dịch
được thì giỏi. Nếu không dịch bây giờ thì bao giờ mới
dịch? Tôi nghĩ truyện Kiều có những câu xứng đáng được
viết để treo trong thiền đường. Giáo lý và thực tập của
chúng ta là sống trong giờ phút hiện tại và thấy được
những mầu nhiệm của giờ phút hiện tại. Ngày xưa Kiều
còn là thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi, mỗi ngày cô
đều gặp những người thân. Hồi ấy Kiều có cái nhìn và
cái cảm nghĩ như bây giờ không? Có tâm niệm trân quý người
thân như trong giờ phút tái ngộ đoàn tụ này không? Tại
sao cũng cảnh đó, người đó, những điều kiện đó mà cái
thấy khác nhau như vậy? Tại sao bây giờ mình trân quý cái
mình đang có một cách kỳ lạ, trân quý đến nỗi mình tự
hỏi: Cái đó có thật không? Do những đau khổ mình đã trải
qua, những giác ngộ mình đã đạt được mà mình tiếp xúc
được với cái mầu nhiệm của thực tại. Cái gì trong đời
sống mà không phải là mầu nhiệm! Sự kiện mình đang còn
sống là một phép mầu. Một chiếc lá một bông hoa đều
là một phép lạ, đều là mầu nhiệm cả. Khi còn có khả
năng và điều kiện để tiếp xúc, để có hạnh phúc thì
ta không chịu tiếp xúc để có hạnh phúc. Đợi khi mất rồi
thì ta mới than khóc. Đọc truyện Kiều cũng giống như nhìn
trăng, nhìn mây, đi thiền hành, tiếp xúc với thiên nhiên,
hoa lá, con người. Nếu tâm ta sáng tỏ, nếu ta có năng lượng
của chánh niệm thì ta có thể nhận diện rằng tất cả những
gì đang bao quanh ta đều là phép lạ rất mầu nhiệm. Chính
thân thể, tâm hồn ta cũng là những hiện tượng hết sức
mầu nhiệm. Tất cả những cái đó, tác giả gọi là ‘bây
giờ’. Trong sự sống, vì buồn đau, giận ghét, lo lắng mà
chúng ta dày đạp lên cái bây giờ, loại cái bây giờ ra khỏi
sự sống và không thấy được, không tiếp xúc được với
những mầu nhiệm. Chúng ta nhớ một câu tương tợ cách đó
mười lăm năm lúc Kim Trọng và Kiều được thực sự gặp
nhau. Lúc đó gia đình Kiều đi ăn sinh nhật bên ngoại. Kiều
ở nhà phá rào sang gặp Kim Trọng. Ở chơi vài tiếng đồng
hồ Kiều phải về xem gia đình về chưa. Thấy gia đình chưa
về thì lại tiếc, ‘đi chui’ sang nhà Kim Trọng một lần
nữa. Kim Trọng đang ngủ gật, thấy người yêu xuất hiện
Kim Trọng hỏi: ‘Đây là mộng hay là thực?’ Kiều trả
lời: ‘Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng
là chiêm bao?’ Hạt giống tuệ giác trong Thúy Kiều lúc đó
có chưa chúng ta chưa bàn tới, nhưng chắc chắn đã có trong
tâm hồn thi sĩ. Vì vậy đọc câu này chúng ta không thể nào
không nhớ đến câu trước. Nếu ta không sống tỉnh thức
và sâu sắc giờ phút hiện tại thì tất cả sẽ chỉ là
một giấc chiêm bao. Tưởng bây giờ là bao giờ. Câu này có
mang theo sự tội nghiệp. Vì khổ đau, vì ước mơ không thành
tựu ta chưa bao giờ được sống thật, chưa bao giờ có hạnh
phúc thật cả cho nên bây giờ thấy được hạnh phúc, thấy
được mầu nhiệm ta lại nghĩ không biết có thật hay không.
Kiều cũng phản ứng giống như gia đình Kiều khi nghe tin Kiều
còn sống. Không dám tin, vì sự thật đẹp quá.
Về
phương diện văn chương, đây là những lời cực tả niềm
hạnh phúc của nhân vật. Về phương diện tâm lý, ý tứ
câu này rất sâu sắc. Đã quen sống trong mộng, ta không có
khả năng tiếp xúc với bản thân thực tại. Ta thường lẫn
lộn mộng và thực. Khi cái thực tự hiển bày cho ta thì cái
không có khả năng tiếp xúc. Hồi đi thăm tu viện Cấp Cô
Độc, tôi có ngồi bên cạnh những bức tường đổ của
cái thất ngày xưa Bụt ở, mân mê những viên gạch. Một
phái đoàn khảo cổ của Nhật đã đến đây xin phép đào
xới, khai quật và làm phát hiện nền móng của những tu viện
ngày xưa thiết lập trong vườn Kỳ Đà. Tất cả đều đã
đổ nát và bị phù sa che lấp, gai cỏ mọc đầy. Các nhà
khảo cổ đã moi lên và trình bày lại tất cả. Có những
thời gian tu viện Cấp Cô Độc rất hưng thịnh, các tu viện
được xây sát nhau. Bây giờ khai quật ra chúng ta biết chỗ
nào là thiền đường, tăng xá và thực đường. Tuy tất cả
đều bị đổ nát nhưng móng của các bức tường vẫn còn
nên ta có thể thấy rất rõ cách bố trí phòng ốc các tu
viện. Những giai đoạn hưng thịnh của tu viện Cấp Cô Độc
là những lúc các thầy tu học có hạnh phúc, tiếp xúc được
với Bụt, Pháp và Tăng. Nhưng những giai đoạn đó không kéo
dài được mãi mãi. Nhìn vào một vùng đất hoang vu cỏ mọc,
chúng ta đâu có thể tưởng tượng ngày xưa nơi này đã từng
hưng thịnh như vậy. Chúng ta hãy nhắm mắt lại và tưỏng
tượng Làng Mai một trăm năm về sau. Chúng ta thấy gì? Có
thể ta không thấy sư chị, sư anh, sư em, sư tổ, không thấy
thầy, không thấy gì hết. Chỗ này có thể trở thành một
siêu thị. Bây giờ trong giây phút hiện tại chúng ta có sư
anh, sư chị, sư em đang ngồi với ta. Có thầy đang ngồi giảng.
Có nước trà để uống. Có đường để đi thiền hành. Có
bàn tay để nắm tay người bạn. Có hai mắt để nhìn và
nhận diện ra đó là người anh, người chị, người em của
mình. Chúng ta đang làm chuyện đó hay không? Hay chúng ta đợi
một trăm năm sau để rồi thấy những điều có thể xảy
ra chỉ là chuyện đã xảy ra trong một giấc chiêm bao mà thôi?
Đưa tay ra và chạm vào người bên cạnh một chút xíu để
coi thứ đó là thật hay giả. Chúng ta có khả năng làm chuyện
đó hay không? Hay chúng ta cứ tự giam hãm mình trong cái buồn,
cái giận, cai lo để không làm được chuyện đó? ‘Tưởng
bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!’
là những tiếng chánh niệm giúp chúng ta tỉnh thức. Tất
cả bí quyết của sự thực tập nằm ở chỗ đó. ‘Tưởng
bây giờ là bao giờ’: ‘Is it now or never!’. Tôi chịu thôi,
không dịch ra tiếng Anh hay tiếng Pháp! Tôi tin chắc tất cả
quý vị216 đều hiểu, đều thấm rồi nhưng không nói ra lời
đó thôi. Nói không ra lời thì phải có người giúp. Người
đó là thi sĩ. Thi sĩ là người giúp mình nói những điều
mình cảm mà không nói được. Nhưng đây là thi sĩ Việt cho
nên mình cần thi sĩ Anh, thi sĩ Pháp. Chỗ mầu nhiệm của
câu này, chắc dịch không được, là hai chữ bây giờ và
bao giờ, lấp láy lại. Phải là một tay phù thủy cao tay ấn
lắm mới có thể sử dụng những âm binh ngôn ngữ như thế
được. Ngôn ngữ đối với một thi sĩ giống như âm binh
mà một thầy phù thủy sử dụng. Bắt nó làm gì thì nó làm
theo mình. Vị tổ thứ ba trong phái Trúc Lâm, thầy Huyền Quang,
cũng là một thi sĩ lớn của Việt Nam. Thầy cũng có một
câu thơ nói về chuyện chiêm bao trong khi mở mắt. Đó là
bài Ngủ trưa trên núi. (Nghe tổ cũng ngủ trưa chúng ta thấy
khỏe trong người quá phải không? Tổ ngủ trưa thì tại sao
mình không được ngủ trưa?)
Vũ
quá sơn khê tĩnh
Phong
lâm nhất tháp lưong
Phản
quan trần thế giới
Khai
mãn túy mang mang.
(Cơn
mưa đã qua, khe nước trong núi im lặng. Rừng phong ngủ một
giấc mát. Nhìn lại thế giới bụi bặm bên dưới. Mắt mở
nhưng vẫn say như thường.)
Tôi
dịch:
Mưa
tạnh khe núi tĩnh
Ngủ
mát giữa rừng phong
Nhìn
lại cõi nhân thế
Mắt
mở vẫn say nồng.
Mắt
mở nhưng vẫn say như thường. ‘Rõ ràng mở mắt còn ngờ
chiêm bao!’ Lối sống đó người ta gọi là ‘sống say chết
mộng’ (túy sinh mộng tử.) Đạo lý của nhà Phật là sống
tỉnh thức. Phải mở mắt. Mở con mắt tuệ, con mắt chánh
niệm chứ không phải là con mắt thịt. Mở con mắt thịt
thì có thể vẫn còn mê. Mở con mắt chánh niệm thì lúc đó
thì mình thật sự tiếp xúc được những mầu nhiệm của
sự sống. Bụt có khi được gọi là ‘con mắt tuệ’. Ngày
Bụt nhập diệt có một số thầy khóc. Trong những lời khóc
than có câu: ‘Đức Thế Tôn không còn nữa! Con mắt của
thế gian không còn nữa!’ (The eye of the world is no longer there.)
‘Con mắt của thế gian’ là Bụt. Con mắt này là con mắt
trí tuệ, tỉnh thức. Bụt được diễn tả như con mắt của
cuộc đời, tức là cái thấy tỉnh thức của cuộc đời.
Nếu có con mắt đó thì mới không ‘túy mang mang’, không
còn mê ngủ nữa.
TÁI
SINH TRẦN TẠ ÂN NGƯỜI TỪ BI
Huyên
già dưới gối gieo mình,
Khóc
than mình kể sự tình đầu đuôi:
Kiều
chạy lại ôm mẹ khóc. Không ôm cha mà ôm mẹ vì với người
con gáim người mà mình có thể gần gũi, có thể tiếp xúc
về thân thể dễ dàng nhất là mẹ. Trong đây chúng ta thấy
rất rõ những đặc tính của văn hóa Á Đông. một người
con gái Mỹ sau khi bị xa cách người yêu mười lăm năm sẽ
không làm như vạy mà sẽ tới ôm anh chàng trước. Nhưng cô
Kiều là người Việt, vì vậy cô phải tới ôm mẹ. Giữa
mẹ và con gái có tình bạn, họ dễ tâm sự với nhau. Vì
vậy ôm mẹ để kể chuyện đau khổ của mình là dễ nhất.
Từ
con lưu lạc quê người,
‘Bèo
trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm,
‘Tính
rằng sông nước cát lầm217
‘Kiếp
này ai lại còn cầm gặp đây!’
Ông
bà trông mặt cầm tay,
Dung
quang chẳng khác chi ngày bước ra.
Bấy
chầy dãi nguyệt dầu hoa,
Mười
phần xuân có gầy ba bốn phần.
Ông
bà ngắm con gái. Đi ngang qua mười lăm năm, sự dãi dầu không
làm cho Kiều mất phong độ. Có ốm, có già đi chút ít nhưng
vẫn còn tươi, còn xinh. ‘Mười phần xuân có gầy ba bốn
phần.’ Mười lăm năm đau khổ mà Kiều vẫn còn giữ được
sáu bảy phần trăm sự tươi mất, trẻ trung của ngày cũ.
Nguyệt và hoa đều chỉ cho Thúy Kiều. Đẹp như nàng, tươi
như bông hoa, nhưng cả hoa và trăng đều đã bị dãi dầu,
đi qua những cơn bão tố của cuộc đời khổ đau.
Nỗi
mừng biết lấy chi cân,
Lời
tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu.
Sư
Cô Diệu Nghiêm mới đi thăm Việt Nam có mấy tuần lễ mà
về nói hoài không hết chuyện Việt Nam, huống hồ là mười
lăm năm của Trạc Tuyền.
Hai
em hỏi trước han sau,
Đứng
trông chàng cũng trở sầu làm tươi.
Hai
đứa em hỏi tíu tít. Anh chàng thì đâu dám tới gần, tuy
đã được gia đình chấp nhận, và đã được xem như là
chồng của Kiều. Chỉ đứng đàng sau nhìn nhưng mặt mày
chàng có vẻ tươi lắm. Một anh chàng Mỹ, Pháp hay Hòa Lan
chắc là không chịu làm như vậy đâu. Để ý đọc với chánh
niệm thì ta thấy tất cả khung cảnh và cách thức Á Đông
hiện nay rất rõ trong này.
Trong
đoạn này chúng ta không thấy cụ Nguyễn Du nói gì về sư
chị. Sư chị đang đứng đâu và làm vì trong khi gia đình
họ đoàn tụ? Khi đọc đoạn văn này tôi lại thấy rất
rõ hình dáng của sư chị đang đứng đó và chứng kiến những
gì xảy ra. Sư chị rất muốn xem cuộc hội ngộ này đem tới
hạnh phúc như thế nào. Vì vậy sư chị rất chánh niệm.
Sư chị đâu có đi vô nhà trong pha trà! Lúc này là lúc rất
quan trọng. Sư chị đứng đó rất im lặng mà quan sát, có
thể là trong góc sân, có thể là trước cửa chánh điện.
Sư chị là một người thật sự thương sư em. Cố nhiên sư
chị đã thấy trong lòng rồi: Có thể mình phải trả sư em
lại cho gia đình sư em vì họ đã bị xa cách tới mười lăm
năm. Tâm tư sư chị như thế nào? Tình thương của sư chị
có vướng mắc không? Sư chị có muốn giữ sư em ở lại
bên mình mãi mãi không? Hay sư chị hiểu được ước vọng
của gia đình sư em và sư em? Tôi nghĩ rằng trong lòng sư chị
đã có sự quyết định.
Quây
nhau lạy trước Phật đài,
Tái
sinh trần tạ ân người từ bi.
Sau
khi nghe hết chuyện, gia đình Kiều mới thấy vai trò sư Giác
Duyên rất là quan trọng trong đời sống Thúy Kiều. Cha mẹ
đã sinh ra Kiều nhưng sư chị là người cứu Kiều, sinh ra
Kiều lần thứ hai. Trong nguyên lục, Vương Ông đi về hướng
Giác Duyên lạy xuống. Mẹ của Thúy Kiều, Vương Quan và Thúy
Vân đều lạy theo. Cố nhiên, chàng Kim cũng phải làm như
vậy thôi (tăng thân mà!) Nhưng mà Nguyễn Du đã sửa lại
chút đỉnh. Cụ nói lạy Bụt. Cụ muốn Bụt và sư chị cùng
trở thành đối tượng của sự biết ơn đó. Lạy Bụt tức
là cũng lạy sư chị. Ở đây sự cung kính đẹp hơn. ‘Tái
sinh trần tạ ân người từ bi.’ Người chết rồi mà làm
cho sống lại thì gọi là tái sinh. Đó là phận sự của sư
chị hoặc sư anh. Là người tu thì phải biết cứu người.
Giọt nước Cam Lộ của Bụt có thể làm cho một người chết
sống lại được. Giọt nước Cam Lộ trên cành dương liễu
của đức Bồ Tát Quan Thế Âm tưới xuống một nhành cây
khô thì nhành cây đó trở nên xanh tươi, mọc lá trở lại:
‘Sái khô mộc nhi tác phùng xuân.’ Người tu phải đạt
cho được phép lạ đó. Phải có giọt nước từ bi để làm
sống dậy những gì đã khô héo và chết đi vì đau khổ.
Chữ ‘người từ bi’ cụ Nguyễn Du dùng có thể chỉ cho
Bụt mà cũng có thể chỉ cho sư chị. Tùy quý vị chọn lựa.
Trong nguyên lục thì nói rất rõ ràng là quay lại lạy sư
chị. Cụ Nguyễn Du gần gũi với mình hơn. Dầu sao cũng có
Bụt ở trên và sư chị dù sao cũng chỉ là học trò của
Bụt. Sư chị cứu được mình tức là Bụt cứu mình. Nếu
không có Bụt thì làm sao có sư chị? Lạy xuống Phật đài
để tạ ơn Bụt và tạ ơn sư chị. Đó là chuyện rất hay,
rất đúng. Tôi bằng lòng thái độ của cụ Nguyễn Du.
Chi
tiết lạy này chứng tỏ sư chị đang không ở trong nhà bếp
để nấu trà đãi khách. Sư chị có mặt một cách đích thực
trong giờ phút đó. Chúng ta cũng có thể hiểu được lúc
đó mọi người đã đi vào thảo am rồi; chuyện đoàn viên
thì có thể xảy ra trước cổng chánh niệm. Sau khi lạy tạ
Giác Duyên, ông bà nói: ‘Thôi bây giờ con về nhà!’
Kiệu
hoa giục giã tức thì,
Vương
ông dạy rước cùng về một nơi.
Cố
nhiên, ban đầu Trạc Tuyền không muốn đi về, sư cô muốn
tiếp tục tu vì sư cô đang có hạnh phúc. Trạc Tuyền nói:
‘Con đi tu rồi, làm sao về nhà được? Nhưng lý luận của
bên gia đình là: ‘Con đi tu đã đành rồi, nhưng con phải
có bổn phận với gia đình. Con là một người con, một người
tình. Con phải trả cái nợ đó.’ Ở dây một câu hỏi được
đặt ra người tu làm sao để trả nợ gia đình và xã hội.
Đây là một chủ đề rất hay. Chúng ta sẽ tiếp tục ở
đoạn sau. Ta sẽ thấy phản ứng của sư chị và của Kiều.
TÌNH
KIA HIẾU NỌ
Kiệu
hoa giục giã tức thì,
Vương
ông dạy rước nàng về một nơi.
Mười
lăm năm bây giờ mới gặp lại con gái, đâu có thể để
cho con gái ở lại đây được! Thế nào cũng phải đưa nó
về. Đó là cái thường tình. Sư chị đã biết trước chuyện
đó. Nhưng sư em không muốn về. Sư em rất thương sư chị
và muốn tu chứ không muốn trở về cuộc đời bụi bặm
ở ngoài nữa. Đây là lời của sư em:
Nàng
rằng: ‘Chút phận hoa rơi,
‘Nửa
đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
‘Tính
rằng mặt nước chân mây,
‘Lòng
nào còn tưởng có rày nữa không?
‘Được
rày tái thế tương phùng,
‘Khát
khao đã thỏa tấm lòng lâu nay.
‘Đã
đem mình bỏ am mây,
‘Tuổi
này gởi với cỏ cây cũng vừa.
- ‘Niềm
ao ước sâu sắc cảu con bây giờ đã đạt được. Được
gặp lại cha mẹ và các em là con thỏa nguyện lắm rồi! Con
đã lớn tuổi rồi, và rất hâm mộ việc tu hành. Đứng về
phương diện thể chất cũng như tâm hồn con đã chín muồi
để có thể sống an lạc, hạnh phúc với đời sống xuất
gia.’
‘Mùi
thiền đã bén muối dưa,
‘Màu
thiền ăn mặc đã sưa nâu sồng.
- ‘Con
đã có hạnh phúc trong cuộc sống này rồi, con không muốn
trở về cuộc sống thế gian nữa.’
Sự
đời đã tắt lửa lòng,
‘Còn
chen vào chốn bụi hồng làm chi!
- ‘Những
phiền não, dục vọng, tham, sân, si, danh lợi… không còn trong
lòng con nữa thì con trở về chốn bụi bặm làm chi?’ Lửa
lòng ở đây là phiền não (afflicion). Không có lửa dục, lửa
tham, lửa sân nữa thì gọi là tắt lửa lòng. Nhưng đã có
một thứ lửa khác nhem nhúm, đó là lửa tam muội, lửa từ
bi. Đây là một sức sống mới. ‘Còn chen vào chốn bụi
hồng làm chi?’ Sự thực là như vậy. Nếu muốn lấy chồng
thì có người chồng nào xứng đáng bằng Từ Hải không?
Nếu muốn danh vọng thì có thứ danh vọng nào lớn hơn danh
vọng của một vị đại phu nhân không? Thúy Kiều đã nếm
hết tất cả những cái đó rồi và đã thấy những cái đó
không đang để cho mình phải bận tâm. Vậy thì còn gì trong
cuộc đời Kiều mong muốn nữa? Đây là những câu nói rất
thật.
‘Dở
dang nào có hay gì,
‘Đã
tu tu trót qua thì thì thôi!
Chúng
ta nên biết rằng thời gian truyện Phong Tình Lục được viết
chưa có đạo Phật hiện đại hóa, chưa có đạo Phật đi
vào cuộc đời. Người ta vẫn nghĩ rằng giữa hai nếp sống
xuất gia và tại gia không có gạch nối liên hệ. Đi tu là
hoàn toàn khác, không dính líu gì với cuộc đời. Chúng ta
bây giờ có cái nhìn khác. Vì cuộc đời cần nên chúng ta
mới đi tu. Nếu tu đàng hoàng và thành công thì chúng ta có
thể giúp được đời, trước hết là giúp gia đình chúng
ta.
‘Trùng
sinh ân nặng bể trời,
‘Lòng
nào nở dứt nghĩa người ra đi?’
Lý
do thứ nhất là:Con muốn tu, con đã có hạnh phúc trong đời
sống tu học. Lý do thứ hai là: ‘Con thương sư chị con. Cha
mẹ đã sinh con lần thứ nhất. Sư chị đã sinh ra đời sống
tâm linh và giải thoát của con. Cái nghĩa đó con muốn báo
đền. con muốn ở với sư chị.’ Rất dễ thương. Giải
thoát cũng có mà tình nghĩa cũng có. Đủ hết. Tóm lại, những
lý luận của Thúy Kiều không phải chỉ là lý luận. Nó là
sự thật trong lòng Kiều.
Người
cha lúc đó mới dùng lý luận ngoài đời để phản công lại:
‘Con còn có bổn phận với gia đình, và với người yêu.
Con đã hứa với người ta bây giờ con đâu có thể làm ngơ
dễ dàng như vậy được!’ Những người trong gia đình thuộc
về phe đa số. Phải cứng cáp lắm và phải có tăng thân
họa may mình mới địch lại nổi!
Ông
rằng: ‘Bỉ thứ nhất thì,
‘Tu
hành thì cũng phải khi tòng quyền.
Thử
là cái này, bỉ là cái kia. Nhất thì là có khi. Cái này có
liên hệ tới cái kia. Khi thì phải thế này, khi thì phải
thế kia. ‘Tu hành thì tu chứ ai cấm? Nhưng mình phải biết
linh động (tòng quyền)!’ Chữ quyền đi với chữ kinh (kinh
quyền.) Kinh là con đường thẳng, có những nguyên tắc, cứ
theo đúng như vậy mà làm là được. Quyền là linh động
trong những trường hợp đặc biệt.
‘Phải
điều cầu Phật cầu Tiên,
‘Tình
kia hiếu nọ ai đền cho đây?
‘Độ
sinh nhờ đức cao dày,
‘Lập
am rồi sẽ rước thầy ở chung.’
- ‘Tu
để thành Phật thành Tiên, chuyện đó tốt lắm! Cha cũng
đồng ý. Nhưng vấn đề hiếu và tình là bổn phận của
con người, con cũng phải giải quyết những vấn đề ấy
chứ! Đối với gia đình con phải có bổn phận. Đối với
người mà con đã thề nguyện con phải giải quyết. Cha đâu
có cấm con tu nhưng mà con phải làm xong những chuyện đó
rồi thì con mới tu được. Nếu con nghĩ rằng con có ân nghĩa
vói sư chị thì sau này mình sẽ làm một ngôi chùa cho đàng
hoàng rồi mời sư chị tới tu chung có phải vui hơn không?’
Không biết ông có nghĩ thiệt như vậy không hay chỉ cố để
an ủi để Kiều chấp nhận về nhà. Chúng ta nên biết ở
Trung Hoa và Việt Nam quan niệm Hiếu và Tình rất quan trọng.
Rất nhiều nhà Nho công kích đạo Phật là những người xuất
gia không biết tình, không biết hiếu, bỏ bê bổn phận đối
với gia đình, xã hội, quốc gia. Bên đạo Phật người ta
phải tìm cách trả lời: Chúng tôi đi tu không phải là không
đáp ứng những bổn phận đó. Ở đây cùng một vấn đề,
khi được đặt trước một hoàn cảnh như vậy chúng ta không
thể nào giải quyết được. Nói: ‘Thôi, ba má và hai em đi
về đi! Con nhất định ở đây thôi! Thì không được. Đứng
vào trường hợp này chúng ta thấy cũng khó lắm. Có lẽ trong
Kiều có một ý định về thì về, giải quyết xong thì trở
lại cuộc sống tu hành. Lúc bấy giờ Kiều không có ai hết,
rất đơn côi. Sư chị thì không nói; sư chị tuy thương lắm
nhưng chỉ đứng đó thôi. Sư chị là người có thương yêu,
có hiểu biết. Sư chị không có ý niệm muốn tranh đoạt
để giữ Kiều riêng cho mình. Trạc Tuyền biết rất rõ sư
chị đang đứng đó và đã chứng kiến tất cả những gì
đang xảy ra. Tôi chắc lúc nãy Trạc Tuyền đã ngước đầu
lên nhìn sư chị để cầu cứu, hay ít nhất là để hỏi.
Tôi thấy rất rõ sư chị đang gật đầu nói: ‘Em đi đi.
Em phải về. Chị có đức tin ở em.’ Vì vậy Trạc Tuyền
đã đồng ý đi về với gia đình để lo giải quyết vấn
đề. Bên kia, sau mười lăm năm mới tìm được Thúy Kiều,
không có lý gì được thăm hỏi chút xíu rồi phải về. Phải
kéo Kiều về chứ!
Nghe
lời nàng phải chiều lòng,
Giã
sư giã cảnh đều cùng bước ra.
Tôi
nghĩ cùng đi tới am, ngoài gia đình của Thúy Kiều còn có
một vài gia nhân hầu hạ của hai ông quan mới Kim Trọng và
Vương Quan. Thế nào những người này cũng đã được phái
đi đem võng lọng tới rước. Bây giờ, có phương tiện chuyển
vận, họ đi đường đàng hoàng chứ không phải đi tắt trong
rừng lau nữa.
TRỜI
CÒN ĐỂ CÓ HÔM NAY
Một
nhà về đến quan nha,
Đoàn
viên vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng
tàng chén cúc dở say,
Đứng
lên Vân mới giãi bày một hai:
Rằng:
‘Trong tác hợp cơ trời,
‘Hai
bên gặp gỡ một lời kết giao.
‘Gặp
cơn binh địa ba đào,218
‘Vậy
đem duyên chị cột vào duyên em.
‘Cũng
là phận cải duyên kim,219
‘Cũng
là máu chảy ruột mềm220 chứ sao?
‘Những
là rày ước mai ao,
‘Mười
lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!
‘Bây
giờ gương vỡ lại lành,221
Khuông
thiêng lừa lọc đã dành có nơi.222
‘Còn
duyên may mới còn người,
‘Còn
vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.
Quả
mai ba bảy đương vừa,223
‘Đào
non sớm vội xe tơ kịp thì!’
Cô
này cũng văn chương dữ! Trong việc đoàn viên, Thúy Vân đứng
lên đề nghị làm đám cưới cho hai người. Chuyện này không
phải do ông bố, bà mẹ, Vương Quan hay Kim Trọng khơi ra. Chính
Thúy Vân đứng dậy khơi ra. Bởi vì Thúy Vân đứng ở địa
vị thuận lợi hơn những người khác để làm việc này.
Thúy Vân đang là ‘chủ nhân’ của Kim Trọng và đây là
một xã hội đa thê.
Thúy
Kiều nghe xong thì nói: ‘Thôi đi cô!’
‘Dứt
lời nàng vội gạt đi:
‘Sự
muôn năm cũ kể chi bây giờ?
‘Một
lời tuy có ước xưa,
‘Xét
mình dãi gió dầu mưa đã nhiều.
‘Nói
càng hổ thẹn trăm chiều,
‘Thà
cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!’
Anh
chàng lúc đó mới tấn công, can thiệp vào:
Chàng
rằng: ‘Nói cũng lạ đời,
‘Dẫu
lòng kia vậy còn lời ấy sao?
‘Một
lời trót đã thâm giao,
‘Dưới
dày có đất trên cao có trời.
‘Dẫu
rằng vật đổi sao dời,
‘Tử
sinh cũng giữ lấy lời tử sinh!
‘Duyên
kia có phụ chi tình,
‘Mà
toan chia gánh chung tình làm hai?’
- ‘Mỗi
lời mình nói ra đều có sự chứng kiến của trời cao đất
dày. Lời hứa của mình là lời hứa sống chết. Dù sự vật
có thay đổi, dù sao trên trời có dời đi chỗ khác mình vẫn
giữ lấy lời của mình như thường. Anh đã làm lỗi gì để
bây giờ em lại nói như vậy?’
Đây
là lý luận của Kiều:
Nàng
rằng: ‘Gia thất duyên hài,
‘Chút
lòng ân ái ai ai cũng lòng.
Không
ai là không nghĩ tới và mơ