HẠNH
PHÚC CHÂN THẬT
BÕ
LÚC PHONG TRẦN
Đêm
ngày luống những âm thầm,
Lửa
binh đâu đã ầm ầm một phương.
Ngất
trời sát khí mơ màng,
Đầy
sông kình ngạc chật đường giáp binh.135
Chiến
tranh tràn tới. Không khí chiến tranh bao phủ cả một vùng.
Người
quen thuộc kẻ chung quanh,
Nhủ
nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
Nàng
rằng: ‘Trước đã hẹn lời,
‘Dẫu
trong nguy hiểm dám rời ước xưa!’
Còn
đang dùng dẳng ngẩn ngơ.
Mái
ngoài đã thấy bóng cờ tiếng la.136
Giáp
binh kéo đến quanh nhà,
Đồng
thanh cùng gởi: ‘Nào là phu nhân?’
Hai
bên mười vị tướng quân,
Đặt
gươm cởi giáp trước sân khấu đầu.
Cung
nga thê nữ nối sau,
Rằng:
‘Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy.’
Từ
Hải đưa một đạo binh đi đón vợ. Kiều đã xuống chó,
bây giờ lên voi.
Sẵn
sàng phượng liễn loan nghi,137
Hoa
quan giấp giới hà y rỡ ràng.138
Dựng
cờ nổi trống lên đường,
Trúc
tơ139 thổi trước kiệu vàng kéo sau.
Đây
là đám cưới mà Từ Hải mong muốn. Lời hứa đã được
thực hiện. Từ Hải đã thành công và trở về đóng binh
ở gần đó.
Hỏa
bài tiền lộ ruổi mau,140
Nam
đình nghe động trống chầu đại doanh.141
Kéo
cờ lũy phát súng thành,
Từ
công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Lữa
mình là vẻ cân đai,
Hãy
còn hàm én mày ngài như xưa.
Từ
Hải thân hành ra ngoài cửa đón. Vẫn còn dáng dấp của người
anh hùng đã gặp Kiều ngày xưa ở thanh lâu.
Cười
rằng: ‘Cá nước duyên ưa!
‘Nhớ
lời nói những bao giờ hay không?
‘Anh
hùng mới biết anh hùng,
‘Rày
xem phòng đã cam lòng ấy chưa?’
Nàng
rằng: ‘Chút phận ngây thơ,
‘Cũng
may dây cát được nhờ bóng cây!
- ‘Em
chẳng qua chỉ là một loại dây leo nương nhờ vào được
một cây tùng mạnh khỏe mà leo lên cao.’ Cát là dây leo,
thường gọi là cát đằng. Có một bộ lục tên là Cát Đằng
Lục do một thiền sư sáng tác. Tác phẩm Quy Sơn Đại Viên
Thiền Sư Cảnh Sách trong bộ luật Sa Di và Sa Di Ni có câu:
‘Khởi bất kiến ý tùng chi cát, thượng tủng thiên tầm,
phụ thác thắng nhân, phương năng hữu ích.’ Nghĩa là: Há
không thấy những dây leo nương vào cây tùng mà lên cao được
cả ngàn tầm; nương tựa vào những người lớn thì mới
có ích lợi trong sự tu tập.
‘Đến
bây giờ mới thấy đây,
‘Mà
lòng đã chắc những ngày một hai.’
- ‘Bây
giờ thì sự vinh quang đã rõ ràng nhưng em đã thấy được
nó từ ngày mới gặp nhau!’ Chứng tỏ: ‘Em là tri kỷ duy
nhất của anh. Em có con mắt rất tinh.’ Trong lòng nói vậy
nhưng bên ngoài thì vẫn có vẻ khiêm nhường lắm: ‘Em đâu
có giá trị gì đâu!’
Cùng
nhau trông mặt mà cười,
Dan
tay về chốn trướng mai tự tình.
Tiệc
bày thưởng tướng khao binh,
Om
thòm trống trận rập rình nhạc quân.
Vinh
hoa bỏ lúc phong trần,
Chữ
tình ngày lại thêm xuân một ngày.
Đó
là những ngày Kiều có danh, có lợi, có tình, có hạnh phúc.
Nhưng than ôi, tình trạng này không được lâu dài!
ÂN
OÁN RẠCH RÒI
Trong
quân có lúc vui vầy,
Thong
dong mới kể sự ngày hàn vi:142
‘Khi
Vô Tích, khi Lâm Truy,
‘Nơi
thì lừa đảo nơi thì xót thương.
‘Tấm
thân rày đã nhẹ nhàng,
‘Chút
còn ân oán đôi đường chưa xong.’
Kiều
muốn đền ơn và báo oán. Những hạt giống đó cũng có mặt
trong ta. Chúng ta không muốn giết hay bỏ tù người làm ta
khổ nhưng khi thấy người đó bây giờ khổ thì trong lòng
ta cũng thấy hơi đã. Đó là hạt giống của sự báo oán.
Tất cả chúng ta đều có hạt giống đó. Phải công nhận
như vậy. Học Từ Bi Hỷ Xả chúng ta có thể chuyển hóa hạt
giống đó. Tôi đã thực tập. Có những người làm khổ tôi
rất nhiều trong quá khứ. Đôi khi thấy những người đó
khổ thì ban đầu mình nói thầm thầm: ‘Cho đáng!’ Ngày
xưa thì có lúc như thế, nhưng bây giờ thì khác. Tôi đã
chuyển hóa. Tôi không muốn những người làm khổ mình ngày
xưa khổ. Nếu quý vị đọc sáu điểm tôi đề nghị cho tương
lai Phật giáo Việt Nam thì sẽ thấy một trong sáu điều là:
‘Phật giáo Việt Nam không có kẻ thù. Phật giáo Việt Nam
muốn được cộng tác với tất cả những thành phần khác
của dân tộc, dầu với những người ngày xưa đã từng đàn
áp Phật giáo và làm cho Phật giáo điêu đứng.’ Điều này
được bộc lộ rất rõ, đúng với tinh thần Đại Xả của
Tứ Vô Lưọng Tâm.
Đọc
truyện Kiều, chỗ nào chúng ta cũng thấy thương xót Kiều
nhưng tới chỗ Thúy Kiều trả thù thì ta thấy Kiều chưa
giỏi. Đã khổ nhiều như vậy mà chưa hiểu được những
người kia. Tuy ác độc, gian manh nhưng họ cũng là nạn nhân
của gia đình, xã hội và giáo dục của họ. Kiều chưa thấy
được điều đó. Cùng tu học với nhau bây giờ, chúng ta
có cơ hội làm được chuyện mà ngày xưa Thúy Kiều đã không
làm được, tức là thương xót được những người đã làm
khổ mình bởi vì họ cũng khổ. Ý định đền ơn thì tốt
nhưng ý muốn trả thù thì không xứng đáng; nhất là mình
đã từng được đi tu rồi.
Từ
công nghe nói thủy chung,
Bất
bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Anh
chàng nghe nói giận lắm. Muốn trừng phạt tất cả những
người đã làm cho người yêu của mình đau khổ da diết ngày
xưa. Ăn thua là do người đàn bà cả. Người đàn bà cứ
tỉ tê nói ra nói vào một hồi là người đàn ông xiêu lòng.
Anh hùng vậy đó, nhưng nếu có một người đàn bà yếu đuối
hờn ganh bên cạnh thì có thể những hạt giống vô minh sẽ
nổi lên. Đó cũng là thương nhưng tình thương ở đây chưa
phải là tình thương của Từ Bi Hỷ Xả. Tình thương này
còn có chất liệu của vô minh, phân biệt, kỳ thị. Chưa
có chất liệu Xả.
Nghiêm
quân tuyển tướng sẵn sàng,143
Dưới
cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba
quân chỉ ngọn cờ đào,
Đạo
ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy.
Đi
bắt hết những người làm khổ Kiều và mời tất cả những
người ân của Kiều về. Vô Tích và Lâm Truy là hai nơi mà
Kiều đã chịu khổ rất nhiều. Lâm Truy là nơi Kiều vào
thanh lâu lần đầu. Vô Tích là chỗ Kiều bị bắt làm đầy
tớ. Các tướng cũng được lệnh bảo vệ cho gia đình họ
Thúc (Thúc ông và người nhà) không cho quân lính và dân chúng
vào phá. Như vậy là quân lính của Từ Hải có thể phạm
vào những nhà khác. Đó là cảnh chiến tranh. Thật nguy hiểm.
Mấy
người phụ bạc xưa kia,
Chiếu
danh tầm nã bắt về hỏi tra.
Lại
sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ
giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Mụ
quản gia vãi Giác Duyên,
Cũng
sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
Thệ
sư kể hết mọi lời,
Lòng
lòng cùng giận người người chấp uy.
Thệ
sư là lễ tế cáo Trời Đất và Quỷ Thần và hiểu dụ tướng
sĩ trước lúc xuất quân. Lễ này có mục đích nêu ra rằng
đây là một cuộc hành quân có chính nghĩa, không phải là
việc đi cướp bóc, tàn hại nhân dân. Đó là đạo đức
chính trị và quân sự ngày xưa. Con người làm chiến tranh
nhưng phải biết rằng ngoài con người còn có Trời, Đất,
Quỷ, Thần. Không nên nghĩ rằng ngoài con người ra không có
cái gì cả. Đó là một nét thuộc về văn minh Đông phương.
Hy vọng trong tương lai những nước Tây phương mỗi khi muốn
đem quân đi đánh ở đâu cũng sẽ làm lễ Thệ Sư nói cho
quần chúng. Quỷ Thần, Trời Đất biết rõ lý do.
Sau
khi tướng sĩ và quân lính nghe những chuyện Kiều kể thì
ai nấy đều giận. Ai cũng muốn chấp hành và thực hiện
cho được mục đích của cuộc ra quân.
Đạo
trời báo phục chỉn ghê,144
Khéo
thay một mẻ tóm về đầy nơi.
Quân
trung gươm lớn giáo dài,
Vệ
trong thị lập cơ ngoài song phi.145
Sẵn
sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác
đồng chật đất tinh kỳ rợp sân,146
Trướng
hùm147 mở giữa trung quân,
Từ
công với phu nhân cũng ngồi.
Tiên
nghiêm148 trống chửa dứt hồi,
Điểm
danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.149
Những
người có tên điểm danh được dẫn ra trước cửa quân.
Từ
rằng: Ân oán hai bên,
‘Mặc
nàng xử quyết báo đền cho minh.’
Nàng
rằng: ‘Muôn cậy uy linh,
‘Hãy
xin báo đáp ân tình cho phu.150
‘Báo
ân rồi sẽ báo thù.’
Từ
rằng: ‘Việc ấy để cho mặc nàng.’
Cho
gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt
như chàm đổ mình dường giẻ run.
Mặt
tái xanh, người run rẩy. Đúng là tướng mạo, là căn cước
của anh chàng.
Nàng
rằng: ‘Nghĩa trọng tình non,
‘Lâm
Truy người cũ chàng còn nhớ không?
‘Sâm
Thương151 chẳng vẹn chữ tòng,
‘Tại
ai há dám phụ lòng cố nhân?
‘Gấm
trăm cuốn bạc nghìn cân,
‘Tạ
lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Dầu
không sống với nhau suốt đời nhưng vẫn còn tình nghĩa cũ.
Kiều biết ơn Thúc Sinh đã kéo mình ra khỏi ổ nhền nhện
và cho mình gần một năm hạnh phúc. Nhưng:
‘Vợ
chàng quỷ quái tinh ma,
‘Phen
này kẻ cắp bà già gặp nhau!
‘Kiến
bò miệng chén chưa lâu,
‘Mưu
sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!’
Đó
là một lời dọa.
Thúc
Sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ
hôi chàng đã như mưa ướt dầm.
Sợ
quá! Xin đừng cười, bởi chàng Thúc Sinh đang có mặt trong
mỗi chúng ta.
Lòng
riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ
thay mà lại mừng thầm cho ai.
Sợ
là sợ cho Hoạn Thư, mừng là mừng cho Thúy Kiều. Anh chàng
được Kiều trả ơn có thể sẽ bị mất vợ.
Mụ
gia sư trưởng thứ hai,
Thoát
đưa đến trước vội mời lên trên.
Mụ
già là bà quản gia ở nhà họ Hoạn, Sư Trưởng là sư chị
Giác Duyên. Hai người vừa đến thì được Kiều mời lên
trướng liền.
Dắt
tay mở mặt cho nhìn:
‘Hoa
nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi!
‘Nhớ
khi lở bước sẩy vời,
‘Non
vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Kiều
có hạt giống của sự biết ơn rất lớn. Nhớ mãi những
điều người ta giúp mình. Chúng ta nên biết bất cứ một
hạt giống tốt nào mình gieo, một cử chỉ thương yêu lân
mẫn nào mình làm đều có kết quả. Kết quả trong lòng mình
và trong lòng người khác.Thực tập ‘Sáng cho người thêm
vui. Chiều giúp người bớt khổ,’ bảo hộ sanh mạng và
thực tập Từ Bi Hỷ Xả trong đời sống hàng ngày để đầu
tư cho tương lai, làm như thế không phải chỉ cho riêng mình
mà cho tất cả mọi người.
‘Nghìn
vàng gọi chút lễ thường,
‘Mà
lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!’
Cúng
dường sư chị Giác Duyên và bà quản gia mỗi người một
nghìn lạng vàng. Không biết sư chị dùng vàng này để làm
gì? Nhưng bà quản gia thì chắc chắc sẽ biết cách xài. Bà
sẽ tìm cách thoát khỏi thân phận làm việc cho người và
ra sống riêng. Ngày xưa Hàn Tín bên Tàu trong thời đói khổ
gặp một bà già tên là Phiếu mẫu cho ăn cơm. Sau này làm
nên, Hàn Tín trả ơn bà một nghìn lạng vàng. Những khi người
ta khổ đau hoặc lỡ bước mà giúp người ta là rất quan
trọng. Một bát cơm thôi nhưng đáng giá ngàn vàng. Không thể
nói một bát cơm ngoài chợ chỉ bán có ba hay mười francs.
Một bát cơm có khi là ba Francs nhưng có khi là một ngàn lạng
vàng, có khi lại không có giá trị gì hết. Đưa một bát
cơm mà nói nặng nhẹ thì bát cơm đó không có một giá trị
gì. Với tấm lòng thương yêu, săn sóc, nhường cơm xẻ áo
cho người thì bát cơm đó đáng giá ngàn vàng. Có những người
Việt Nam trong những trường hợp khổ cực, cha trong trại
học tập cải tạo (Sơn La hay Ích Khiếu), mẹ bị bịnh...
bên này chúng ta nhường cơm xẻ áo gởi về giúp họ, sau
này mỗi khi nhớ tới họ rất cảm ơn mình. Nhưng có người
sau khi qua được bên này lại nói: ‘Gửi cho mấy chục đô
la, nhằm nhò gì!’ Họ không nhớ rằng trong trường hợp
khó khăn mà nhận được sự giúp đỡ là quý. Đó là họ
không biết giá trị của bát cơm Phiếu mẫu. Họ nghĩ ằng
bên này tiền do mình tự đúc ra, cứ việc bỏ vào bì thơ
để gửi về; họ không biết rằng mình cũng phải nhịn áo,
nhịn mặc, nhịn tiêu mới có thể gửi về được. Nên biết
rằng trong ta có thể có những hạt giống như vậy. Chúng
ta có thể có những hạt giống của Hàn Tín, Thúy Kiều và
cũng có thể có hạt giống của những người không phải
là Hàn Tín, Thúy Kiều.
Hai
người trông mặt tần ngần,
Nửa
phần khiếp sợ nửa phần mừng vui.
Ghê
quá! Mình là thầy tu, mình là mụ quản gia mà bây giờ phải
lên tới chỗ này, toàn là quân lính và giáo dựng gươm trần.
Bà này làm lớn quá! Họ không biết nói gì cả.
Nàng
rằng: ‘Xin hãy rốn ngồi,
‘Xem
cho rõ mặt biết tôi báo thù!’
Chắc
chắn là sư chị không muốn ngồi nhưng sư chị đã bắt buộc
phải ngồi vì hơi ngại. Sư chị đâu muốn nhìn thấy những
chuyện bạo động, trả thù. Chỗ này chúng ta cần quán chiếu
cho kỹ. Chúng ta đọc tiếp để xem Thúy Kiều báo thù Hoạn
Thư như thế nào:
Kíp
truyền chư tướng hiến phù,152
Lại
đem các tích phạm tù hậu tra.153
Dưới
cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính
danh thủ phạm tên là Hoạn Thư,
Thoát
trông nàng đã chào thưa:
‘Tiểu
thư cũng có bây giờ ở đây!
- ‘Tiểu
thư mà cũng tới đây nữa hả?’ Đó là lời nói mỉa mai.
Hạt giống này cũng có trong ta. Thỉnh thoảng chúng ta cũng
biết nói lời mỉa mai.
‘Đàn
bà dễ có mấy tay,
‘Đời
xưa mấy mặt đời này mấy gan!
‘Dễ
dàng là thói hồng nhan,
‘Càng
cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều!’
- ‘Từ
xưa đến giờ tìm ra được một người như tiểu thư là
hiếm lắm. Càng cay nghiệt lắm thì càng gặp nhiều oan trái.’
Hoạn
Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu
đầu dưới trướng dở điều kêu ca,
‘Rằng:
‘Tôi chút phận đàn bà,
‘Ghen
tuông thì cũng người ta thường tình.
- ‘Đàn
bà ai lại không ghen tương phu nhân!’ Điều này có thật.
Nói như vậy không có nghĩa là đàn ông không ghen. Đàn ông
cũng ghen. Nhưng đây là nói chuyện đàn bà với nhau. ‘Ghen
tuông thì cũng người ta thường tình.’ Nói ra một sự thật.
Bà này khôn lắm. ‘Tôi là đàn bà. Mà hễ là đàn bà thì
ai là không ghen.’
‘Nghĩ
cho khi các viết kinh,
‘Với
khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Nhắc
lại những công đức của mình. Rất khéo! Bà này mà đi học
trường luật thì chắc cũng sẽ tốt nghiệp hạng cao. Không
nói ‘đi trốn’ mà chỉ nói ‘khỏi cửa’ thôi - Người
ta làm phu nhân, người ta đâu có ‘đi trốn’.
‘Lòng
riêng riêng những kính yêu,
‘Chồng
chung chưa dễ ai chiều cho ai!
Khi
chồng mình bị một người đàn bà khác tới chiếm thì tâm
niệm muốn giật chồng lại là một tâm niệm phổ biến.
Đó là tính người. Tự mình làm luật sư bào chữa. Rất
hay. Nhưng cái hay này một phần lớn là của thi sĩ.
‘Trót
lòng gây việc chông gai,
‘Còn
nhờ lượng bể thương bài nào chăng!’
- ‘Lượng
phu nhân lớn như biển. Bây giờ phu nhân thương được chút
nào thì con nhờ chút đó.’ (Thương ít ít cũng được, miễn
có thương là quý rồi.) Rất khéo.
Rằng:
‘Tôi chút phận đàn bà,
‘Ghen
tuông thì cũng người ta thường tình,
‘Nghĩ
cho khi các viết kinh,
‘Với
khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
‘Lòng
riêng riêng những kính yêu,
‘Chồng
chung chưa dễ ai chiều cho ai!
‘Trót
lòng gây việc chông gai,
‘Còn
nhờ lượng bể thương bài nào chăng!’
Rất
gọn mà đủ. Ghen thì ghen ghê gớm mà nói thì cũng rất khéo.
Và quý hơn hết là vẫn có vài hạt giống của lòng từ bi
trong tâm.
Kiều
đáp lại:
Khen
cho: ‘Thật đã nên rằng,
‘Khôn
ngoan đến mực nói năng phải lời.
‘Tha
ra thì cũng may đời,
‘Làm
ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
‘Đã
lòng tri quá154 thì nên,
‘Truyền
quân lệnh xuống trướng liền tha ngay.’
Kiều
tha bổng cho một người đã từng làm cho mình đau khổ cùng
cực. Đêm Hoạn Thư tổ chức tiệc rượu tẩy trần đón
Thúc Sinh trở về bắt Kiều hầu rượu là đêm đau khổ nhất
của Kiều. Thúc Sinh và thúy Kiều càng đau khổ bao nhiêu thì
Hoạn Thư càng ‘đã’ bấy nhiêu. Nhưng bây giờ chính Kiều
ra lệnh tha cho Hoạn Thư. Chuyện này sở dĩ xảy ra một phần
là nhờ Hoạn Thư khôn khéo và một phần khác cũng nhờ trong
tâm bà ta có hạt giống từ bi. Ngày xưa bà đã làm được
hai việc quan trọng. Một là cho Kiều đi tu để thoát khỏi
thân phận đầy tớ. Hai là để Kiều trốn mà không tầm
nã. Nếu không có hai điều đó thì bây giờ chắc chết. Trong
nguyên lục Hoạn Thư bị đánh một trăm roi trước khi tha
bổng. Cụ Nguyễn Du của chúng ta không cho đánh Hoạn Thư.
Nàng Kiều của cụ Nguyễn Du có lòng từ bi hơn nàng Kiều
trong nguyên lục.
Tạ
lòng lạy trước sân mây,
Cửa
viên lại dắt một dây dẫn vào.
Những
người còn lại đều bị phạt nặng.
Nàng
rằng: ‘Lồng lộng trời cao!
‘Hại
nhân nhân hại sự nào tại ta!
Thiên
võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu: lưới trời lồng lộng, thưa
mà khó lọt. Làm ác thì bị quả báo ác. ‘Hại nhân nhân
hại’ là luật quả báo. ‘Sự nào tại ta’: vì các người
ác nên bị quả báo chứ không phải tại tôi ác. Nói như
vậy, đứng về phương diện pháp lý thì rất đúng nhưng
đứng về phương diện đạo lý thì không đúng. Có hai phương
pháp xử trị: đức trị và pháp trị. Pháp trị là lấy luật
mà đối xử. Phạm lỗi đó thì bị trừng phạt, như vậy
là pháp trị. Câu nói của Kiều là câu nói về pháp trị..Nhưng
là người tu thì mình không được nói như Kiều. Mình không
phải là pháp gia , mình là đạo gia. Mình phải nói: ‘Anh
đã gây tội lỗi, đáng lý hôm nay anh bị quả báo. Nhưng
tại tôi là người tu thành ra may cho anh.’ Đó là đức trị.
Trị bằng đức, bằng tình thương. Thúy Kiều đã được
đi tu, học đạo giải thoát mà vẫn dùng ngôn ngữ của pháp
trị, đó là không giỏi. Là người tu mình không nói bằng
ngôn ngữ của pháp trị; mình phải nói bằng ngôn ngữ của
đức trị. Mình đừng nói: ‘Ráng chịu!’ không phải là
ngôn ngữ của người tu. Đây là một trong những lỗi lớn
của Thúy Kiều. Chúng ta hãy tưởng tượng trong khi Kiều đang
nói bằng cái giọng sắt đá và máy móc như vậy thì sư chị
Giác Duyên cũng đang ngồi phía sau lưng. Sư chị nghĩ gì?
‘Trước
là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
‘Bên
là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh,
‘Tú
Bà với Mã Giám Sinh,
‘Các
tên tội ấy đáng tình còn sao?’
Lệnh
quân truyền xuống nội đao,
Thề
sao thì lại cứ sao gia hình.
Những
người ngày xưa thề như thế nào thì bây giờ chịu quả
như thế đó. Ví dụ thề: ‘Nếu mà tôi có phản bội thì
tôi chết liền tức khắc!’ hay ‘Nếu tôi lừa gạt em thì
cho người ta băm nát thân tôi thành từng miếng đem làm thực
phẩm cho lợn ăn!’ thì Kiều bây giờ cũng cho làm y như vậy.
Như vậy thời gian Kiều ở chùa Chiêu Ẩn không ích lợi gì.
Có chép Kinh, tụng Kinh, thỉnh chuông, làm đủ thứ... được
ở với sư chị nhưng những hạt giống của từ bi, tha thứ
không được tưới tẩm nhiều. Kiều có tha cho Hoạn Thư vì
thấy được hoàn cảnh và lòng tốt của Hoạn Thư. Trong Kiều
cũng có cái thấy, cái hiểu và cái thương. Nhưng với những
người này, Kiều hoàn toàn không thấy được rằng sở dĩ
họ ác như vậy là vì họ được nuôi dưỡng và sống trong
những môi trường mà ai ở trong đó cũng có thể trở thành
như vậy. Vì không thấy điều đó nên Thúy Kiều đành lòng
để họ bị trừng phạt. Sư chị ngồi phía sau chắc cũng
đau xót vô cùng nhưng không làm gì được. Không thể ngăn
cản được nữa vì đây không phải thiền môn. Đây là quân
trường,
đây là tòa án, đây không còn là sư em của mình nữa mà
là một vị chỉ huy trưởng quân đội toàn quyền sinh sát
(Từ rằng: ‘Việc ấy để cho mặc nàng.’) Hai người ơn
của Kiều, bà quản gia và sư Giác Duyên ngồi phía sau mà
khiếp đảm, thấy trái tim Kiều là sắt đá. Chắc sư chị
đau khổ vô cùng. Lỗi một phần là của sư chị. Trong thời
gian em nó ở với mình, mình đã không dạy. Sư chị có thể
là người tốt nhưng sư chị không thực tập dạy em. Vì vậy
tuy thương em nhưng sư chị không làm tròn bổn phận của một
người chị. Tất cả những sư chị tương lai phải học những
bài học này. Em mình không thể nói: ‘Hại nhân nhân hại.
Ai bảo! Ráng chịu!’ Nếu sư em mình làm và nói như vậy
là mình chịu trách nhiệm hoàn toàn. ‘Tôi đã nói mà nó
không chịu nghe!’ Nhưng tôi đã nói làm sao để nó không
chịu nghe? Hay là vì tôi nói giọng chị Hai thành ra sư em tôi
không thèm nghe? Tôi phải nói bằng thứ ngôn ngữ rất ngọt
ngào và thương yêu thì em tôi mới dễ dàng tiếp nhận. Còn
nếu tôi nói theo kiểu mẹ chồng hay chị Hai thì em tôi sẽ
ghét tôi, không chịu nghe, không chịu học với tôi. Dầu có
nói đúng cách mấy đi nữa mà nói cái giọng sẵng đó thì
ta sẽ không thành công và không làm được trách vụ sư chị?
Các sư chị phải ăn nói như thế nào để các em thương và
nghe lời mình. Sau này các em không thể nói rằng: ngày xưa
sư chị chưa dạy! Sư chị có dạy và dạy bằng ngôn ngữ
từ ái, không trách móc, không lý luận, không đổ lỗi. Sư
chị chỉ nhẹ nhàng khuyên nhủ em thôi. Nếu sau này em không
học được thì không phải là lỗi của chị nữa mà là lỗi
của chính em. Tưởng tượng sư chị ngồi phía sau với tư
cách thượng khách của sư em mà không làm được gì để
ngăn cản sư em hết! Trễ quá rồi! Làm gì được nữa! Sư
chị phải thấy trách nhiệm của mình ngày xưa đã không giúp
em.
Máu
rơi thịt nát tan tành,
Ai
ai trông thấy hồn kinh phách rời.
Hồn
và phách là hai khía cạnh tâm lý. Người Việt phải biết
chuyện này. Hồn (spiritual soul) nhẹ hơn phách (vegetative soul.)
Phách cũng là hồn nhưng có dính với phần sắc thân nhiều
hơn. Đối với tín ngưỡng bình dân của người Việt thì
đàn ông có ba bồn bảy phách (vía), đàn bà có ba hồn chín
phách (vía nhẹ thì tốt.) Hỏi tại sao thì có thể giải thích
bằng nhiều cách. Chín vía có thể nặng hơn bảy vía nhưng
nhờ chín vía nên mới có thể thấy, cảm được những điều
mà người đàn ông không cảm được. Đứng về phương diện
chi tiết, người đàn bà tiếp xúc được nhiều hơn người
đàn ông. Ví dụ như gửi quà về nhà, đàn ông thường làm
đại khái, còn đàn bà nghĩ tới từng chi tiết một: nghĩ
tới từng đứa cháu, từng đứa chắt. Có những người đi
máy bay, xe lửa không muốn đem theo nhiều món đến khi thiếu
thì than. Hành lý của người đàn bà tuy nhiều một chút nhưng
rất cần thiết, đủ từng chi tiết. Đến khi cần cái gì
họ nói: ‘Có đem theo đây!’; người đàn ông rất hoan hỷ.
Đứng về phương diện cơ thể học, con người có hai hệ
thần kinh. Hệ gần với thân thể gọi là système nerveux végétatif.
Phách gần với thân thể. Theo tín ngưỡng bình dân Việt Nam,
khi thân thể đã chết phách vẫn còn và từ từ tan biến.
Câu 115, khi thăm mộ Đạm Tiên, Kiều nói: ‘Thác là thể
phách còn là tinh anh.’ Tinh anh thuộc về hồn. ‘Hồn kinh
phách rời’ là khi sợ quá, phách lìa khỏi thân thể.
Cho
hay muôn sự tại trời,
Phụ
người chẳng bõ khi người phụ ta!
Hai
câu này cần phải xét lại. Đây là lời luân lý để cảnh
cáo người ta. Trời ở đây không phải là một đấng tạo
hóa mà là luật của thiên nhiên. Muôn sự tại trời nghĩa
là mọi việc đều xoay quanh luật thiên nhiên; trong đó có
luật nhân quả. Trồng bắp thì được ăn bắp, trồng đậu
thì được ăn đậu, gieo gió thì gặt bão. Khi mình dễ thương
với một người nào đó thì mình được người đó đối
xử dễ thương lại. Khi mình phản bội độc ác với một
người nào đó thì mình sẽ bị đáp lại bằng sự độc
ác và phản bội của chính người đó hoặc của một người
nào khác. ‘Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta’: Khi
mình phụ người ta thì mình thấy không sao hết nhưng đến
khi người ta phụ mình một cái thì mình mới thấy được
tất cả đau khổ của một người bị tình phụ. Thấy một
người mới tươi mát, tốt lành, dễ chịu nên mình đi theo,
bỏ người cũ. Người cũ đau xót cách mấy mình cũng không
biết. Nhưng khi cái người mình gọi là tươi mát đó đá
mình một cái và bỏ đi, mình mới có cơ hội biết được
người bị mình phụ đã đau khổ như thế nào. ‘Phụ người
chẳng bõ khi người phụ ta’ là luật thiên nhiên, nêu ra
để dạy người, nhưng trước hết là để chứng minh rằng
chuyện mình trả thù cũng là chuyện tự nhiên thôi. Thái độ
này không tốt. Nó chỉ tốt với những nhà pháp trị nhưng
không tốt với những nhà đức trị như chúng ta.
Mấy
người bạc ác tinh ma,
Mình
làm mình chịu kêu mà ai thương.
Có
chứ! Những người đứng trên phương diện đức trị nghe
tiếng kêu thương vẫn có thể thương được. Ví dụ như
sư chị Giác Duyên. Sư chị ngồi ở trên cảm thấy rất đau
xót nhưng bất lực, biết rằng mình đã không dạy em. Tác
giả nói như vậy là đứng về phía Kiều mà nói nhưng không
đứng về phía sư chị mà nói. ‘Mình làm mình chịu kêu
mà ai thương’ có nghĩa là ‘Đáng đời!” Kỳ thực cụ
Nguyễn Du tuy nói vậy nhưng trong lòng cụ, cụ cũng cảm thấy
đau. Nói là nói ngoài mặt vậy thôi. Ai thấy trường hợp
những người kia bị băm, bị chém mà không thương! Câu này
như để răn dạy. Có người chủ trương phải có sự trừng
phạt như vậy thì người ta mới ngán không làm ác. Một phần
nào đó họ cũng có lý. Ví dụ khi qua một cái đèo rất hiểm
trở trên con đường Sài Gòn - Đà Lạt, từ trên xe đò nhìn
xuống người ta thấy một cái miếu thờ những người từ
nạn từ xe hơi rớt xuống đèo. Những người có chánh niệm
đã lái xe cẩn thận, nhìn xuống thấy cái miếu lại càng
cẩn thận hơn nữa. Những tay anh chị đánh người không nương
tay (anh chị Cầu Muối), chửi thề, không kính trọng bất
cứ ai, không tin ở đức trị, đi ngang qua miếu đó cũng phát
ngán, sợ các linh hồn kia kéo mình xuống vực. Thành ra đe
dọa cũng có ích lợi. Ở chùa có tượng đức Quán Thế Âm
Bồ Tát hiền lành, mát mẻ như một đóa hoa nhưng cũng có
ông Diện Nhiên Đại Sĩ thở ra toàn khói và lửa, cầm thanh
gươm đứng để đóng vai trò Ông Ác cho người ta ngán. Anh
làm cái đó sẽ bị cái này. Đó là pháp trị; pháp trị cũng
đóng được vai trò của nó. Cái hay trong đạo Bụt là vị
Diện Nhiên Đại Sĩ thở ra và nói toàn là khói và lửa không
ai khác hơn là đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Bồ Tát cười
nhẹ nhàng như cơn gió thoảng nhưng cũng phải hiện ra dữ
dằn như vậy để cho người ta sợ mà xa lánh điều ác. Đó
là một hình thái của tình thương. Đưa cao đánh khẽ. Nhưng
Thúy Kiều có đánh khẽ không? Không. Đây không phải là đức
trị mặc áo pháp trị. Có tình thương thật thì có thể sử
dụng phương pháp pháp trị, nhưng đi sâu vào thì thấy toàn
là đức trị. Ở các chùa có những hình vẽ cảnh địa ngục:
vạc dầu, cột đồng... cũng là đọa. Nhưng đó không thật
sự là ác. Đó là phương tiện để giúp những người không
thể giúp được bằng những phương pháp nhẹ nhàng. Vấn
đề là cứu độ chứng không phải là trừng trị.
Mấy
người bạc ác tinh ma,
Mình
làm mình chịu kêu mà ai thương.
Bạc
tức là (đức) mỏng. Người có nhiều đức độ, tình thương
trong lòng, biết nghĩ tới tương lai gọi là người có hậu
hay đức dày. Không ăn xổi ở thì, không phải chỉ biết
ngày hôm nay không lo gì đến tương lai. Như cưa củi mà chỉ
cưa một chút xíu để xài ngày hôm nay thôi, ngày mai mặc
kệ thì gọi là mỏng; cưa nhiều để dành cho ngày mai gọi
là dày. Đó là đứng về phương diện vật chất. Phương
diện tinh thần cũng vậy. Thương người, giúp người, chất
chứa công đức và tình thương nhiều gọi là hậu (dày).
Ngược lại với mỏng, không lo cho hạnh phúc của mình và
người trong tương lai. Bạc cũng có nghĩa là phụ bạc, phản
bội. Đoạn này chúng ta thấy cụ Ngụyễn Du cũng có đức
dày. Cụ nói như vậy cốt để dọa. Nếu đứng ra xét xử
chắc hẳn cụ sẽ dùng đức trị, dơ cao đánh khẽ, để
cảm hóa họ: ‘Bữa nay ta tha đó nghe. May mà gặp tui chứ
gặp người khác là chết rồi!’
Ba
quân đông mặt pháp trường,155
Thanh
thiên bạch nhật156 rõ ràng cho coi.
Trời
trong, giữa ban ngày, không ai không thấy được luật nhân
quả rõ ràng.
Kiều
đã
tha cho Hoạn Thư là một việc đáng mừng, nhưng Kiều đã
trừng phạt những người còn lại đó là một việc không
hay. Nếu Kiều biết tu tập thì đã có thể hướng dẫn cho
họ thở, nhìn kỹ, nhìn sâu để thấy rõ những đau khổ
của hai bên và tìm cách giáo dục cho họ, cho họ những cơ
hội và điều kiện để làm lại cuộc đời.
TRỜI
PHƯƠNG NGOẠI
Việc
nàng báo phục vừa rồi,
Giác
Duyên vội đã gởi lời từ quy.
Sư
chị ngán quá! Muốn về liền lập tức, không muốn ở thêm
một giờ nào nữa trong chốn quân sự hãi hùng này. Chúng
ta phải đi vào trong da thịt của sư chị để thấy. Sư chị
bây giờ e ngại lắm, tuy rất thương sư em; không biết sư
em sẽ đi về đâu nếu sư chị cứ tiếp tục như vậy. Nó
đã rất đau khổ trong quá khứ, bây giờ báo thù được thì
nó thấy nhẹ trong lòng. Đó là cái thấy của người đời.
Nhưng người tu thì phải khác. Bây giờ sư chị đi, phải
khiêng theo một ngàn lạng vàng và tất cả những tâm tư nặng
nề tạo ra vì khung cảnh vừa rồi. Sư chị là người tu,
dùng vàng để làm gì? Tu chỉnh Chiêu Ẩn Am? Một ngàn lạng
vàng nặng lắm! Rồi thì ăn cướp, ăn trộm, làm sao? Khiêng
một ngàn lạng vàng đi cũng khổ lắm! Không biết mình sẽ
làm chuyện gì với số vàng này, và sư chị cảm thấy mất
hết tất cả những an ninh của mình. Và nhất là lại mang
theo niềm hoảng sợ và xót thương cho đứa em đồng đạo
ngày xưa. Hãy dể cho trí tưởng tượng của chúng ta đi theo
để thấy sư chị rời khỏi trung tâm quân sự đó với tâm
trạng nào.
Nàng
rằng: ‘Thiên tải nhất thì,157
‘Cố
nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.158
“Rồi
đây bèo hợp mây tan,
‘Biết
đâu hạc nội mây ngàn là đâu!
Đây
là những câu thơ rất hay. Bèo hợp mây tan là lý vô thường.
Ngày hôm nay mình sống chung với nhạu là ‘bèo hợp’, biết
đâu mai này mỗi người đi một ngã là ‘mây tan’. Vì vậy
phải biết trân trọng những giờ phút của ngày hôm nay, phải
có hạnh phúc trong giờ phút này. Hai chị em gặp được nhau
là điều hiếm có, xa nhau rồi thì không biết bao giờ mới
được gặp lại, ngồi chung, uống trà đàm đạo với nhau.
‘Thúy Kiều thấy được điều đó.
Sư
rằng: ‘Cũng chẳng mấy lâu,
‘Trong
năm năm lại gặp nhau đó mà.
- ‘Không
lâu đâu! Trong năm năm nữa chị em mình sẽ được gặp nhau
lại.’ Giống như là sư chị đã biết trước. Biết trước,
không phải là do sư chị có tài bấm quẻ mà vì sư chị có
quen với một đạo cô tu theo đạo Lão tiên đoán sự hội
ngộ của hai chị em trong năm nay và trong năm năm nữa. Và
vì đã gặp Thúy Kiều lần này đúng theo tiên đoán của đạo
cô Tam Hợp nên sư chị tin rằng tiên đoán về lần hội ngộ
thứ hai cũng sẽ đúng.
‘Nhớ
ngày hành cước phương xa,
‘Gặp
sư Tam Hợp vốn là tiên tri.
‘Bảo
cho hội ngộ chi kỳ,
‘Năm
nay là một nữa thì năm năm.
‘Mới
hay tiền định chẳng lầm.
‘Đã
tin điều trước ắt nhằm việc sau.
‘Còn
nhìều ân ái với nhau,
‘Cơ
duyên nào đã hết đâu vội gì?’
‘Hành
cước’ (đi bộ) là sự thực tập của nhà tu. Nếu cái học
của mình chưa tới, thì mình phải tìm thầy học đạo. Hành
cước có khi gọi là đi vân thủy. Vân là mây, thủy là nước.
Mây, nước luôn luôn đi. Người tu hành nếu chưa tìm được
thầy, được pháp môn thì phải làm phận sự của mây và
nước. Phải đi và đi bằng hai chân (hành cước) của mình
chứ không đi ngựa, đi xe.
Những
câu thơ này chứng tỏ sư chị Giác Duyên thương sư em Trạc
Tuyền rất sâu sắc. Không biết có hiểu nhiều không nhưng
có thương và muốn thương. Tình thương cao nhất là tình thương
làm bằng cái hiểu. Biết sư em cần gì thì dạy sư em cái
đó. Sư chị không biết sư em cần học kinh An Ban Thủ Ý,
ru và chuyển hóa nội kết, nên đã không dạy. Sư chị chưa
hiểu sư em bao nhiêu.
Nàng
rằng: ‘Tiền định tiên tri,
‘Lời
sư đã dạy ắt thì chẳng sai.
‘Họa
bao giờ có gặp người,
‘Vì
tôi cậy hỏi một lời chung thân.’
- ‘Nếu
sư chị có gặp lại đạo cô thì xin hỏi dùm về tương lai
của em. Em không biết mình sẽ đi về đâu.’ Tiền lộ mang
mang bất tri hà vãng là một câu trong Cảnh Sách. Bốn cuốn
Luật Tiểu (luật nhỏ) của người tập sự đi tu gồm có:
Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu, Mười Giới Sa Di và Sa Di Ni,
Uy Nghi và Cảnh Sách. Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu là năm
sáu chục bài thi kệ thực tập chánh niệm trong mọi động
tác hàng ngày. Bất cứ đi, đứng, nằm, ngồi, rửa tay, đi
cầu, giặt áo... làm gì cũng có một bài kệ để thực tập
thở ra, thở vào trong khi làm việc đó. Tỳ Ni Nhật Dụng
thiết Yếu bản in mới có tên là Từng Bước Nở Hoa Sen.
Mười Giới của Sa Di và Sa Di Ni bắt đầu bằng giới không
sát sanh. Uy Nghi là phong thái của một nhà tu trong khi đi, đứng,
nằm, ngồi, hành xử. Ví dụ sử dụng phòng tắm, lên chánh
điện, vào nhà bếp, đến nhà cư sĩ... phải làm như thế
nào cho đúng phong thái một nàh tu. Sách xưa có 24 thiên uy
nghi. Sách mới (Bước Tới Thảnh Thơi) có tới 39 chương,
vì điều kiện sống và tiếp xúc có khác (ví dụ nghe điện
thoại, vào siêu thị...) Cảnh Sách là những lời nhắc nhở
của thiền sư Quy Sơn. Bài văn rat hay. Tất cả các sư cô,
sư chú ngày xưa đều học thuộc lòng bằng chữ Nho. Tiền
lộ mang mang bất tri hà vãng là một câu trong Cảnh Sách, có
nghĩa là: đường trước mờ mờ, không biết sẽ đi về đâu.
Thúy Kiều cảm biết rằng cuộc đời mình còn nhiều sóng
gió lắm, sau này không biết sẽ đi về đâu, vì vậy muốn
nhờ sư chị Giác Duyên hỏi đạo cô Tam Hợp giúp mình. Muốn
có một cái nhìn tổng quát về tương lai. Đó là nhu yếu
của Thúy Kiều và cũng là nhu yếu của tất cả chúng ta.
Ai cũng muốn biết tương lai cả cho nên mấy ông thầy chấm
số tử vi túi mới có tiền. Nhưng mấy ông liệu có giỏi
bằng đạo cô Tam Hợp không? Hay là tiền mất mà mình vẫn
không có được cái nhìn rõ ràng nào về tương lai! Trong đạo
Bụt, có những điều mình biết nhờ tu học có chánh niệm.
Nếu nắm được thân tâm mình thì đi về đâu mình cũng làm
chủ được thân tâm, không đánh mất mình và mình không cần
đến đạo cô Tam Hợp hay mấy ông thầy chấm số tử vi nữa.
Vừa đỡ tốn tiền, vừa khỏi bị mang tiếng mê tín. Chỉ
những ngươờ yếu bóng vía mới cần tới đạo cô và mấy
ông thầy tướng số mà thôi.
Giác
Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ
từ thoát đã dời chân cõi ngoài.
Sư
chị Giác Duyên nhận lời Kiều và đi. Càng đi càng mau ra
khỏi cõi này càng tốt. Cõi ngoài không phải cõi này. Có
lẽ cụ Nguyễn Du đã dịch từ chữ phương ngoại: một không
gian ở ngoài. Đọc thơ Nguyễn Du mà không biết về Phật
học thì đôi khi cũng thiếu. Phương ngoại phương (space outside
of space), trời phương ngoại. Đó là không gian nhưng cũng là
loại không gian nằm ngoài không gian, vượt ra khỏi không gian
thường của người đời. Chúng ta tìm tới cái không gian
nằm ngoài không gian, thực tập tiếp xúc được với Tích
Môn (historical dimension.) Người tu phải tiếp xúc với Bản
Môn (utimate dimension.) ‘Cõi ngoài’ ở đây có nghĩa là phương
ngoại phương, một phương trời không có những chuyện lên-xuống,
ra-vào, ân-oán, tử-sinh, trong-ngoài, nhiều-một,... Sư chị
biết chỉ ở trong cái khung trời phương ngoại đó, sư chị
mới thật sự thoải mái mà thôi.
‘Chống
gậy rong chơi chừ phương ngoại phương’ là một câu thơ
của Tuệ Trung Thượng Sĩ; có nghĩa là: ta chống gậy đi chơi
ở trong khung trời phương ngoại chứ không đi chơi trong khung
trời của thế gian. Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh ruột của đại
tướng Trần Hưng Đạo, là một thiền sư rất nổi tiếng
của đời Trần. Trong khi Trần Hưng Đạo thành công về quân
sự thì Tuệ Trung Thượng Sĩ thành công về thiền tập. Ngài
có một thiền phong rất hùng vĩ. Khí văn, khí thơ và đạo
lực của Tuệ Trung tương đương với thiền sư Lâm Tế bên
Tàu. ‘Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương.’ Khung
trời phương ngoại là cái chúng ta có thể bước vào bất
cứ lúc nào chúng ta muốn. Đó là khung trời thỏai mái của
giải thoát, của niết bàn. Phải đi trong không gian của phương
ngoại thì mới thật sự có hạnh phúc. Còn nếu tu mà vẫn
đi ở phương nội thì chưa có hạnh phúc.
Giác
Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ
từ thoát đã dời chân cõi ngoài.
Rất
hay! Mà đâu có cần chữ nghĩa nhiều! ‘Tạ từ thót đã
dời chân cõi ngoài.’ Chỉ cần đưa tay nói ‘goodbye’ một
cái là tự nhiên từ cõi của sầu đau và tranh chấp ta đi
ngay được vào cõi của thênh thang, nhẹ nhàng, giải thoát.
Câu này là một câu chúng ta có thể viết treo ở thiền viện.
Tạ từ: thôi, không ăn thua nữa trong cuộc đời! Thoát đã
dời chân cõi ngoài: giải thoát có thể thực hiện được
trong một cái búng tay. Giã biệt tất cả những phiền não,
tranh chấp trong cuộc đời để được có tự do. Và chỉ
khi nào mình giải thoát tự do mình mới giúp được người
mà thôi.
Tháng
1974, trong khi làm việc cho hòa bình và gây quỹ giúp các cô
nhi ở Việt Nam, tôi có bài thơ Trời Phương Ngoại:
Người
đi trên đất mắt nhìn trời
Chim
liệng từng không mây trắng bay
Một
bàn tay đưa cho nắng ngọt
Một
bàn tay giữ con đường mây
Lá
xanh tháng tư mặt trời lọc
Đi
qua rừng cây mà không hay
Búp
tay hoa sen vừa hé mở
Vũ
trụ sáng nay đã ngất ngây
Trà
khuya bay khói thơ không chữ
Thơ
chở trà lên tận đỉnh mây
Núi
cao mưa lạnh vùng biên ải
Vi
vút sau đèo gió gọi cây
Đỉnh
tuyết trời quang bừng cảnh mộng
Giác
ngộ tung về đóa mãn khai,
Đất
xa mầu nhiệm thơm tình mẹ
Hoa
nở tràn gian ước kịp ngày.
Thương
bé bơ vơ mùa loạn lạc
Sen
vàng bướm gửi khắp trời Tây
Tờ
hoa nhạc hội bừng chiêng trống
Xóm
dưới thôn trên dán chặt đầy
Mắc
nối đưòng dây trăm xứ lạ
Ân
nghĩa bên trời mãi dựng xây
Ngục
thất ba trăm còn tuyệt thực
Mòn
chân du thuyết hết đêm ngày.159
Tháng
Tư đồng nội trăm hoa nở
Mong
ước ôm đầy hai cánh tay
Sắc
xuân rực rỡ trời phương ngoại
Thơ
hát yêu thương rộng tháng ngày
Gối
mộng mây xa về lối cũ
Ngược
dòng sông lạ đến tìm ai
TẨY
OAN VÀ GIẢI THOÁT
Nàng
từ ân oán rạch ròi,
Bể
oan dường đã vơi vơi cánh lòng.
Không
những đã không xót mà còn thấy khỏe trong người vì đã
trả thù được! ‘Ân oán rạch ròi’ là phải phân biệt
ai là bạn, ai là thù. Đó là đường lối chánh trị. Người
có tinh thần phe đảng nói: Ta phải phân biệt; người nào
nói và làm có lợi cho đường lối và chủ nghĩa ta thì ta
nhận làm bạn; những người mà tư tưởng, hành động hoặc
văn chương khộng có lợi cho chủ nghĩa ta, dù họ không nói
động tới ta, ta cũng liệt họ vào hàng kẻ thù. Nghĩa là
phải rõ ràng, rạch ròi ai là bạn, ai là thù. Trong khi đó
nhận thức của người tu học đạo Bụt là không có kẻ
thù. Tất cả đều là những người mà mình phải thương,
phải chuyển hóa, giúp đỡ. Thái độ đó, người có phe đảng
không chấp nhận được. Họ nói những ai không phân biệt
bạn-thù, không có lập trường, là họ không bao giờ chơi
với được. Lập trường của chúng ta là không có thù. Chỉ
có bạn thôi, bạn thân hoặc bạn chưa thân, và phải làm
cho tất cả mọi người đều thành bạn cả. Đó cũng là
một thứ lập trường, không thể nói là không phải lập
trường. Kẻ thù chúng ta không phải là con người; kẻ thù
chúng ta là tham, sân, si, mạn, nghi, kiến. Mà tham, sân, si,
mạn, nghi, kiến cũng không phải là kẻ thù ta, bởi đó là
rác mà chúng ta cần để chuyển thành hoa. Cái nhìn của đạo
Bụt là như vậy. Những người theo một chủ thuyết, một
ý thức hệ không thể đồng ý với chúng ta. Họ nói ân oán
phải rạch ròi, thù bạn phải phân minh. Thúy Kiều, cựu ni
cô Trạc Tuyền, cũng đang suy nghĩ theo kiểu đó. ‘Nàng từ
ân oán rạch ròi, Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.’
Những oan ức dường như đã nhẹ đi sau khi trả thù được.
Mà chưa chắc đã nhẹ; bởi vì Kiều vừa giết hoạc hành
hạ một số người. Giai đoạn này là một vết đen trong
đời Kiều. Kiều đã không có đợc con mắt của người tu
(chúng ta gọi là mắt thương, từ nhãn.) Không có con mắt
đó nên Kiều không thương được người đã làm mình đau
khổ. Kiều vẫn áp dụng đường lối pháp trị. Trước khi
từ biệt, sư chị đã không nói với em điều đó. Sư chị
muốn thoát ra khỏi một cách mau chóng, nói bye-bye càng sớm
càng tốt. Đó là một cái lỗi của sư chị. Đáng lý, sư
chị phải ngồi lại và nói: ‘Em đã giải quyết xong việc
ân oán rồi; bây giờ em không còn là em trong giới xuất gia
của chị nữa, nhưng chị có thể nói cho em như thế này...’
Sư chị đã không làm điều đó. Chúng ta phải học được
bài học này. Đừng hấp tấp như sư chị Giác Duyên. Muốn
cho khỏe, muốn thoát ra cho mau mà không làm tròn bổn phận
của một người thương. Sư chị nói: ‘Còn nhiều ân ái
với nhau.’ Nhưng ân ái đó là nghĩ tới chuyện tương lai
thôi. Còn nếu thực tập ân ái (thương) thì phải ngồi lại,
dạy cho em nói: cái điều mà em vừa làm, chị thấy không
xứng đáng với người đã học đạo từ bi. Đây có thể
là lần đầu tiên trong hai trăm mấy chục năm lịch sử truyện
Kiều chúng ta mổ xẻ chuyện này. Thương Kiều vì Kiều khổ,
nhưng chúng ta phải nhìn rõ để thấy những gốc rễ khổ
đau của Kiều. Không phải chỉ thương, chỉ tội nghiệp thôi
là đủ. Phải thấy được những lầm lỗi của Kiều để
chúng ta và các sư em của chúng ta đừng tiếp tục làm thêm
những lầm lỗi đó.
Nàng
từ ân oán rạch ròi,
Bể
oan dường đã vơi vơi cạnh lòng,
Tạ
ân lạy trước Từ công:
‘Chút
thân bồ liễu nào mong có rày!
Trộm
nhờ sấm sét ra tay,’
‘Tất
riêng như cất gánh đầy đổ đi!
‘Chạm
xương chép dạ xiết chi,
‘Dễ
đem gan óc đền nghì trời mây!’
Kiều
cảm ơn Từ Hải đã giúp mình làm được việc trả thù.
Không trả thù mà hay hơn. Chắc chắn là như vậy. Như có
cơ hội, bắt những người gây chuyện ác tới, nói cho họ
biết rằng họ ác độc và họ cần phải thay đổi. Bắt
học phải phục vụ cho những người đau khổ dưới quyền
kiểm soát của mình cũng có thể là một hình thái học hỏi
để giúp họ sáng mắt ra. Lấy công chuộc tội là việc các
nhà chính trị xưa đã làm. Thay vì giết, phạt, bỏ tù những
người có tội thì yêu cầu họ lo cho những cô nhi viện,
đắp cầu, làm đường và làm một số việc cụ thể để
chuộc lại lỗi lầm. Ngày xưa ở Việt Nam chuyện này đã
được thực hiện tương đối phổ biến. Các thầy có liên
hệ tốt với triều đình thường xin lãnh các tù phạm ra
để làm việc cho chùa, bảo đảm trong thời gian phục vụ
tại chùa họ sẽ không ăn trộm, giết người.. Trong vòng
mười, mười hai năm nếu họ chứng tỏ đã hoàn lương thì
nhà chùa xin cho họ được trở về đời sống bình thường,
cho họ ruộng, giúp họ làm nhà và cưới vợ. Ngày xưa các
chùa Việt Nam đã làm như vậy. Rất hay! Nàng Kiều, cựu sư
cô Trach Tuyền, đã không học được điều đó và đã trả
thù. Những oan ức ngày xưa như một gánh nặng đè lên làm
mình đau khổ, bây giờ trả thù được thì nhẹ đi. Đó là
suy nghĩ của người đời, không phải của người tu. Người
tu không làm nhẹ bằng cách đó. Làm cách đó không nhẹ được.
Những gánh nặng trong tâm mình (nội kết) phải được chuyển
hóa thì tâm mình mới thật sự nhẹ nhàng.
Từ
rằng: ‘Quốc sĩ160 xưa nay,
‘Chọn
người tri kỷ một ngày được chăng?
‘Anh
hùng tiếng đã gọi rằng,
‘Giữa
đường dẫu thấy đất bằng mà tha!
‘Huống
chi việc cũng việc nhà,
‘Lọ
là thâm tạ mới là tri ân.
Sau
khi được cảm ơn, Từ Hải nói ra những lời rất có tình
có nghĩa, rất hay. Từ còn nói thêm rất dễ thương:
‘Xót
nàng còn chút song thân,
‘Bấy
nay kẻ Việt người Tần cách xa.161
‘Sao
cho muôn dặm một nhà,
‘Cho
người thấy mặt là ta cam lòng.
‘Anh
còn muốn làm sao để em có thể đoàn tụ được với gia
đình nữa thì anh mới thỏa mãn.’ Điều này chứng tỏ Từ
Hải là người có khả năng hiểu. Vì vậy Từ có thể thương
Kiều được một cách sâu sắc. Từ biết Kiều muốn trả
ơn những người ơn của mình và có nhu yếu gặp lại cha
mẹ và các em. Ngày trước khi Kiều yêu cầu, Từ Hải đã
nói rõ: ‘Anh biết em muốn như vậy. Chừng nào anh chưa làm
được chuyện này thì chừng đó anh chưa thỏa mãn.’ Nói
như vậy làm cho người thương của mình được an ủi rất
nhiều. Thương là phải hiểu nhu yếu của người mình thương.
Vội
truyền sửa tiệc quân trung,
Muôn
binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan.
Tiệc
tẩy oan có mục đích gột rửa tất cả những niềm oan ức,
được bày ra trong quân ngũ. Ai cũng tham dự vào việc ăn mừng
đó. Đây là một chiến dịch tâm lý chiến rất hay. Nhân
cơ hội, tổ chức ăn tiệc phủ phê, gọi là ăn mừng việc
mình đã có thể thiết lập công bình xã hội va giải quyết
những oan ức trong đời mình; khiến mọi người đều thấy
rằng mình cũng đang được tẩy oan chứ không chỉ có riêng
Kiều. Một chiến dịch tâm lý trong khung cảnh quân sự. Anh
chàng này giỏi lắm!
Trong
đạo Bụt, chúng ta không dùng chữ ‘tẩy oan’ mà dùng chữ
‘giải oan’. Ngoài đời người ta tẩy oan bằng rượu. Trong
chùa, chúng ta biết rượu đã không những tẩy oan không được
mà còn gây thêm những oan ức khác. Uống rượu rất nguy hại.
Rượu gây oan ức cho lá gan của mình rất nhiều. Hơn nữa,
muốn làm một lít rượu thì phải có cả một thùng lúa nếp;
lấy một thùng lúa nếp để làm một chai rượu thì tội
nghiệp cho những người đói lắm! Người ta đói không có
gạo ăn mà mìn lại lấy gạo làm rượu! Tẩy oan như vậy
thì lại càng gây oan thêm. Phương pháp của người tu là giải
oan chứ không phải là tẩy oan. Giải là mở ra, không buộc
lại. Tẩy oan theo kiểu người đời thì lại cột thêm. Ví
dụ: giết những người đã làm cho mình khổ là tạo ra oan
hồn trong giới con cháu những người đó; họ sẽ tìm cách
trả thù. Không giải được oan mà lại kết oán. Sau này Từ
Hải và Thúy Kiều sẽ chết vì cái đó! Phương pháp là giải
(mở) chứ không phải là kết (buộc vào.)
Nhân
cơ hội binh sĩ đang nức lòng như vậy, Từ Hải tổ chức
những cuộc hành quân lớn. Đánh đâu thắng đó và thiết
lập một triều đình độc lập ở phương Nam:
Thừa
cơ trúc chẻ ngói tan,
Binh
uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều
đình riêng một góc trời,
Gồm
hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi
cơn gió quét mưa sa,
Huyện
thành đạp đổ năm tòa cõi Nam.
Phơng
trần mài một lưỡi gươm,
Những
phường giá áo túi cơm sá gì!162
Nghênh
ngang một cõi biên thùy,
Kém
gì cô quả kém gì bá vương!163
Trước
cờ ai dám tranh cường,
Năm
trăm hùng cứ một phương hải tần.
Đoạn
văn rất mạnh! Tuy là thơ lục bát nhưng hơi văn đi như gió
nói lên được khí thế của quân lực Từ Hải. Liên tiếp
thắng hết trận này đến khác như ‘trúc chẻ ngói tan.’
Quý vị đã từng chẻ tre chưa? Khi chẻ tre người ta đặt
cây tre nằm thế ngang, để mũi rựa giữa thân tre và dùng
dùi cui đánh vào cán rựa. Rựa đi vào thân tre làm thành những
đường nứt rất tự nhiên, ‘dễ như chẻ tre.’ ‘Ngói
tan’ cũng vậy; khi những viên gạch ở lớp dưới của mái
nói rớt ra, rơi xuống thì những lớp ngói phía trên tiếp
tục rơi, rơi cho đến hết mái ngói thì thôi. Chiến thắng
này dễ dẫn đến những chiến thắng khác. Thua một trận
rồi thì có thể thua những trận kế tiếp rất mau.
Trong
mấy ngày thôi quân binh của Từ Hải đã chiếm được năm
quận huyện thuộc vùng biển (hải tần) của nước Minh. Cố
nhiên vùng này có rất nhiều dân đánh cá. Nghe nói Từ Hải
cũng xuất thân từ giới anh chị của làng đánh cá. Từ thiết
lập một quốc gia độc lập trong suốt năm năm, quan quân
nhà Minh không làm gì nổi. Thúy Kiều, như vậy, được Từ
Hải che chở, sống với chức vị hoàng hậu trong năm năm.
Khổ thì khổ nhưng cũng có những giai đoạn được che chở
và có quyền hành. Tuy vậy, Từ Hải không gọi Kiều là hoàng
hậu mà luôn gọi là phu nhân; Kiều thì gọi Từ Hải là Đại
Vương. Họ không hành quân thêm, chỉ giữ vững vùng đất
này trong suốt năm năm. Trong năm năm đó cô nàng có hạnh
phúc hay không? Ta có thể tự trả lời được. Chúng ta không
nghe nói hai vợ chồng có giận nhau, có cãi nhau, có hóa giải
nội kết không, nhưng chắc chắc đó là năm năm tương đối
yên ổn của Thúy Kiều. Có những chi tiết cho ta biết Từ
Hải rất kính Thúy Kiều, biết nghe những lời khuyên nhủ
của Kiều và coi Kiều là một trong những cố vấn chính trị
quan trọng nhất của ông. Trong những cuộc luận đàm về
phương diện quân sự và chính trị với các tướng, dù là
đàn bà Kiều vẫn được tham dự. Tiếng nói của Kiều luôn
luôn là một tiếng nói rất quan trọng.
HẠNH
PHÚC LÀ TỰ DO
Trong
một quốc gia mà lại có một quốc gia tự trị, đó là một
cái gai lớn cho triều đình. Bao phen triều đình nhà Minh đã
đi tìm những phương pháp để dẹp đi sự nổi loạn đó
nhưng không thành công. Chính trị gia Hồ Tôn Hiến xuất hiện.
Vị tổng đốc có địa vị quan trọng trong triều đình này
được vua nhà Minh giao phó trách nhiệm dẹp trừ cái quốc
gia nhỏ bé này. Chấm dứt giai đoạn năm năm yên ổn của
Thúy Kiều. Đây là tai nạn lớn nhất, đưa Thúy Kiều đến
chỗ tận cùng đến chỗ tận cùng của đau khổ trong đời
cô và dẫn cô đến chổ phải tự tử. Chỉ khi nào chết
rồi mới có thể tái sanh được. Cố nhiên Thúy Kiều tự
tử không chết, cô sẽ được cứu. Nhưng trong kiếp người
thế nào chúng ta cũng phải chết một lần, và phải chết
thật thì chúng ta mới có thể sinh ra lại được với sự
an lạc. Cái đau khổ cùng cực mới đem lại sự tái sinh của
chúng ta. Mới đau khổ sơ sơ thì chưa nhằm nhò gì! Phải
đau khổ cho cùng cực. Và khi đụng tới cái đáy của khổ
đau, chết đi, sống lại thì mới thấy được niềm an lạc
chân thật nảy sinh ra. Ngôn ngữ này rất quen thuộc trong nhà
thiền. Nếu không chết, chỉ mới ngất ngư thôi, thì không
thể nào tái sinh được Phải chết trong tâm hồn, trong đau
khổ của mình. Luân hồi có chết thì giải thoát mới sinh
ra được.
Có
quan tổng đốc trọng thần,
Là
Hồ Tôn Hiến kinh luân164 gồm tài.
Đẩy
xe vâng chỉ đặc sai,165
Tiện
nghi bát tiễu việc ngoài đổng nhung.166
Biết
Từ là đấng anh hùng,
Biết
nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Thám
tử triều đinh làm việc rất giỏi. Họ biết Từ Hải không
phải là một tay anh chị Cầu Muối tầm thường. Từ là một
người có nhân cách, chí khí, có tư cách anh hùng. Không thể
dùng phương pháp dọa nạt và bạo lực mà có thể thành công.
Họ cũng biết Thúy Kiều được tham dự vào những buổi bàn
luận bí mật về quân sự và chính trị. Rất khó giải quyết
vấn đề nếu ta không biết rõ tình trạng và tâm lý những
người trong cuộc.
Hồ
Tôn Hiến lập ra chước chiêu an, gửi sứ giả sang kêu gọi
Từ Hải ra hàng và hứa sẽ phong cho chức tước lớn. Một
mặt khác họ chuẩn bị quà cáp riêng cho Kiều:
Đóng
quân làm chước chiêu an167
Ngọc
vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng.
Lại
riêng một lễ với nàng,
Hai
tên thế nữ ngọc vàng nghìn cân.
Theo
nguyên lục, ban đầu Hồ Tôn Hiến gửi một viên quan nhỏ
tên là Hoa Nhâm tới để dò hỏi. Từ Hải giận nói: ‘Ta
đang có thanh thế. Tuy không có mở mang bờ cõi dựng nước,
nhưng ai có thể cấm ta xưng Vương, xưng Đế, xưng Cô, xưng
Quả? Ngươi muốn ta về hàng để làm con chó, con trâu của
người khác sao?’ và tính đem Hoa Nhâm ra chém. Kiều can; Từ
nghe lời tha cho Hoa Nhâm. Tiếp đó, Hồ Tôn Hiến sai một viên
quan lớn hơn, tên La Trung Quân, đem lễ vật rất hậu tới.
Trong đó, có một trăm ngàn lạng bạc, ba ngàn lạng vàng,
gấm vóc, đan ngọc và hai người thế nữ gốc gác từ Kinh
đô (những cô thế nữ vùng ven biển không thể so sánh với
những phụ nữ từ Kinh đô) làm quà riêng cho phu nhân Vương
Thị (Vương Thúy Kiều.) Khi tiếp đón La Trung Quân, Từ Hải
không muốn nhận lễ, trái lại muốn đuổi về vì trong lòng
ông đã có niềm nghi:
Tin
vào gởi trước trung quân
Từ
công riêng hãy mười phân hồ đồ168
Một
tay gây dựng cơ đồ,
Bấy
lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!169
Bỏ
thân về với triều đình
Hàng
thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo
xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào
luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao
bằng riêng một biên thùy.
Sức
này đã dễ làm gì được nhau?
Chọc
trời quấy nước mặc dầu,
Dọc
ngang nào biết trên đầu có ai?
Nguyên
lục nói: Một người đã tự do quen rồi mà bị đưa về
câu thúc một chỗ thì rất khó chịu; không những lúng túng
khó chịu mà chức phận cũng không ra gì (nhiều lắm là chức
Tổng Binh). Mất hết cả tự do, nhân cách. Là quan võ thì
thế nào cũng bị các quan văn lấn ép, đàn hạch (chỉ trích,
kết tội). Sống như vậy khổ lắm nên Từ Hải nhất định
không hàng. Từ Hải rất tự tin vào khả năng của mình và
rất trân quý cái tự do của một chàng hiệp sĩ.
Vua
Minh Mạng rất mê truyện Kiều. Một hôm, trong khi tiếp các
quan, vua gọi thi sĩ Nguyễn Du (hồi đó đang làm quan dưới
triều Nguyễn) nói: ‘Khanh viết như vậy là không được!
‘Chọc trời quấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên
đầu có ai!’ viết như vậy là không có lễ phép gì với
trẫm cả! Trên đầu phải có vua chứ! Vì vậy ta phạt khanh.’
Vua bảo quân hầu mang rượu ra và phạt thi sĩ uống ba chén.
Ngày xưa người ta phạt nhau bằng rượu. Nhiều người ưa
‘được’ phạt lắm! Sau này khi thi sĩ uống ba chén rượu
rồi, vua lại bảo: ‘Nhưng mà hay! Phạt thì phạt nhưng thơ
rất hay! Vì vậy trẫm thưởng cho khanh.’ Và vua truyền quân
hầu mang ba tấm lụa tặng thi sĩ về may áo mặc cho ấm. Giai
thoại này được truyền tụng đến ngày nay. Vua Minh Mạng
cũng chịu chơi lắm!
Điều
chúng ta muốn nhắc ở đây là Từ Hải biết hạnh phúc của
mình nằm ở chỗ tự do nhưng vì lời nói của Kiều rất
‘mặn mà’ cho nên Từ không thấy được điều đó nữa
và chuyển sang một quan niệm khác về hạnh phúc; cái hạnh
phúc không tự do! Là những người tu hành, chúng ta nên suy
ngẫm. Chúng ta đi xuất gia để có tự do, Hạnh phúc của
chúng ta là có tự do. Tự do với độc lập đi chung. Có độc
lập, có tự do thì mới có hạnh phúc. Ta đừng nên quên điều
đó. Cạo đầu, mặc áo thầy tu, đi xuất gia là cũng như
Từ Hải, biết rằng hạnh phúc của mình hoàn toàn được
căn cứ trên sự tự do của mình. Đôi khi có những tiếng
mời gọi, những điều hấp dẫn, đôi khi thấy tự do lớn
quá, ta không sử dụng nổi tự do của ta, ta nói: ‘Thôi,
tự do mệt quá! Bây giờ tôi chỉ muốn làm nô lệ!’ Làm
nô lệ cho một người, làm nô lệ cho một gia đình… Điều
này có thật. Hạt giống của sự nô lệ có mặt trong tất
cả mọi người. Trên phương diện trí tuệ, chúng ta biết
tự do thênh thang là nền tảng của hạnh phúc. Nhưng đôi
khi, thấy tự do thênh thang, ta mệt quá, ta muốn làm nô lệ,
muốn chui vào hoàn cảnh nô lệ. Trong mỗi chúng ta đều có
anh chàng Từ Hải và cô nàng Thúy Kiều. Chúng ta phải cẩn
thận. Có bao nhiêu thầy và sư cô trẻ đang có tự do thênh
thang của người xuất gia: ‘Nhất bát thiên gia phạn, Cô
thân vạn lý du’ vậy mà tự nhiên đầu hàng, chui vào chỗ
mất tự do. Sau một vài năm thì mới thấy rõ mình đã đi
lún quá sâu trong con đường mất tự do. Lúc đó đã quá trễ
rồi! Một đã luân hồi thành bốn, thành năm, thành sáu rồi!
Làm sao có tự do được nữa! Trong khi đang còn là người
xuất gia, đang có sự tự do mà có người không thấy được
sự quý báu của tự do, không thấy được hạnh phúc của
chính mình! Ta nghĩ: ‘Ôi, hạnh phúc thay nếu ta được làm
nô lệ!’ Nô lệ cho một người, cho một nhóm người. Đó
không phải là chuyện của một ngày. Hạt giống nô lệ có
sẵn trong lòng mọi người. Có sẵn trong Từ Hải, có sẵn
trong Thúy Kiều. Vì vậy chúng ta phải lòng tự xét lòng: ta
phải biết. Chúng ta thường đứng núi này trông núi nọ mà
không thấy được những hạnh phúc và những mầu nhiệm của
giờ phút hiện tại.Ta cứ nghĩ đứng núi bên kia chắc sướng
hơn đứng núi bên này. Có một sư cô ra đời, cùng với người
kia sản xuất ra bốn trự. Một mà luân hồi thành sáu! Lúc
ấy mới thấy cuộc đời trầm luân, nặng nề quá cỡ! Đến
khi vượt biên họ viết thư cho tôi nói: ‘Thầy ơi! Chúng
con bây giờ là sáu đứa lận. Làm sao khi chúng con qua bên
đó Thầy cho chúng con đi xuất gia lại hết thảy sáu người!’
Sức mấy! Một người mà còn chưa nắm vững vận mệnh được,
bây giờ sáu người… rất khó! Đọc bài Phóng Cuồng Ca của
Tuệ Trung Thượng Sĩ chúng ta mối thấy tự do là cái quý
nhất trên đời. Tự do đó đưa chúng ta tới hạnh phúc chân
thật. Và khi chúng ta có hạnh phúc, chúng ta mới có thể ban
phát hạnh phúc cho những người khác. Còn nếu chúng ta không
có tự do, không có hạnh phúc thì chúng ta không làm hạnh
phúc được cho bất cứ một ai. Chúng ta chết chìm và kéo
những người khác chết chìm theo chúng ta.
LÝ
LUẬN CỦA TRÁI TIM
Và
bây giờ là suy nghĩ của Kiều:
Nàng
thì thật dạ tin người,
Lễ
nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Đây
là tâm lý của người đàn bà. Trong nguyên lục có những
chi tiết có thể làm sáng thêm hai câu thơ này: Hai cô thế
nữ rất khôn khéo, được huấn luyện rất kỹ để đóng
vai trò dẫn dụ. Về phương diện hình thức thì là hai cô
tỳ nữ với tất cả tài năng để phụng sự một vị đại
phu nhân; về nội dung họ là hai tay gián điệp của triều
đình. Ban đầu Từ Hải muốn trả về tất cả lễ vật rồi
đuổi sứ về. Thúy Kiều nói: ‘Người ta có lễ độ, có
lòng tốt, đem tới những tặng vật như vậy thì tại sao
mình lại từ chối?’ Từ nghe lời, nhận lễ. Chính sự chấp
nhận lễ vật đó mà phòng tuyến bị vỡ. Hai cô gián điệp
lọt được vào tư thất của Kiều, đem tất cả sự khôn
ngoan, miệng lưỡi của những người gián điệp để thuyết
phục Kiều: ‘Phu nhân là một người con có hiếu. Ai cũng
biết thành tích hiếu thảo của phu nhân, bán mình để chuộc
cha. Một người có hiếu lại có Trung là một người hoàn
hảo. Trung là trung thành với đất nước, triều đình. Các
vị thánh đế đã khai sáng đất nước này. Đất nước đang
hòa bình, lương dân đang sinh sống an ổn; vậy mà bây giờ
vì chiến tranh loạn lạc, đất nước phải chia hai, người
dân chết trong năm năm qua đã nhiều. Nếu phu nhân chấp nhận
khuyên Đại Vương ra hàng là Trung với đất nước, là giải
phóng cho lương dân khỏi nạn đao binh. Đại Vương sẽ được
phong quan tước, còn phu nhân thì sẽ có cơ hội về đoàn
tụ gia đình.’ Đoàn tụ với cha mẹ và hai em là một ao
ước thâm sâu của Thúy Kiều. Mười lăm năm lưu lạc mà
bây giờ lại có một cơ hội đoàn tụ gia đình. Bỏ qua thì
uổng! Hai cô gián điệp đã động tới được ước muốn
sâu sắc nhất trong lòng Kiều. Hai cô còn nói: ‘Khi công việc
thành rồi thì quan Tổng Đốc sẽ dâng biểu xin vua ban hiệu
Trung Hiếu Khả Phong cho phu nhân vì phu nhân đã cứu cho bao
nhiêu sinh linh khỏi chết. Nếu phu nhân về thăm gia đình với
danh hiệu đó thì chắc chắn gia đình sẽ hạnh phúc lắm!’
Hai cô nói rất khéo! Khiến cho Kiều hoàn toàn chấp nhận.
Ta
nên biết rằng ta vốn có trí tuệ và khả năng xét đoán.
Nhưng một khi ta đã để cho cái ước muốn trong lòng ta thắng
rồi thì ta sẽ dùng mọi cách để lý luận theo ước muốn
đó. Đôi khi lý luận rất hay, nghe xuôi tai hợp lý giống
như ta đã tìm ra con đường của trí tuệ rồi nhưng kỳ thực,
tất cả những lý luận đó đều vâng theo một ước muốn
sâu sắc ở trong lòng. Khi ta đã ước muốn cái đó, nghĩ
rằng ta chỉ có thể sung sướng thật sự khi đi theo con đường
đó thì tất cả những lý luận của chúng ta sẽ được dùng
để phục vụ cho ước muốn đó. Có vẻ như ta vừa có tình,
vừa có trí nhưng kỳ thực chính là cái tình, cái ước muốn
ở trong ta đóng vai trò chủ động. Lý luận của chúng ta
đang làm vai trò biện hộ mà thôi. Chúng ta lý luận ngàn cách
để chứng tỏ rằng lý luận của chúng ta là đúng. Lý luận
đó không còn khách quan nữa. Đây là điều mà hầu hết chúng
ta đều mắc phải. Khi tâm ta đã hướng về một hướng nào
đó rồi ta quên hết mọi chuyện ở hướng đối diện. Đã
muốn rồi thì lý luận đủ cách. Nghĩ rằng mình đã có trí
tuệ, kỳ thật mình mất trí tuệ. Mầm mống của sự thất
bại không phát sinh từ Từ Hải mà phát sinh từ Thúy Kiều.
Thúy Kiều rất quan trọng với Từ Hải, hai người là một,
cho nên một khi mầm mống ấy đã chiếm cứ được Thúy Kiều
rồi thì nó lang sang Từ Hải rất dễ dàng. Cụ Nguyễn Du
nói rằng Kiều ‘thật dạ, tin người’, bị lễ vật làm
tối mắt và những lời nói ngon ngọt chinh phục. Nhưng cụ
chưa thấy rằng ước muốn rất chính đáng của Thúy Kiều
là được đoàn tụ với gia đình chính là động cơ thúc
đẩy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng. Trong chúng ta cso biết bao
nhiêu người xa quê, lưu đày. Chúng ta có hạt giống mong ước
trở về quê hương, đoàn tụ với cha mẹ, con cái, thấy được
mồ mả của tổ tiên… Ai cũng có hạt giống đó. Thúy Kiều
ngày xưa cũng vậy. Chúng ta hãy cẩn thận. Trong Từ Hải có
trí tuệ nhưng cũng có tình cảm. phần tình cảm đã bị trấn
ngự bởi Thúy Kiều. Ta nên biết phần tình cảm nhiều khi
mạnh hơn phần trí tuệ rất nhiều. Những suy nghĩ, phản
ứng của Từ Hải ban đầu rất rõ ràng, minh bạch nhưng vì
ảnh hưởng của Thúy Kiều mà những đám mây đen bắt đầu
giăng phủ. Từ Hải bắt đầu không thấy được sự thật
một cách rõ ràng và khách quan nữa.
Kiều
tự dùng những lý luận của trí tuệ để che lấp cái ước
muốn sâu sắc của mình: ‘Bây giờ ta phải đi con đường
của chánh đạo. Ta đã là con gái Hiếu. Bây giờ ta cũng muốn
trung nữa (vì theo đạo lý Khổng Mạnh phải vừa Hiếu vừa
là Trung thì mới là một con người toàn vẹn.) Hơn nữa, đây
là con đường bất bạo động. Tôn trọng sự sống của sinh
dân. Chấm dứt chiến tranh. Đi theo con đường này thì không
những ta hạnh phúc mà bao nhiêu dân chúng trong nước cũng
được hạnh phúc. Không còn cảnh nhà tan, cửa nát.’ Lý
luận rất đúng, rất hoàn hảo. Nhưng dầu sao đó cũng là
lý luận phát sinh từ ước muốn của cô là được đoàn
tụ gia đình. Đó không phải là một ước muốn bậy. Chúng
ta không lên án ước muốn đó. Chúng ta chỉ nhìn kỹ để
thấy rằng tất cả những lý luận coi như tuyệt hảo đó
phát xuất từ một ước muốn mà thôi. Ta chỉ cần thấy
điều đó. Và ta cũng sẽ thấy được những tai họa và hiểm
nguy đang chờ ta. Có những trường hợp ước muốn thúc đẩy
không được chính đáng. Nếu là người khôn khéo, chúng ta
tìm những lý luận tuyệt vời, đến các luật sư cũng đều
phải bó tay, chấp nhận lý luận của chúng ta; vì đó là
lý luận của trái tim: ‘Le coeur a ses raisons que le raison ignore!’
Nàng
thì thật dạ tin người,
Lễ
nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ
mình mặt nước cánh bèo,
Đã
nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bằng
nay chịu tiếng vương thần,
Thênh
thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
Công
tư vẹn cả hai bề,
Dần
dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng
ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở
nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Trên
vì nước dưới vì nhà,
Một
là đắc hiếu hai là đắc trung.
Chẳng
hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè
sóng vỗ hãi hùng nước sa.
Đó
là giấc mơ mà Kiều muốn thực hiện. Bây giờ Kiều đem
lý luận ra để chinh phục Từ Hải:
Nhân
khi bàn bạc gần xa,
Thừa
cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Kiều
hỏi: ‘Đại Vương nghĩ sao? ‘Từ Hải nói: ‘Không hàng
thì có ba điều lợi. Một là muốn hành quân, đánh phá đâu
cũng được, không có ai ngăn cản mình. Hai là muốn có thêm
ngân quỹ, vàng bạc, lụa là gì cũng được dễ dàng. Ba là
nếu thắng trận thì mình có khả năng tiến tới, không tiến
được thì đóng binh rút về căn cứ, mình ở trong tư thế
chủ động. Đó là ba điều thuận lợi của lập trường
không hàng. Nếu hàng thì có năm điều hại. Thứ nhất là
nhận sắc phong của vua, nếu quan hơi có lỗi lầm một chút
thì bị vua trừng phạt. Thứ hai là sẽ bị các quan, nhất
là phía quan văn, sai khiến, đàn hạch. Thứ ba là mình có
thể sẽ bị dời đi nơi khác, bị cô lập hóa; khi đó thế
mạnh nằm trong tay triều đình, mình có thể bị bắt giết
bất cứ lúc nào. Thứ tư là một khi mình không nắm quyền
bính trong tay thì chỉ cần được một vị quan văn sai khiến,
bất cứ một tên lực sĩ nào cũng có thể nữa đêm tới
gõ cửa nhà là bắt mình được mình. Thứ năm là dân chúng
trong vùng biển này thế nào thế nào cũng có người khổ
vì chiến tranh do mình gây ra, thừa lúc mình không có thế
lực và binh quyền sẽ tìm cách trả thù báo oán. Đó là năm
điều hại.’ Từ Hải lý luận khá rõ ràng. Nhưng Kiều đã
bị ước muốn kia trấn ngự nên lý luận rất hay (theo nguyên
lục); ‘Nếu mình nhận sắc phong của vua mà không tiếp
nhận một chức quan thì làm sao có thể phạm lỗi được?
Thứ hai là nếu nhận chức quan có tính cách chức vị (nominal),
ngồi chơi xơi nước thôi, không chịu sự sai khiến thì làm
sao đàn hạch, hỏi tội được? Thứ ba là nếu hàng nhưng
ra điều kiện là vẫn được ở chỗ hiểm yếu của mình,
không bị dời căn cứ, không phải đi vào chầu trong triều
thì làm sao lính vua có thể bắt được mình? Thứ tư mình
có thể chấp nhận không gây chiến tranh, quy thuận triều
đình, theo lệnh của vua nhưng vẫn giữ quyền bính của mình.
Mình án binh bất động nhưng thế mạnh vẫn thuộc về mình.
Thứ năm là mình vẫn có quyền bính, không chống triều đình,
những kẻ sĩ dân trong vùng có trả thù muốn báo cũng không
làm gì được. Hàng không những không có năm điều hại mà
có năm điều lợi.’ Rất có biện tài. – Và hơn nữa là
vợ của Từ, (điều này cô ta không nói), sẽ có thể được
về thăm gia đình với bảng hiệu ‘Trung Hiếu Khả Phong’,
cờ lọng đầy đủ! Đó là giấc mơ của Thúy Kiều. - Từ
Hải nghe lọt tai.
Nhân
khi bàn bạc gần xa,
Thừa
cơ nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng:
‘Ơn thánh đế dồi dào,
‘Tưới
ra đã khắp thắm vào đã sâu.
‘Bình
thành170 công đức bấy lâu,
‘Ai
ai cũng đội trên đầu xiết bao.
Ca
ngợi công đức lập quốc của nhà Minh.
Ngẫm
từ dấy việc binh đao,
‘Đống
xương Vô Định đã cao bằng đầu.117
‘Làm
chi để tiếng về sau,
‘Nghìn
năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
‘Sao
bằng lộc trọng quyền cao,
‘Công
danh ai dứt lối nào cho qua?’
- ‘Chúng
ta đã giết hại sinh linh nhiều rồi! Và trên nguyên tắc:
‘Được làm vua, thua làm giặc’, nếu Đại Vương chiếm
hết được cả nước thì Đại Vương mới làm vua, còn chiếm
một phần của nước thì đến khi chết người ta vẫn gọi
mình là giặc, như Hoàng Sào. Chi bằng ta tiếp nhận chức
tước của triều đình. Công danh của chúng ta mấy ai có thể
qua mặt được?’ - Đứng về phương diện Nhân, Nghĩa, Hạnh
Phúc, tất cả lý luận của Thúy Kiều đều tuyệt hảo cả.
Chỉ có một điều ta cần nhớ là tất cả những lý luận
đó đều đến từ ước muốn của cô nàng chứ không phải
từ nhận thức khách quan.
Từ
Hải đã biết rõ hạnh phúc của mình nằm ở chỗ tự do,
rằng: ‘Bỏ thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo
phận mình ra đâu! Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra
cúi công hầu mà chi!’ Vậy mà:
Nghe
lời nàng nói mặn mà,
Thế
công Từ mơi trở ra thế hàng.172
Nghe
lời Kiều thì quên hết!
Chỉnh
nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn
kỳ thúc giáp quyết đường giải binh.173
Trong
nguyên lục không nói chuyện giải binh mà nói hàng với điều
kiện không giải binh. Khi Hồ Tôn Hiến gửi một vị phụ
tá có tài ngoại giao lớn tên là Lợi Triện sang thương thuyết
nữa, Từ Hải nói: ‘Nếu tôi hàng thì quý vị cho tôi chức
Tổng Binh là cùng chức gì! Chức tước trong triều nhiều
lắm là lên tới nhị phẩm. Các quan văn trong triều sẽ coi
tôi ra gì đâu! Tôi là dân nhà binh, tự do quen rồi, làm sao
nép phục dưới mấy ông đó!’ Lợi Triện đáp: ‘Một khi
Đại Vương quy thuận triều đình thì sẽ được phong tước
Hầu. Hai là được trấn tại đây, không bị đổi đi nơi
khác. Ba là không giải binh, không buông quyền bính, được
dùng quân trong vùng này.’ Lợi Triện hứa: ‘Ba điều kiện
đó chắc chắn được chấp nhận!’ và về báo cáo lại
với Hồ Tôn Hiến. Hồ Tôn Hiến nói: ‘Như vậy thì nên
tổ chức uống máu ăn thề với Từ Hải rồi quyết định
ngày giờ thực hiện việc quay về với triều đình ngay tại
đại bản doanh của Từ Hải (không bắt Từ Hải ra khỏi
vùng của mình.)’ Người thân tín của Hồ Tôn Hiến là quan
Lợi Triện cùng Từ Hải lập bàn thờ uống máu ăn thề,
hứa sẽ thi hành hiệp ước đó, làm không đúng lời sẽ
bị trời tru đất diệt. (Ngày xưa chuyện thề thốt quan trọng
lắm!)
BẤT
Ý THƯA CƠ
Tin
lời thành hạ yêu minh,174
Ngọn
cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng
Sau
khi Lợi Triện và Từ Hải đã uống máu ăn thề, định ngày
chính thức ra hàng rồi, Từ Hải thấy viễn tượng tương
lai của mình là được phong tước Hầu, nắm giữ binh quyền
và được triều đình chấp nhận. Tất cả những chàng lính
trong quân đội Từ Hải đều thấy viễn tượng được về
thăm gia đình. Ý chí chiến đấu không còn. Tác giả dùng
tám chữ: ‘Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng.’ Rất
hay! Chỉ cần tám chữ là thấy được tình trạng bê hối
của quân ngũ Từ H