THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
THẢ MỘT BÈ LAU
Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán
Nhất Hạnh
Lá Bối Xuất Bản 2000
BÈO DẠT MÂY TRÔI 

SAO CHO CỐT NHỤC VẸN TOÀN 

Sau khi Kim Trọng đi rồi:

Nàng còn đứng tựa hiên tây,

Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.

Trông chừng ngói ngất song thưa,

Hoa trôi giạt thắm liễu xơ xác vàng.
 
 

Người đi cũng khổ mà người ở lại cũng khổ. ‘Hoa trôi giạt thắm liễu xơ xác vàng’ là cảnh vật xung quanh mà cũng chính là tâm trạng của Thúy Kiều.
 
 

Tần ngần dạo gót lầu trang,

Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về.
 
 

Gia đình Thúy Kiều vừa đi sinh nhật bên ngoại về. Tai nạn ập tới:
 
 

Hàn huyên chưa kịp giã giề,

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao:57

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

Già giang một lão một trai,58

Một dây vô loại buộc hai thâm tình.
 
 

Cha và em trai Kiều bị đóng gông và trói chung lại với nhau. Những người đàn bà được để tự do, vì trong xã hội ngày xưa, đàn ông chịu hết trách nhiệm về tất cả mọi chuyện xảy ra.
 
 

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,

Rụng rơi khung dệt tan tành gói may.

Đồ tế nhuyễn của riêng tây,

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
 
 

Lấy cố tìm tang vật chứng cớ để cướp của. Cụ Nguyễn Du gọi loại sai nha này là ruồi xanh.
 
 

Điều đâu bay buộc ai làm,

Này ai đang giậm giật giàm bỗng dưng?59

Hỏi ra mới biết rằng:

Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
 
 

Thấy thằng bán tơ và bạn của nó có vẻ dễ thương nên ông hàng xóm nhà họ Vương cho ở lại giúp việc. Ông không biết bọn này đã từng làm ăn cướp. Chính viên ngoại, cha của Thúy Kiều, cũng đã từng ngồi uống rượu với thằng bán tơ, tưởng nó là người lương thiện. Cảnh sát tìm ra bọn cướp và họ khai cho gia đình Kiều. Bây giờ sai nha lấy cớ đi bắt người để vào ăn cướp nhà Vương viên ngoại. Cảnh này thường xảy ra ở miền quê, nếu không có thế lực thì không thể nào tránh khỏi. Tai nạn xảy ra cho gia đình Kiều chứng tỏ sự tham nhũng trong xã hội thời đó.
 
 

Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,

Tiếng oan dậy đất án ngờ lòa mây.

Hạ từ van lạy suốt ngày,

Điếc tai lân tuất phũ tay tồi tàn.
 
 

Mặc cho ba người đàn bà lạy lên lạy xuống kêu oan, bọn sai nha vẫn làm ngơ, đánh đập Vương viên ngoại và Vương Quan tàn nhẫn. Tai lân tuất là tai xót thương, những người đến bắt bớ, vơ vét nhà Kiều cũng có lỗ tai này nhưng họ đóng chặt làm như điếc. Khác với sự thực tập: ‘Con xin tập lắng nghe bằng lỗ tai xót thương; của chúng ta.
 
 

Rường cao rút ngược dây oan,

Dẫu là đá cũng nát gan lọ người!

Mặt trông đau đớn rụng rời,

Oan này còn một kêu trời nhưng xa!

Một ngày lạ thói sai nha,

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
 
 

Vì lòng tham mà họ hành hạ người ta như vậy. Kiều không thấy một giải pháp nào để cứu cha và em ngaòi giải pháp hối lộ. Bởi vì họ: ‘làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.’ Phải có tiền thì họ mới chịu tha. Thúy Kiều đi tới một quyết định lớn, thay đổi hoàn toàn cuộc đời mình và đồng thời phải phụ bạc người yêu.
 
 

Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,

Trong khi ngộ biến tùng quyền biết sao?

Duyên hội ngộ đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?
 
 

Duyên hội ngộ là mối tình với Kim Trọng. Đức cù lao là ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ. Trong lòng Kiều có một sự xâu xé lớn. Muốn giữ vẹn lời thề với người yêu thì phải để cho cha mẹ đau khổ; còn nếu bán mình chuộc cha thì phải phụ tình người yêu mà mình vừa mới thề thốt cách đây có mấy giờ đồng hồ.
 
 

Để lời thệ hải minh sơn,

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

Quyết tình nàng mới hạ tình:

‘Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!’
 
 

Kiều quyết định bán mình chuộc cha. Từ đây cuộc đời Thúy Kiều đi rẽ sang một hướng khác.
 
 

Họ Chung có kẻ lại già

Cũng trong nha dịc lại là từ tâm

Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,

Vì nàng nghỉ60 cũng thương tình xót vay.

Tính bài lót đó luồn đây,

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.

Hãy về tạm phó giam ngoài,

Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày.

Thương lòng con trẻ thơ ngây,

Gặp cơn vạ gió tay bay bất kỳ!

Đau lòng tử biệt sinh ly,

Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên?

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.61
 
 
 

HOA DÙ RÃ CÁNH LÁ CÒN XANH CÂY
 
 

Sự lòng ngỏ với băng nhân,

Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
 
 

Tin Thúy Kiều bán mình chuộc cha được mối lái truyền đi.
 
 

Gần miền có một mụ nào

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.

Hỏi tên rằng: ‘Mã Giám Sinh.’

Hỏi quê rằng: ‘Huyện Lâm-thanh cũng gần.

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.

Trước thầy sau tớ lao xao,

Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,

Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra
 
 

Đó là Mã Giám Sinh.
 
 

Tả Kim Trọng thì cụ Nguyễn Du viết:
 
 

Hài vân lần bước dặm xanh,

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
 
 

Tả Mã Giám Sinh thì cụ viết:
 
 

Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.
 
 

Có sự khinh nhờn ở trong ấy.

Anh chàng đến rất ồn ào: ‘Trước Thầy sau tớ lao xao.’ Không chăm sóc chánh niệm và uy nghi gì cả. vào trong nhà rồi thì: ‘Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,’ và ‘Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.’ Thái độ của kẻ có tiền, đi mua vợ.
 
 

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.

Ngại ngùng dín gió e sương,

Nhìn hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.
 
 

Đó là Thúy Kiều khi được trình bày ra như một vật để buôn bán. Người ta tới xem con heo, con bò như thế nào thì tới xem Thúy Kiều cũng vậy. Không có nhân phẩm của con người nữa.
 
 

Mối càng vén tóc bắt tay,

Nét buồn như cúc điệu gầy như ma

Đắn đo cân sắc cân tài,

Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ
 
 

Càng phô bày được tài sắc của mình chừng nào thì người ta càng trả nhiều tiền chừng đó. Kiều phải làm tất cả những điều bà mối bảo làm, như một cái máy.
 
 

Mặn nồng một vẻ một ưa,

Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.

Rằng: ‘Mua ngọc đến Lam-kiều,

‘Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?’

Mối rằng: ‘Đáng giá nghìn vàng,

‘Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!’
 
 

Khi đọc tới đây ai cũng thấy tức trong lòng. Nhục nhã, ê chề, mất hết nhân phẩm của một cô gái! Thúy Kiều quý quá, thanh tao, tinh khiết bao nhiêu đối với Kim Trọng thì lại càng như một món hàng không có giá trị gì cả đối với Mã Giám Sinh. Đây là điều sĩ nhục đầu tiên của Thúy Kiều. ‘Đã đày vào kiếp phong trần, Sao cho sĩ nhục một lần mới thôi!’ Nhưng Thúy Kiều không phải chỉ bị sỉ nhục một lần! Cô sẽ bi sỉ nhục hàng chục lần trong đời mình.
 
 

Cò kè bớt một thêm hai,

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Một lời thuyền đã êm giầm,

Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.

Định ngày nạp thái vu quy,

Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong!

Một lời cậy với Chung công,

Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.
 
 

Sau khi đã ngã giá (trên bốn trăm lượng vàng), công việc bắt đầu xuôi. Hai bên đưa thiếp cho nhau, trên hình thức là so tuổi bên trai và bên gái nhưng kỳ thực đây là một loại giao kèo. Cố nhiên là phải chồng tiền. Kiều nhờ ông họ Chung dùng số tiền này để lo lót, lãnh Vương ông về. Đây là những lời than khóc của người cha:
 
 

Thương tình con trẻ cha già,

Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu:

‘Nuôi con những ước về sau,

‘Trao tơ phải lứa gieo cầu đáng nơi.

‘Trời làm chi cực bấy trời!

‘Này ai vu thác cho người hợp tan.

‘Búa rìu bao quản thân tàn,

‘Nỡ đày đọa trẻ càng oan khốc già.

‘Một lần sau trước cũng là:

‘Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau!’

Theo lời càng chảy dòng châu,

Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi.
 
 

Người cha muốn gieo đầu vào tường tự tử để khỏi trông thấy cảnh con gái bị gả bán như vậy. Người nhà giữ ông lại khuyên giải:
 
 

Vội vàng kẻ giữ người coi,

‘Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:

‘Vẻ chi một mảnh hồng nhan,

‘Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.

‘Dâng thơ đã thẹn nàng Oanh62

‘Lại thua ả Lý bán mình hay sao?63

‘Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,

‘Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.

‘Lượng trên liều một thân con,

‘Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.

‘Phận sao đành vậy cũng vầy,

‘Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

‘Cũng đừng tính quẩn lo quanh,

‘Tan nhà là một thiệt mình là hai.!
 
 

- ‘Con chỉ là một đứa con gái thôi. Chưa làm được chút gì để đền ơn sinh thành của cha mẹ. Cha ngày một lớn tuổi mà phải gánh vác cho cả gia đình. Có cha đó thì mọi người đều đứng vững. Nếu cha không chịu dứt khoát để con bán mình mà cứ liều thân thì cơn mưa gió này sẽ làm tan nát hết cả gia đình. Thà một mình con chịu, hoa có tàn nhưng trên cây lá vẫn còn xanh, mẹ và các em con vẫn được an toàn. Cứ nói như ngày xưa cha mẹ sinh ra nuôi không được, chết từ nhỏ, cho đỡ khổ. Nếu cha cứ nghĩ quanh quẩn thì nhà mình sẽ tan nát mà thân cha sẽ thiệt thòi.’
 
 

Phải lời ông cũng êm tai,

Nhìn nhau giọt ngắn giọt dài ngổn ngang.
 
 

Người cha nghe nói phải chấp nhận sự thật. Biết liều mình thì cả vợ lẫn con đều tan nát hết cho nên ông phải cố gắng.
 
 

Mái ngoài họ Mã vừa sang,

Tờ hoa đã ký cân vàng mới trao.

Trăng già độc địa làm sao?

Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên!

Họ Chung ra sức giúp vì,

Lễ tâm đã đặt tụng kỳ cũng xong.
 
 

Lễ tâm là tiền của đặt trên mâm khi tới quan. Lễ nhỏ thì vài bình trà, một chai rượu. Lễ này thì phải có ba trăm lượng vàng. Những câu này tố cáo sự tham nhũng của xã hội thời bấy giờ. Truyện Kiều không chỉ nói tới những sự thực tâm lý, tình cảm mà còn nói về sự thực của xã hội.
 
 
 

CẬY EM, EM CÓ CHỊU LỜI
 
 

Trong vài ngày, gia đình Kiều đã phải đi qua những cơn lốc lớn. Bây giờ đã đến lúc cụ Nguyễn Du tả tâm trạng Thúy Kiều. Khi quyết định bán mình chuộc cha, trình bày tài năng, sắc đẹp của mình cho người ta mua, rồi can ngăn cha già đừng tự tử, Kiều đã xử sự một cách rất xuất sắc với tư cách của người chị cả. Trong suốt thời gian đó, những đau khổ của Kiều không được nói tới. Khi công việc đã xong, mọi người đã đi ngủ thì Kiều còn thức và quay lại cuốn phim đau khổ trong lòng mình:
 
 

Việc nhà đã tạm thong dong,

Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.64

Một mình nàng ngọn đèn khuya,

Áo dầm giọt lệ tóc se mái sầu:

‘Phận dầu dầu vậy cũng dầu

‘Xót lòng đeo đẳng bây lâu một lời!

‘Công trình kể xiết mấy mươi,

‘Vì ta khắn khít cho người dở dang.
 
 

Đây là nỗi đau khổ đầu của Thúy Kiều. ‘Nếu mình chưa hứa hẹn gì hết thì đã đỡ cho chàng Kim biết mấy. Vì mình đã hứa hẹn đã thề bồi nên bây giờ chàng Kim phải dở dang.’ Kiều không nghĩ tới sự đau khổ của mình mà chỉ nghĩ đến sự đau khổ của người yêu.
 
 

Thề hoa chưa ráo chén vàng,

‘Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa!

‘Trời Liêu non nước bao xa

‘Nghĩ đâu rẽ cửa tan nhà tự tôi!
 
 

- ‘Ở Liêu Dương giờ đây anh có biết người chịu trách nhiệm làm chia rẽ, tan nát cuộc nhân duyên của hai ta là em không?’ Đây là luân lý Á Đông, khi hai bên đã chấp nhận, thề thốt rồi thì coi như hai người thuộc về nhau. Coi như đã có gia đình rồi, đã có nhà có cửa rồi. Cái nhà cái cửa đó nằm trong lòng mình.
 
 

‘Biết bao duyên nợ thề bồi,

‘Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?

‘Tái sinh chưa dứt hương thề,

‘Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
 
 

- ‘Chuyện thề bồi kiếp này coi như không thực hiện được. Dù đến kiếp sau em cũng sẽ không quên được lời thề nguyền ở kiếp này. Sẽ xin làm con trâu, con ngựa kéo cày, chở đồ cho chàng để đền bù cái nợ mắc chàng trong kiếp này.’ Câu này có mang ảnh hưởng thuyết Luân Hồi của Phật giáo.
 
 

‘Nợ tình chưa trả cho ai,

‘Khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan!’
 
 

Tình là một cái nợ. Chưa trả thì vẫn mắc. Khối nợ sẽ không tiêu mà phải đem theo xuống âm phủ. Như chuyện chàng Trương Chi. Đem chôn, da thịt nát hết rồi mà nội kết vẫn còn một khối.
 
 

Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.
 
 

Cứ suy nghĩ quanh quẩn, băn khoan lo lắng (bàn hoàn). Lưu luyến quấn quít, không buông tư tưởng đó ra được. Chong đèn khóc cả đêm.
 
 

Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han.
 
 

Cô Thúy Vân này vô tâm lắm! Chị bán mình, sắp đi xa. Cô làm việc cả ngày nên mệt ngủ như chết. Chị khóc nức nở quá thành ra cô cũng phải thức dậy. Đây là bốn câu của cô em gái:
 
 

‘Cơ trời dâu bể đa đoan,

‘Một nhà để chị riêng oan một mình.

‘Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh

‘Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?’
 
 

Cô nàng đã đoán ra được có cái gì ẩn giấu bên trong. Thúy Kiều òa ra khóc, nói sự thật cho Thúy Vân:
 
 

Rằng: ‘Lòng đương thổn thức đầy,

‘Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

‘Hở môi ra cũng thẹn thùng,

‘Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!
 
 

Nói ra thì mắc cở. Chuyện này là chuyện rất thiêng liêng trong trái tim. Bị buộc phải nói cho người thứ hai nghe thì rất khó chịu. Mà không nói thì rhành ra phụ bạc.
 
 

‘Cậy em em có chịu lời,

‘Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

‘Giữa đường đứt gánh tương tư,

‘Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
 
 

Keo loan (loan giao) là một thứ keo để nối dây cung lại. Người ta dùng diển tích này để nói tình xưa nghĩa cũ đã gián đoạn mà còn nối lại được. Mối tình của Thúy Kiều và Kim Trọng đã tan rồi, nhưng vẫn có cơ hội để gắn lại nếu Thúy Vân chấp nhận thay thế cho Kiều.
 
 

‘Kể từ khi gặp chàng Kim,

‘Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

‘Sự đâu sóng gió bất kỳ,

‘Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài.

‘Xót tình máu mủ thay lời nước non.

‘Chị dầu thịt nát xương mòn,

‘Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây. 
 
 

Kiều nói hết sự thật cho em gái và nhờ em thay mình làm hạnh phúc cho chàng Kim. Được như vậy thì dù phải chết, Kiều cũng có hạnh phúc. Đó là yêu cầu của Thúy Kiều. Tôi có một câu hỏi đặt ra trong đầu là: Chàng Kim có chịu không? - Kiều đưa những kỷ vật của hai người cho Thúy Vân và tưởng tượng ra cảnh Kim Trọng và Thúy Vân sum họp sau này:
 
 

‘Chiếc thoa với bức tờ mây,

‘Duyên này thì giữ vật này của chung.

‘ Dù em nên vợ nên chồng,

‘Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

‘Mất người còn chút của tin,

‘Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

‘Mai sau dù có bao giờ,

‘Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

‘Trông ra ngọn cỏ lá cây,

‘Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
 
 
 
 

Tâm hồn Kiều là một tâm hồn hết sức nhạy cảm. Lời nói của cô cũng vậy.
 
 

‘Hồn còn mang nặng lời thề,

‘Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.65

‘Dạ đài66 cách mặt khuất lời,

‘Rảy xin chén nước cho người thác oan.
 
 

- ‘Khi đó chị đã chết rồi. Xin em rảy cho vài giọt nước để linh hồn chị được mát mẻ (giống như cam lồ tịnh thủy của đức Bồ Tát Quan Thế Âm.). Những câu thơ này cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm trong tư tưởng và văn chương Việt Nam. Sau khi đã nói hết những điều phải dặn dò, Thúy Kiều khóc. Trách nhiệm đã làm xong rồi. Bây giờ chỉ khóc cho số phận mình thôi:
 
 

‘Bây giờ trâm gãy gương tan,

‘Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

‘Trăm nghìn gởi lạy tình quân,

‘Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi. (12 tiếng đồng hồ.)

‘Phận sao phận bạc như vôi,

‘Đã đành nước chảy hoa trôi lở làng.

‘Ôi Kim Lang! Hởi Kim Lang!

‘Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!’
 
 

 Đó là chỗ đau khổ nhất trong lòng Thúy Kiều. Đau khổ nhất không phải là phải bán mình và đi lưu lạc; đau khổ nhất là phải phụ bạc người tình của mình.
 
 

Xét về phương diện tâm lý, đoạn thơ này rất hay. Kiều có một khả năng tưởng tượng rất lớn. Cô tưởng ra cảnh em gái thay mình thành duyên với Kim Trọng; hai người có hạnh phúc, nhớ tới mình, đốt hương, gảy lại phím đàn ngày xưa; nhìn ra ngoài thấy gió hiu hiu thổi lay động cỏ cây thì biết hồn mình đang về thăm hai người; và hai người sẽ rảy nước để làm mát mẻ linh hồn oan ức, khổ đau của mình. Tưởng tượng xong rồi hướng về Kim Trọng mà than thở, diễn bày tâm trạng mình . Và khi kêu lên: “Ôi Kim Lang! Hởi Kim Lang, Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” thì đau khổ đã lên tới mức cao nhất. Kiều thét lên, ngã xuống bất tỉnh. Đó là diễn biến về tâm lý và sinh lý. Tâm lý và sinh lý liên hệ mật thiết với nhau. Niềm đau khổ lên đến mức tuyệt đỉnh tạo thành phản ứng trong cơ thể, biểu hiện bằng một tiếng hét. Hét lên một tiếng thì bao nhiêu tinh lực của khổ đau toát ra. Kiều không còn năng lượng nữa, ngã xuống và bất tỉnh.
 
 

Cạn lời hồn ngất máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.
 
 

Cô em sợ quá. Cha mẹ Kiều nghe tiếng hét, thức dậy:
 
 

Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng,

Một nhà tấp nập kẻ trong người ngoài.

Kẻ thang người thuốc bời bời,

Mới dàu cơn vựng chưa phai giọt hồng.
 
 

Người thì đi rót nước nóng, người thì đi lấy dầu cù là.
 
 

Hỏi: ‘Sao ra sự lạ lùng?’

Kiều càng nức nở nói không ra lời.
 
 

Nói được với em gái là làm tới mức tối đa rồi. Làm sao lặp lại được những điều đó cho cả nhà nghe! Thúy Vân tiết lộ niềm đau của Kiều cho mọi người:
 
 

Nỗi nàng Vân mới rỉ tai:

‘Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây!’
 
 

Người cha lúc đó mới tội nghiệp. Ông nói:
 
 

‘Này cha làm lỗi duyên mày,

‘Thôi thì nỗi ấy sau này đã em!

‘Vì ai rụng cải rơi kim,

‘Để con bèo nổi mây chìm vì ai?

‘Lời con dặn lại một hai,

‘Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng!’
 
 

Tôi vẫn còn ngạc nhiên. Với trái tim của con người thế kỷ 20, mình không hiểu được tại sao họ lại chắc vào việc thành tựu nhân duyên cho Thúy Vân và Kim Trọng. Tuy là hai chị em nhưng vẫn là hai người khác nhau. Người ta yêu cô chị chứ ai yêu cô em mà lại cứ tính đem cô em thay thế cô chị! Làm như vậy có được không? Với tâm lý người ngày xưa, thì việc này có thể làm được. người ngày xưa rất trọng tình. Khi cưới một người, họ cưới luôn cả gia đình cho người đó. Thương chị thì cũng thương em được. Lấy trái tim của thế kỷ 20 để hiểu trái tim của thế kỷ 19,18, 17 cũng hơi khó.
 
 

Lạy thôi nàng mới rén chiềng:67

‘Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.

‘Sá chi thân phận tôi đòi,

‘Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu!’
 
 

Những chuyện này đã xảy ra trong mấy ngày sau khi Kim Trọng đi. Anh chàng lúc đó đâu có biết gì, cứ đi, nhớ và tưởng tượng. Đâu có biết đời là vô thường. Phải đọc gần cuối truyện ta mới thấy đoạn Kim Trọng trở về.
 
 
 

BIẾT THÂN ĐẾN NƯỚC LẠC LOÀI
 
 

Trời đã sáng. Nhà trai tới rước dâu:
 
 

Xiết bao kể nỗi thảm sầu!

Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.

Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,

Quản huyền68 đâu đã giục người sinh ly.

Đau lòng kẻ ở người đi,

Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.

Trời hôm mây kéo tối rầm,

Dàu dàu ngọn cỏ dầm dầm cành sương.
 
 

Trời dường như cũng đau thương chung với gia đình này.
 
 

Rước nàng về đến trú phường,

Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong.

Ngập ngừng thẹn lục e hồng,

Nghĩ lòng lại xót xa lòng đôi phen:

‘Phẩm tiên rơi đến tay hèn,

‘Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai!

‘Biết thân đến nước lạc loài,

‘Nhị đào thả bẻ cho người tình chung.

‘Vì ai ngăn đón gió dông,

‘Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi,

‘Trùng trùng dù họa có khi,

‘Thân này thôi có ra gì mà mong.

‘Đã sinh ra số long đong,

‘Còn mang lấy kiếp má hồng được sao?’
 
 

Kiều là một người con gái rất thông minh. Khi thấy Mã Giám Sinh và cái bầu đoàn kia bước vào nhà, cô biết họ không phải là những người đoàng hoàng và thân mình đã rơi vào tay những người vũ phu, không ra gì. Kiều giữ gìn là giữ gìn cho chàng Kim, người Kiều đem hết lòng dạ để thương yêu; bây giờ thì Kiều đâu có chủ quyền nữa. Sau này dù được gặp lại Kim Trọng, Kiều biết thân mình cũng sẽ không còn giá trị gì. Kiều nghĩ: ‘Biết trước tình trạng thế này thì chi bằng tối hôm đó mình hiến thân cho chàng Kim cho rồi.’ Đây là những câu mà ta phải quán chiếu. Chúng ta biết Thúy Kiều đang lâm vào tình trạng tuyệt vọng cho nên dã nghĩ như vậy. Đừng nghe cô nói mà tin liền. Trước đây cô nói: ‘Gieo thoi trước chẳng giữ giàng, Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?’ Bây giờ cô nói ngược lại: ‘Biết như vậy thì tối hôm đó mình đã trao thân cho chàng cho rồi. Giữ gìn cho lắm bây giờ cũng lọt vào tay người vũ phu.’ Chúng ta có thể quán sát để thấy: Nếu cô gái trao thân cho người yêu tối hôm đó thì cô có thể mất chàng mãi mãi. Cô không trao thân cho chàng thì hình bóng cô vẫn còn đẹp trong lòng chàng suốt đời. ‘Biết thân đến nước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.’ Câu nói này rất liều, không có trí tuệ. Đó là suy nghĩ của một người đang quá đau khổ. Nếu Kiều làm như vậy thì cũng rất hại cho Kim Trọng. Giữ được hình bóng đẹp đẽ của Thúy Kiều trong suốt cuộc đời mình là có lời cho anh chàng lắm! Còn hình bóng của một người con gái quá dễ dãi, đòi là được liền thì đâu thể nào ở lại lâu ngày vơi chàng Kim được. Ta đừng vì cảm tình với Kiều mà vừa nghe cô nói là đã vội đồng ý ngay. Lời nói trên chẳng qua là tư tưởng của một người bất đắc chí mà thôi, không phản ảnh được trí tuệ. Và ý tự tử đã chớm nơi Kiều:
 
 

Trên yên sẵn có con dao,

Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn.

Phòng khi nước đã đến chân,

Dao này thì liệu với thân sau này.

Đêm thu một khắc một chầy,

Bâng khuâng như tỉnh như say một mình.
 
 
 
 

XÓT NÀNG CHÚT PHẬN THUYỀN QUYÊN
 
 

Mã Giám Sinh đóng vai trò của một chàng rễ, kỳ thực Mã chỉ là một con bài. Lực lượng đứng phía sau họ Mã là một nhà chứa mà giám đốc là một người đàn bà rất ghê gớm: Tú Bà. Tú Bà mua Kiêu về làm một cô gái giang hồ, tiếp những khách giàu ‘sộp’ để lấy tiền. Đây là chân tướng của Mã Giám Sinh và Tú Bà:
 
 

Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh,

Vẫn là một đứa phong tình đã quen.

Quá chơi lại gặp hồi đen,

Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa,

Lầu xanh có mụ Tú Bà,

Làng chơi đã trở về già hết duyên.

Tình cờ chẳng hẹn mà nên,

Mạt cưa mướp đắng hai bên một phường.69

Chung lưng mở một ngôi hàng,

Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề.

Dạo tìm khắp chợ thì quê,

Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi.

Rủi may âu cũng sự trời,

Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên.
 
 

Túa Bà và Mã Giám Sinh đều xuất thân từ chỗ ăn chơi. Khi lớn tuổi họ lại tiếp tục sinh sống bằng cái nghiệp lầu xanh của mình. Tội nghiệp Thúy Kiều đã rơi vào ổ nhền nhện.
 
 

Xót nàng chút phận thuyền quyên,

Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.

Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,

Sính nghi rẻ giá nghinh hôn sẵn ngày.
 
 

Đây là tư tưởng của Mã Giám Sinh:
 
 

Mừng thầm: 'Cờ đã tới tay,

'Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng.

'Đã nên quốc sắc thiên hương,

'Một cười nay hẳn nghìn vàng chảng ngoa!

'Về đây nước trước bẻ hoa,

'Vương tôn quý khách ắt là đua nhau.

'Hẳn ba trăm lạng kém đâu,

'Cũng là vừa vốn còn sau thì lời.

'Miếng ngon kề đến tận nơi,

'Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham.

'Đào tiên đã bén tay phàm,

'Thì vin cành quýt cho cam sự đời!

'Dưới trời mấy mặt làng chơi,

'Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa.

'Nước vỏ lựu máu mào gà,

'Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

'Mập mờ đánh lận con đen,

'Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi?

'Mụ già hoặc có điều gì,

'Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.

'Vả đây đường xá xa xôi,

'Mà ta bất động nữa người sinh nghi.'
 
 

Thế là Mã Giám Sinh ép Kiều đi ngủ chung.

Cụ Nguyễn Du than:
 
 

Tiếc thay một đóa trà mi,

Con ong đã tỏ đường đi lối về.

Một cơn mưa gió nặng nề,

Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương.

Đêm xuân một giấc mơ màng.

Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ!
 
 

Người đàn ông đó rất vũ phu. Kiều như một đóa hoa rất mong manh. Anh chàng thì như 'mưa gió nặng nề', không hề có sự lễ phép, không có sự nương tay nhẹ nhàng. Xong chuyện anh chàng bỏ đi, không săn sóc, nói chuyệng gì với Kiều hết. Kiều cảm thấy bị hiếp, nhục nhã vô cùng:
 
 

Giọt riêng tầm tã tuông mưa,

Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình;

'Tuồng chi là giống hôi tanh,

'Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!

'Thôi còn chi nữa mà mong,

'Đời người thôi thế là xong một đời!'
 
 

Trong cơn nhục nhã, Kiều rút dao, định tự tử nhưng nghĩ lại sợ liên lụy đến cha mẹ nên phải cất dao lại:
 
 

Giận duyên tủi phận bời bời,

Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh,

Nghĩ đi nghĩ lại một mình:

'Một mình thì chớ hai tình thì sao?

'Sau dầu sinh sự thế nào,

'Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân.

'Nỗi mình âu cũng giản dần,

'Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi!'
 
 

'Trước sau gì cũng chết. Đợi đi khuất khỏi vùng này rồi hãy hay.'
 
 

Những là đo đắn ngược xuôi,

Tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường.

Lầu mai vừa rúc còi sương,

Mã sinh giục giã vội vàng ra đi.

Đoạn trường thay lúc phân kỳ!

Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.
 
 

Câu 'Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh’ có giá trị âm hưởng rất hay. Đọc lên đã thấy khó chịu, khỏi cần ngồi trên xe ngựa.
 
 

Bề ngoài mười dặm trường đình,

Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo.
 
 

Đây là phong tục cổ. Ăn tiệc chia tay rồi lại gánh tiệc đi theo tiễn mười, mười lăm dặm nữa. Tới chỗ nghỉ, dở tiệc ra ăn chia tay thêm lần thứ hai.
 
 

Ngoài thì chu khách dập dìu,

Một nhà huyên với một Kiều ở trong.
 
 

Trong lúc mọi người ăn tiệc tiễn hành thì mẹ của Thúy Kiều vào phòng Kiều. Hai mẹ con nói chuyện. Kiều nói: 'Chết con rồi mẹ ơi!'
 
 

Nhìn càng lã chã giọt hồng,

Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao:

'Hỗ sinh ra phận thơ đào,

'Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong!

Lỡ làng nước đục bụi trong,

'Trăm năm để một tấm lòng từ đây.

'Xem gương trong bấy nhiêu ngày,

'Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.

'Khi về bỏ vắng trong nhà,

'Khi vàng dúng dắng khi ra vội vàng,

'Khi ăn khi nói lỡ làng,

'Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh.

'Khác màu kẻ quý người thanh,

'Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.

'Thôi con còn nói nữa chi con,

'Sống nhờ đất khách thác chôn quê người!'
 
 

Đó là nhận xét của Thúy Kiều. Mã Giám Sinh không phải là một người đàn ông bình thường mà giống như một tay lái buôn gian manh nào đó. Đời cô như vậy chắc sẽ không ra gì.
 
 

Vương bà nghe bấy nhiêu lời,

Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên.
 
 

Dùng hình ảnh. Trong tám chữ mà thi sĩ có thể lột tả thấm thía nỗi đau nhức, oan ức của người mẹ.
 
 

Vài tuần chưa cạn chén khuyên.

Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe.
 
 

Nghỉ (dấu hỏi) là hắn ta, anh ta, chỉ Mã Giám Sinh. Vương ông rất thương con gái, đến trước yên ngựa của Mã Giám Sinh năn nỉ:
 
 

Xót con lòng nặng chề chề,

Trước yên ông đã nằn nì thấp cao:

'Chút thân liễu yếu thơ đào,

'Dớp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi.

'Từ đây góc bể bên trời,

'Nắng mưa thui thủi quê người một thân.

'Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,

'Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.'
 
 

Hai câu sau rất hay. Người đàn bà như dây leo (cát đằng), người đàn ông như cây tùng. Dây leo lên cao được là nhờ cây tùng đứng vững. Trong Quy Sơn Cảnh Sách (ngày xưa bằng chữ Nho, người xuất gia phải học thuộc lòng) có câu: 'Khả bất kiến ý tùng chi cát, thượng túng tiên tầm, phụ thác thắng nhân, phương năng hữu ích.' Có nghĩa là: 'Há quý vị không thấy cây dây leo nương vào cây tùng mà leo lên cao tới nghìn tầm. Nếu tu học mà không nương vào những người có đạo đức lớn thì không thể nào thành công được.' Trong câu này, Vương ông nói: 'Xin nhờ anh làm chỗ nương tựa cho cho đứa con gái thương của tôi! Trăm sự nhờ anh hết! Hạnh phúc của con gái tôi hoàn toàn trông cậy vào anh.' Nhưng năn nỉ sao được! Đây vốn là tay bợm già, năn nỉ đâu có ích lợi gì! Anh chàng nói:
 
 

Cạn lời khách mới thưa rằng:

'Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao.

'Mai sau dù có thế nào,

'Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần!'
 
 

'Không sao đâu, ông đừng có lo! Có duyên mới thành vợ thành chồng được chớ! Sau này mà tôi ăn ở không đàng hoàng, không chăm sóc Thúy Kiều thì trời phạt tôi chết!' Họ Mã đã thề như vậy đó.
 
 
 

MỘT XE TRONG CÕI HỒNG TRẦN NHƯ BAY
 
 

Đùng đùng gió giục mây vần,

Một xe trong cõi hồng trần như bay.
 
 

Hai câu tả đoàn rước dâu đi trong gió bụi. Đây cũng là thân phận của kiếp người bị cơn lốc của nghiệp báo cuốn theo. Con người không có năng lực để làm chủ lấy mình. Có những đau buồn, tham giận, kiêu căng mà lại thiếu trí tuệ, từ bi và sự trầm tĩnh. Đi trong cuộc đời như đi trong một cơn lốc, người ta không có khả năng làm chủ thân tâm. 'Đùng đùng gió giục mây vần. Một xe trong cõi hồng trần như bay' là số phận chung của tất cả mọi người. Hồng trần là bụi đỏ, chỉ cuộc đời đau khổ. Mỗi người đang cởi một chiếc xe và đang đi trong cơn lốc của những hạt bụi đỏ. Người tu thì sẽ có phương pháp để thắng xe lại, làm chủ tình thế. Người không tu thì ngồi trên xe và bị cuốn theo cơn lốc của bụi hồng. Hai câu thơ này rất hay, có thể viết để treo ở thiền đường.
 
 

Và đây là tâm trạng Thúy Kiều khi đang ở trên con đường nghìn dặm:
 
 

Trông vời gạt lệ chia tay,

Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm.

Nàng thì dặm khách xa xăm,

Bạc phau cầu giá đen rần ngàn mây.

Vi lô san sát hơi may,

Một trời thu để riêng ai một người.
 
 

Sương lạnh đọng trắng trên cầu, bầu trời ảm đạm mây đen. Đó là khung cảnh Kiều đang đi ngang qua nhưng cũng là tình trạng bên trong trái tim Kiều - cũng rất lạnh và rất đen. Nội tâm và ngoại vật giống hệt như nhau. Con người trong cảnh rất cô đơn cho nên cả trời thu đó dường như chỉ để cho một người chịu đựng mà thôi.
 
 

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!

Rừng thu từng biếc chen hồng,

Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn!
 
 

Tâm trạng của Kiều luôn luôn có hai nỗi nhớ niềm thương. Một bên là nhớ người yêu, một bên là nhớ cha nhớ mẹ. Tấm lòng thần hôn là tấm lòng hiếu thảo muốn săn sóc sớm chiều cho cha mẹ.
 
 
 

SA VÀO Ổ NHỆN
 
 

Đi một tháng thì tới Lâm Truy. Và Thúy Kiều khám phá ra được sự thật là người ta đã mua cô về để làm gái làng chơi.
 
 

Những là lạ nước lạ non

Lâm-Truy vừa một tháng tròn tới nơi.

Xe châu dừng bánh cửa ngoài

Rèm trong đã thấy một người bước ra.

Thoát trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
 
 

Đây là bà chủ chứa. Cụ Nguyễn Du tả bà đó cũng ghê!
 
 

Trước xe lơi lả han chào

Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.
 
 

Và Thúy Kiều thấy:
 
 

Bên thì mấy ả mày ngài,

Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.

Giữa thì hương lửa hẳn hoi,

Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.

Lầu xanh quen lối xưa nay,

Nghề này thì lấy ông này tiên sư.
 
 

Thần lông mày trắng (thần bạch mi) là ông thần mà các nhà chứa thờ để ông phù hộ cho được đông khách. Thúy Kiều không hiểu gì cả. tưởng là vô lạy bàn thờ tổ tiên, ai dè là bắt tới lạy cái ông thần lạ kỳ đó!
 
 

Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,

Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:

'Cừa hàng buôn bán cho may,

'Đêm đêm hàn thực ngày ngày nguyên tiêu.

'Muôn ngàn người thấy cũng yêu,

'Xôn xao anh yến dập dìu trúc mai!

'Tin nhạn vấn, lá thơ bài,

'Đưa người cửa trước rước người cửa sau!'

Lạ tai nghe chửa biết đâu,

Xem tình ra cũng những màu dở dang.
 
 

Kiều không hiểu gì hết! Nàng là một cô gái nhà lành, làm sao hiểu được ngôn từ của nhà chứa! Nhưng cô càng lúc càng nghi.
 
 

Lễ xong hương hỏa gia đường

Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.

Dạy rằng: 'Con lạy mẹ đây,

'Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia.'
 
 

Kiều ngạc nhiên:
 
 

Nàng rằng: 'Phải bước lưu ly

'Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh.

'Điều đâu lấy yến làm anh,

'Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì?

'Đủ điều nạp thái vu quy,

'Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi.

'Giờ ra thay bậc đổi ngôi,

'Dám xin gởi lại một lời cho minh.'

Mụ nghe nàng nói hay tình,

Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:

'Này này sự đã quá nhiên,

'Thôi đà cướp sống của min đi rồi!

'Bảo rằng đi dạo lấy người,

'Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.

'Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,

'Buồn mình trước đã tần mần thử chơi

'Màu hồ đã mất đi rồi,

'Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma.
 
 

Giận Mã Giám Sinh quá nhưng bà ta đâu đánh họ Mã liền ngay lúc đó được. Tú Bà quay sang chửi và đánh Kiều:
 
 

'Con kia đã bán cho ta,

'Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây!

'Lão kia có giở bài bây,

'Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!

Cớ sao chịu tốt một bề,

'Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

'Phải làm cho biết phép tao!'

Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay.

Nàng rằng: 'Trời thẳm đất dày,

Thân này đã bỏ những ngày ra đi!

'Thôi thì thôi có tiếc gì!'

Sẵn dao tay áo tức thì giở ra.

Sợ gan nát ngọc liều hoa,

Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay.

Thương ôi tài sắc bậc này.

Một dao oan nghiệt dứt dây phong trần!
 
 

Kiều lấy dao ra và đâm vào bụng tự tử. Nàng bị thương rất nặng.
 
 

Nỗi oan vở lở xa gần,

Trong nhà người chật một lần như nêm.

Nàng thì bằn bặt giấc tiên,

Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay.

Vực nàng vào chốn hiên tây,

Cắt người coi sóc rước thầy thuốc men.
 
 

Trong lúc mê man, Đạm Tiên lại hiện ra với Kiều:
 
 

Nào hay chưa hết trần duyên,

Trong mê dường đã đứng bên một nàng.

Rỉ rằng: 'Nhân quả dở dang.

'Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao?

'Số nàng nặng nghiệp má đào,

'Người dù muốn quyết trời nào hay cho!

'Hãy xin hết kiếp liễu bồ

'Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.'

Thuốc thang suốt một này thâu,

Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan.

Tú Bà chực sẵn bên nàn,

Lựa lời khuyên giải mơn man gở dần:
 
 

Bây giờ Tú Bà mới biết rằng Kiều rất gan dạ, không thể dùng oai lực mà nhiếp phục được. Bà phải vuốt ve:
 
 

'Một người dễ có mấy thân,

'Hoa xuân dương nhụy ngày xuân còn dài.
 
 

- "Con ơi, con còn trẻ lắm mà! Làm chi như vậy, dại dột lắm con ơi!'
 
 

'Cũng là lỡ một lầm hai,

'Đá vàng sao nở ép nài mưa mây.

'Lở chân trót đã vào đây,

'Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non.

'Người còn thì của hãy còn,

'Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà.
 
 

- 'Con là con nhà lành, bác sẽ không ép con làm nghề này dâu! Nhưng con đã lỡ bước vào đây rồi, bác sẽ nuôi con và gã chồng đàng hoàng cho con.' Khôn lắm! Ăn thua là để cho Kiều chịu uống thuốc, trị bệnh, sống trước dã rồi tính sau!
 
 

'Làm chi tội báo oan gia,

'Thiệt mình mà hại đến ta hay gì?'
 
 

- 'Nếu con tự tử thì thiệt thân con mà bác đây cũng sẽ khổ đau lắm.'
 
 

Kề tai mấy nỗi nằn nì,

Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi.
 
 

Thúy Kiều nghe nói thấy cũng đúng và cũng hy vọng Tú Bà sẽ giữ lời. Trong giấc mộng, Đạm Tiên cho Kiều biết cô có những nghiệp duyên kiếp trước phải đền trả, không thể tránh khỏi bằng cách chấm dứt sự sống của mình.
 
 

Vả trong thần mộng mấy lời,

Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
 
 

Túc nhân là nghiệp nhân trong quá khứ. Túc là kiếp trước (Ví dụ: Túc mạng thông là hiểu thấu, nhớ được tất cả những kiếp trước.) Trong Kinh có bài kệ:
 
 

'Dục tri tiền thế nhân

Kim Sanh thọ giả thị

Dục tri lai thế quá

Kim sanh tác giả thị.'
 
 

Nghĩa là: Muốn biết nhân đời trước thì coi quả đời này; muốn biết quả đời sau thì coi nhân đời này.
 
 

Dùng chữ trời ở đây là cụ Nguyễn Du muốn cho tới luật nghiệp báo. Trong giai đoạn này, cụ còn trộn lẫn thuyết thiên mạng với thuyết nhân quả. Về sau này, khi Phật học của cụ đã sâu sắc, cụ viết rất khác về tư tưởng nhà Phật.
 
 

Kiếp này nợ trả chưa xong,

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
 
 

Đây là niềm tin bình dị của xã hội Á Đông ngày xưa: 'Thôi, ráng sống mà trả cho hết nghiệp báo. Chết thì nghiệp báo vẫn còn hoài, kiếp sau thế nào cũng phải trả nợ chồng chất.'
 
 

Lặng nghe ngẫm nghĩ gót đầu,

Thưa rằng: 'Ai có muốn đâu thế này.

'Được lời như thế là may.

'Hẳn rằng mai có như rày cho chăng!

'Sợ khi ong bướm đãi đằng,

'Đến điều sống đục sao bằng thác trong!'
 
 

Kiều vẫn còn nghi: 'Đâu có ai muốn chết, nhưng sống đục sao bằng thác trong? Bác nói như vậy nhưng liệu bác có làm theo như vậy hay không? lỡ sau này người ta làm nhục con thì thà con chết bây giờ mà được trong sạch còn hơn là phải sống ô nhục."
 
 

Mụ rằng: 'con hãy thong dong,

'Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!

'Mai sau ở chẳng như lời,

'Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.'
 
 

- 'Nếu bác mà không giữ lời thì trời đất sẽ không dung bác.' Mấy người này hay thề độc lắm!
 
 

Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,

Đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.
 
 

Kiều chấp nhận.
 
 
 
 

AI CÓ THỂ GIÚP KIỀU?
 
 

Chúng ta phải tìm cách độ những người đang và đã sa vào hoàn cảnh như Thúy Kiều. Những người đang ăn chơi, tàn hoại thân thể và tâm hồn mình cũng cần người đến cảm hóa. Trong Kinh có câu: 'Dâm phòng, tửu tứ vô vi thanh tịnh đạo tràng.' Quán rượu và nhà chứa đều là những đạo tràng mình phải đi vào để cứu độ. Phải biến những chỗ đó làm những đạo tràng thanh tịnh để hành đạo chứ không nên nhắm mắt lại, nói rằng những chỗ đó không có. Nhắm mắt lại thì không chuyển hóa được. Không độ được. Không độ được một Mã Giám Sinh hay một Tú Bà thì có biết bao Thúy Kiều sẽ rơi vào những ổ nhện đó. Giải tán được một ổ nhện là cứu được không biết bao nhiêu những cô thiếu nữ. Ở Bangkok, Manila hay Sài Gòn bây giờ có rất nhiều những ổ nhện như vậy. Đây là chuyện xảy ra ở tất cả các thành phố lớn. Các cô gái mười ba, mười bốn ở miền quê lên thành phố bán bánh nuôi em có thể bị lọt vào những ổ đó rất dễ dàng. Ban đầu họ chỉ cho vài chục đồng hay một chỗ ở, sau đó họ dụ: 'Con làm cái nghề đó thì sẽ nhiều tiền gởi về nhà. Làm nghề này một ngày thì được họ cho mấy trăm, mấy ngàn đồng, thấy khỏe quá. Rồi mới lún từ từ vào sâu. Ở Sài Gòn cũng có những trẻ em bụi đời, những 'người Việt gốc me' (không có nhà, ngủ dưới gốc cây me.) Nếu sa vào ổ nhện rồi thì muốn ra rất khó. Ngày xưa dưới thời ông Thiệu ông Kỳ có ngã tư Quốc Tế, ngã tư Chú Lía... ghê gớm lắm. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, vấn đề này còn to lớn hơn. Phải có kế hoạch, phải biết rõ tình trạng thì mới có thể hành đạo ở những chỗ đó. Có khi nào các thầy, các sư cô nghĩ tới chuyện đi đến những chỗ ấy để hành đạo không? Nếu các thầy cứ ở chùa mà thuyết Pháp thì tiếng Pháp của các thầy làm sao tới được những người đau khổ như Thúy Kiều? Nếu quý vị muốn đem đạo Phật đi vào cuộc đời thì phải nghĩ đến đạo Bụt nhập thế, nghĩa là Phật giáo nhân gian. Ngày xưa sư Giác Duyên đã làm chuyện ấy.
 
 

Rất ngộ nghĩnh là Kiều đã tự tử, đã được bán cho một thương gia giàu có (Thúc Sinh), đã được một ông đại tướng (Từ Hải) cưới về, và đã đi tu nữa, vậy mà cũng không thoát ra được. Cô đã tìm mọi cách để thoát ra. Nhưng số phận vẫn đưa cô về lầu xanh, làm vật chơi cho người khác. Rốt cuộc là chính một ni sư đã cứu Kiều và đem Kiều về nếp sống bình thường, cho Kiều cơ hội gặp lại cha mẹ và người yêu cũ.
 
 

Vớt người trầm luân, đó là công việc của một sư cô. Điều này đã xảy ra trong quá khứ. Hiện nay, những thanh niên Việt Nam đã không có hạnh phúc đi theo băng đảng ở Mỹ rất nhiều. Tình trạng này lan sang cả Canada và Âu Châu. Các thầy, các cô có làm được gì để giúp những người ấy hay không? những bài thuyết pháp của quý vị có động tới được những thanh thiếu niên đó không? Trước khi là thanh niên du đãng thì họ cũng đã là những thanh niên bình thường. Các thầy đã giảng được cho các thanh niên bình thường ấy chưa?
 
 
 

BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI
 
 

Khi đọc Kiều, nghe những đau khổ và chán chường như thế, ta không thấy dễ chịu. Chúng ta đi tìm sự thật. chúng ta phải có câu trả lời cho tình trạng. Đây không phải chỉ là tình trạng ngày xưa, đây cũng là tình trạng bây giờ. Khi giảng Tâm Kinh Bát Nhã, tôi cũng đem Tâm kinh vào xã hội ngày. Tôi nói rằng một em bé ở Bangkok bị dụ làm gái ăn sương, chiều đi sáng về, trông thấy những cô nữ sinh áo trắng đi học, ngẫm lại thân mình thì tủi. Các cô gái nhà lành thật may mắn. Thân phận em là thân phận ô uế của một cô gái ăn sương. Em có mặc cảm mình là con gái bỏ đi, còn những cô nữ sinh kia là những cô gái đáng sống. không ai có thể cứu em bé này ra khỏi mặc cảm ô nhục, dơ bẩn, ngoại trừ Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát nói như thế này: "Con không dơ mà mấy cô kia cũng không sạch. Sở dĩ mà con như thế này là vì xã hội kia như thế kia (Thử hữu cố bỉ hữu thử vô cố bỉ vô.) Xã hội kia được như vậy là vì có những người như con. Con làm ra xã hội và xã hội làm ra con. Không phải chỉ có con mới chịu trách nhiệm về con mà cả xã hội kia cũng phải chịu trách nhiệm về con. Con đừng có mặc cảm con là người duy nhất chịu trách nhiệm. Tất cả những nhà giáo dục, kinh tế, chính trị trong xã hội đều chịu trách nhiệm về con cả.' Đó là ý 'Không dơ cũng không sạch, Không thêm cũng không bớt' trong Tâm Kinh Bát Nhã. Nghe Đức Quan Thế Âm nói như vậy thì ranh giới giữa dơ và sạch, bên này và bên kia mới được tháo sạch và mặc cảm của các cô gái ăn sương lúc đó mới có thể được tiêu trừ. Đó là giọt nước Cam Lộ mà chỉ có đạo Phật mới cung cấp được. Cái thấy bất nhị này chúng ta ít tìm thấy trong các truyền thống tôn giáo khác. Cái này như thế này là vì cái kia như thế kia. 'Thân phận con, cả xã hội đều chịu trách nhiệm. Con đừng có mặc cảm tội lỗi. Nếu người ta sống đàng hoàng, biết lo cho tất cả thì con đã không đến nỗi như thế này đâu.' Em bé sẽ khóc và ôm lấy chân Đức Quan Thế Âm: 'Xin Ngài dạy cho con cách để thoát ra khỏi'. Lúc ấy Đức Quan Thế Âm mới bắt đầu dạy cho em được. Chúng ta cũng phải làm như thế. Ngày xưa ở Sài Gòn có các sư cô làm chuyện đó. Ngày nay cũng vậy.
 
 

Có một em bé ở nhà quê lên bán bánh. Người cô không cho em ở vì em không có tên trong tờ khai gia đình. Em ngủ ngoài nghĩa địa. Sợ ma. Một bữa nọ Tú Bà lại nói: 'Nếu con chịu ngủ với người ta thì con sẽ có nhiều tiền. Con được một trăm thì cô chỉ giữ lại hai chục để trả tiền nhà, tiền nước.' Nhà chứa không chánh thức; công an, cán bộ biết, nhưng được lo lót thì cũng để cho yên. Một sư cô thấy em bé nhỏ xíu, mới mười sáu tuổi mà đứng ngoài được kiếm khách. Sư cô kêu em lại nói chuyện. 'Thôi, Tú Bà biết liều không sợ chứa chấp con thì cô cũng liều. Thay vì ở nhà Tú Bà thì con về ở chùa đi.' Cô cho em ở đậu và giúp em một xe bán bánh mì. Sư cô này hiện đang sống ở Sài Gòn, đã và đang làm những việc như vậy. Đừng nói rằng những chuyện đó là những chuyện quá khứ, những chuyện minh không làm được. Đó là một trong những chuyện đang xảy ra.
 
 

Nếu sư cô nọ có thể giúp em bé kai thì sư cô cũng đã có thể giúp những em bé khác. Ngoài sư cô cũng còn biết bao nhiêu những sư cô khác đang làm được chuyện này. Đây không phải là chuyện lý thuyết. Sự thật ở Sài Gòn bây giờ có những sư cô buổi sáng mở chùa cho trẻ con bụi đời vô học. Các cô nói: 'Nếu các con chịu khó học được bốn tiếng đồng hồ thì trưa nay sẽ được ăn cơm chay.' Giữ con nít ở trong chùa để các em khỏi ra được làm du đảng hay đào bới trong những đống rác. Ăn trưa xong các em có thể lăn ra ngủ. Ở lại học buổi chiều từ ba đến sáu giờ thì các em lại được ăn cơm chiều. Nhìn bề ngoài thấy giống như trẻ em mỗi ngày được cung cấp mấy giờ học và hai bữa cơm. Kỳ thực kết quả lớn lắm! Các cô đã giữ được cho các em khỏi sa vào những ổ nhện và khỏi trở thành những trẻ em du đảng. Cho một em ăn trưa chỉ tốn 25 cents thôi. Ở Tây phương, 25 cents thì mua gì được! Nhưng vào tay sư cô, 25 cents là một bữa ăn cho em bé. Bao nhiêu công việc như vậy. Rất đẹp, rất hay. Đạo Phật là như thế, không phải là đạo nói trên trời dưới biển. Thúy Kiều bây giờ nhiều lắm. Có khắp nơi. Chỉ thương hại cho cô Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du không thôi thì rất bất công. Cô này đã có người thương rồi, đã có một sư cô tên Giác Duyên lo cho rồi. Còn biết bao nhiêu Thúy Kiều nhỏ tuổi, dại dột hơn Thúy Kiều này đang ở khắp nơi trên quê hương mình. Đọc truyện Kiều với cái thấy này thì truyện Kiều trở thành ra Kinh. Ích lợi như đọc Kinh.
 
 
 

NỬA TỈNH NỬA CẢNH
 
 

Tú Bà đã hứa sẽ lo cho tương lai của Kiều và để Kiều dưỡng bệnh ở lầu Ngưng Bích. Đây là những câu thơ đẹp tả cảnh quanh lầu Ngưng Bích; đồng thời nói lên tâm trạng nhớ thương của Thúy Kiều:
 
 

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
 
 

Núi xa, trăng gần. Những cồn cát màu vàng, những con đường chạy về nơi xa tắp có màu hồng của Đất. Hình ảnh đẹp. Có tương phản (xa - gần, cát vàng - bụi hồng, cồn nọ - dặm kia) và có kếp hợp (ở chung). Có động (cát - bụi) và có tình (non - trăng). Hay một phần nữa là ở chỗ ngắt nhịp. Thay và ngắt ở chữ thứ tư như những câu tám thông thường trong lục bát (ví dụ: Cát vàng cồn nọ/ tấm trăng gần/ ở chung. Hơi thơ vì vậy khác thường, không đều đều một điệu.
 
 

Tâm tình thương nhớ và khổ đau sẵn có xúc chạm với cảnh đẹp làm tâm trạng Kiều càng thêm xao xuyến:
 
 

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya.

Nửa tình nửa cảnh mà chia tấm lòng.
 
 

Tâm con người không ở đó. Không thật sự có mặt cho cảnh trí trước mặt và cũng không thực sự có mặt cho những tâm tư của mình.
 
 

Tưởng nhớ người yêu, băn khoăn vì lời thề chưa trọn:
 
 

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,70

Tin sương luống những rày trông mai chờ.

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
 
 

Tưởng nhớ cha mẹ:
 
 

Xót người tựa cửa71 hôm mai,

Quạt nồng ấp lạnh73 những ai đó giờ?

Sân lai73 cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử74 đã vừa người ôm.
 
 

Người chị cả trong nhà nghĩ rằng mình đã không làm tròn được bổn phận của người con lớn. Trông vời cố hương, nghĩ về thân phận. Không biết mình sẽ đi về đâu trong tương lai:
 
 

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu.

Buồn trông nội cỏ dàu dàu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh,

Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi.

Chung quanh những nước non người,

Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.
 
 

Ngồi ngắm cảnh mà trong lòng thì buồn. Chữ buồn trông lặp qua lập lại đến bốn lần khiến cái buồn thêm vị sắt se, thấm thía. Tâm người ngắm cảnh tràn vào cảnh, khoác lên cảnh vài sắc thái xa xa, man mác, dàu dàu, bàng bạc trong những câu thơ tài tình.
 
 
 

NHẮM MẮT ĐƯA CHÂN
 
 

Cảm niềm đau của một người xa quê hương (đau lòng lưu lạc) Kiều ghi xuống tâm sự mình dưới hình thức những câu thơ. Làm thơ xong, buông màn xuống ngâm lên thì nghe phía tường bên kia có tiếng một người con trai ngâm họa lại. Người con trai đó được tả như thế này:
 
 

Một chàng vừa trạc thanh xuân,

Hình dung chải chuốt ao khăn dịu dàng.

Nghĩ rằng cũng mạch thư hương

Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
 
 

Rất hay! Anh chàng có dáng dấp học trò, không giống Mã Giám Sinh nhưng cũng rất khác với Kim Trọng. Hữu ư trung tức hình ư ngoại. Qua cách tả chúng ta cũng đã thấy được phần nào nội dung tâm lý của anh chàng rồi.
 
 

Bóng nga thấp thoáng dưới mành,

Trông nàng chàng cũng ra tình đeo dai:
 
 

Thấy nàng Kiều anh chàng cũng có vẻ quyến luyến. Anh ta mở lời:
 
 

'Than ôi! Sắc nước hương trời,

'Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?

'Giá đành trong nguyệt trên mây,

'Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa?

'Tức gan riêng giận trời già,

'Lòng này ai tỏ cho ta hởi lòng?

'Thuyền quyên ví biết anh hùng,

'Ra tay tháo cũi sổ lòng như chơi!'
 
 

Anh chàng muốn chứng tỏ mình là một trang hảo hán, có lòng anh hùng nghĩa hiệp, có thể cứu đời. Theo cách nói như vậy, chúng ta thấy rất rõ đây chỉ là nghĩa hiệp ở hình thức. Hình như Thúy Kiều cũng cảm thấy điều đó. Nhưng cô đang ở trong một hoàn cảnh quá ư khó khăn nên cố bíu lấy bất cứ cái sào nào được đưa ra.
 
 

Đánh liều nhắn một hai lời,

Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.

Mảnh tiên kể hết xa gần,

Nỗi nhà báo đáp nỗi thân lạc loài.

Tan sương vừa rạng ngày mai,

Tiện hồng nàng mới nhắn lời gởi sang.
 
 

Thúy Kiều viết thư kể chuyện mình. Tảng sáng gửi sang (tiện hồng) nhà bên kia. Đến chiều đã thấy thư trả lời (phục thư) của 'chàng nghĩa hiệp'.
 
 

Trời tây lãng đãng bóng vàng,

Phục thư đã thấy tin chàng đến nơi.

Mở xem một bức tiên mai,

Rành rành Tích Việt có hai chữ đề.

Lấy trong ý tứ mà suy:

'Ngày hai mươi mốt tuất thì phải chăng?'
 
 

Kiều rất thông minh. Mở thư thấy hai chữ 'Tích Việt' thì đoán được thông điệp bí mật. Chữ Tích () phân ra có ba phần: trấp () là hai mươi () nhất () là một, nhật () là ngày. Chữ Việt () có nghĩa là vượt, trong đó có chữ () tuất (). 'Ngày hai mươi mốt, giờ Tuất (19: 00 - 21:00 giờ) mình sẽ đi trốn.' Đó là thông điệp bí mật của chàng.
 
 

Chim hôm thoi thóp về rừng,

Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành.

Tường Đông lay động bóng cành,

Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
 
 

Bây giờ hai người mới thật sự gặp nhau. Trước kia chỉ gặp bằng thơ văn.
 
 

Sượng sùng đánh dạn ra chào,