HÀNH
TRANG
CHỮ
TÀI. CHỮ MỆNH, CHỮ TÂM.
Trăm
năm trong cõi người ta
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải
qua
một cuộc bể dâu
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ
gì bỉ sắc tư phong
Trời
xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Bắt
đầu truyện Kiều, tác giả nêu lên tư tưởng tài mệnh tương
đố, tài năng và số mệnh đố kỵ nhau. Cố nhiên, qua truyện
Kiều, ta có thể thấy tác giả là một thi sĩ đại tài. Nguyễn
Du nói tới kinh nghiệm trực tiếp của mình chứ không phải
nói tới một sự thực ở ngoài.
Những
người có tài và có sắc được thi sĩ cho đứng về phía
màu hồng. Màu hồng kỵ với màu xanh, đại diện cho ông trời,
tạo hóa. Ông trời sẽ đi theo ‘đánh ghen’, đày đọa những
người có tài, có sắc bằng cách phó cho họ một số phận
trớ trêu. ‘Má hồng’ không phải chỉ là đàn bà. Ðàn
ông có tài sắc thì cũng là một thứ ‘má hồng’, bị số
phận làm cho điêu đứng. Ðó là quan niệm của Nguyễn Du.
Kết
thúc truyện Kiều, câu 3247, cụ Nguyễn Du trở lại ý niệm
về tài và mệnh. Cụ trình bày quan niệm luân lý của mình
như sau:
Có
tài mà cậy chi tài
Chữ
tài liền với chữ tai một vần.
Ðã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Cụ
khuyên chúng ta không nên cậy vào tài mình. Bởi vì khi có
tài mà không có đức, không tu, không biết giấu tài của
mình đi mà cứ khoe khoang, hợm hỉnh, cho mình là giỏi, thì
tai nạn sẽ đến với mình và mình sẽ đau khổ rất nhiều.
‘chữ tài liền với chữ tai một vần’ là một câu chơi
chữ rất khéo. Và mầm mống của những tai nạn, khổ đau
kia đến từ đầu? Cụ Nguyễn Du nói đừng đổ lỗi cho ai
hết. ‘Ðã mang lấy nghiệp vào thân’: khi mình đã có những
tham, giận, kiêu căng trong người rồi, thì: ‘Cũng đừng
trách lẫn trời gần trời xa’: đừng đổ lỗi cho ai hế,
đừng trách trời. Tại sao mình đau khổ? Mình nói: tại trời,
tại xã hội, tại người này, người kia... Kỳ thực mình
chịu trách nhiệm lớn về những đau khổ của mình. Vì vậy
mình phải quay về tu sửa tâm mình, vun bồi gốc rẽ của
cái thiện trong tâm mình. Ðó là vấn đề tu tâm (citta bhavana).
Thiện căn (kusalamula) là một danh từ Phật học, có nghĩa
là gốc rễ của cái thiện. Cụ Nguyễn Du thấy tu tâm là
điều quá trình phải làm. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài: một người có tâm lành, biết
tu học thì sẽ có hạnh phúc và mang lại hạnh phúc cho người
khác nhiều hơn (bằng ba) những người có tài mà không có
tâm lành.
Gửi
gắm rất nhiều kinh nghiệm hạnh phúc và khổ đau của mình
cho chúng ta rồi, thi sĩ kết thúc truyện Kiều bằng hai câu
khiêm nhượng như cụ từng khuyên chúng ta:
Lời
quê chắp nhặt dông dài
Mua
vui cũng được một vài trống canh.
Và
cũng thật đẹp khi một tác phẩm lớn như truyện Kiều lại
được kết thúc bằng hai cau giản dị và khiêm nhượng như
vậy.
Sau
khi viết xong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có cơ hội được
học Phật thêm rất nhiều. Kiến thức về đạo Phật của
Nguyễn Du sau truyện Kiều sâu sắc hơn. Có vài danh từ Phật
học trong truyện Kiều chưa được hoàn toàn chính xác (Ví
dụ như chữ nghiệp và tâm trong đoạn vừa trích dẫn). Chúng
ta sẽ thấy ở phần sau.
HOA
GHEN THUA THẮM
Họ
Vương là một gia đình giàu có loại thường (trung lưu).
Có
nhà viên ngoại họ Vương
Gia
tư nghĩ cũng thường thường bậc trung.
Một
trai con thứ rốt lòng
Vương
Quan là chữ nối dòng Nho gia.
Ðầu
lòng hai ả tố nga1
Thúy
kiều là chị em là Thúy Vân.
Khi
giới thiệu gia đình họ Vương. Nguyễn Du giơi thiệu con trai
trước rồi mới đến hai cô con chị. Trong truyền thống xưa
vị trí người con trai rất quan trọng vì chính con trai tiếp
nối được gia phong. Con gái, tuy cũng là con nhưng không phải
thực sự là con vì nó sẽ đi lấy chồng, không còn ở nhà
để giữ gìn gia nghiệp ông cha. Ðó là quan niệm ngày xưa
của chế độ phụ hệ.
Ðầu
lòng hai ả tố nga
Thúy
kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai
cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi
người một vẻ mười phân vẹn mười
Hai
chị em đẹp thanh nhã, tinh thần băng tuyết, trong sáng; hai
người đều đẹp, nhưng đẹp khác nhau.
Vân
xem trang trọng khác vời,
Khuôn
trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa
cười ngọc thốt đoan trang
Mây
thua nước tóc tuyêt nhường màu da.
Thúy
Vân trang trọng đài các, cười nói đoan trang. Mây thua nước
tóc, tuyết nhường màu da. Ðẹp như vậy là đẹp lắm rồi
chứ còn gì nữa! Chúng ta tưởng thi sĩ đã dùng hết tất
cả chữ nghĩa để tả một cô gái rồi, ai dè ông còn trong
túi rất nhiều chữ khác, hay hơn nữa, để tả cô chị.
Kiều
càng sắc sảo, mặn mà
So
bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn
thu thủy, nét xuân sơn[2]
Hoa
ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Vì
muốn bảo Thúy Kiều đẹp hơn nên Nguyễn Du đã không bắt
đầu bằng cách giới thiệu cô chị mà lại giới thiệu cô
em trước. Nhìn qua hình tướng hai chị em, ta có thể thấy
được cuộc đời hai cô. Thúy Vân đẹp, mà đẹp rất hiền
(Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết
nhường màu da.). Thúy Kiều đẹp, mà đẹp làm cho người
ta phải ganh tức (Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm,
liễu hờn kém xanh.). Và cái khổ đã nằm sẳn ở sắc đẹp
của Kiều rồi. Sinh con gái đẹp vì vậy nguy hiểm lắm!
Một
hai nghiêng nước nghiêng thành[3]
Sắc
đành đôi một, tài đành họa hai.[4]
Thông
minh vốn sẵn tính trời
Pha
nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung
thương làu bậc ngũ âm
Nghề
riêng ăn đứt hồ cầm một chương
Thúy
Kiều rất thông minh. Giỏi thi, họa, ca ngâm và chơi đàn tỳ
bà (hồ cầm) rất giỏi. Kiều sáng tác một bản nhạc tên
là Bạc mệnh. Bản nhạc rất hay, nhưng đàn lên thì nghe buồn
thấm thía ruột gan.
Khúc
nhà tay lựa nên xoang
Một
thiên bạc mệnh lại càng não nhân.
Bạc
mệnh là số kiếp rất mỏng. Không biết tại sao hồi bé
thơ cô nàng đã sáng tác những khúc nhạc như vậy rồi! Nguyễn
Du nói rất rõ rằng những khổ đau và truân chuyên của Kiều
đã biểu lộ rõ rệt ngay từ khi cô còn là một thiếu nữ.
Về phương diện nhan sắc cũng như tài năng của cô, đã óc
đầy đủ những lý do khiến cô phải ba chìm bảy nổi và
đau khổ suốt đời.
Những
người nào có tài thì phải cẩn thận.
Những
người nào có sắc cũng phải như thế.
DÂY
ÐÀN BÉN NHẠY
Chúng
ta đã nghe cụ Nguyễn Du tả ba chị em của Thúy Kiều. Khi
cụ tả cô chị, chúng ta thấy rõ ràng trong con người này
đã có những hạt giống của tiêu cực. Chính những hạt
giống này đã mang lại cho Thúy Kiều nhiều đau khổ. Trong
khi đó, Thúy Vân không đau khổ nhiều bằng Thúy Kiều. Thúy
Vân chỉ đau khổ vì những cộng nghiệp với Thúy Kiều mà
thôi. Biệt nghiệp của Thúy Kiều rất nặng. Cái đẹp của
Thúy Kiều có thể làm nảy sinh sự ghen tuông xung quanh mình.
sự ghen tuông không chỉ của con người mà của vạn vật.
‘Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh’. Chính vì chỗ đó
mà Kiều phải chết. Một dấu hiệu khác của tai họa là
tài năng của Thúy Kiều. Cô là nhạc sĩ, sáng tác nhạc rất
hay, đánh lên thì mọi người đều buồn thấm thía. Trong
tâm hồn của Thúy Kiều có hạt giống của sự đau buồn.
Kiều là một người đa cảm, cảm nhận được những cái
mà người khác không cảm nhận được. Có những cái khi mà
hai em thấy thì dửng dưng, cho là thường, trong khi Thúy Kiều
lại cho là quan trọng.
Ðoạn
tới nói về cuộc đi chơi mùa xuân cả ba chị em. Trong cuộc
đi chơi này, ba chị em gặp hai nhân vật: một hồn ma và một
người con trai. Hai nhân vật của chiều mùa xuân năm đó sẽ
ám ảnh, đi theo Kiều suốt cuộc đời.
Ngày
xuân con én đưa thoi,
Thiều
quang chín chục đã ngoài sáu mươi.[5]
Cỏ
non xanh tận chân trời,
Cành
lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh
minh trong tiết tháng ba,[6]
Lễ
là tảo mộ hội là đạp thanh.[7]
Gần
xa nô nức yến anh,[8]
Chị
em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập
dìu tài tử giai nhân,
Ngựa
xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn
ngang gò nấm kéo lên,
Thoi
vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Trong
văn hóa Á Ðông, đi tảo mộ cũng là đi chơi, là một dịp
để người sống bày tỏ sự cảm thông, thân thiết với
người chết. Người ta mang theo vàng và nhang... đi thăm mộ,
ngồi bên mộ người thân, thắp nhang và đốt tiền vàng bạc
xuống cho người cõi âm dùng. Vàng vó là những lượng và
những chỉ vàng làm bằng giấy, hoặc những áo quần giấy.
Bây giờ ở Mỹ, người Hoa làm ra những tờ một trăm, một
ngàn đô la, đốt xuống cho người âm xài thả cửa, gọi
là Hell Bank Notes.
Tà
tà bóng ngả về tây,
Chị
em thơ thẩn dang tay ra về.
Bước
lần theo ngọn tiểu khê,[9]
Nhìn
xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao
nao dòng nước uốn quanh,
Nhịp
cầu nho nhỏ suối ghềnh bắc ngang.
Sè
sè nắm đất bên đường,
Dàu
dàu ngộn của nửa vàng nửa xanh.
Ba
chị em đi chơi về, thấy một ngôi mộ bên đường, tiêu
điều, không ai thăm viếng và thắp hương, cỏ trên mộ cũng
vàng úa, không xanh như những ngôi mộ khác. Thúy Kiều hỏi:
Rằng:
‘Sao trong tiết thanh minh,
‘Mà
đây hương khói vắng tanh thế mà?’
Vương
quan cắt nghĩa:
Vương
Quan mới dẫn gần xa:
‘Ðạm
Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
‘Nổi
danh tài sắc một thì,
‘Xôn
xao ngoài cửa thiếu gì yến anh.
‘Kiếp
hồng nhan có mong manh,
‘Nửa
chừng xuân thoát gãy cành thiên hương.
Ðây
là mộ Ðam Tiên, một ca sĩ nổi tiếng ngày xưa, chết khi
đang còn trẻ đẹp. Ca nhi không phải là một cô gái ăn sương.
Ca nhi chỉ có nghĩa là ca sĩ. Người ta có thể tổ chức mời
cô đến hát riêng cho nhà mình. Hát xong, cô lấy tiền rồi
về. Người ta cũng có thể cùng các bạn đến nghe hát ở
nhà cô, cố nhiên là phải trả tiền đàng hoàng. Có những
ca nhi từ chối không hát cho những người thô tục. Họ có
quyền như vậy. Thường, thi sĩ làm được thơ hay thì muốn
những người có giọng tốt ngâm lên nghe cho đã. Như Trịnh
Công Sơn làm được những bài như Diễm Xưa, thấy mình hát
cũng chẳng hay gì mấy nên đã đi tìm một người như Khánh
Ly để hát giùm, nghe sảng khoái hơn. Ca nhi là những người
làm việc đó giúp thi sĩ hay nhạc sĩ. Ở Việt Nam ngày xưa,
hễ khi nào các ông làm được một bài ca trù, là họ thường
rủ nhau tới nhà trò, yêu cầu cô đào hát cho mình nghe. Còn
chuyện cô đào bán mình để có thêm tiền là chuyện không
chính thức. Theo nguyên tắc chuyện này không xảy ra nhưng
trên thực tế nó đã xảy ra rất nhiều. Nếu hát không được
hay lắm thì phải đem cái khác ra để bù trừ, chuyện này
xảy ra trong bất cứ xã hội nào. Ở Nhật có những cô geysa,
phố Khâm Thiên (Hà Nội) cũng đã từng có nhiều cô ca nhi
như vậy, gọi là cô đầu. Thi sĩ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu
xuất thân là con quan (Ấm Hiếu), một hôm đi chơi với các
bạn thì gặp em gái mình ở trong giới ca nhi. Ông đau khổ
vô cùng. Chúng ta nên hiểu chữ ca nhi theo nghĩa chính của
nó là ca sĩ.
Chúng
ta nghe Vương Quan kể tiếp:
Có
người khách ở viễn phương,
Xa
nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thì
đà trâm gãy bình rơi bao giờ!
Buồng
không lạnh ngắt như tờ,
Dấu
xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc
than khôn xiết sự tình,
Khéo
vô duyên ấy là mình với ta!
Ðã
không duyên trước chăng mà,
Thì
đây chút ước gọi là duyên sau.
Sắm
sanh nếp tử xe châu,[10]
Vùi
nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải
bao thỏ lặn ác tà,
Ấy
mồ vô chủ ai mà viếng thăm!
Nghe
như vậy thì Kiều òa lên khóc:
Lòng
đâu sẵn mối thương tâm,
Thoạt
nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
Trong
khi đó, Thúy Vân vẫn tỉnh bơ tiếp tục nhai kẹo chewing gum
(nếu có chewing gum lúc đó). Anh chàng Vương kể chuyện vẫn
tỉnh bơ. Thúy Kiều, trái lại, nghe đến đó thì òa lên khóc,
vì cô là một sợi dây đàn rất bén nhạy.
Ðau
đớn thay phận đàn bà,
Lời
rằng bạc mênh cũng là lời chung.
Phũ
phàng chi bấy hóa công!
Ngày
xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.
Sống
làm vợ khắp người ta.
Hại
thay thác xuống làm ma không chồng!
Rất
rõ cô ca nhi này không chỉ đơn thuần là một ca sĩ.
Nào
người phượng chạ loan chung,[11]
Nào
người tích lục tham hồng là ai[12]
Ðã
không kể đoái người hoài,
Sẵn
đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi
là gặp gỡ giữa đường,
Họa
là người dưới suối vàng biết cho.
Mấy
chị em ngồi lại thắp hương trên mộ Ðạm Tiên. Kiều cảm
cảnh làm một bài thơ tứ tuyệt, viết lên vỏ cây.
Lầm
rầm khấn khứa nhỏ to
Sụp
ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.
Một
vùng cỏ ấy bóng tà,
Gió
hiu hiu thổi một vài bông lau.
Rút
trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch
da cây vịnh bốn câu ba vần.[13]
Có
một sức mạnh gì kéo Kiều ở lại:
Lại
càng mê mẩn tâm thần,
Lại
càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại
càng ủ dột nét hoa,
Sầu
tuôn dứt nối châu sa vắn dài.
Số
phận Ðạm Tiên như được nối với số phận Kiều. Kiều
thấy đây là người tri kỷ của mình. Và đây là lời phê
bình của Thúy Vân:
Vân
rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo
dư nước mắt khóc người đời xưa!
Ðúng
là Thúy Vân! Kiều đáp:
Rằng:
Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái
điều bạc mệnh có chừa ai đâu.
Nỗi
niềm tưởng đến mà đau,
Thấy
người nằm đó biết sau thế nào?
Trông
người lại ngẫm đến ta. Nhìn vào số phận Ðạm Tiên, mình
không biết thân thế mình sẽ như thế nào mai sau. Vương Quan
lúc đó mới chen vào, phản đối:
Quan
rằng: Chị nói hay sao,
‘Một
lời là một vận vào khó nghe!
Ở
đây âm khí nặng nề,
Bóng
chiều đã ngã dặm về còn xa.’
- Chị
này thật là kỳ cục! Nói câu nào cũng đem số mạng người
ta buộc vào số mạng mình! Trời chiều rồi, mình về đi
thôi!
Kiều
rằng: ‘Những đấng tài hoa,
Thác
là thể phách còn là tinh anh.
Dễ
hay tình lại gặp tình,
Chờ
xem ắt thấy hiển linh bây giờ!’
Kiều
có những tri giác mà người thường không thể có được.
Cô có thể cảm, thấy, nghe, sờ mó được những cái mà người
khác không cảm, thấy, nghe, sờ mó được. Theo Kiều thì Ðạm
Tiên còn ở đó, không phải bằng thân xác tầm thường mà
bằng tinh anh của nàng. Cô nghĩ rằng Ðạm Tiên sẽ đáp lại
cái mà tình của mình và khuyên các em ở lại chứng kiến.
Một
lời nói chửa kịp thưa,
Phút
đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
Ào
ào đổ lộc rung cây,
Ở
trong dường có hương bay ít nhiều.
Ðè
chừng ngọn gió lần theo,
Dấu
giày từng bước in rêu rành rành.
Nói
vừa xong thì một trận gió mạnh thổi tới làm rụng những
lộc non của tháng ba. Trong luồng gió phảng phất nùi hương
của người ta (không biết đây là nước hoa Poison Scorpion
hay Samsara?), trên rêu xuất hiện những dấu giày mới. Ma Ðạm
Tiên đã về!
Mặt
nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng
rằng: ‘Này thật tinh thành chẳng xa.
Hữu
tình ta gặp lại ta,
Chớ
nề u hiển mới là chị em.’
Cái
cô ghê thật! làm quen liền: ‘Chị về đó hả? Như vậy
là giữa chúng ta có những mối giây tình cảm thân thiết.
Ðừng phân biệt người chết với kẻ sống thì mới là tình
chị em. Người ta nói Thúy Kiều thuộc về một thứ nòi gọi
là nòi tình. Nguyễn Du cũng thuộc về nòi tình. Ðồng thanh
tương ứng, đồng khí tương cầu. Hữu tình ta mới gặp ta
thì Chớ nề u hiển mới là chị em.
Ðã
lòng hiển hiện cho xem,
Ta
lòng nàng lại nối thêm vài lời.
Lòng
thơ lai láng bồi hồi.
Gốc
cây lại vạch một bài cổ thi.
Ða
sầu, đa cảm, đa tình. Làm một bài thơ tứ tuyệt, rồi lại
làm thêm một bài thơ cổ phong nữa. Vẫn chưa chịu về.
LƯNG
TÚI GIÓ TRĂNG.
Và
bây giờ, nhân vật thứ hai, người con trai của đời Kiều
xuất hiện:
Dùng
dằng nửa ở nửa về,
Nhạc
vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông
chừng thấy một văn nhân,
Lỏng
buông tay khấu bước lần dặm băng.
Ðề
huề lưng túi gió trăng,[14]
Sau
chân theo một vài thằng cỏn con.
Tuyết
in sắc ngựa câu giòn,[15]
Cỏ
pha màu áo nhuộm non da trời.
Không
phải chỉ khi tả hai người con gái cụ Nguyễn Du mới tả
kỹ lưỡng. Người còn trai này cũng được cụ Nguyễn Du
tả rất đẹp rất kỹ. Anh chàng cưỡi một con ngựa bạch,
mặc áo màu da trời, đi trong màu lục của cây cỏ. Trong túi
của anh chàng có gió và có trăng. Ðây là một người hào
hoa phong nhã, thanh nhàn, biết thưởng thức cái đẹp của
đất trời. Một người biết sống. An trú trong hiện tại
thì người nào cũng có một cái túi đựng gió trăng cả.
Không biết cái túi của mình có chút gió trăng nào ở trong
không hay chỉ đựng những cát bụi đau buồn? Túi của mình
cần phải có nhiều gió trăng, tức là phải có thơ, có nhạc,
có sự thanh nhàn và hạnh phúc.
Nẻo
xa vừa tỏ mặt người,
Khách
đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài
văn lần bước dặm xanh,
Một
vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Sự
có mặt của người con trai, hài hòa với phong cảnh thiên
nhiên, đẹp như cây ngọc dao trong rừng ngọc quỳnh. Thi sĩ
tả con gái đẹp mà tả con trai cũng rất đẹp.
NỘI
KẾT ÊM ÁI
Chàng
Vương quen mặt ra chào,
Hai
kiều[16] e lệ nép vào dưới hoa.
Không
một chữ nào có thể khoanh tròn để lấy ra được cả. Một
câu lục bát mà nói được cả hành động lẫn thái độ
của hai bên. Người con trai thì ra chào: “A! Anh Kim đó hả!
Lâu quá không gặp!” còn hai cô nàng thì khép nép, núp dưới
hoa. Không cần dùng nhiều chữ.
Nguyên
người quanh quất đâu xa,
Họ
Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh[17]
Nền
phú hậu bậc tài danh,
Văn
chương nết đất thông minh tính trời.
Phong
tư tài mạo tuyệt vời,
Vào
trong phong nhã ra ngoài hào hoa.
Chung
quanh vẫn đất nước nhà,
Với
Vương Quan trước vẫn là đồng thân[18]
Cụ
Nguyễn Du khen anh chàng đủ điều. Anh chàng cũng đã từng
nghe tiếng hai chị em nhà họ Vương:
Trộm
nghe thơm nức hương lân,
Một
nền Ðồng-Tước khóa xuân hai Kiều[19]
Nước
non cách mấy buồng thêu,
Những
là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng.
Và
đây là cơ hội đầu để Kim Trọng gặp hai cô nàng:
May
thay giải cấu tương phùng[20]
Gặp
tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa[21].
Bóng
hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân
lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người
quốc sắc kẻ thiên tài
Tình
trong như đã mặt ngoài còn e.
Kim
Trọng đã chú ý tới Kiều và Kiều cũng chú ý tới Kim Trọng.
Tiếng sét đã nổ. Chỉ có tám chữ thôi: Tình trong như đã
mặt ngoài còn e. Bên ngoài thì có ai nói gì với ai đâu. Bên
trong thì đã có nội kết êm ái rồi.
Chập
chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn
ngồi chẳng tiện dứt về chỉnh khôn.
Ở
thêm để nói chuyện thì kỳ quá mà về thì không dứt nổi.
Nhưng cuối cùng cũng phải về:
Bóng
tà như giục cơn buồn,
Khách
đà lên ngựa người còn ghé theo.
Dưới
cầu nước chẩy trong veo,
Bên
cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Chấm
dứt buổi hội ngộ. Văn chương gì mà hay vậy!
TƯỚI
TẨM HẠT GIỐNG
Tất
cả những gì xảy ra trong chuyến đi chơi đều được biểu
hiện trở lại ngay trong giấc mộng tối hôm đó của Thúy
Kiều. Hạt giống gieo và đều hiện hành ra ngay. Thật dễ
sợ. Ðây là chỗ tài tình của Nguyễn Du.
Kiều
từ trở gót trướng hoa,
Mặt
trời gác núi chiêng đà thu không.[22]
Gương
nga chênh chếch dòm song,
Vàng
gieo ngấn nước cây lồng bóng sân.
Hải
đường lả ngọn đông lân,
Giọt
sương gieo nặng cảnh xuân la đà.
Một
mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn
đường gần với nỗi xa bồi hồi:
Kiều
ngồi ở cửa sổ, một mình ngắm trăng. Cô suy nghĩ lại chuyện
xảy ra trong ngày:
Người
mà đến thế thì thôi,
Ðời
phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người
đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm
năm có biết duyên gì hay không?
‘Người’
trong câu đầu là Ðạm Tiên. ‘Người’ trong câu kế tiếp
là Kim Trọng. Thúy Kiều có nội kết với Kim Trọng rất rõ
ràng.
Ngổn
ngang trăm mối bên lòng,
Nêu
câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
Hết
nghĩ tới con ma lại nghĩ tới anh chàng. Nghĩ tới anh chàng
rồi lại nghĩ tới con ma... Rồi làm thơ về những điều
mình nghĩ. Ðây là hành động tự mình tưới tẩm những hạt
giống trong tâm mình.
Chênh
chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa
ngồi bên triện một mình thiu thiu.
Không
chịu đi ngủ đàng hoàng. Ngồi ngủ gục, và Kiều mơ thấy
Ðạm Tiên:
Thoát
đâu thấy một tiểu kiều,
Có
chiều phong vận có chiều thanh tân.
Sương
in mặt tuyết pha thân,
Sen
vàng lãng đãng như gần như xa.
Một
cô rất đẹp, đến từ trong đêm. Bước chân rất nhẹ, thấp
thoáng khi thì ở gần khi thì ở xa. Ðúng là một bóng ma!
Vì vậy người ta nói cụ Nguyễn Du là thi thánh chứ không
phải là một thi sĩ thường.
Rước
mừng đón hỏi dò la:
‘Ðào
nguyên lạc lối đâu mà đến đây?’
Thưa
rằng: ‘Thanh khí xưa nay,
‘Mới
cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
‘Hàn
gia ở mái tây thiên,
‘Dưới
lòng nước chảy bên trên có cầu.
- ‘Chị
em mình là người đồng thanh đồng khí. Mình vừa mới gặp
nhau chiều nay, chị quên rồi sao? Nhà em ở hướng tây, dưới
dòng nước chảy, bên trên có cầu.’ Hàn gia có thể có nghĩa
là khiêm nhượng là nhà nghèo, không sang trọng. Nhưng ‘hàn’
cũng có nghĩa là lạnh. Nhà lạnh tức là nhà mồ.
‘Mấy
lòng hạ cố đến nhau
‘Mấy
lời hạ tứ ném châu gieo vàng[23]
‘Vâng
trình hội chủ xem tường,
‘Mà
xem trong sổ đoạn trường có tên.
‘Âu
đành quả kiếp nhân duyên,
‘Cũng
người một hội một thuyền đâu xa!
‘Này
mười bài mới mới ra,
‘Câu
thần lại mượn bút hoa vẽ vời.’
Ðạm
Tiên đã đem thơ của Kiều trình cho bà hội chủ hội Ðoạn
Trường. Bà này mở sổ của những người đàn bà có số
phận mỏng ra tra và thấy tên Kiều. Ðạm Tiên đưa thêm mười
bài mới, yêu cầu Thúy Kiều vịnh để bỏ vào tuyển tập
(collection) của hội Ðoạn Trường. Họ là những người suốt
đời đau khổ. Trong nguyên tác, mười đề bài đó là: Tích
đa tài, Liên bạc mệnh, Bi kỳ nộ, Ức cố nhân, Niệm nô
kiều, Ai thanh xuân, Ta kiến ngộ, Khổ linh lạc, Mộng cố
viên và Khốc tương tư. Toàn là những đề tài đứt ruột.
Thúy Kiều chỉ cần mấy phút đồng hồ là làm xong cả mười
bài thơ.
Kiều
vâng lĩnh ý đề bài,
Tay
tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem
thơ nức nở khen thầm:
‘Giá
đành tú khẩu cẩm tâm khác thường!
‘Ví
đem vào tập đoạn trường,
‘Theo
treo giải nhất chi nhường cho ai!’
- ‘Thơ
của chị hay quá! Bỏ vào tập Ðoạn Trường là hay nhất,
không ai bằng.’ Nói xong Ðạm Tiên cầm mấy bài thơ và từ
biệt. Kiều còn muốn giữ lại:
Thềm
hoa khách đã trở hài,
Nàng
còn cầm lại một hai tự tình.
Gió
đâu sịch bức mành mành.
Tỉnh
ra mới biết là mình chiêm bao.
Trông
theo nào thấy đâu nào,
Hương
thừa phảng phất ra vào đâu đây.
Kiều
tỉnh dậy còn nghe của mùi nước hoa của con ma mới ghé thăm
đó.
Một
mình lưỡng lự canh chầy,
Ðường
xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!
Thấy
khúc đời còn lại của mình mà ngán quá. Không dám sống.
Hoa
trôi bèo dạt đã đành,
Biết
duyên mình biết phận mình thế thôi!
Nỗi
riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ
đời còn lại sụt sùi đôi cơn.
Tâm
Kiều như có những đợt sóng lên xuống. Càng suy nghĩ chừng
nào thì Kiều càng khóc lớn chừng đó. Bà Vương đang ngủ
gần đó bị quấy rầy:
Giọng
Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà
huyên[24] chợt tỉnh hỏi con cớ gì:
‘Cớ
sao trằn trọc canh khuya,
Màu
hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?’
Thưa
rằng: ‘Chút phận ngây thơ.
‘Dưỡng
sinh đôi nọ tóc tơ chưa đền.
‘Buổi
ngày chơi mả Ðạm Tiên,
‘Nhắp
đi thoát thấy ứng liền chiêm bao.
‘Ðoạn
trường là số thế nào,
Bài
ra thế ấy vịnh vào thế kia.
‘Cứ
trong mộng triệu mà suy,
‘Phận
con thôi có ra gì mai sau!’
Bà
mẹ nói: ‘Ôi những cái chuyện nằm mơ! Do tâm mình tưởng
ra như vậy, tin vào đó thì chết. Tại sao tự mua chuốc chuyện
sầu não làm gì hả con? Con đừng tin vào những giấc mộng.
(Bà nói như vậy thôi nhưng trong lòng bà cũng lo sợ lắm!)
Dạy
rằng: ‘Mộng huyễn cứ đâu,
‘Bỗng
không mua não chuốc sầu nghĩ nao!
Vâng
lời khuyên giải thấp cao,
Chưa
xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.[25]
Vừa
được mẹ khuyên can về chuyện con ma xong, thấy lòng có nhẹ
bớt một chút thì Kiều lại nghĩ đến chuyện Kim Trọng.
Ngoài
song thỏ thẻ oanh vàng,
Nách
tường bông liễu bay sang láng giềng.
Hiên
tà bóng gác nghiêng nghiêng,
Nỗi
riêng riêng chạnh tấc riêng một mình.
Hai
đứa em dại quá, không thể hiểu được tâm sự của chị
Thúy Vân thì đang ngủ khì. Vương Quan là con trai, mình đâu
có tâm sự được với nó. Nói với mẹ lại càng không được:
Con gái gì mới gặp con trai đã thương, đã đặt vấn đề
có liên hệ gì với anh chàng sau này không! Thúy Kiều rất
cô đơn trong tâm trạng này. Chúng ta sẽ đọc tâm trạng của
anh chàng.
Có
một điều cần nói ở đây. Bản nhạc Kiều sáng tác là
một bản nhạc rất buồn. Mỗi lẫn đàn lên, Kiều lại có
cơ hội tưới tẩm những hạt giống của sự đau buồn đó.
Rất nguy hiểm. Vì vậy tôi nghĩ rằng khi tiêu thụ các sản
phẩm văn nghệ chúng ta phải chọn những bài lành mạnh, có
sự cởi mở, nhẹ nhàng, giải thoát. Phải cẩn thận như
khi chúng ta ăn. Nếu chúng ta biết chọn những thức ăn không
có độc tố thì chúng ta cũng phải biết chọn những sản
phẩm văn hóa lành mạnh tiêu thụ. Tôi không muốn chúng ta
hát ngâm những bài rền rĩ đau thương quá. Ngâm, hát những
câu thơ và những bài hát đó chúng ta đang thực tập tưới
tẩm những hạt giống đau thương trong mình. Có một thầy
trẻ ngâm thơ hay. Mỗi khi ngâm những bài thơ buồn thì thầy
khóc nức nở, không còn tác phong của người tu hành nữa.
Thầy không biết chính trong lúc đó thầy đang tưới tẩm
những hạt giống đau thương. Trong thiền có rất nhiều thi
ca và âm nhạc nhưng thi ca và âm nhạc Thiền phải nhắm tới
mục đích giải phóng và chuyển hóa. Ngồi đó mà đọc và
nghe những bài thơ và bài nhạc đau thương, hưởng cái thú
gọi là ‘thú đau thương’ là thực tập ngược lại thiền.
Gãi, cào, cấu những nỗi đau của mình như vậy cũng có sự
thú vị, nhưng càng thú chừng nào thì hạt giống buồn đau
càng lớn chừng đó. Rất nguy hiểm. Hình ảnh những chàng
trai, những cô gái còn trẻ ôm một cái băng của Thanh thúy
nằm nghe rồi rên xiết là một hình ảnh rất tiều tụy.
Ngày
xưa, khi chị Cầm của tôi đọc truyện Kiều cho mẹ tôi nghe,
ngang câu ‘Phấn sao phấn bạc như vôi, Ðã đành nước chảy
hoa trôi lở làng’ mẹ tôi nói: ‘Ðâu có! Trong sách để
‘phận’ rõ ràng mà, tại sao lại dọc ‘phấn?’ mẹ tôi
nói: ‘Ðúng rồi. Viết là ‘phận’ nhưng nếu mình đọc:
‘Phận sao phận bạc như vôi’ thì mình cũng đang làm khổ
Kiều vậy. Mình sẽ vận nó vào trong người. Rất nguy hiểm.
Thành ra phải đọc là ‘phấn’ (để chứng tỏ là mình
khác). Lúc đó mấy chị em mới hiểu là trong văn hóa của
mình có truyền thống tự bảo hộ như vậy. Không phải chỉ
trong đạo Phật người ta mới cẩn thận trong việc tưới
tẩm hạt giống, chính trong văn hóa Việt Nam cũng có truyền
thống kiêng cữ. Người còn gái nào chơi đàn Ðộc huyền
cầm (đàn bầu) nhiều thì người ta tin rằng cô sẽ suốt
đời đau khổ. Tiếng Ðộc huyền rất ‘trệ’, làm người
nghe lụy xuống. Ngồi đó mà chơi “Ðêm tàn bến Ngự”...
tưới tẩm hoài những hạt giống đau thương thì thế nào
cũng có một ngày mình sẽ lãnh đủ. Ðây là chuyện thực
tập. Người tu mà không biết chuyện này là có thiếu sót.
Có
một thi sĩ làm thơ hô hào những nhà sáng tác, những ca sĩ
từ bỏ lối sáng tác và ca hát đau thương đứt ruột. Ông
ta viết những câu này, tôi còn nhớ:
Ðừng
kể nữa những mảnh tình tan tác,
Hãy
đứng lên, nhạc sĩ, với tôi đi!
Tôi
ghét anh ưa giọng hát sầu bi,
Và
tung mãi tâm hồn thường trụy lạc.
Hãy
đứng dậy! Vứt chiếc cầm áo não!
Tôi
cần nghe những khúc nhạc rất hùng.
Thét
ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân,
Sáng
như gươm tuốt, mạnh như luồng bão.
Ôi
nhạc sĩ! Thật anh người thậm tệ!
Quan
hoài chi những khúc hát mê ly,
Những
câu ca không đẹp lại không thi
Của
kỹ nữ vọc cuộc đời ê trệ?
Hay
cung kính nhượng những người tuổi tác,
Những
bản đàn nhịp hát thiếu tinh thần.
Hãy
ra xem sóng vỗ với mây vần,
Và
sáng chế cho tôi vài điệu khác.
Nếu
chúng ta cứ hát những bài khóc gió than mây và cứ nghe những
bài độc huyền thì có thể ‘vận cái rủi’ vào số mạng
của mình, tưới tẩm những hạt giống đau buồn, điều đó
không tốt.
GIỐNG
HỮU TÌNH
Ðây
là tình cảm của Kim Trọng sau cuộc gặp gỡ đầu tiên với
Kiều:
Cho
hay là giống hữu tình,
Ðố
ai gỡ mối tơ mành cho xong!
Cụ
Nguyễn Du nói tới chàng sinh viên này như nói về chính cụ.
Cụ là một người có rất nhiều tình. Có nhiều tình thì
có thể có nhiều đau khổ. Người ta nói đến một ‘giống’
người (race) gọi là ‘nòi tình’. Thúy Kiều, Kim Trọng và
cụ Nguyễn Du đều thuộc ‘chủng tộc’ này. Cho nên cụ
rất thông cảm. ‘Cho hay là giống hữu tình’ có nghĩa là:
‘Tôi biết mà! Anh thuộc về cái giống hữu tình thì thế
nào anh cũng bị kẹt’. Hồi trẻ chắc chàng Nguyễn Du cũng
đa tình lắm! Chắc chàng cũng đã nhiều lần bị kẹt.
‘Ðố
ai gỡ mối tơ mành cho xong’: đã vướng vào vòng tình ái
rồi thì gỡ ra rất khó. Ðây là cụ nói ra từ kinh nghiệm
của mình, Chữ tình ở đây là thứ tình yêu có đam mê. Nhưng
chữ tình có thể chỉ nhiều loại tình cảm khác. Ví dụ
Từ, Bi, Hỷ, Xả cũng là tinh, nhưng tình này không có tính
đam mê. Tôi nhớ ở chùa Trúc Lâm, Huế các thầy dùng chữ
rất táo bạo. Trong thiền thất, các thầy để lại hai câu
đối như thế này:
Bất
tục tức Tiên cốt
Ða
tình thị Phật tâm.
Cốt
cách của người tiên thì thanh, trong trần tục. Trái tim của
Bụt là một trái tim có nhiều tình thương. Bụt thương, không
phải chỉ một người mà rất nhiều người. Từ loài người
cho đến ‘con sóc, con nai, con muỗi, con giun, con chim, con cá...’[26]
Như vậy là ‘đa tình’ chứ gì nữa! Tôi dịch là; Cốt
tiên là không tục, Tâm Bụt vốn nhiều tình. Tình như tình
của Bụt thì càng nhiều càng tốt, không sao hết. Tình đam
mê, bi lụy, chiếm hữu, dính mắc... thì mới ngán. Về thăm
chùa Trúc Lâm quý vị sẽ thấy hai câu đối đó.
Vướng
vào cái vòng tình ái gỡ ra rất khó. Chàng thư sinh nọ gặp
người đẹp rồi, về đọc Tứ thư, Ngũ kinh, Ðại học,
Trung dung, Luận ngữ... không vô nữa. Văn sách, Kinh nghĩa không
làm gì được cả. Sách vỡ, chữ nghĩa chạy đi đâu hết,
chỉ có hình ảnh nàng Kiều trấn ngự trong lòng thôi.
Chàng
Kim từ lại thư song,
Nỗi
nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu
đong càng lắc càng đầy,
Ba
thu dọn lại một ngày dài ghê!
Một
ngày thương nhớ dài như ba năm. Thi sĩ dùng hình ảnh một
hũ sầu để nói về sự nhung nhớ. Người ta thường lắc
hủ để dồn những vật bên trong lắng xuống đáy, làm hũ
vơi đi. Cái hũ sầu ở đây càng lắc càng thêm đầy. Ðúng
là thơ!
NHỚ
ÍT TƯỞNG NHIỀU
Mây
Tần khóa kín song the,
Bụi
hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.[27]
Tuần
trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt
tơ tưởng mặt lòng khao khát lòng.
Ðọc
những câu thơ này chúng ta đừng cười Kim Trọng. Có cười
nên cười thi sĩ Nguyễn Du, một nhà Nho đang làm quan ở triều
đình mà viết những câu thơ về tình tương tư như vậy.
Phòng
văn hơi giá như đồng,
Trúc
se ngọn thỏ tơ chùng phím loan.
Mành
Tương phân phất gió đàn,[28]
Hương
gây mùi nhớ trà khan giọng tình.
Ví
chăng duyên nợ ba sinh,
Làm
chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
Tội
nghiệp! Lâm vào tình cảnh này thật là nguy hiểm lắm. Không
làm ăn gì được cả. Không sinh hoạt gì được trong phòng
học cả (phòng văn lạnh ngắt như đồng): bút (lông thỏ)
lâu ngày không viết ngọn khô quặn lại, đàn không gảy dây
chùng lại, trà không pha, hương không đốt. Hoàn toàn tê liệt
vì sự nhớ tưởng đến bóng hình kia. Nhớ quá, chịu không
nổi, không biết làm gì hơn là tìm trở lại nơi chốn đã
gặp nàng thăm để cho đỡ nhớ:
Bâng
khuâng nhớ cảnh nhớ người,
Nhớ
nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một
vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước
ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.
Bên
dòng suối ngày xưa làm gì còn bóng dáng người kia nữa! Nước
đâu lưu lại bất cứ hình bóng nào. Cỏ bây giờ đã gần
thành cỏ tháng tư, xanh hơn màu cỏ tháng ba nhiều lắm. Thà
rằng không tới, tới càng buồn thêm:
Gió
chiều như giục cơn sầu,
Vi
lô hiu hắt như màu khói trêu.
Những
cây lau lắc lư trước gió như trêu chọc kẻ si tình: “A
cái anh chàng! Còn gì nữa đâu mà tìm kiếm ở đây!” Nhớ
nhung quá, anh chàng tìm luôn tới nhà cô nàng:
Nghề
riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm
xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
‘Nghề
riêng’ là tập khí nhà văn của anh chàng. Kim Trọng viết
văn hay, dùng trí tưởng tượng nhiều hơn ký ức về những
chuyện có thật. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều nghĩa là
những cái nhớ được thì rất ít nhưng những cái tưởng
tượng ra thì rất nhiều. Thường thường là như vậy. Khi
yêu, giận hay buồn người ta tưởng tượng ra nhiều cái rất
ngộ, không có trong sự thật. Vẽ vời bao nhiêu là cái...
Ðâu cần phải là nhà văn! Kẻ nào đang bị lôi cuốn theo
tình cảm yêu, giận, buồn, ganh... của mình đều tạo tác
ra rất nhiều “tưởng” để bị bao vây trong thế giới
của tưởng. Anh chàng tưởng tượng tới nhà Kiều sẽ gặp
được người đẹp, rồi gì gì nữa. Nhưng tới nơi thì chàng
thấy gì?:
Thâm
nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn
dòng lá thắm dứt đường chim xanh.[29]
Xung
quanh bốn bức tường cao, nhìn vào cũng không thấy được
gì. Không có phương tiện để liên lạc, nhắn tin. Ði quanh
một vòng rồi về chứ làm gì nữa!
Lơ
thơ tơ liễu buông mành,
Con
oanh học nói trên cành mỉa mai.
Những
cây liễu buông rũ xuống như bức mành. Trên cây có con chim
oanh tập hót, chọc ghẹo anh chàng: ‘Anh chàng si tình ơi!
Ðứng đó làm gì? Ði về cho rồi!’ Tâm trạng anh chàng như
vậy nên thấy cái gì cũng như đang trêu chọc mình hết. Cụ
Nguyễn Du không nói: “anh chàng nhớ cô nàng quá, thất vọng
quá”... mà dùng toàn hình ảnh để diễn đạt ý đó. Dùng
hình ảnh để nói, đó là thơ.
Mấy
lần cửa đóng then cài,
Ðầy
thềm hoa rụng biết người ở đâu?
Tần
ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo
quanh chợt thấy mé sau có nhà.
Là
nhà Ngô Việt thương gia,
Phòng
không để đó người xa chưa về,
Lấy
điều du học hỏi thuê,
Túi
đàn cặp sách đề huề dọn sang.
Dọn
đến làm hàng xóm. Ở một, hai bữa không gặp nhưng ba, bốn
bữa chắc thế nào cũng có dịp gặp. Người ta cũng phải
mở cửa đi ra chứ không lẽ ở hoài trong nhà sao! Ðó là
hy vọng của chàng Kim.
Có
cây có đá sẵn sàng.
Có
hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai.
Nhà
có cảnh đẹp và lại có một cái hiên ngắm hoa đề ba chức
“Lãm Thúy Hiên”. Lãm là ngắm, Thúy là màu xanh đẹp của
cây cảnh, trùng với chữ trong tên của Thúy Kiều. Vì vậy
Kim Trọng mừng:
Mừng
thầm chốn ấy chữ bài,
Ba
sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Ðúng
là khi đam mê người ta hay tưởng tượng và suy diễn theo
cái muốn của mình. Ba sinh là nói đến chuyện hôn nhân. Ngày
xưa khi gặp người còn trai hay người con gái mà thương thì
người ta nghĩ ngay đến chuyện cưới nhau làm vợ chồng.
Không có chuyện chỉ liên hệ trong chốc lát hay chỉ đi chơi
như đời bây giờ. Bây giờ người ta gặp cô nầy xong thì
gặp cô khác, đang chơi với cô nầy, thấy cô khác xinh xinh
cũng chạy theo luôn. Có hai ba người một lần. Chính ngay trong
số thiền sinh tới đây cũng có người đồng thời chơi với
hai ba cô. Nhất là ở Ðức. Có người tới thưa: ‘Bạch
Thầy, con thương ba người một lần. Bây giờ làm sao?’ Quý
vị ra hành đạo bây giờ khó lắm! Ngày xưa dạy cho anh chàng
Kim Trọng này thì còn dễ.
Sông
hồ nửa khép cánh mây,
Tường
đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
Tấc
gang động khóa nguồn phong,[30]
Tuyệt
mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Rình
hoài. Cửa sổ không bao giờ đóng hết. Cách nhau trong gang
tấc mà hoàn toàn không sao gặp mặt được. Ngóng đợi như
vậy, hai tháng trôi qua.
Cách
tường phải buổi êm trời,
Dưới
đào dường có bóng người thướt tha.
Buông
cầm xốc áo vội ra,
Hương
thơm còn nức người đà vắng tanh.
Một
hôm thấy nhàbên kia có thấp thoáng bóng người, anh chàng
buông đàn, xốc áo và chạy ra liền. Rình hoài mà. Ra tới
thì cô nàng đã đi mất rồi, chỉ còn mùi nước hoa thoang
thoảng.
Lần
theo tường gấm dạo quanh,
Trên
đào nhác thấy một cành kim thoa.
Không
biết Kiều đã làm rớt cành thoa thật hay nàng đã cố tình
để nó lại trên cành đào? Ðây là một nghi án phải điều
tra. Cô nàng có thể cũng biết có anh chàng ở bên cạnh nhưng
không dám ra. Cái cách ngày xưa là như vậy. Vô tình hay hữu
ý xin để tùy người đọc phán đoán.
Giơ
tay với lấy về nhà:
‘Này
trong khuê các đâu mà đến đây?
‘Gẫm
âu người ấy báu này,
‘Chẳng
duyên chưa dễ vào tay ai cầm!’
Ngộ
nghĩnh không! Chiếc trâm ở bên nhà người ta mà mình lại
nhón qua lấy. Cố tình ‘với lấy’ rồi đoán vào là duyên
mình.
Liền
tay ngắm nghía biếng nằm,
Hãy
còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Ngắm
nghía không ngủ suốt đêm. Có cảm tưởng hương trầm của
người đẹp còn thoang thoảng nơi cây trâm.
ÐÀI
GƯƠNG SOI ÐẾN DẤU BÈO CHO CHĂNG?
Tan
sương đã thấy bóng người,
Quanh
tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ,
Sinh
đà có ý đợi chờ,
Cách
tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
‘Thoa
này bắt được hư không,
Biết
đâu Hợp Phố mà mong châu về[31]
Cây
thoa của Kiều vướng trên cành đào. Nhánh đào phải nằm
bên “không phận” nhà bên kia chứ đâu qua nhà bên này được.
Vói lấy của người ta rồi nói: ‘bắt được hư không!’
Tiếng
Kiều nghe lọt bên kia:
‘Ơn
lòng quân tử sá gì của rơi.
‘Chiếc
thoa là của mấy mươi,
‘Mà
lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!’
Nghĩa
khí là lòng ngay thẳng, thành thật, trong trắng của con người.
Cô ta khen anh chàng: ‘Chiếc thoa là của mấy mươi, Mà lòng
trọng nghĩa khinh tài xiết bao!’ Cô cũng lịch sự và khéo
léo lắm!
Sinh
rằng: Lân lý ra vào,[32]
‘Gần
đây nào phải người nào xa xôi.
‘Ðược
rày nhờ chút thơm rơi,
‘Kể
đà thiểu não lòng người bấy nay!
‘Bấy
lâu mới được một ngày,
‘Dừng
chân gạn chút niềm tây gọi là.’
Vội
về thêm lấy của nhà,
Xuyến
vàng đôi chiếc khăn là một vuông.
Thang
mây rón bước ngọn tường,
Phải
người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe?
Anh
chàng mừng quá, tấn công liền. Chạy về lấy quả, vác thang
bắc vào tường leo lên, chàng nhìn qua nhà hàng xóm.
Sượng
sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ
nhìn rõ mặt người e cúi đầu.
Chúng
ta thấy được thái độ của hai người. Anh con trai thì cảm
thấy may mắn quá, cố nhìn cho rõ mặt cô nàng. Hôm trước
dại quá, phải làm bộ nói chuyện với Vương Quan thành ra
chỉ liếc sơ sơ. Bây giờ nhất định phải nhìn cho rõ. Người
con gái thì sượng sùng, giữ ý, rụt rè và e lệ cúi đầu,
không dám nhìn thẳng lên. Con gái nhà nề nếp mà! Nhưng chỉ
nề nếp tới một mức nào đó thôi. Anh chàng nói:
Rằng:
‘Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
‘Thầm
trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn.
‘Xương
mai tính đã rũ mòn,
‘Lần
lừa ai biết hãy còn hôm nay!
‘Tháng
tròn như gửi cung mây,
‘Trần
trần một phận ấp cây đã liều!’[33]
Anh
chàng chờ lâu quá. Tháng này qua tháng khác, chờ đợi đến
nỗi ốm đi, chỉ còn da bọc xương. Bây giờ là cơ hội cho
nên anh chàng tấn công thẳng:
‘Tiện
đây xin một hai điều:
Ðài
gương soi đến dấu bèo cho chăng?’
Ðặt
yêu cầu rất rõ: ‘Cô có đáp ứng được niềm thương yêu
của tôi không?’ chàng nói rất khéo: ‘Ðài gương soi đến
dấu bèo cho chăng?’ Rất tội nghiệp. Ví cô nàng như gương
sen, ở trên soi xuống; thân phận chàng con trai thì chỉ như
thân bèo nhỏ bé ở sát mặt nước nhìn lên gương sen. Lúc
chưa có được người đẹp thì phải nói như vậy mới có
hy vọng chiếm được. Cưới được rồi thì có thể nói
ngược lại. Có thể nói những điều rất kỳ: Em không được
tích sự gì hết! Nấu nối cơm cũng không chín. Nghe nói ở
Paris có một anh chàng Tây muốn cưới một cô Việt Nam. Ðến
nhà cô nàng, anh chàng khen: Trời ơi, nhà em đốt nhang sao mà
thơm quá! Ðến khi cưới rồi, thì: Ðốt nhang làm gì mà đốt
mãi thế? Ngộp quá! Làm dơ trần nhà hết trơn! Anh chàng của
chúng ta đang ở giai đoạn chưa chiếm hữu được thành ra
rất dễ thương: ‘Tiện đây xin một hai điều, Ðài gương
soi đến dấu bèo cho chăng?’
Ngần
ngừ nàng mới thưa rằng:
‘Thói
nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong.[34]
‘Dù
khi lá thắm chỉ hồng,[35]
‘Nên
chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
‘Nặng
lòng xót liễu vì hoa,
‘Trẻ
thơ đã biết đâu mà dám thưa!’
Ðó
là cách trả lời của con gái ngày xưa. Dầu bằng lòng rồi
đi nữa cũng phải nói: ‘Em không biết. Cái đó anh hỏi ba
má em.’ ‘Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong’ là
gia đình sống một nếp sống truyền thống, giản dị, khỏe
mạnh và đạo đức.
Sinh
rằng: Rày gió mai mưa,
‘Ngày
xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Vô
thường lắm cô ơi! Có mấy cơ hội may mắn như ngày hôm
nay:
‘Dù
chăng xét tấm tình si
‘Thiệt
đây mà có ích gì đến ai?
Chút
chi gắn bó một hai,
Cho
đành rồi sẽ liệu bài mối manh.
Nếu
em không xét lại mà một mực dù từ chối thì chắc anh sẽ
chết mất! Thiệt thòi cho anh mà chẳng có ích lợi gì cho
em đâu! Em bằng lòng đi cho anh an tâm rồi anh sẽ đi tìm người
tới làm mối mai hỏi em. Anh chàng này chắc đi học trường
luật để ra làm trạng sư được!
‘Khuôn
thiêng dù phụ tấc thành.
‘Cũng
liều bỏ quá xuân xanh một đời.
Nếu
trời không cho anh cưới được em thì anh sẽ chết. Anh thề
sẽ không cưới ai nữa hết. Tuổi trẻ của anh coi như là
bỏ đi. Sinh mạng anh tùy thuộc vào em. Em nói “Yes” thì
anh sống, mà nói “No’ thì anh chết. Ghê không? Những chàng
sinh viên thời này chưa chắc nói được như vậy!
Lượng
xuân dù quyết hẹp hòi.
Công
đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!
‘Em
không tội nghiệp anh sao? Mấy tháng nay anh không ăn, không
ngủ, không học, không đàn, không pha trà, không viết lách.
Ốm tong teo. Mở cửa sổ suốt ngày đêm để nhìn qua như
vậy thôi...’ Ðó là tất cả những điều mà người con
trai có thể nói. Nói như vậy thì làm sao Kiều có thể từ
chối được? Nhất là Kiều đã có nội kết sẵn rồi.
Lặng
nghe lời nói như ru,
Chiều
xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.[36]
Rằng;
‘Trong buổi mới lạ lùng,
‘Nể
lòng có lẽ cầm lòng cho đang!
Có
một giây phút gọi là giây phút thua trận. Kháng chiến đã
thất bại. Mặt trận đã vỡ. Thành trì đã bị quân địch
phá đổ rồi!
‘Ðã
lòng quân tử đa mang,
‘Một
lời vàng tạc đá vàng thủy chung.’
Như
vậy là trận đánh đã kết thúc. Ngày xưa ông Vương có nói
với bà Vương như vậy không? Chắc cũng na ná như vậy chứ
gì!
Ðược
lời như cởi tấm lòng,
Giở
kim hoàn với khăn hồng trao tay.
Rằng:
‘Trăm năm cũng là đây,
‘Của
tin gọi một chút này làm ghi.’
Sẵn
tay khăn gấm quạt quỳ,
Với
cành thoa ấy tức thì đổi trao.
Trao
đổi tặng phẩm để cụ thể hóa mối tình, làm tin sự đính
ước.
Một
lời vừa gắn tất giao,
Mái
sau dường có xôn xao tiếng người.
Có
tiếng người đi tới.
Vội
vàng lá rụng hoa rơi,
Chẳng
về viện sách nàng dời lầu trang.
Không
có cách gì để có thể viết hay hơn nữa. Hai người đang
gặp nhau, nghe tiếng động vội vàng xa nhau. Một bên là hoa,
một bên là lá. Hình ảnh ‘lá rụng hoa rơi’ hay ở chỗ
rất nhẹ nhàng không ai biết.
TỪ
PHEN ÐÁ BIẾT TUỔI VÀNG
Từ
phen đá biết tuổi vàng,
Tình
càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ.
Hay
câu rất hay. Rất đúng chân lý. Trước kia thầm yêu, trộm
nhớ, khổ và thiếu nhau thiệt. Tưởng gặp được nhau, nói
được những lời thương yêu, hứa hẹn với nhau thì đỡ
khổ. Ai dè sau đó thì càng nhớ, càng khổ, càng thiếu nhau
thêm. Ở xa, mình tính bỏ ra ba trăm quan nói chuyện điện
thoại với người kia, nghĩ rằng nói xong thì thương nhớ
nhẹ bớt. Ai dè, nói xong lại càng thấy xôn xao và nóng nảy,
bồn chồn hơn. Cái mà mình tưởng sẽ làm cho mình thỏa mãn,
hết khổ lại làm cho mình khát khao, khổ sở nhiều lần.
Ðây là một sự thực, được nói ra không phải từ Kinh điển
mà từ kinh nghiệm của người đời. Nói kinh nghiệm chứ
không phải là thuyết pháp. Giá trị của sự thực này không
thua gì giá trị của một câu Kinh.
Sông
Tương một dải nông sờ,
Bên
trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
Ðây
là hai câu lấy ý đoạn thơ trong Tình Sử:
Quân
tại Tương giang đầu,
Thiếp
tại Tương giang vĩ
Tương
tư bất tương kiến
Ðồng
ẩm Tương giang thủy.
(Chàng
ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương, nhớ nhau
mà không thấy mặt nhau, {dù} cùng uống nước sông Tương).
Làm sao mà gặp được nhau hoài hoài, mỗi ngày, mỗi giờ,
mỗi phút? Một lần là đã quá may mắn rồi!
NGẪM
CƠ HỘI NGỘ ÐÃ ÐÀNH HÔM NAY
Lần
lần ngày gió đêm trăng,
Thưa
hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Màu
hồng ít đi, màu lục nhiều hơn. Mùa Xuân đã nhường chỗ
cho mùa Hè.
Ngày
vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên
hai đường dưới nữa là chị em.
Tưng
bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện
dâng một lễ xa đem tấc thành.
Gia
đình Thúy Kiều về bên ngoại ăn sinh nhật. Kiều ở nhà,
cố nhiên là cô lấy cớ: ‘Con nhức đầu. Con xin ở nhà.’
Ðây là cơ hội để đi gặp anh chàng.
Nhà
lan thanh vắng một mình,
Ngẫm
cơ hội ngộ đã đành hôm nay.
Thời
trân thức thức sẵn bày,
Gót
sen thoan thoát dạo ngay mái tường.
Kiều
nấu vài món thật ngon, chạy ra chỗ hai người đã gặp và
thề thốt. Thời trân là những món ăn trong mùa. Mùa nào có
thức ăn mùa đó. Ví dụ mùa Xuân có rau tía tô, kinh giới
(thì làm xuân quyện), màu hè có rau xà lách, bông bí...; Những
món ăn trong mùa thì tươi và ngon (thời trân). Không nhằm
mùa mà mua ăn (hay ăn đồ hộp) thì không ngon nữa. Một thi
sĩ Việt Nam trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập có câu; Ðáy đĩa mùa
đi nhịp hải hà. Bốn mùa đi ngang qua đáy đĩa theo nhịp
của sông và biển. Mùa nào ăn món ngon của mùa đó, chỉ
có ý ấy mà nói một cách rất ‘điệu’,
Cách
hoa sẽ dặng tiếng vàng,
Dưới
hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Cô
nàng vừa đằng hắng một cái thì đã thấy anh chàng đứng
sẵn ở bên kia rồi. Làm sao anh ta biết nhà bên kia hôm nay
đi ăn sinh nhật bên ngoại mà đứng chờ? Thiệt là tài tình!
Thật ra cả ngày anh có làm ăn được gì đâu, suốt ngày
chỉ nhìn qua bên này, chờ đợi thôi mà. Và bây giờ anh chàng
trách:
Trách
lòng hờ hững với lòng,
‘Lửa
hương chốc để lạnh lùng bây lâu.
‘Những
là đắp nhớ đổi sầu,
‘Tuyết
sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.’
Anh
chàng cường điệu hóa! Mới có hai mươi mấy tuổi đầu
làm sao mà tóc bạc được.
Nàng
rằng: ‘Gió bắt mưa cầm,
‘Ðã
cam tệ với tri âm bấy chầy.
‘Vắng
nhà được buổi hôm nay,
‘Lấy
lòng gọi chút ra đây tạ lòng!
Hai
chữ lòng được sử dụng rất khéo. Ðáp lại tấm lòng bằng
một tấm lòng. Khi viết truyện Am Mây Ngủ tôi cũng bắt chước
cách nói của cụ Nguyễn Du: ‘Tác giả đã lấy lòng của
một thiền sư để hiểu lòng của một thiền sư (Trúc Lâm
Ðại Sĩ).’
Bây
giờ Kiều đi vòng theo hòn non bộ, thấy cuối tường có một
cái lỗ có thể đi chui vừa được rào lại.
Lần
theo núi giả đi vòng,
Cuối
tường dường có nẻo thông mới rào.
Xắn
tay mở khóa động đào,
Rẽ
mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Xé
rào, chui lỗ tường qua gặp nhau mà nói rất văn hoa.
Mặt
nhìn mặt càng thêm tươi,
Bên
lời vạn phúc bên lời hàn huyên.[37]
Sánh
vai về chốn thư hiên,
Góp
lời phong nguyệt nặng nguyền non sông.[38]
KHÔNG
GIAN TRONG BỨC HỌA
Trên
yên bút giá thì đồng,
Ðạm
thanh một bức tranh tùng treo trên.[39]
Thi
đồng là cái hộp đựng những bài thơ mới làm. Bút giá
là giá gác bút. Ngày xưa tôi nghèo quá, không có cái thi đồng.
Nhiều khi làm thơ để rơi rụng, bay đi đâu mất cả. Nhất
là khi có ý thơ muốn viết ra lại lấy mấy cái bì thư cũ,
viết vào năm bảy câu, sau tưởng là rác đem liệng mất.
Rất uổng. Phải mà có cái hộp, làm bài nào cũng bỏ vào
đấy, đóng nắp lại thì đỡ quá.
Thấy
bức tranh tùng Kim Trọng vẽ, Thúy Kiều khen:
Phong
sương được vẻ thiên nhiên.
Mặn
khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Cây
tùng mang vẻ hùng vĩ của một bậc trượng phu, chịu đựng
được sương tuyết và gió mây. Thúy Kiều khen, không phải
khen sơ sơ mà khen hết lòng (mặn khen).
Sinh
rằng: ‘Phác họa vừa rồi,
‘Phẩm
đề xin một vài lời thêm hoa.’
Kim
Trọng xin Kiều đề vài câu thơ để bức họa có thêm giá
trị. Ý nói: “Nét vẽ của anh đâu có đẹp gì, nhưng nếu
em cho vào vài câu thơ thì bức họa có thể bán tới hai ba
ngàn đô la. ‘Một bên khen vẽ đẹp, một bên khen thơ hay.’
Tay
tiên gió táp mưa sa,
Khoảng
trên dừng bút thảo và bốn câu.
Khoảng
trên là lạc khoản. Theo lối họa cổ điển, người ta không
bao giờ vẽ choán hết khung vải hay khung tranh mà luôn luôn
để không gian trong bức họa. Vì vậy bức họa có thiền
vị. Ðôi khi người ta vẽ một dòng sông, vài ba cây lau sậy,
một con thuyền cắm sào, còn lại phía trên bao nhiêu là trời,
bao nhiêu là không gian. Nhìn vào mình thấy trong người rất
khỏe. Thầy tu khi vẽ cũng nên vẽ như vậy. Phải có rất
nhiều không gian. Khi viết thư cũng nên như vậy. Càng ngắn
càng tốt, càng thiền. Liệng bớt được chữ nào tốt chữ
đó. Viết một cái thư mà đặc nghịt từ trên xuống dưới,
người ta nhìn vào sẽ thấy mệt, chưa muốn đọc liền. Viết
theo kiểu đánh điện tín; thêm một chữ là phải trả thêm
tiền. Khoảng trống trong bức họa (lạc khoản) là chỗ khi
gặp người tri kỷ hay giỏi thơ người ta sẽ nhờ đề vào
vài chữ. Nếu không có ai thì tác giả tự đề.
NHẢ
NGỌC PHUN CHÂU.
Kiều
rất giỏi. Ngoáy vài cái đã xong ba bốn câu thơ trên lạc
khoản. Anh chàng khen liền:
Khen:
‘Tài nhả ngọc phun châu,
‘Nàng
Ban ả Tạ cũng đâu thế này![40]
‘Kiếp
tu xưa ví chưa dày,
‘Phúc
nào nhắc được giá này cho ngang!’
- ‘Em
làm thơ như nhả ngọc phun châu! Chắc kiếp trước anh có
tu nên kiếp này mới có phước mà được em.’ Không biết
kiếp trước chàng Kim đã và tu pháp môn nào?
PHẬN
DÀY PHẬN MỎNG
Thúy
Kiều đáp lại lời khen của Kim Trọng:
Nàng
rằng: ‘Trộm liếc dung quang,
‘Chẳng
sân ngọc bội cũng phường kim môn.[41]
‘Nghĩ
mình phận mỏng cánh chuồn,
‘Khuôn
xanh biết có vuông tròn mà hay?
Kiều
lo: ‘Anh có phước đức nhiều trong quá khứ, em thì không.
Không biết ông trời có giúp cho cuộc hôn nhân của chúng
ta không?’ Vì:
Nhớ
từ năm hãy thơ ngây,
Có
người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh
hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn
thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Ông
thầy tướng nói: ‘Tất cả những cái tinh anh của con người
Thúy Kiều đều lộ ra ngoài hết. Sợ rằng suốt đời cô
sẽ khổ.’ Khi có những cái quý, cái hay, người ta phảibiết
giấu bớt vào bên trong. Anh hoa là cái tinh ba, cái đẹp nhất
của con người. Nếu phát tiết ra ngoài hết thì bên trong
sẽ không còn gì nữa. Và như vậy sẽ chiêu cảm vào những
tai nạn. Những người có hạnh phúc là những người chất
chứa được nội dung và nội lực bên trong. Họ không để
hết tất cả phát hiện ra ngoài. Những nhà có củi chất
nhiều trong kho thì sẽ được ấm suốt mùa đông. Nếu có
bao nhiêu củi đều đem ra, đốt hết thì sẽ có lúc lạnh.
‘Trong
người lại ngẫm đến ta,
Một
dày một mỏng biết là có nên?’
Thấy
một bên (Kim Trọng) phúc dày, một bên (Kiều) phúc mỏng.
Kiều phân vân không biết mối nhân duyên của hai người có
thể thành tựu được không.
Sinh
rằng: ‘Giải cấu là duyên,[42]
‘Xưa
nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.’
Con
người đã nhiều lần thắng được số mạng nhờ có ý chí.
Ðó là lời an ủi của Kim Trọng - Sự tu học và cách sống
của mình có thể đổi được số mạng và hoàn cảnh. ‘Tướng
bất cập số, số bất cập đức’: nếu có đức thì mình
có thể thắng được số phận. Ðây là một lời khuyên rất
hay. Nếu mình có cảm giác là mình không có nhiều phước
nhiều, số phận mình sẽ đau khổ thì nên nghe lời khuyên
này. Số phận không phải là chuyện quan trọng nhất, bởi
vì mình có khả năng chuyển hóa. ‘Xưa nay nhân định thắng
thiên cũng nhiều’. Trong văn hóa Pháp, có khi người ta nói
con người sắp đặt nhưng chính Trời quyết định (L’homme
propose, Dieu dispose). Ở đây chúng ta thấy một quan điểm khác
hơn: Nếu con người có ý chí, muốn chuyển hóa muốn thay
đổi thì nhiều khi chuyển được số mạng, chuyển được
nghiệp, chuyển được mạng trời.
‘Ví
dù giải kết đến điều,
thì
đem vàng đá mà liều với thân!’
‘Nếu
gặp phải những chuyện khó khăn thì chúng ta hãy đem sức
mạnh tình yêu của chúng ta mà tranh đấu. Cần chết thì chết.
Sợ gì!’
Ðủ
điều trung khúc ân cần,[43]
Lòng
xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
Cô
Kiều lo lắm nhưng nếu có người an ủi thì cô trấn tĩnh
lại được liền. Mới mấy tháng trước đây, nhờ có mẹ
khuyên nhủ, cô yên. Bây giờ, nhờ anh chàng an ủi, cô cũng
êm lại. Cô có khả năng vui chơi ngay sau đó. Hai người uống
rượu. Họ đâu đã thọ Tam Quy và Ngũ Giới! Không biết Kiều
đã uống rượu hay uống trà? Con gái thường không uống rượu.
Anh chàng thì chắc chắn là uống rượu. Rượu cúc hay rượu
đế, chứ chắc không phải là rượu thuốc đâu!
NGÀY
VUI NGẮN CHẲNG ÐẦY GANG.
Giây
phút bên nhau của hai người rất ngắn ngủ. Ngày sắp hết,
họ sắp phải chia tay. Cụ Nguyễn Du nói một câu đáng cho
chúng ta chú ý:
Ngày
vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông
ra ác đã ngậm gương non Ðoài.
Ngày
vui là ngày Kim - Kiều được sống cạnh nhau, từ chín giờ
sáng đến năm, sáu giờ chiều. Ngày vui nhất trong đời của
hai người được diễn tả là ‘ngắn chẳng đầy gang’.
Lấy không gian mà đo thời gian thì chưa đầy một gang tay.
Ðây là một câu rất hay trong truyện Kiều, có thể viết
lên treo ngay trong thiền viện được. khi vui mà vui không có
chánh niệm thì cái vui đi qua rất mau và cũng không thật là
vui. Hai người ngồi, nói chuyện và thề bồi từ sáng đến
chiều. Cái vui có bao nhiêu đâu! Chưa bằng một gang tay. Nhất
là khi họ chưa biết thực tập chánh niệm và an trú trong
hiện tại.
Vắng
nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã
chàng nàng mới kíp dời song sa.[44]
Thấy
mình qua bên này đã lâu quá trong khi nhà không có ai cũng kỳ,
và sợ gia đình về không thấy mình. Kiều đứng dậy từ
giã.
BÂY
GIỜ RÕ MẶT ÐÔI TA
Ðến
nhà vừa thấy tin nhà,
Hai
thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa
ngoài vội rủ rèm the,
Xăm
xăm băng lối vừa khuya một mình.
Về
nhà, thấy gia đình chưa về, Kiều tiếc, lại chui tường
sang nhà Kim Trọng.
Nhật
thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn
đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.[45]
Sinh
vừa tựa án thiu thiu,
Dở
chiều như tỉnh dở chiều như mê.
Anh
chàng đang ngồi ngủ gục. Không đi nằm đàng hoàng, chàng
chỉ ngồi trước bàn học mà ngủ.