Mục
lục
Thay
lời tựa
1.
Hành Trang
Chữ
tài, chữ mệnh, chữ tâm.
Hoa
ghen đua thắm.
Dây
đàn bén nhạy.
Lưng
túi gió trăng.
Nội
kết êm ái.
Tưới
tẩm hạt giống.
Giống
hữu tình.
Nhớ
ít tưởng nhiều
Đài
gương soi đến dấu bèo chăng?
Từ
phen đá biết tuổi vàng.
Ngẫm
cơ hội ngộ đã đành hôm nay.
Không
gian trong bức họa.
Nhả
ngọc phun châu.
Phận
dày phận mỏng.
Ngày
vui ngắn chẳng đầy gang.
Bây
giờ rõ mặt đôi ta.
Cơn
bão âm thanh.
Thưa
rằng; ‘Đừng lấy làm chơi’
Thiên
đường hạnh phúc.
Chưa
vui sum họp đã sầu chia phôi.
Chỉ
thiếu chút xíu.
2.
Bèo Dạt Mây Trôi.
Sao
cho cốt nhục vẹn toàn.
Hoa
dù rã cánh lá còn xanh cây.
Cậy
em, em chó chịu lời.
Biết
thân đến nước lạc loài.
Xót
nàng chút phận thuyền quyên.
Một
xe trong cõi hồng trần như bay.
Sa
vào ổ nhện
Ai
có thể giúp Kiều?
Bồ-tát
Quán Tự Tại.
Nửa
tình nửa cảnh.
Nhắm
mắt đưa chân.
Quất
ngựa truy phong.
Giày
tía vò hồng.
Phong
trần như ai.
Đòi
đoạn xa gần.
Sáu
chữ ‘cho’.
Một
tỉnh mười mê.
Hoàn
lương.
Đất
bằng dậy sóng.
Hiểu
nghĩa chữ thương.
Trong
ấm ngoài êm.
Thương
nhau xin nhớ lời nhau.
Lửa
tâm càng dập càng nồng. |
Cười
nói tỉnh say.
Bốn
bề lửa dong.
Tiếc
hoa.
Nước
trôi hoa rụng.
Một
cơn mưa gió.
Phận
con hầu.
Cùng
trong một tiếng tơ đồng.
Xin
nhờ cửa không.
Dường
gần rừng tía dường xa bụi hồng.
Am
Chiêu Ẩn
Mỗi
hành động đều có kết quả.
Bài
học của Trạc Tuyền.
Số
đào hoa.
Anh
hùng đoán giữa trần ai.
Đường
kia nỗi nọ.
Chất
củi cho mùa Đông.
Nhận
diện.
3.
Hạnh Phúc Chân Thật.
Bõ
lúc phong trần.
Ân
oán rạch ròi.
Trời
phương ngoại.
Tẩy
oan và giải oan.
Hạnh
phúc là tự do.
Lý
luận của trái tim.
Bất
ý thừa cơ
Hết
kiếp đoạn tràng.
Ở
cho yên ngồi cho vững.
Thả
một bè lau.
Gió
trăng mát mặt muối dưa chay lòng.
4.
Tan Sương Đầu Ngõ
Hoa
đào năm ngoái.
Quá
thương chút nghĩa đèo bòng.
Giác
Duyên đâu bỗng tìm vào tận nơi.
Tưởng
bây giờ là bao giờ.
Tái
sinh trần tạ ân người từ bi.
Tình
kia hiếu nọ.
Trời
còn để có hôm nay.
Gương
trong chẳng chút bụi trần.
Cuốn
dây từ đấy về sau cũng chừa.
5.
Chánh Niệm Là Nẻo Thoát.
Mây
trắng thong dong.
6.
Nguyễn Du và truyện Kiều.
Nhìn
sâu vào triết lý truyện Kiều.
Chánh
niệm là nẻo thoát.
Lời
cuối.
Tài
liệu tham khảo. |
THAY
LỜI TỰA
Chúng
ta thường nghĩ truyện Kiều là truyện của một người khác
và chúng ta chỉ là khán giả, không có liên can gì. Nhưng khi
viết truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã sống trong da thịt của
nhân vật Kiều, đã trở thành với Kiều, cụ đã nói được
tâm sự của chính mình. Cô Kiều trong truyện đã phải bắt
buộc làm gái giang hồ. Là một nhà Nho, một mẫu mực đạo
đức thời xưa ở Việt Nam, vậy mà có khi cụ Nguyễn Du cũng
có cảm tưởng mình là một cô gái giang hồ. Cụ làm quan
với triều Lê. Sau khi nhà Lê mất, cụ bị nhà Nguyễn gọi
ra làm quan. Không từ chối được, cụ phải ra làm quan cho
triều Nguyễn. Theo quan niệm của Nho giáo ngày xưa, một người
thần tử trung thành không bao giờ thờ hai vua (‘trung thần
bất sự nhị quân.’). Trong khi viết truyện Thúy Kiều, cụ
Nguyễn Du viết truyện của chính mình. Cụ muốn gửi tấc
lòng mình vào thiên cổ chứ không phải vì ngồi không, cao
hứng nhất thời mà viết ra một tác phẩm chữ Nôm.
Nếu
có chánh niệm, đem những khổ đau, luân lạc và gian truân
của mình ra đọc truyện Kiều chúng ta có cơ hội thấy được
bản thân. Và như vậy đọc truyện Kiều cũng là tu. Tu tức
là nhìn tất cả những gì đã và đang xảy ra trong đời mình
bằng con mắt quán chiếu.
Trong
quá khứ, có nhà Nho đã liệt truyện Kiều vào loại dâm thư
vì trong truyện có tả đời sống của một cô gái giang hồ.
Họ có thể đứng về phương diện đạo đức của Nho giáo
mà nói như vậy. Nhưng dùng con mắt quán chiếu mà nhìn vào
đời Thúy Kiều, ta có thể học được bài học của khổ
đau và kinh nghiệm. Nếu biết cách đọc, chúng ta có thể
học được rất nhiều từ truyện Kiều như học từ một
cuốn kinh. Và truyện Kiều sẽ không phải là dâm thư mà là
kinh điển.
Truyện
Kiều là truyện về cuộc đời, có những hoàn cảnh khổ
đau, hạnh phúc và u mê của cuộc đời. Lấy con mắt của
người quán chiếu nhìn vào truyện Kiều, chúng ta có thể
thấy được bản chất của cuộc đời. Những điều xảy
ra trong mười lăm năm của cô Kiều có thể xảy ra cho bất
cứ một người nào. (Vì vậy ở Việt Nam có truyền thống
bói Kiều.). Kiều dã trải qua rất nhiều hoàn cảnh khác nhau,
đi qua tất cả những chuyện lên voi xuống chó của một con
người. Thúy Kiều có khi là học trò, làm vợ của một người
có quyền thế gần như vua (Từ Hải), làm đầy tớ, làm người
yêu, làm vợ lẽ và làm một người con gái phong sương…
Kiều cũng từng làm sư cô. Mỗi chúng ta ít nhất đã có một
giai đoạn giống như giai đoạn Thúy Kiều. Nhìn vào đời
Thúy Kiều, ta phải nhìn như một toàn thể mà đừng nhìn
từng khoảng ngắn.
Chúng
ta phải có con mắt trạch pháp, tức là con mắt có khả năng
nhận xét và phân biệt. Khi đọc Kinh, ta cần phải có nhận
thức độc lập, huống nữa là đọc truyện Kiều. Ta phải
nhìn cụ Nguyễn Du bằng con mắt trạch pháp. Cụ tin vào thuyết
tài mệnh tương đố (tài năng và số mệnh chống trái nhau).
Chúng ta sẽ từ từ xét coi tại sao cụ tin vào thuyết này
và thuyết này có đúng hay không. Nếu đúng thì đúng bao nhiều
phần trăm. Không phải vì cụ nói ‘chữ tài chữ mệnh khéo
là ghét nhau’ hay ‘chữ tài liền với chữ tai một vần’
mà chúng ta tin ngay vào sự tương phản, chống trái của tài
mệnh. Có những người có tài nhưng không bị tai nạn, vì
họ có tu, có chánh niệm và sự khiêm nhượng. Tai nạn sẽ
không xảy tới với họ, hay ít nhất, không xảy tới cho họ
nhiều như cho những người quá cậy vào tài năng của mình
mà xem thường người khác.
Dựa
theo truyện Phong Tình Lục của Trung Hoa để viết truyện Kiều,
cụ Nguyễn Du đã biến tập tiểu thuyết tầm thường này
thành một tác phẩm văn chương phong phú và sâu sắc. Một
lần nữa, chúng ta thấy cốt tủy của một tác phẩm có giá
trị không phải là cốt truyện mà là văn chương và tư tưởng.
Ngày
xưa tôi cũng đã từng dạy văn chương Việt Nam và đã dạy
truyện Kiều. Nhưng tâm của tôi lúc đó không được như
bây giờ. Tôi đã dạy với tư cách một giáo sư văn chương
mà chưa bao giờ dạy với tư cách một thiền sư. Nhìn với
tư cách một thiền sư là nhìn sâu, nhìn kỷ, nhìn bằng sự
khám phá của thiền quán mọi sự kiện qua nhận thức, đau
khổ, hạnh phúc, thành công, thất bại và qua sự tu học của
mình. Nhìn như vậy trong khi đọc lại truyện Kiều ta có thể
thấy được những điều rất mới.
Khi
đọc truyện Kiều, ta không nên ngại về từ ngữ và điển
tích. Các bản truyện Kiều đều có chú giải. Có tài liệu
là ta có thể hiểu được hết các điển tích và từ cổ.
Điều quan trọng là chúng ta đọc với tâm trạng quán chiếu,
tìm thấy tâm lý của tác giả và tìm thấy lòng mình.
(Làng
Mai khóa tu mùa Xuân 1992)