Khi
ông mất được tặng phong Kiểm hiệu Thái úy bình chương
quân quốc
trọng sự, Việt quốc công. Nhân dân nhiều nơi lập đền
thờ, dựng bia ghi công lao của ông, tiêu biểu nhất là bài
văn bia chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trưng, Thanh Hoá:
Lý công
nước Việt
Noi dấu
tiền nhân.
Cầm quân
tất thắng,
Trị nước
yên dân.
Danh lừng
Trung Hạ,
Tiếng nức
xa gần.
Vun trồng
phúc đức,
Đạo Phật
sùng tin.
Tác phẩm:
hiện còn một bài thơ thất tuyệt, một bài Lộ Bố Văn,
và một lời cầu xin vua cho cầm quân đi đánh Lý Giác (TVLT,
tập 1).
Bài thơ
thất tuyệt đã được ghi vào lịch sử coi như bản TUYÊN
NGÔN ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN” của dân tộc ta:
“Nam quốc
sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên
định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch
lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng
hành khan thủ bại hư”
Tạm dịch:
Giang sơn
nước Nam do vua Nam ở,
Cương giới
đã ghi rõ ràng trong sách trời.
Cớ sao lũ
giặc bạo tàn dám tới đây quấy nhiễu?
Hãy coi chừng!
Lũ bay thế nào cũng chuốc lấy bại vong.
[27] Người
đời sau kể rằng: “dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều
vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân
Tống thấy hiệu cờ Lý Thường Kiệt dàn ra, thì nói đó
là quân của cha họ Lý người nước Nam; rồi cùng nhau bày
hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy danh quân ta
vang khắp. Bởi vậy, cuộc tiến công vào nội địa Tống
càng thêm dễ dàng”. (LTK).
1 Lúc quân
ta đã lọt vào trong thành Ung, Tô Giàm còn đốc thúc lính
bị thương, ruổi ngựa đánh rất hăng. Nhưng khi sức
đã kiệt, Giàm nói với bộ hạ rằng: “Ta quyết không chịu
chết về tay giặc”. Giàm bèn trở về dinh, tự tay giết
36 người nhà, kể cả hai con và hai cháu. Rồi tự thiêu mà
chết. Quân dân thấy Giàm nghĩa khí như vậy, không ai chịu
hàng. Khi biết Giàm đã chết; quân Lý tức giận, vì phải
chiến đấu nhiều ngày, nên đã giết sạch dân thành. Cả
thảy hơn năm vạn người. Bên ta, quân và voi chết rất nhiều.
Quân mất một vạn người (LTK)
1 SỬ THẦN
BÀN RẰNG:
“Nước
ta đánh nhau với quân nước Trung Hoa nhiều lần, từ vua Nam
Đế trở về trước, việc đã lâu rồi, sau này vua Ngô Quyền
đánh Bạch Đằng, vua Lê Đại Hành đánh trận Lạng Sơn,
vua Trần Nhân Tông đánh đuổi được Toa Đô, Thoát Hoan, những
trận được vẻ vang đó là câu chuyện hãnh diện của nước
ta, nhưng đều là giặc đến đất nước, bất đắc dĩ mà
phải ứng chiến. Còn đường đường chính chính đem quân
vào nước người, khi đánh không ai địch nổi, khi kéo quân
về không qi dám đuổi theo, như trận đánh Ung, Liêm này thật
là đệ nhất võ công, từ đấy người nước Tàu không dám
coi thường chúng ta nữa.
Đến như
thư từ của nước ta đưa cho Trung Hoa chỉ dùng có hai tấm
ván sơn đen, liệt tên vài vị đại thần dùng ấn tín Trung
thư môn hạ mà đóng vào, thế thì triều Lý được trịch
với Tống nhiều lắm”.
Việt Sử
Tiêu Án bản dịch của Hội VNNCLLVHAC, trang 131 - 132..
2Lý Thường
Kiệt đoán trước là thế nào Chiêm Thành, Chân Lạp cũng
nhân dịp Tống sửa soạn đánh Đại Việt, sẽ xua quân sang
quấy phá miền duyên hải nước ta. Tháng 8 năm 1076, Lý Thường
Kiệt đem quân vào tuần tra các châu vừa lấy được của
Chiêm Thành, chỉnh đốn việc cai trị, cho dân vào ở thêm,
và tăng sự phòng bị (TT). Mà bên Tống cũng không có sức
gì uy hiếp Chiêm Thành, Chân Lạp. Cho nên tuy Chiêm Thành có
đưa ít quân lên đóng ở biên giới nước ta, nhưng không
dám gây sự (LTK).
1”Phần
tinh nhuệ quân Tống là kî binh, kî binh là quân xung phong chọc
thẳng hàng ngũ địch, dẫn đường cho bộ binh. Kî binh lại
là “kỳ binh”, nghĩa là quân đánh những chỗ bất ngờ.
Dùng sức ngựa chạy nhanh và qua những gai góc, đá sỏi dễ,
kî binh có thể, lúc vướng chỗ này, chạy quanh chỗ khác,
để bọc hai bên hông địch. Nhưng muốn lợi dụng kî binh
để phá địch, thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở,
tới chỗ bằng, để cho ngựa xông xáo dẽ dàng.
Bên ta thì
thiện chiến về voi. Trong trận đấu Ung, ta đã đem voi theo
được, huống chi trên trận địa nước nhà. Thế thủ của
ta lại dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng
và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi
rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn
đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc
châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất),
đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm:
đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện
Hữu Lũng thuộc Bắc Giang ngày nay. Cuối đời Đinh, Hầu Nhân
Bảo, là tướng Tống đã bị chết ở đó; và đời sau, Liễu
Thăng là tướng nhà Minh, cũng bỏ mình ở chốn này. Đèo
ải tuy hiểm, nhưng có thể dùng kî binh hoặc vượt qua, hoặc
len lỏi qua rừng để tránh. Còn sông sâu rộng, thì ngựa
khó lòng qua nổi. Phòng thủ sông khá dễ, đóng cọc
và dùng rào giậu ở bờ Nam, cũng đủ ngăn quân địch. Vả
chăng thủy binh ta, từ đời Ngô, đã lập nhiều chiến công
lừng lẩy. Thế sông ở trung nguyên lại rất tiện cho thủy
chiến. Sáu ngành sông chầu về Vạn Xuyên (Vạn Kiếp).
Đó là căn cứ tự nhiên của thuỷ quân ta. Hoặc phải ra
cửa Bạch Đằng chắn quân thuỷ địch, hoặc phải vào sông
Đào Hoa (sông Thương), hoặc phải vào sông Nam Định (sông
Cầu) hoặc phải đi vào sông Thiên Đức (sông Đuống), để
chặn địch qua sông, ta chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục
Đầu thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng” (theo sách
Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn). (1)Trong khi mộ
quân, vua Tống sợ quân ta lẩn vào làm gián điệp. Ngày 10-3-1076,
có chiếu dặn các lộ ven bể, như Quảng Tây, Quảng Đông,
Giang Tây, Phúc Kiến, phải coi chừng việc ấy.
1 Ung Châu,
như ta đã biết, đây là một cứ điểm quân sự quan trọng,
đồng thời cũng là nơi dự trữ nhiều kho khí giới, lương
thực của địch. Sau khi bị ta phá hủy và rút quân về nước
an toàn, viên Chuyển vận sứ Quảng Tây là Lý Bình Nhật muốn
tu bổ thành gấp, đã phải dùng đến năm vạn quân để sửa
chữa và bắt dân Quảng Đông tới đắp lại thành. Nhưng
đến tháng 4/1076, thành Ung Châu cũng chưa đắp xong, và đường
vận lương thực cũng chưa thông, vì sông Ung Châu trước kia
bị quân ta đổ đá lấp.
1 Sách Quế
Hải Chí kể rằng: Viên tri châu Quang Lang là phò mã, bị thua,
bèn trốn vào trong rừng Động Giáp, rồi du kích hậu phương
quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng
rất sợ hãi” (dẫn theo sách LTK).
2. Các châu
kể trên đây do các tướng lĩnh thuộc Man Động cai quản
như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội; Hoàng
Kim Mẫn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn; Vi Thẫm An giữ châu
Tô Mậu; Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên đã hàng. Duy có phò mã Thân
Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) không những không
chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều
quân địch.
Những tướng
lĩnh này trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi.
Rất tiếc, sau quân Tống tràn sang đánh báo thù ta, lúc đầu
có cự chiến, nhưng sau vì thất trận và vì sự dụ dỗ,
nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường
bày mưu cho địch.
SG. Hoàng
Xuân Hãn,tác giả sách Lý Thường Kiệt đã bình phẩm:
“Giả như
các mặt trận đầu có quân trung châu, thì thế thủ xếp
theo trận đồ của lý Thường Kiệt đã dàn ra, có lẽ đánh
bại Tống từ đầu. Nhưng thổ quân các châu vội hàng trước
đại quân Tống. Quân tiên phong không giữ nổi các ải.
Cuối cùng là nhờ phòng tuyến sông Cầu khéo đặt, và thủy
quân ta mạnh cho nên Lý Thường Kiệt đã ngăn cản được
sức tiến công quyết liệt của Tống” (Sđđ). Quân Tống
tiếp tục tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh,
tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó, một cánh quân
tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân ta ở Giáp
Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu - Theo sách LTK thì
“sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu,
hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến bể, là
một cái hào sâu và rộng, che chở cho đồng bằng nước Việt
để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ
từ Lưỡng Quảng kéo vào. Đối với đường sá từ
châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can hệ,
vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái
lại, sông Cầu rất quan trọng. Thượng lưu sông Cầu qua vùng
rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống
là có thể qua dễ dàng, và qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng
sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam Đảo, là một cái
thành không thể vượt. Chung qui chỉ có khoảng từ huyện
Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng ngự bờ nam mà thôi.
Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt
đến chân núi Nham Biền, là có bến, có đường qua sông để
tiến xuống miền nam một cách dễ dàng thẳng và gần.
Xét qua địa
thế, ta hiểu rằng Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn con
đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu)
bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp
nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp
Khẩu (Chi lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu hai phòng tuyến ấy
bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là
nam ngạn sông Nam Định.
Muốn cản
quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạc
cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến
mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo,
đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành
hào, che chở cả vùng trung nguyên nước Việt, Thành hào ấy
dài gần trăm cây số, hẳn khó qua và dễ phòng thủ hơn là
thành hào một đồn lẻ như thành Thăng Long” (Sđd).
1 Thuỷ binh
Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy
quân của ta, do Lý Kế Nguyênđiều động, chặn đánh ngoài
khơi lối vào Vĩnh An.
1 Sách VĐUL
chép: “Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ
ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không
đánh đã tan”.
2 Văn bia
chùa Linh Xứng của thiền sư Pháp Bảo, đời Lý.
3 Lý Đào,
Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên - dẫn theo sách Lý Thường
Kiệt của Hoàng Xuân Hãn.
1 Dẫn theo
LSVN, thế kỷ X - 1427, qI tập 2.
2 Cũng trong
năm ấy, vua đổi niên hiệu là Minh
Đạo và
cho đúc tiền Minh Đạo. Đây là một bước ngoặt của sự
chuyển biến mới của ngành Tư Pháp nước ta.
1 Sở dĩ
có lệnh cấm này là do thái hậu Linh Nhân đã nói với Lý
Nhân Tông: “Gần đây, ở kinh thành, hương ấp có nhiều
người trốn làm nghề trộm trâu, trăm họ cùng quẫn, mấy
nhà cày chung một con trâu. Trước đây ta đã từng nói đến
việc âý, triều đình đã có lệnh cấm. Nay giết trâu lại
nhiều hơn trước.”
1 Dân Luật
Khái Luận, nền pháp luật trong thời kỳ độc lập - Vũ Văn
Mẫu.
2Bản chữ
Hán chép trong VSL, ĐVSKTT:
“Ngô chi
ái ngô tử diệc do thiên hạ phụ mẫu chi ái kỳ tử dã.
Bách tính vô tri tự mạo điển hiến. Ngô thậm mẫu yên,
Ưng tự kim dĩ hậu, tội vô khinh trọng, nhất tòng khoan hưu”.
1Tứ Nhiếp
Pháp, tức là bốn pháp môn đối trị ở đời. Hay nói cách
khác là: Bốn phương pháp cư sử thông thường mà người
ta cần phải áp dụng nó trong những môi trường sinh hoạt
tập thể, thường gọi là xã hội văn minh. 1.B ố thí:
sự tương trợ, cứu giúp người về mặt vật chất cũng
như về tinh thần một cách không vụ lợi. 2.Ái ngữ:
Lời nói hợp lý. Tức lời nói không giận hờn, đặt điều,
xu nịnh, dèm pha, mà chỉ nói những điều chân chính, hòa
ái.
3.Lợi hành:
Làm những việc hữu ích cho tự thể, tha nhân và cho cuộc
đời.
4.Đồng
sự: phục dịch công vụ. Ai nấy nên đem hết khả năng mình
ra làm việc công ích để cùng xây dựng một xã hội - người
- văn - minh, giác ngộ và giải thoát (PTTH).
2 Ca dao Việt
Nam có câu:
.Công lênh
chẳng quản bao lâu, ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang!
Bao nhiêu
tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.
3LỤC HÒA
PHÁP: Sáu phép “hòa ái” nhằm xây dựng môït gia đình hạnh
phúc và một xã hội bình đẳng, tự do, công lý. Nói cách
khác là Khuôn Mẫu Sống cho tất cả những ai muốn sống một
nếp sống văn minh tiến bộ:
Nếp sống
văn minh, tiến bộ:
1. Thân Hòa
Đồng Trụ: cùng sinh sống trong một gia đình
(nói riêng),
một quốc gia (nói chung), mọi người nên có sự thương yêu,
bao bọc cho nhau.
2. Khẩu
Hòa Vô Tranh: không cãi mắng nhau, mà chỉ nên nói những lời
khiêm cung, hòa ái để tạo một sinh khí đầm ấm trong gia
đình và ngoài xã hội.
3. Ý Hòa
Đồng Duyệt: Tâm, Ý thì luôn luôn trong sáng, vui vẻ.
4.Kiến Hòa
Đồng Giải: Có những sáng kiến gì
cũng đem
ra thảo luận, trao đổi và sách tiến nhau
để ai nấy
cùng lĩnh hội.
5. Giới
Hòa Đồng Tu: cùng tôn trọng kỷ luật chung.
6. Lợi Hòa
Đồng Quân: có của cải cùng nhau chung hưởng, quân phân một
cách đồng đều, không có kẻ nhiều người ít, là mầm mống
phát sinh sự bất hòa.
1 Ruộng đất
tư vốn saün có từ lâu và phổ biến là ruộng của nông
dân tự canh, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển của thủ công và thương nghiệp.”Nền kinh tế
tư hữu này ít chịu sự chi phối của nhà nước (nhà Lý
thu thuế 3 thăng thóc mỗi mẫu ruộng tư).
Các chùa
Phật giáo cũng có một số ruộng đất rất lớn (hàng chục
hàng trăm mẫu) do nhà nước cấp, do cá thân chủ quí tộc
hay các đệ tử có điền trang cúng (điền trang là những
đất do tư nhân khai khẩn được, lập thành điền trang với
diện tích rộng hẹp khác nhau), và những người xin ký hậu
tại chùa v.v. Đến đời nhà Trần, số ruộng đất của
nhà chùa lại tăng lên rất nhiều: “Trần Anh Tông (1293 -
1314) vốn là đệ tử của ngài Tôn giả Pháp Loa, đã cấp
hơn 735 mẫu ruộng ở các nơi:
Lần
Thứ Nhất:100 mẫu ruộng ở làng Đại Gia, cùng với người
cày.
Lần
Thứ Hai: cấp thêm 25 mẫu ở làng Đại Từ.
Lần
Thứ Ba: 80 mẫu ruộng tốt ở làng An Định cùng với người
cày.
Năm 1312,
vua lại lấy 500 mẫu ruộng ở trang Niệm Gia cấp cho chùa
Quỳnh Lâm làm ruộng: “thường trụ Tam Bảo”. Năm 1313,
Trần Anh Tông, bấy giờ đã là thượng hoàng, lại lấy 30
mẫu ruộng của cung nhân Phạm Thị, cúng cho tôn giả (Pháp
Loa) làm của thường trụ. Tôn giả Huyền Quang tịch cũng
được vua cấp hơn 150 mẫu ruộng để thờ cúng.
Năm 1318,
Cư sĩ Hoa Lưu, họ Vũ, cúng cho chùa Quỳnh Lâm 20 mẫu ruộïng
ở trang Hoa Lưu; năm 1324, cư sĩ Di Loan, con công chúa Nhật
Trinh, cúng cho Tôn giả Pháp Loa 300 mẫu ruộng ở phủ Thanh
Hóa; Tư đồ Văn Huệ vương Trần Quang Diệu đã cúng cho chùa
Quỳnh Lâm 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm, lại cúng thêm hơn 1.000
mẫu ruộng cùng hơn 1.000 nô ở các trang Động Gia, An Lưu
(dẫn theo LSVN, th, X - 1427, Qi t2 - trang 81).
3 Thăng,
tên một đơn vị đo lường ngày xưa, bằng một phần mười
của đấu. Ta thường đọc trại là “Thưng”. Dẫn theo Hán
Việt Tự Điển.
1 “. Những
chính sách tích cực hay tiêu cực của nhà nước trung ương
nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đã có tác dụng nhất
định, nhiều năm được mùa lớn. Cuộc sống nông dân cũng
khá ổn định. Một tác giả đời Nguyên là Uông Đại Uyên
đã viết: “Nước Đại Việt. đất rộng người đông, khí
hậu thường nóng, ruộng đất phần nhiều phì nhiêu”.
Năm 1293,
sứ giả Nguyên là Trần Phú sang nước ta đã viết bài thơ
An Nam Tức Sự, có câu: “Lúa mỗi năm chín một lần, tuy
vào giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt”. Trong
thơ của Văn Huệ Trần Quang Diệu ta thấy hình ảnh của nông
thôn Đại Việt thế kỷ XIV:
“Mưa chan
ruộng lúa mây liền đội,
Dâu đến
mùa tằm đọt mới ươm”.
Hoặc trong
thơ của Bùi Tông Quán ca ngợi ngày mùa:
“Đứng
mãi nào hay ngày đã muộn,
khắp đồng
lúa tốt tựa mây xanh”.
Làng quê
Đại Việt cũng được tả lại trong thơ Trần Phú với hình
ảnh “những vườn dâu nho nhỏ, những buồng chuối lớn
cong xuống trông như những lưỡi gươm” hoặc ghi câu: Dâu
trồng hàng năm để nuội tằm, mỗi nhà có 5, 3 mẩu, giậu
tre bao bọc chung quanh (Trích dẫn sách Lịch Sử Việt Nam, thế
kỷ X- 1427, qI t2).
Trong Kiến
Văn Tiểu Lục, “Phong Vực”, Lê Quí Đôn đã viết về cảnh
sinh hoạt đồng áng ở trấn Sơn Tây như sau: “Trấn Sơn
Tây gọi là xứ Tam Giang, sau mới đổi tên này. Địa thế
trấn này, đất hẹp dân đông, phong tục cần kiệm. Huyện
Từ Liêm và Đại Phượng thuộc phía Quốc Oai có nhiều bãi
trồng dâu, nhân dân chăm về việc chăn tằm, dệt cửi, các
xã Hà Nội, Thiên Mỗ, Ỷ La, Trung Thụy và Đại Phùng có
tài dệt lụa, trìu, lĩnh, là và các lụa dày (tục gọi lĩnh,
vỉ hoặc láng); xã Mật Cầu làm được thứ nuy, đoạn (một
thứ hàng làm bằng sợi, hình dáng trông như dạ hoặc nỉ,
nhưng không được bóng nhaün) đủ các màu xanh, tím, biếc,
vàng, không kém gì của Trung Quốc. Các phủ Tam Đới và Quảng
Oai ít ruộng cấy lúa gió, nhiều đồng bằng và đất bãi
già, họ thường trồng thục thử và phiên thử để làm thúc
ăn thường (thực thử tục gọi là lúa ngô, phiên thử tục
gọi là khoai lang)”
Trấn Hưng
Hóa cũng rất trù phú. “lúa bắp bát ngát các ruộng, dâu
gai mơn mởn thành hàng, lông thú, cánh chim, ngà voi, da thú,
tràn nhập cả sang Trung quốc, bạc vàng châu ngọc, đầy dẫy
ở chốn biên cương. Thật là phủ kho ngoại biên giới của
quốc gia, mà là nơi tụ tập ngàn vạn đồ trân bảo. Nhờ
thế, có thể biết đuợc sự quan trọng và phồn hoa ở địa
phương này”. (Sđd, bản dịch của Phạm Trọng Điểm)
1 Theo Trần
Cương Trung (tức Trần Phú) trong Sử Giao Châu Thi Tập, thì
bấy giờ “người trong nước đều mặc áo lụa thâm, aó
hoa, quần mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là, đàn bà cũng nặc
áo thâm, nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để viền vào
cổ áo. Các sắc xanh, hồng, vàng, tía, tuyệt nhiên không có”
(dẫn theo LSVN, tk x - 1427 Q1 T2).
1Lê Quí
Đôn Tập, q VI - “Phong tục” chép: Hai trấn Tuyên Quang và
Hưng Hóa, có khoáng sản nhiều nhất nước, nằm trong các
châu:
Châu
Mai Sơn có mỏ đỏ, sản xuất đồng đỏ và thạch lục “Lục
là màu của đồng, sinh ra đá, chất như chất đá, gọi là
thạch lục”. Hay mỏ đồng ở xứ Mỏ Đỏ, châu mai Sơn
thuộc Hưng Hóa, mướn người khai thác, lấy được thạch
lục rất nhiều, họ nói nếu đem nấu thì thành ra đồng,
bán trăm cân chẳng qua được 36 quan, nếu không nấu thì là
lục, bán trăm cân có thể được 45 quan. Cho nên nhiều người
bán thạch lục.
Châu
Quỳnh Mai, thổ âm gọi là Mường Chăn, có hai mỏ đồng ở
Vạn Bằng và Vạn Na.
Châu
Chiêu Tấn, gần sông Thao, thổ âm gọi là Mường Thu, có mỏ
vàng ở xứ Mường Khóa, thôn Nguyên Than.
Châu
Văn Bàn, động Khánh Yên có mỏ lưu hoàng.
Châu
Vị Xuyên sản xuất loại gỗ thông, gỗ tử (tục gọi là
gỗ giồi), bông gạo, vải to, sáp vàng và cánh kiến, vỏ
gió và củ nâu, người địa phương đem xuống bán ở bến
sông Cả.
Châu
Ninh Biên, châu này thế núi vây quanh, nước sông bao bọc,
đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng phẳng màu mở, bốn
bên đều chân núi, công việc làm ruộng bằng nửa công việc
châu khác, mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi. Thổ sản có
sa nhân, sáp vàng, diêm tiêu, lưu hoàng và sắt sống (Sđd).
2Ca Dao Việt
Nam, không biết có từ thời nào, đã viết về Ba Mươi Sáu
Phố ở Long Thành, tức là Hà Nội ngày nay:
Rủ nhau
chơi khắp Long Thành(+)
Ba mươi
sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ,
hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm,
hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng
Điếu, hàng Giầy,
Hàng Lờ,
hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới,
Phúc Kiến, hàng Ngang,
Hàng Mã,
hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,
Hàng Muối,
hàng Nón, cầu Đông,
Hàng Hòm,
hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thúng,
hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi,
hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi
đến phố hàng Da,
Trải xem
hàng phố, thật là cũng xinh.
Phố Hoa
thứ nhất Long Thành,
Phố dăng
mắc cửi, đường quanh bàn Cờ.
Người về
nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin
chép nên thơ lưu truyền.
(+) Long Thành:
tưc là Thăng Long Thành đặt từ nam 1010 về đời Lý Thái
Tổ.
1 Giáo sư
Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, viết về
việc học chữ Nho trong các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý
sơ (từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XI).
“Trong thời
kỳ này, Đạo Phật ở nước ta rất thịnh, hầu như được
coi như quốc giáo: triều đình đặt chức quốc sư, mở khoa
thi tam giáo (Nho, Phật, Lão); nhiều ông vua nhà Lý, nhà Trần
đi tu sau khi thoái vị và chùa chiền đựng lên ở khắp trong
nước rất nhiều.
“Mấy triều
Ngô, Đinh, Tiền Lê, phần vì ngắn ngủi, phần vù các vua
cần phải lo việc chống nhau với nước Tàu để làm cho nền
tự chủ được vững, nên chưa có thì giờ tổ chức việc
học chữ Nho. Trong thời kỳ ấy, việc dạy chữ Nho phần
nhiều do các nhà sư đảm nhận, vì Phật giáo bấy giờ đương
thịnh và các vị sư đều thâm hiểu Hán học cả” (Sđd
trang 74).
2 Ở đây,
chúng tôi không đề cập các ngài Định Không, Thiện Hội,
La Quý An, Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu. vì các vị này
thuộc hai triều Đinh Tiền Lê.
1 Theo VNSL:
“Năm ất mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở Khoa Thi Tam Trường
để lấy người văn học vào làm quan. Kỳ thi ấy là kỳ
đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn 10 người, Thủ khoa
là Lê Văn Thịnh. Ông thủ khoa ấy ngày sau làm đến chức
thái sư, nhưng vì làm sự phản nghịch, cho nên phải đày
ở trại Thao Giang (huyện Tam Nông, Phú Thọ)”. (Sđd, trang
101).
Và VSTA:
“Lê Văn Thịnh mưu làm phản, bị an trí ở Thao Giang.
Văn Thịnh có người thày tớ là người nước Đại Lý, biết
biến hóa kỹ thuật, khi ấy ông làm chức Tam Công, cầm quyền
chính trong nước, liền manh tâm khởi loạn, gặp khi vua đi
chơi hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) ngự trên thuyền xem cá, hốt nhiên
khởi lên đám mây đen, trong đám tối mò nghe có tiếng chèo
thuyền rẽ nước đến thuyền vua, vua lấy cây dao ném, chốc
lát đám mây đen tan mất, trong thuyền thấy con hổ, người
đánh cá là Mục Thận lấy lưới ra chụp lên con hổ, thì
là quan thái sư Lê Văn Thịnh. Vua lấy cớ Thịnh là đại
thần có công giúp nước, không nỡ giết, chỉ đem đi đày
ở đầm trại Thao Giang thôi” (Sđd, trang 133). 3Nhân nói
đến Đàm Dĩ Mông bài Phật giáo vào cuối đời Lý, chúng
tôi xin lược dẫn nguyên do câu chuyện:
Dưới triều
vua lý Cao Tông (1176 - 1210), ông từng làm đến chức thái úy
và được phong tước vương, và vào những năm đầu triều
Lý Huệ Tông (1210 - 1224), ông giữ quyền phụ chính, vốn là
nhà Nho, saün có cặp mắt kỳ thị đối với Phật giáo, nhân
tình trạng xã hội rối loạn, ông đã chia bè kết đảng,
hòng tiểu trừ các phe phái đối lập, làm cho nội bộ nhà
Lý đã đến buổi suy tàn lại càng thêm rối loạn, đến
nỗi hai viên quan trong triều là thượng đường quan Nguyễn
Bảo Lương và thượng thư Bộ Lại Từ Anh Nhĩ đã đàn hặc
với vua: “Dĩ Mông là kẻ mọt nước hại dân”.
Theo Việt
Sử Lược còn ghi lại lời tâu của ông với vua Cao Tông về
việc hạn chế nhà chùa và bắt các sư hoàn tục, nguyên văn:
“Hiên nay (ở trong nước) số sư sãi đã gần ngang với số
phu dịch. (Bọn họ) tự kết bè lũ, lập càn thủ lĩnh, tụ
họp thành bày, làm nhiều việc xấu. Hoặc ở nơi giới trường,
tịnh xá mà công nhiên rượu thịt; hoặc ở chốn tăng phòng,
tịnh viện mà riêng tư gian dâm. Ngày ẩn tối hiện, như phường
cao chuột. “Chúng làm bại hoại phong tục, phương hại
giáo lý, dần dần đã thành thói quen. Nay không cấm đi, lâu
ngày càng tệ”. Bản dịch Phạm Tú Châu, VTLT, tập I, tr526-Lời
của Đàm Dĩ Mông tâu lên vua Lý Cao Tông vào năm Mậu Ngọ
(1198) và được vua chuẩn y, cho phép ông triệu tập tăng đồ,
giữ lại một số danh tiếng, còn lại thì bắt hoàn tục!
Cũng theo Việt Sử Lược ghi cùng thời với Đàm Dĩ Mông,
dưới triều Lý Cao Tông, tháng 10 năm Nhâm Tuất (1202), vua
ngự ra hành cung Hải Thanh rong chơi, yến tiêc, lại sai nhạc
công chế khúc hát theo điệu Chiêm Thành, tiếng nghe ai oán
thảm thiết!.
Nhà sư NGUYỄN
THƯỜNG, làm chức tăng phó đã có lời ngăn vua Lý Cao Tông
về mối quan hệ khắng khít giữa âm nhạc và tình hình trị
hay loạn của một nước.
NGUYÊN VĂN:
“Ngô kiến
Thi tự vân: “Loạn quốc chi âm óan, dĩ nộ kỳ chính quan.
Vong quốc chi âm ai, dĩ tư kỳ dân khốn”.
“kim chúa
thượng tuần du vô độ, chính giáo quai ly, hạ dân sầu khốn.
Chi thử du thậm nhi vật văn ai oán chi âm, vô nãi loạn vong
chi triệu hồ?
“Ngô tri
xa giá thử hoàn, bất tái hạnh kỳ cung hỉ”.
(tôi nghe,
bài tựa Kinh Thi có nói: “Âm nhạc của nước loạn nghe ai
oán vì giận chính sự nước ấy sai trái. Âm nhạc của nước
mất nghe bi thảm vì xót dân nước ấy khốn cùng”.
Nay chúa
thượng rong chơi vô độ, chính giáo sai lìa, dân chúng buồn
khổ. Đến nay càng tệ. Thế mà ngày ngày lại nghe âm nhạc
ai oán, đó chẳng phải là điều nước mắt, nước loạn
hay sao?
Tôi biết
rằng xa giá chuyến này (Từ hành cung Hải Thanh) trở về tất
sẽ không (bao giờ) lại ngự ra cung ấy nữa).
Bản
dịch của Phạm Tú Châu, Thơ Văn Lý Trần, tập 1 -
Rồi cũng
chính những bài văn bia của các nho sĩ đời Trần như Trương
Hán Siêu, Lê Quát, tuy nội dung có tính cách bài xích Phật
giáo nhưng vẫn phải công nhận rằng đạo Phật ở Việt
Nam đã cực thịnh, được toàn quốc dân sùng tín.
Bài Văn
Bia Chùa Thiệu Phúc ở Thôn Bái, tỉnh Bắc Giang.
“Đạo Phật
lấy họa phúc để tác động lòng người, sao mà cảm phục
được người đời tin sâu và bền vậy: Trên từ vương công,
dưới đến thường dân, phàm có công việc gì liên hệ đến
Phật, thì dù có dốc hết tiền của, cũng không tiếc. Nay
nếu đem những việc xây chùa dựng tháp phó thác cho thì hớn
hở mừng vui như cầm được tờ văn tự tín phiếu về sự
báo đáp về sau. Cho nên, từ trong kinh thành đến ngoài châu
phủ, hang cùng ngõ hẻm, không ra lệnh mà tuân theo, chẳng
hẹn rõ mà vẫn cứ tin, hễ nơi nào có người ở thì có
chùa, bỏ đi lại dựng lên, hư nát liền tu sửa, chuông trống
lầu đài cùng với dân cư có tới một nửa. Sự hưng thịnh
của đạo Phật sao mà dễ dàng, và rất được thiên hạ
tôn sùng ngưỡng mộ. Ta, lúc khi còn trẻ thường để hết
tâm trí vào việc đọc sách cổ kinh, cũng biết noi theo đạo
thánh hiền (đạo Nho), toan lấy đó để giáo hóa nhân dân,
nhưng rốt cục chưa thể làm cho một làng nào tin cả.
Ta cũng thường dạo chơi sông núi, dấu chân để lại khắp
chốn cùng nơi, thế mà chưa nhìn thấy một trường học hay
một văn miếu nào. Chính vì vậy mà ta rất lấy làm hổ thẹn
khi so sánh với tín đồ đạo Phật. bèn viết ít hàng để
bày tỏ lòng ta vậy”.
(Lê Bá Quát,
bản chữ Nho chép trong ĐVSKTT).
Bài Ký ở
Tháp Linh Tế Trên Núi Dục Thúy của Trương Hán siêu (chép
theo bản dịch của Nguyển Ngọc San trong sách Hợp Tuyển Thơ
Văn Việt Nam, thế kỷ X.XVII):
“Quê ta
nhiều cảnh đẹp, khi còn ít tuổi ta thường đi chơi xem vết
chân lưu lại hầu khắp mọi nơi; thường rời thuyền trèo
lên núi này, phủi tấm bia ở sườn núi, cạo rêu mà đọc
kỹ thì biết tháp cũ này xây từ năm tân vị, tức năm Quảng
Hựu thứ bảy triều Lý. Đến khi trèo lên núi cao, tới đỉnh
đá cheo leo, thấy gạch cũ nền xưa ẩn náu giữa cây hoang
đá vỡ, bất giác bùi ngùi thở dài: cớ sao sự hưng vong
thành bại trải mới hai trăm mấy chục năm trời mà đã thành
dấu vết cũ kỹ, theo nhau mà mai một hết cả? Liệu còn có
ai xây dựng lại chăng? Từ khi có vũ trụ đã có núi này,
khách tới chơi thăm kể đến biết bao nhiêu người mà nay
đều về đâu hết cả? Về sau ta ngao du khắp bốn phương
rồi làm quan tại triều, tạm giữ chức đài sảnh thì nơi
ẩn cư xưa ở một góc trời ta chỉ còn đôi lúc mơ màng
thăm trong giấc mộng mà thôi!
Mùa đông
năm thứ hai, sau khi kim thượng lên ngôi, ta đang ở kinh sư,
có nhà sư Trí Nhu ở núi đến bảo rằng: “Việc xây dựng
lại tháp cũ khởi công từ năm đinh sửu, niên hiệu Khai Hựu,
trải qua sáu năm nay đã hoàn thành, xin ngài viết cho bài ký.
Công đức này của ngài không thể lường được mà sự báo
phúc của đức Phật cũng không thể kể xiết. Lúc mới bói
để xây tháp, sư Đức Vân mộng thấy hơn một ngàn ngươì
tụ tập ở đỉnh núi, trong đó có ba vị quý nhân tướng
mạo đẹp đẽ nói với cả bọn rằng: “Các ngươi phải
biết xây tháp là công việc tốt đẹp làm cùng cực cho tam
đồ”. Đến khi bắt đầu xây tháp, sư Đức Vân đêm nằm
mộng thấy đấng Trúc Lâm Phổ Tuệ kết ấn giữ cho tháp
yên vững. Đến khi các sư Đức Tịnh, Đức Minh kẻ trước
người sau xây đường lên tháp đẩy rơi một tảng đá lớn,
người theo đá mà rơi xuống lăn lộc cộc tới chừng mấy
nhận, (1) những người trông thấy đều sợ hãi chạy tản
hết, cho rằng thân thể tất phải tan tành. Khi rơi tới đất,
vực dậy thì không thấy tổn thương chỗ nào cả. Tháp gồm
bốn tầng, đêm tỏa hào quang, xa gần thảy đều trông thất.
Phàm những việc như thế đều do ở phép thần thông của
đức Phật ra. Vả như tôi nghe nói rằng: Xưa A Dục Vương
sai quỷ thần tạo tám vạn bốn ngàn ngôi tháp, người tới
chiêm ngưỡng, cúng bái đều như mắt trông thấy Phật. Hình
tháp khắc vào đầu gậy có thể trừ được yêu khí, ngôi
tháp vượt qua biển, chốc lát ẩn khuất trong mây mù.
Truyện không phải là quái gở, xưa nay đều phù hợp, vậy
xin ngài cho khắc vào đá để truyền lại đời sau, giữ lại
lâu dài nơi cõi Phật, dùng làm phương tiện tìm hiểu đạo
nhà, như vậy há chẳng nên sao?”
Ta nói: Đức
Thích Gia lấy tam không mà đắc đạo, khi tịch rồi, người
đời sau ít phụng Phật giáo, mà chỉ làm mê hoặc chúng sinh.
Thiên hạ có năm phần đất thì chùa chiền hết một phần:
bỏ cả luân thường, hao phí tiền của. Bọn sư sãi thì dong
dài, người khờ dại thì tin theo. Như vậy không biến thành
yêu quỷ gian tà cũng thật là chuyện hiếm có! Tuy vậy, thày
là học trò ông Phổ Tuệ thâm hiểu phép Trúc Lâm, tu thân
khổ hạnh, tinh thông được tam tu, giơ hai bàn tay không mà
làm nên việc lớn, dám trèo lên tận chân mây chồng từng
hòn đá, từ một tấc lên một thước, từ một thước lên
một nhận, một bước tiến lên một bước, một tầng cao
thêm một tầng, tới lúc đứng cao sừng sững, thế chạm
trời xanh, tô thêm vẻ hùng vĩ cho non sông, so với tạo vật
cũng đồng công. Việc như vậy há đâu bọn sư sãi tầm thường
kia có thể sánh tày được!
Than ôi!
Sau đây mấy trăm năm nữa, chốc lát cảnh tượng biến diệt,
khiến ta cảm khái chẳng nhẽ lại không có được vài người
như hạng sư Nhu hay sao!
Còn như
non xanh nước biếc, bóng tháp dưới dòng sông, cưỡi chiếc
thuyền con lúc chiều tà, thơ thẩn chơi quanh chân tháp, nâng
mái bồng lên mà ngạo nghễ, gõ mạn thuyền mà ca khúc Thương
Lãng, (2) thả sợi dây câu theo phong cách thanh cao của Tử
Lăng, (3) du chơi năm hồ, thăm nơi hẹn cũ như Đào Chu (4)
cảnh ấy tình ấy duy có ta với non sông ấy là biết mà thôi”.
Trong sách
“Tang Thượng Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Án đã viết về núi Dục thúy như sau:
“Núi ở
đất Tràng An xứ Thanh Hóa (nay thuộc Ninh Bình), kế bên cách
sông Vân Sàng. Trên có cây tháp gọi là Linh Tế, dựng lên
từ năm Quảng Hựu thứ 7 nhà Lý, năm Khai Hựu nhà Trần có
tu bổ lại, ông Trương Hán Siêu làm bài ký. Trong năm Cảnh
Hưng có dựng ly cung để phòng khi vua chúa đi tuần hành.
Nhân thế núi mà xây dựng, cũng chen lẫn nhân công vào, quy
chế rất lộng lẫy. Thơ ngự chế của chúa và thơ ứng chế
của các quan theo hầu đều khắc đá cả. Hồi đi bình nam,
xa giá dừng lại ở đây. Sau khi vạc đổi, cung bỏ làm trường
lương Tràng An, tháp cũng đổ nát, duy tấm bia đến nay vẫn
còn”.
Bản dịch
của Trúc Khê, trang 166. Tân Dậu xb. 1943 -
(1)Đơn vị
đo lường bằng 7 thước Trung Quốc cũ (theo kinh điển thục
nghĩa) hoặc bằng 4 thước (theo Tiểu nhĩ nhã).
(2)Khúc Thương
Lãng: Theo sở từ và sách Mạnh Tử có câu hát rằng: “Thương
lãng chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh, Thương lãng
chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc”, nghĩa là: nước
sông Thương Lãng trong chừ, ta đem giặt giải mũ ta; nước
sông Thương Lãng đục chừ, ta đem rửa chân ta.
(3)Tủ Lãng:
tên tự là Nghiêm Quang, hồi nhỏ là bạn học của Hán Quang
Vũ. Khi Quang Vũ lên ngôi, ông đi ẩn, thường đi cày trong
núi Phú Xuân và câu cá ở bến sông cạnh núi.
(4)Đào Chu:
tên tự của Phạm Thái, người nước Việt đời Xuân Thu,
giúp Việt vương Câu Tiễn đánh quân Ngô giành lại đất
nước, sau đó bỏ quan, đi chơi năm hồ và ngụ cư đất Đào,
lấy hiệu là Đào Chu Công.
(Ghi theo
chú thích của dịch giả trong sách HTTVVN).
X